posted: 04.4.2005
(Bài này đã in trên “Người Hà Nội”
số 50 ngày 10 -12-2004) CÓ THẬT NGUYỄN DU TẢ LIỄU CHỈ ĐỂ TẢ
LIỄU ?
Trần
Mạnh Hảo Báo “Văn Nghệ” số 47 ra ngày 20-11-2004
có in bài : “ Thêm một công trình nghiên cứu có chất lượng về Thơ Mới”
của Văn Giá, nhằm ca ngợi hết lời cuốn
: “ Ba đỉnh cao Thơ Mới” của Chu Văn Sơn ( viết về Xuân
Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử – NXB Giáo Dục, 2003), với sự đề cao mà
nếu dành cho Hài Thanh e còn hơi quá : “
Công trình này tự nó đã có một dáng dấp của một lý thuyết nghiên cứu
riêng”… “ Người viết đã như gọi được hồn vía của mỗi nhà thơ
hiện lên trang giấy”… “ Chu Văn Sơn đã có một ngôn ngữ phê bình
riêng….mang ấn tín, quyền uy của Chu Văn Sơn cho toàn bộ thơ Hàn Mặc Tử là
thơ điên, với một hình thức điên, là hình thức cái tột cùng; rồi thơ
Hàn Mặc Tử là thơ điên nên nó khác với thơ trữ tình, thơ điên Hàn Mặc
Tử lại cũng khác với Thơ Mới…toàn là chuyện động trời mà tác giả
“Ba đỉnh cao Thơ Mới” làm giật thót tim người đọc; hoặc giả chuyện
Chu Văn Sơn giải thiêng thơ tình Xuân Diệu khi tuyên bố “nàng thơ”
trong thơ tình Xuân Diệu” là hai mang, vừa mọc râu vừa nảy nở nhũ hoa,
nghĩa là nửa trai nửa gái… Trước khi có những bài bàn với Chu Văn
Sơn về những ‘ phát minh’ trên, trong bài này, chúng tôi muốn trao đổi
với ông về lối tả liễu của Nguyễn Du mà theo ông, chỉ nhằm tả liễu;
còn cách tả liễu của Xuân Diệu mới là cách tả liễu hay ho, vượt lên
cách tả liễu của tác giả chuyện Kiều. AṠlà khi Chu Văn Sơn bình giảng
bài thơ : “ Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu từ trang 98 đến trang 124
( sách đã dẫn), với việc so sánh lối tả liễu của Xuân Diệu mới hơn,
hay hơn lối tả liễu của Nguyễn Du, như sau : “ …Còn Xuân Diệu ? AṠlà dáng liễu. Khi rặng
liễu bắt đầu mang dáng đứng chịu tang, thi sĩ biết rằng mùa thu đã hiện
diện ở xứ sở này : “ Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang / Tóc buồn
buông xuống lệ ngàn hàng : / Đây mùa thu tới, mùa thu tới / Với áo mơ
phai dệt lá vàng…”. “Chúng ta biết, Thơ Mới bắt đầu mới trong cảm
xúc….Nét dễ thấy ở đây là một lối liên tưởng mới. Chính lối
liên tưởng này đã tạo ra một vẻ đẹp mới cho đối tượng cũ. Ai
cũng biết liễu là hình ảnh quá quen thuộc trong thơ cổ điển. Trong Truyện
Kiều thật nhiều những dáng liễu đẹp : “- Lơ
thơ tơ liễu buông mành Dưới cầu nước chảy trong veo Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha” “…Trong thơ Nguyễn Du, liễu có phần
nghiêng về vẻ đẹp khách quan, liễu chủ yếu hiện lên bằng vẻ đẹp của
bản thân liễu. Nhà thơ mới Xuân Diệu không chịu làm thế. O⮧ đã “áp
đặt” vào liễu một vẻ đẹp chủ quan, liễu mang trong nó vẻ đẹp người.
Từng dòng lá liễu rủ xuống mang trong nó những dòng tóc đang buông xuống
và trăm nghìn giọt lệ đang tuôn xuống. Tâm trạng liễu là tâm trạng người.
Cảm nhận liễu, người ta cứ thấy phảng phất trong liễu bóng dáng những
giai nhân đài các, kiêu sa mà âu sầu buồn bã. Trước Xuân Diệu, xem ra,
chưa có một dáng liễu nào giống thế”…. “Cảm xúc thẩm mỹ mới về
mùa thu của Xuân Diệu, rõ ràng đã gắn liền với một khía cạnh thi
pháp mới, đó là một trường liên tưởng tân kỳ : vẻ đẹp tạo vật
thiên nhiên được quy chiếu về vẻ đẹp của những giai nhân…”.
