405-gd.gif (4053 bytes)

posted: 05.4.2005

NGUYỄN HUY THIỆP - NGƯỜI GHÉT THƠ ĐI BÌNH THƠ

                                                                                                   Trần Mạnh Hảo

            Suốt lịch sử văn học trong và ngoài nước xưa nay, có lẽ nhà văn Nguyễn Huy Thiệp là một người căm thù các nhà thơ nhất, chửi rủa thi ca tàn bạo nhất. Chúng tôi xin lỗi phải muối mặt mà trích ra những lời lẽ không thể hiểu nổi của Nguyễn Huy Thiệp nói về thơ và các nhà thơ như sau :”...Nhà thơ tức là những người chỉ dựa vào “cảm hứng” để tuỳ tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa, nhìn chung là lăng nhăng, trừ có dăm ba thi sĩ tài năng thực sự ( số này đếm trên đầu ngón tay ) là còn ghi được dấu ấn ở trong trí nhớ người đời còn toàn bộ có thể nói là vứt đi cả. Giai thoại có một nhà thơ nói về tình cảnh thơ ở trong bài thơ sau đây ( tôi đã đưa chuyện này vào tiểu thuyết của tôi vì nó quá hay) khá tiêu biểu cho thực tế đó :” Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ / Hôm qua nó bảo : dí thơ vào l.../ Vợ tôi nửa dại nửa khôn / Hôm nay nó bảo dí  l...vào thơ”. Mặc dầu đã có “ngày thơ Việt Nam”, tôi cũng không phủ nhận cảm tình của nhân dân đối với thơ nhưng quả thực, trên thực tế CÁI DANH NHÀ THƠ là một thứ nhìn chung chỉ là nhăng nhít, hữu danh vô thực chẳng ai muốn dây vào nó : nhà thơ đồng nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa...”. ( Báo “Ngày Nay” số 6-2004, trang 15, bài “Trò truyện với hoa thuỷ tiên và những nhầm lẫn của nhà văn”-N.H.T. )

            Qua việc nguyền rủa thi ca và các nhà thơ bằng những từ ngữ khó nghe nhất, điều mà những người tử tế, đứng đắn không ai dám mở miệng ra ăn nói như thế đã đành, Nguyễn Huy Thiệp còn chứng tỏ mình hoàn toàn không có khiếu thẩm mỹ thơ, với bài  “thơ ...dí...l...” nhơ nhớp như bốn câu anh Thiệp trích trên mà anh nống lên khen là “quá hay”, thì phải nói anh là một tay mù tịt về thơ, ngoại đạo thơ. Tôi rất ngạc nhiên về việc Nguyễn Huy Thiệp trong các bài viết của mình luôn luôn đưa Nguyễn Du ra để làm bình phong cho sự “mù thơ” của mình. Một câu thơ giản dị hết mức này của Nguyễn Du :” Lời quê góp nhặt dông dài / Mua vui cũng được một vài trống canh “ mà anh Thiệp còn hiểu sai, khi anh bảo “: Nguyễn Du coi Truyện Kiều là sách “ mua vui cũng được một vài trống canh” ( Báo “Ngày Nay”, số 21-2003, trang 16, bài “ Thời của tiểu thuyết - N.H.T.). Nguyễn Du nói vậy mà không phải vậy. Quan điểm Nho giáo của Nguyễn Du vốn coi “văn dĩ tải đạo”, “thi ngôn chí” là rất thiêng liêng, “Thi “ là một trong mấy kinh điển, kinh sách gối đầu giường, chứ không hề coi thơ ca là trò mua vui, cợt nhả như Nguyễn Huy Thiệp lầm tưởng. Những từ “ lời quê”, “dông dài”, “mua vui”...chẳng qua là cách Nguyễn Du khiêm tốn, nhún nhường, hạ mình xuống khi nói về mình theo truyền thống Nho gia : “bỉ nhân”, “tại hạ”, “bỉ chức”, “tiện thiếp”, “bần tăng”... Với khiếu hiểu sai thơ kiểu này, nếu khi đọc đến câu thơ Thuý Kiều đồng ý đánh đàn cho Kim Trọng nghe :” Thưa rằng : “tiện kỹ xá chi !”, chắc Nguyễn Huy Thiệp sẽ phán : “A, Kiều chỉ là cô gái có nghệ thuật đánh đàn hạng bét thôi” ư ? Hay nếu khi đọc đến câu Kim Trọng  hỏi Thuý Kiều :” Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng ?” chắc Nguyễn Huy Thiệp sẽ phán : “A, tay Kim Trọng này chẳng qua cũng chỉ là quân hạ lưu mang thân phận bèo bọt” ư ?   Cách hiểu thơ như Nguyễn Huy Thiệp trên là để giết thơ chứ không thể nào bình thơ được !

