Trần
Thanh Lưu
NHỮNG ĐIỀU DỐI TRÁ VÀ HOANG
ĐƯỜNG CỦA CUỐN THÁNH KINH KI-TÔ:
(Tiếp Theo)
“Muốn giữ vững nền độc lập của quốc
gia, giới sĩ phu phải có nhiệm vụ tiên phong trong việc giải phóng dân tộc
khỏi sự nô lệ của đạo Ki-tô, một chủ thuyết thực dân tây phương
trá hình tôn giáo. Muốn làm được việc ấy trước hết phải kiên quyết
vạch trần những điều lừa bịp và mê hoặc của cuốn Bible, và hệ thống
giáo quyền kiểu phong kiến kềm kẹp.”
Hải Thượng
Sĩ Phu
Phụ Chú của Người Dịch: Trong
khi chuyển ra Việt ngữ cuốn Deceptions and
Myths of the Bible của Floyd Graham, người dịch còn tra cứu thêm về Bible
để so sánh. Hai nguồn được dùng trong dịch phẩm này là: 1) Bản Anh ngữ:
Holy Bible do The Gideons International, ấn bản năm 1978. Viết tắt trong bài là
GI. 2) Bản Việt ngữ: của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ trên website
thanhlinh để các độc giả làm quen với văn phong khó hiểu trong kinh Ca-tô
Việt; viết tắt là NCGKPV. Những câu trích từ hai nguồn này sẽ được
in nghiêng nguyên văn dưới mẫu tự Arial. Phần ghi chú thêm sẽ nằm trong
dấu [ ]. Phần đăng trên trang Nhà Giao Điểm đã giảm bớt những chương
không quan trọng.
CHƯƠNG MỘT: SÁNG THẾ HAY TẠO
DỰNG
Theo quan điểm nhà thờ:
Thánh Lệnh
Trời
và đất, ở giữa và xung quanh được làm ra cùng lúc và mây sủng nước
và con người đã được Ba Ngôi tạo nên vào lúc 9 giờ sáng ngày 26 tháng
Mười năm 4004 Trước TL.
(Lời tuyên bố của) Tiến sĩ
John Lightfoot, năm 1654.
Đó là sự hiểu biết kiểu
nhà thờ về sự tạo dựng vào thế kỷ thứ 17 TL. Thế thì ở 17 thế kỷ
trước đó còn ra sao nữa? Nên nhớ rằng
vào thời ấy chưa có sự hiểu biết về sự phát triển tự nhiên của
con người – gọi là nhân chủng học: anthropology – hay về tiến trình tạo
dựng vũ trụ - gọi là vũ trụ tạo dựng học - cosmogony. Theo mấy ông viết
kinh đạo Ki-tô thì thế giới này là trung tâm của vũ trụ và con người
là mối quan tâm chính của Chúa trời, đấng Sáng thế. Hẳn nhiên là họ
chẳng biết tí gì đến những thế giới và thiên hà khác.
Vậy thì chúng ta đã rõ rằng
đám thầy tu không phải là những kẻ khám phá ra chân lý mà chỉ là bọn
bám giữ truyền thuyết, và rằng cái mục đích của cả hai, kẻ viết
kinh và bọn diễn dịch về sau, chẳng phải để tìm ra chân lý mà đặt nền
cho một thần giáo, dựa vào siêu nhiên và sự sợ hãi.
Từ chỗ này mới nẩy sinh ra
cái danh từ kinh khiếp: Chúa Trời. Bản gốc tiếng Do-thái không dùng một
danh từ riêng hoặc chữ tương tự, mà là một danh từ số nhiều Elohim,
đa thần hay thể cách. Nếu được tuân theo đúng lối thì cái tinh thần
đen tối của độc thần đã bị xóa bõ. Cũng nên biết rằng chữ genesis không có nghĩa là “vật gì sinh
ra từ không có gì”. Nó là một dẫn xuất từ chữ gene, mầm sống, ám chỉ đến thế hệ,
tăng trưởng. Đó là then chốt của Sự Bí Ẩn và nếu ta muốn giải được
nó ta phải phân biệt cho rõ giữa Chúa Trời của tôn giáo và Tạo Hóa của
vạn vật. Một bên là sự tưởng tượng của con người, còn bên kia là
nguyên lý vũ trụ. Một khi hiểu được điều này thì những lý giải ở
đây sẽ không ngớ ngẫn tí nào.