Qua trích đoạn
trên, ta thấy Chu Văn Sơn đã bộc lộ một số cái sai sau: Cái sai thứ nhất là khi Chu Văn Sơn bảo
trước Xuân Diệu chưa hề có lối mượn thiên nhiên để tả người,
chưa có “thi pháp” : “ Vẻ đẹp tạo vật thiên nhiên được quy chiếu
về vẻ đẹp của những giai nhân”, mà chính Xuân Diệu mới là người
‘phát minh’ ra lối dùng thiên nhiên để tả người, cụ thể là để tả
giai nhân. Thưa rằng, tất cả cảnh vật, thiên nhiên trong thi ca phương Đông
từ Kinh Thi, Ly Tao, qua thơ của các thời Hán, Tấn, Tuỳ, Đường, Tống,
Minh, Thanh…bên Trung Quốc và ca dao, thơ Lý Trần qua Nguyễn Trãi, Lê Thánh
Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Hồ
Xuân Hương, Nguyễn Huy Tự, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến,
Tú Xương, Tản Đà … của ta đều dùng lối mượn cảnh tả tình, mượn
cảnh tả tâm trạng, tả người, dùng non tả nước, dùng âm tả dương, dùng
vật tả tâm… và ngược lại. Ví như Nguyễn Trãi mượn cỏ, mượn hoa
để nói về người, về thời thế, về vua và về dân : “Hoa thì hay héo cỏ thường tươi”…Điều
này đã được Nguyễn Du khái quát thành nguyên lý : “ Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu / Người
buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
Cái sai thứ
hai của Chu Văn Sơn là dám bảo Nguyễn Du tả liễu cốt để tả liễu; mặc
dù mào đầu, ông còn giảm “tông” kết luận này bằng từ “ có phần”
rồi tiến đến “chủ yếu”; rằng “ Trong
thơ Nguyễn Du, liễu có phần nghiêng về vẻ đẹp khách quan, LIỄU CHỦ YẾU
HIỆN LÊN BẰNG VẺ ĐẸP CỦA BẢN THÂN LIỄU”. “Chủ yếu” có nghĩa
là gần trăm phần trăm lối tả liễu của Nguyễn Du cốt chỉ nhằm tả
liễu, tả vẻ đẹp bên ngoài liễu ( khách quan). Chu Văn Sơn khẳng định
dứt khoát : “ Xuân Diệu không chịu làm
thế”, tức không chịu tả liễu đơn giản như Nguyễn Du. Vậy ta cần
xem, theo Chu Văn Sơn, Xuân Diệu tả liễu kiểu gì ? Chu Văn Sơn tấn phong
Xuân Diệu lên thành nhà “liễu học” với 3 phong cách nhân hoá liễu như
sau : “- “áp đặt” vào liễu một vẻ đẹp chủ quan – liễu mang trong
nó vẻ đẹp con người- dáng liễu là dáng người”. Ý của Chu Văn Sơn
trên đã khẳng định Xuân Diệu không tả liễu như Nguyễn Du. Vậy thì những
gì Xuân Diệu phong cho “liễu” tức là Nguyễn Du không có. Và do đó,
theo Chu Văn Sơn, ta thấy Nguyễn Du có 3 cái thiếu khi tả liễu như sau : - Nguyễn Du không “áp đặt” vào liễu một
vẻ đẹp chủ quan, tức vẻ đẹp của chủ thể sáng tạo. - Nguyễn Du không cho “liễu mang trong nó vẻ
đẹp người” - Nguyễn Du không biết tả “dáng liễu là
dáng người”. Ở chỗ này, Chu Văn Sơn hoặc chưa đọc
Truyện Kiều, hoặc có đọc mà đọc qua quýt, đọc mà không hiểu nên đã
nói rất liều, đã đổ tiếng oan cho Nguyễn Du trong sự tả liễu kém hơn
nhiều hậu bối Xuân Diệu. Nếu Xuân Diệu còn sống, đọc tới đoạn này
của Chu Văn Sơn, chắc thi hào họ Ngô sẽ giật thót mình mà than rằng :
“ Không dám đâu ! Đừng nói thế e tôi tổn
thọ, rằng về cái khoản tả liễu, Diệu tôi đây giỏi lắm chỉ hàng
quan cửu phẩm, sao sánh được với lối tả liễu “ ma ma Phật Phật, ảo
ảo chân chân” của bậc cửu trùng Tố Như !”. Nói rồi, chắc Xuân
Diệu nhất định chạy đến trước bàn thờ thắp hương vái Nguyễn Tiên
Điền, xin tha cho kẻ hậu sinh chưa đọc Truyện Kiều mà dám lộng ngôn đến
thế !”
Nguyễn Du
trong Truyện Kiều đã trên dưới 25 lần nói đến liễu hoặc tả liễu.