            Với cách khen thơ, hiểu thơ như trên, Nguyễn Huy Thiệp hùng hục nhảy vào thơ Đồng Đức Bốn mà bình, mà khen bốc lên chín tầng mây xanh như sau :” Đồng Đức Bốn xuất hiện trong làng thơ Việt Nam khoảng 10 năm nay. Viết chừng 500 bài thơ, trong đó có tới trên dưới 90 bài thơ được khách sành văn chương xếp vào loại “Cực hay, tài tử vô địch” ! Còn lại thực ra có bài cũng chẳng ra gì “ (  trích trong bài “ Khổ câu thơ cứ đến rồi lại đi” “ ( Đọc thơ lục bát của Đồng Đức Bốn ) của Nguyễn Huy Thiệp, in từ trang 88 đến trang 99 trong tập thơ “Chuông chùa kêu trong mưa” ( thơ lục bát Đồng Đức Bốn- NXB Hội Nhà Văn -2002). Về tập thơ này của Đồng Đức Bốn, chúng tôi đã cho in bài phê bình trong tạp chí “Văn Nghệ Quân Đội” số 4-2004 mới đây. Nay, chúng tôi chỉ bàn về phương cách Nguyễn Huy Thiệp bình thơ Đồng Đức Bốn theo tiêu chí gì, và bình ra làm sao ?