Chúng tôi không muốn làm độc
giả nhàm chán với sự phân tích từng câu kinh, nhưng với cuốn kinh đạo
Ki-tô thì việc ấy phải làm. Và đây là cuốn “Sáng Thế Ký 1”:
1.
Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất.
Ngay câu đầu này đã làm cho cuốn
kinh không xứng là thẩm quyền, bởi nó cho thấy sự ngu dốt. Tác giả đã
không hề biết thế giới được tạo dựng như thế nào, và cứ cho đại
là do một chúa trời tạo ra. Đây là một lối giải thích đần độn những
gì mình không hiểu. Phương sách kiểu này của tác giả làm gợi lại một
chỉ trích dung tục đã có lúc bảo : “Khi một tác giả đem trình ra một
chú chệt trong truyện, tôi biết tỏng ngay là y sẽ viết lung tung về những
gì y chẳng biết về - ‘người Tàu
bí hiểm.’” Cũng vậy với tác giả ở đây: ông ta đang viết lung tung
những gì mà y chẳng hiểu - về Duyên Sinh, lại còn “khai thị” ngược
lại.
2.
Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm,
và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước.
“Thần khí của Thiên chúa” với hàm ý của một cá nhân thần thánh
là một danh từ sai lạc. Ngược lại Tạo Hóa, không là một thần khí mà
cũng chẳng có thần khí; đó là thần khí theo ý nghĩa bản chất, một
nguyên khí cùng khắp mà vận hành bất biến của nó là cuồng bạo. Vậy
mà ở đây lại cho là bay lượn trên mặt nước. Chẳng thấy có
lời nào nói đến sự cuồng bạo trong việc tạo dựng ra một thế giới,
bao gồm cả chu kỳ mặt trời, và cả hằng ngàn tỷ năm thời gian. Chẳng
có lời nào về một “trận chiến trên trời,” như John được thiên khải,
chẳng nói gì đến một quái vật, một quỉ sứ, một Satan-chống phá –
mà chỉ là sự tạo dựng êm ả bằng lời nói. Đây là sự dốt nát đáng
tội nghiệp về thuyết nguồn gốc vũ trụ (Cosmogony).
Trong tất cả những môn vũ trụ
học cổ chúng ta biết là Tạo Hóa phải chiến đấu với quái vật vũ trụ
mà từ thân nó thế gới được tạo nên: như Sososh với Tiamat, Odin với
Ymir, chư thần Rig-Veda với Parusha vv.; Thế mà cứ bảo đó là sự u mê của
bọn đa thần và Sáng-thế-ký là sự thông thái ưu việt của đám
Do-thái. Ở đây, đơn cử: “Chỗ mà nhà thi sĩ người Babylon nhìn thấy
chỉ là tác động của những oai lực tự nhiên thì người viết Do thái lại
cho là việc làm của Thiên chúa. Và cái nội quan sinh ra Cảm Hứng. [J.
Paterseon Smyth, B.D., Litt. D., D.C.L. (Giám Mục của St. Andrew, Montreal), Bible in the making. tr. 61]. Và từ đó sự
tạo dựng tự nhiên trở thành siêu nhiên, và “cảm hứng” thành mê
tín. Hậu quả là hai mươi lăm thế kỷ thờ phượng tăm tối thay vì lo
cho an sinh. Đây là cái sai lầm và độc ác cuốn kinh đã ràng rịt con người
tây phương mà chỉ đến bây giờ ta mới bắt đầu nghi ngờ nó.