Phép tả liễu của Nguyễn Du quả là biến hoá khôn lường. Đại thi hào
vừa dùng liễu để tả liễu và để không tả liễu. Tả liễu, Nguyễn
Du tả hồn mình, tả dáng giai nhân, tả tình nhân vật. Tả liễu, Nguyễn
Du còn tả cả trời đất trong đó, tả cái hữu hạn thướt tha trong cái
khôn cùng, lại tả cái khôn cùng mượn hữu hạn liễu mà lơi lả, mà du
dương. Tả liễu, đồng thời Nguyễn Du còn như muốn tả hồn của hậu
sinh lúc đọc đến dáng liễu-Tiên Điền đang buông thả hết rung cảm
lên từng câu Kiều tha thướt…Xin mở ra phép tả liễu của Nguyễn Du :
“ Tả liễu : ở chỗ không có liễu vẫn có liễu; ở chỗ thấy liễu
mà không còn là liễu nữa”, như sau :
“ Bóng tà như giục cơn buồn
Khách đà lên
ngựa người còn ghé theo
Dưới cầu
nước chảy trong veo
Bên cầu tơ
liễu bóng chiều thướt tha”
Đoạn thơ trên
tả nỗi buồn chia xa, lưu luyến của Kim Kiều sau phút ban đầu gặp gỡ,
khi cả hai cùng bị “tiếng sét ái tình”. Trong thơ phương Đông nói
chung và thơ cổ Việt
Xem ra, phép tả
liễu của Nguyễn Du cao thủ hơn lối tả liễu của Xuân Diệu nhiều. Hai
câu mở đầu của Xuân Diệu trong bài “Đây mùa thu tới” mà Chu Văn
Sơn cho là hay hơn, cao sâu hơn, mới mẻ hơn lối tả liễu của Nguyễn Du,
thực ra là cách viết rất Tây, cách nhân cách hoá kiểu Tây : “ Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang / Tóc buồn
buông xuống lệ ngàn hàng”, hầu như đã phơi hết liễu lên mặt giấy.
Hình ảnh liễu ủ rũ đứng chịu tang mùa thu, rồi bóng liễu từng giọt
đổ như lệ tuôn là hình ảnh rất cổ trong thơ Tây-Tầu xưa, Xuân Diệu
mượn lại mà mở đầu cái giọng hổn hển, vồ vập, cuồng nhiệt của
mình mà thôi. Đằng sau cây liễu ủ rũ như người đàn bà đứng chịu
tang, đằng sau muôn giọt liễu khóc này, ta không còn thấy một thứ “liễu”
nào nữa. Nhưng Nguyễn Du, ông tổ của ngành : “ Thi pháp-Liễu” Việt
Nam thì biết tả liễu ở cả những chỗ không có liễu; lại biết tả người
ở chỗ chỉ có liễu, theo một quy trình biến ảo kiểu : sau liễu là người,
sau người lại thấy liễu; cứ tưởng là tả nước, tả hoàng hôn, tả
người lên ngựa, người ngó theo mà thực ra
Nguyễn Du toàn tả liễu mà thôi. Lúc người đọc tưởng ông
tả liễu thì rốt cuộc, lại hiện ra người, hiện ra hồn vía nhân vật,
hồn vía tác giả và lạ thay, hiện ra cả hồn vía của người đang đọc
Kiều nữa. Không chừng người đọc“bị” hoá thành liễu lúc nào không
hay?
Chúng tôi muốn
dẫn ra hàng chục trường hợp tả liễu kỳ ảo của thiên tài Nguyễn Du
trong Truyện Kiều, để thấy mỗi lúc liễu của ông mỗi khác; nhưng vì
khuôn khổ bài báo có hạn, hẹn một dịp khác lại được bàn về liễu
Nguyễn Du với ông Chu Văn Sơn và ông Văn Giá. Xin hai ông cùng chúng tôi đọc
lên, gọi lên một thứ Liễu vốn là người, người thật trăm phần trăm
mà vẫn cứ là bóng liễu đổ dài tha thướt theo nỗi niềm cảm động,
nhớ thương, tiếc nuối, đớn đau của Thúy Kiều còn lưu mãi trong hồn
chúng ta :
“Khi về hỏi liễu Chương Đài
Cành xuân đã
bẻ cho người chuyền tay”
Thương thay
cho nàng Liễu thị của Hàn Hoành bị kẻ
khác cướp mất, để nỗi đau buồn xưa còn hoá liễu Kim Kiều, rủ nhớ
thương xuống câu lục bát Nguyễn Du. Hi vọng việc lấy mất tài tả liễu
tuyệt vời của Nguyễn Du để trao cho Xuân Diệu của ông Chu Văn Sơn sẽ
không giống việc nàng Liễu thị của “Toàn Đường thi thoại” bị người
Phiên cướp đi , để lại Chương Đài
một dáng liễu xanh xanh trong nỗi nhớ thương khôn tả của Thuý-Kiều -Liễu.,.
Thành
phố Hồ Chí Minh 30-11-2004
T.M.H. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com