              Trong các đại thi hào, thi bá của toàn thế giới cũng như của Việt Nam xưa nay, nếu chọn theo chuẩn mực thẩm mỹ cao, chắc mỗi người lọc ra cũng không thể nào có nổi 30 bài thơ “cực hay” được. Thế mà theo Nguyễn Huy Thiệp, riêng Đồng Đức Bốn đã có tới 90 bài thơ xếp vào loại “Cực hay, tài tử vô địch !”. Kiểu này, chắc Nguyễn Huy Thiệp đang vận động xây tượng đài Đồng Đức Bốn rồi đề tấm biển dưới tượng đài, rằng :“ Đồng Đức Bốn- thiên hạ Thi vô địch, những Lý Bạch, Đỗ Phủ, Puskin, Hugo, Nguyễn Du... chỉ xứng đáng xếp vào hàng em út (!) “. Chắc anh Thiệp muốn học lời Đỗ Phủ xưa từng ca ngợi Lý Bạch mà ca anh Bốn là “tài tử vô địch” ? Giống như trong bài “ Xuân nhật hoài Lý Bạch”, Đỗ Phủ viết :” Bạch giả thi vô địch / Phiêu nhiên tứ bất quần”. Chúng ta vừa thấy Nguyễn Huy Thiệp khen 4 câu thơ “ dí...l... vào thơ” dẫn trên là “RẤT HAY”. Bằng cái thước đo “RẤT HAY” này, Nguyễn Huy Thiệp đã toát mồ hôi để đo thơ Đồng Đức Bốn và tiếp tục đo một vài nhà thơ khác. Chúng tôi ngờ rằng, với hệ quy chiếu thơ theo “ THẨM MỸ DÍ...” này của Nguyễn Huy Thiệp, Đồng Đức Bốn chắc phải còn vài ba trăm bài thơ “Cực hay, tài tử vô địch!” khác chứ chẳng chơi ! Xin quý bạn đọc xem Nguyễn Huy Thiệp bình thơ Đồng Đức Bốn như sau :” Đồng Đức Bốn cũng đã làm xong nghiệp thơ của mình theo cách riêng của anh  :” Xong rồi chả biết đi đâu / Xích lô Bà Triệu ra cầu Chương Dương”. Thế chẳng sướng sao ? “ Qua cầu Chương Dương “ phải chăng là : “Từ bờ bên này sang bờ bên kia” TỪ BỜ MÊ SANG BỜ GIÁC NGỘ “... Câu sáu tám trên của Đồng Đức Bốn là câu nói có vần, là vè giời ạ, chứ đâu phải thơ mà Nguyễn Huy Thiệp khen lên thấu trời, lại còn nâng lên thành “thơ thiền”, thành giác ngộ một cách hết ý như thế ? Hoá ra, cái thứ thơ “Cực hay, tài tử vô địch”- là như thế này ư ?Viết thơ kiểu dễ dãi, tầm thường như trên, khác nào có một anh “thi sĩ thiền” kia, bắt chước thơ Đồng Đức Bốn :” Tưởng là gió thổi trên  cao / Ai ngờ hai chú cào cào đánh nhau”, bỗng một hôm mát giời, nói có vần việc đi giày, đi dép của mình như sau :” Sáng qua ông chơi dép lào / Chiều nay bố lại xỏ vào ba- ta !“. Hoặc chú câu cá nọ làm thơ theo phong cách “ Cực hay, tài tử vô địch !” như sau :” Giật cần câu tưởng cá rô / Lúc cho vào giỏ ô hô cá mè !”. Câu nói có vần cực nôm na của Đồng Đức Bốn mà Nguyễn Huy Thiệp tưởng nhầm là thơ kia còn phải gọi bài thơ con cóc bằng cụ, gọi câu thơ ấm ớ này của Bùi Giáng bằng tằng tổ :” Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi / Đi lên đi xuống đã đời du côn !”.

            Đúng là Nguyễn Huy Thiệp ” ...gần đèn thì rạng”, yêu kính và tôn vinh loại thơ “Cực hay, tài tử vô địch “ cỡ “ Xích lô Bà Triệu ra cầu Chương Dương” này mãi, đâm ra anh cũng bất chợt biến thành thi hào thi bá lúc nào không hay, đến nỗi không kìm được, đã xuất ra trên báo “ Tiền phong chủ nhật “ số 10 ra ngày 7-3-2004 vừa qua bài thơ mang tên “ Thơ gửi Đồng Đức Bốn “ với vài câu “hết ý” như sau :” Bác Đồng Đức Bốn toi rồi / Phen này kiện cáo lôi thôi mất nhà / Tin đồn khắp chốn gần xa / Tôi nghe mà rợn da gà cả lên ...”. Gớm, cứ ...rộn ”cả lên” mãi thế này thì sao có thể gọi là thơ ? Xin dẫn vài câu nói có vần theo song thất lục bát khác của anh Thiệp, vừa nôm na, vừa thất vận, như sau :” Kể ra thế sự cũng hay / Nghe tin tôi cứ chân tay rụng rời / Ai chẳng biết công danh kỳ lạ / Nhưng mà sao như thể phép tiên ?”. Nguyễn Huy Thiệp do ghét thơ, căm thù các nhà thơ quá mức mà không phân biệt được đâu là thơ, đâu là vè, đâu là nói có vần, đâu là nôm na mách qué, mà nhầm gọi cái món song thất lục bát của anh trên “Tiền Phong C.N.” là thơ, thì vui thật ! Có thể anh Thiệp tình đầy mà tứ vơi, chữ dày mà nghĩa mỏng, đa ngôn mà thiểu ngữ, nên khi anh viết “thơ” như thế này là nhạo báng Tiếng Việt lắm đấy :” Tôi nghe nói làm quan rất khó / Đức phải cao, tâm địa phải thành !”. “Tâm” thành mới đúng Tiếng Việt, còn “TÂM ĐỊA ...PHẢI THÀNH” là sai tiếng mẹ đẻ đấy nhà văn ạ ! Vì TÂM ĐỊA là xấu xa, hiểm độc, khi kẻ đã mang “tâm địa” thì sao có thể “thành tâm “ được ?