Vào thời câu chuyện này được
viết ra thì người Do-thái đã mất hết những hiểu biết về Duyên Sinh
và Sáng-thế-ký 1 là hậu quả. Trong những tác phẩm cổ hơn ta thấy thần
Yahweh của họ chiến đấu chống Leviathan, là con rồng (giao long?), con rắn,
Isaiah, 27:1. [GI.: In that day the LORD with his
sore and great and strong sword shall punish leviathan the piercing serpent, even
leviathan that crooked serpent; and he shall slay the dragon that is in the sea. NCGKPV: Ngày ấy,
ĐỨC CHÚA sẽ dùng thanh gươm vừa cứng, vừa dài, vừa mạnh mà trừng trị
con giao long, con rắn chui nhủi, con giao long, con rắn ngoằn ngoèo, và Người
sẽ giết chết con thuồng luồng ngoài biển.]
Thánh Vịnh 74 (Psalm 74) câu 14
ghi: “Thou breakest the heads of Leviathan in pieces, and gavest him to be meat to the
people inhabiting the wilderness” [NCGKPV: 14.
chính Ngài đã nghiền nát bảy đầu con giao long, vứt nó làm mồi cho thủy
quái). (GCND: Chẳng biết NCGKPV dịch có chính xác hay không?)]. Và ta đọc
được trong cuốn Apocryphal Book of Enoch (Sách về Bí Ẩn viết bởi Enoch):
[GCND: Là một trong những cuốn phúc âm của người Do-thái cổ tưởng đã
bị thất lạc, có bản dịch ra tiếng Hy và La rồi tiếng Ethiopic, không hề được đưa vào cuốn Bible nhưng có
ảnh hưởng trên nhiều bài trong cuốn Tân Ước, bỗng tìm thấy được
trong khám phá các cuộn kinh cổ ở hang Qumran ở Biển Chết, Do thái.] “Trong
ngày ấy hai con quái vật được xẻ thịt; con cái có tên là Leviathan
sống ở đáy biển trên nguồn nước; và con đực tên là Behemoth… “
Trong Gióp (Job) 41:10, thì Chúa trời và quái vật Leviathan
là một: None is so fierce that dare to stir him
up: who then is able to stand before me? [GI (có 36 câu), mà NCGPV(chỉ có 26
câu và đã đặt câu 10 thành câu 2) dịch:
“2 chẳng ai gan đến độ khiêu
khích nó, đối diện với nó, chẳng ai đứng vững.]
Tại sao tự dưng khía cạnh (chiến
đấu) này bị vắng bóng trong cuốn kinh nhà thờ? Bỏ ngòai cái chuyện đám
thầy tu cần cái thánh linh, cái hòan hảo, cái siêu nhiên cho tôn giáo của
họ, phần vắng bóng này là do ở sự dốt nát của những kẻ phiên dịch;
các chữ như bàrà, tebòm, tòbù, bòbù và nhiều nữa.
Những từ này mang ý chiến tranh và cuồng bạo. Bản gốc tiếng Hebrew đọc
như sau: “Ban đầu Elohim (nhiều thần) bàrà (không tạo nên, mà là cắt ra)
trời và đất. Và đất là tòbù và bòbù, và
bóng tối ở trên mặt của tebòm.”
Tebòm là Đại dương ban sơ nguyên thủy,
Không gian hay Uyên Nguyên (Absolute). Tòbù và bòbù, đã
bị dịch sai là “còn trống rỗng, chưa có
hình dạng”, mà đúng ra bao hàm ý quái vật và cuồng bạo. Như giáo sư
Jeremias, nhà Đông phương học người Đức nói: “Không nghi ngờ gì nữa
rằng tòbù
dính líu đến Tiamat và bòbù với Behemoth. Bòbù tương
ứng với Apsu của người Babylon, bạn tình đực của Tiamat.” Như thế bòbù
và Behemoth của tiếng Hebrew là tương ứng với Tiamat, Ymir, Parusha vv., đều
là những biểu tượng cho các yếu tố cuồng bạo mà Tạo Hóa phải chống
chõi. Ở nơi khác chúng còn được gọi dưới tên turbulentos.