            Xin quý bạn đọc xem Nguyễn Huy Thiệp “bình” tiếp “bài thơ” “ Vào chùa” trong tập “Trở về với mẹ ta thôi” ( NXB Hội Nhà Văn 2000), một bài thơ của chủng loại   :”Cực hay, tài tử vô địch”, theo bước cóc nhảy của bài thơ con cóc dân gian, mà Nguyễn Huy Thiệp gọi bài thơ này là thơ thiền :

            Đang trưa ăn mày  vào chùa

            Sư ra cho một lá bùa rồi đi

            Lá bùa chẳng biết làm gì

            Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày

Đây là lời bình cực kỳ vui nhộn của Nguyễn Huy Thiệp :” Sao lại “đang trưa” mà không sáng sớm, không chiều tối ? Chúng ta biết Đồng Đức Bốn in trong những bài thơ đầu tiên khi anh không còn trẻ nữa. Tôi đã từng đùa anh là “Một tên nửa quê nửa tỉnh” ( Tựa tập thơ “Chăn trâu đốt lửa” - NXB Lao Động 1993 ). Vậy khoảng thời gian đang trưa mà gã ăn mày xuất hiện làm gì ? Trong lịch sử, vua Khang Hy Trung Hoa đã từng sắm vai ăn mày. Chúa Chổm ở Việt Nam đã từng ăn chạc. Ăn mày ở đây không còn là một cá thể nào đó riêng biệt mà là một kẻ tha nhân “ đại diện của đại diện” đang trôi dạt trong bể trầm luân. Khoảng thời gian đang trưa mà gã ăn mày ấy, kẻ tha nhân ấy lạc bước ( hay cố ý) vào chùa. Giống như một cử chỉ hướng thượng về chốn cao minh ( gặp gỡ tôn giáo) một Liệu Pháp tâm linh. Đấy là khoảng thời gian nào vậy của đời người ? Khoảng “Đang trưa” là khoảng “Nửa gang tay già” của một đời người! Đáng sợ thay !...”. Bạn đọc chẳng thấy anh Thiệp chỉ ra bài thơ” Vào chùa “ hay ho ở chỗ nào, chỉ thấy anh “tán hưu tán vượn”  từ “Đang trưa” và từ “Ăn mày” với toàn những điều áp đặt vớ vẩn ngoài văn bản mà thôi ! Trong đoạn bình thơ trên, anh Thiệp còn viết sai Tiếng Việt khi dùng từ :” Một kẻ tha nhân “. Đã viết “Tha nhân” thì phải bỏ “ Một kẻ” đi ! Vì “Tha nhân “ ( autre ) là kẻ khác, người khác, tức không phải là mình. Khái niệm “ Tha nhân” là một phạm trù khá căn bản của triết học hiện đại, nhất là triết học hiện sinh.

            Cứ cái đà “bình thơ” có một không hai này của anh Thiệp thì bất cứ cái gì dở nhất cũng sẽ biến thành hay nhất và ngược lại. Nguyễn Huy Thiệp trong bài đề bạt cho tập thơ Đồng Đức Bốn vừa dẫn, còn viết quá nhiều điều sai trái khi bàn về thơ, thí dụ : “ Về hình thức, có lẽ thơ là một thể loại “loạn luân” nhất ”...” ...”...Thơ thường không bao giờ là một sự nghiệp..”...”...Ngoài loại một, loại hai là gì ? Là loại ba : là phản thơ, là vi khuẩn, là mầm thơ, là “những tìm tòi”. Đấy là loại viển vông, suy đồi, đểu, say rượu, đa dâm, là hạ lưu...”...” Vượt trên là triết học, vượt lên thơ là triết học”... Chúng tôi xin mượn cách“bình thơ” phi văn bản của anh Thiệp trên mà bình thử một “bài thơ “ của tác giả X., viết theo môn phái :” Cực hay, tài tử vô địch” để xem có thể được Nguyễn Huy Thiệp truyền “y bát” phê bình cho chăng ? Bài thơ của tác giả X. có tên là “Ra chùa” như sau :

            Bà Vãi ngồi thấy Ông Từ

            Hỏi ông, ông cứ lừ đừ thắp nhang

            Nửa đêm bà Vãi la làng

              Ông Từ mặc kệ mở toang cổng chùa !”

            Sao lại nửa đêm” mà không phải “nửa ngày”, sao lại “ Bà Vãi” mà không phải “ Ông Sư” , sao lại “ Ông Từ”  mà không phải là “Bà Từ”...đấy chính là công án thiền, không phải thiền bắc tông hay thiền nam tông, mà thiền nguyên thuỷ từ kinh A-ti-đạt-ma trôi dạt qua ba vạn chín nghìn thế giới của cát sông Hằng Hà khi chưa đốn ngộ. “Nửa đêm” là lúc vạn vật chìm đắm trong bờ mê, chỉ có Bà Vãi ngồi thiền là tỉnh thức, được đức Văn Thù Bồ Tát truyền tâm pháp linh diệu cho mà nhìn thấy vô minh qua hình ảnh Ông Từ. Nhưng Bà Vãi vẫn còn chưa thoát xác phàm, còn có Thân, có Căn, có Phách, có Giới nên còn khiếp hãi vô thường mà hét lên ( la làng) trước vô minh. Thơ viết thế này là tới cõi, không phải cõi Bà Vãi, hay cõi Ông Từ, mà là cõi An-tah-ka-ra-na ( Năng lực cảm giác bên trong). Hình ảnh Ông Từ “mở toang cổng chùa” là một công án thiền cực bí hiểm và khai ngộ : rằng Bà Vãi đã thoát khỏi At-man ( ngã) , đẩy được cái Ba-hi-mu-kha, tức cái ngã bên ngoài ra khỏi chùa, thoát được hình ảnh Vô Minh là Ông Từ, cũng là thoát khỏi bể khổ, thoát khỏi dục vọng, dục tính, thoát khỏi lẽ thường âm dương mà tịnh ngộ chân nhân. Thơ mở ra bát ngát cõi thiền, đồng thời với việc “mở toang cửa chùa” kia là tới Giác Ngộ, cõi không còn ranh giới giữa Phật và chúng sinh, giữa người với thần nữa mà chùa đã ở ngoài chùa, tâm đã ở ngoài tâm, tâm đã ở ngoài xác mà chu du ba vạn chín nghìn thế giới chỉ trong một sát -na !

            Đúng là “thuyền đua, lái cũng đua”, sự học tập lối bình thơ thiền của anh Thiệp mà tôi vừa trình bày chút chút trên kia còn lâu mới thâm thuý và hay ho như Nguyễn Huy Thiệp bình thơ thiền Đồng Đức Bốn ? Tuy nhiên, tôi xin phép chép ra đây một bài thơ thiền khác của nhà thơ X., làm theo trường phái : “ Cực hay, tài tử vô địch !”, ngõ hầu nhờ anh Thiệp bình mẫu để chúng tôi được học theo mà hi vọng trở thành một nhà phê bình thơ thiền thì phúc cho nền thơ lắm thay! Đây là bài thơ “ Con gà” của nhà thơ X. : Hôm qua kẻ khó ra đường / Thấy một chú tiểu ngồi thương con gà / Kẻ khó nghĩ mãi chưa ra / Kiếp xưa phải tiểu từng là gà con ?”...

                                                                        Thành phố Hồ Chí Minh 30-3-2004.

                                                                                                            T.M.H.                   


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com