Theo những kẻ bào chữa cho nó
thì cuốn kinh Ki-tô là một tinh lọc bằng tiếng Hebrew tất cả những nền
thần học và vũ trụ học của đa thần dân gian; Một quá trình đã che mờ
hòan tòan những tri thức về Duyên Sinh. Bellamy nói: “Nhưng chúng ta không
nên quên rằng câu chuyện trong Sáng-thế-ký chỉ truyền đến chúng ta phần
thăng hoa – và vì thế trên quan điểm của các nhà thần thọai học, rất
mất gốc, nếu không muốn nói là dưới dạng hũ bại. Vã lại nếu ta
chú ý nghe đến lối dùng chữ Hebrew ở những câu đầu của cuốn Sáng-thế-ký,
ta vẫn còn tìm được dấu vết của ý nguyên gốc mà không kẻ viết kinh
nhà thờ nào có thể triệt tiêu được.” (Từ Moons, Myth and Man).
3 Thiên Chúa phán:
"Phải có ánh sáng." Liền có ánh sáng.
Đây là chỗ bắt đầu nhân
cách hóa chết người đã từng dối gạt nhân lọai. Một nhân dạng và giọng
Chúa trời hô lên: "Phải có ánh
sáng." Chúa đã chẳng hề nói như thế; chỉ nhà ngụ ngôn nói
Chúa nói như thế đã tạo ra sự khác biệt giữa mê tín và tri thức. Con
người đã gán lời vào những vật nó tạo ra rồi về sau tin là những vật
ấy nói được.
4 Thiên Chúa thấy rằng ánh
sáng tốt đẹp. Thiên Chúa phân rẽ ánh sáng và bóng tối.
Lại
chỗ này, Chúa thấy ánh sáng, và nghĩ là
nó tốt đẹp, nhưng làm sao kẻ viết kinh nhà thờ hiểu là Chúa đã làm
thế? Hay là Chúa đã nói với y việc làm ấy sau hằng nghìn tỷ năm? Không!
thế giới hiện hữu và tác giả chỉ giả ngộ cho những thời kỳ khác
nhau của nó đúng lúc và thích đáng. Rõ ràng là ánh sáng này chẳng từ mặt
trời, vì mặt trời, tinh tú đợi dến ngày thứ tư mới được tạo ra.
Trái lại, ánh sáng này là “ánh sáng rọi
từ bóng tối” sơ khai tiên khởi, và nó không hề được chế ra bởi thần
linh nào chỉ thốt ra "Phải có ánh
sáng." Cái một năng lượng tạo tác phân ra làm hai, dương và âm,
và sự tương tác của chúng làm ra cái gì chiếu sáng so với bóng tối của
Uyên Nguyên. Theo Tân Ước thì cái “ánh sáng rọi từ bóng tối” ấy là
Đấng Cứu Thế (Christ), nhưng đúng ra nó chính là Lucifer, Con của Buổi
Sáng, của tạo dựng; nói theo nghĩa uy lực thì không ai khác hơn là chính
Tạo Hóa. Do sự bưng bít điều này của người Do-thái cổ mà bản chất
thực của Duyên Khởi đã bị che dấu; hậu quả đưa đến hai mươi lăm
thế kỷ u mê tâm linh. Sự u mê này phải bị xóa tan đi. Đã đến lúc cả
cuốn kinh phải chịu một “cuộc xét lại đau đớn”, và Sáng thế Ký
là điểm khởi đầu. Vì thế chúng ta cũng nói, phải có ánh sáng, nhưng lần
này là ánh sáng của tri thức.
5 Thiên Chúa gọi ánh
sáng là "Ngày", bóng tối là "Đêm". Qua một buổi chiều
và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhất.
Xin lưu ý đến những chữ viết
hoa ở đây [bản NCGPV không viết hoa – người dịch sữa lại]. Vì thế
giới và mặt trời chưa được dựng lên, nên Ngày và Đêm nói trên không
phải ngày và đêm của chúng ta; chúng là điều mà Ấn giáo gọi là Ngày
và Đêm của Brahma, đấng Tạo Hóa – những thời kỳ vô lường trong quá
trình tạo dựng. Theo đó thì Ngày là khỏang từ chiều cho đến sáng; nghĩa
là từ tối tăm của Uyên Nguyên (vô thể) cho đến ánh sáng của Hữu Thể.
Những Ngày như thế phải kể đến hàng tỷ năm nếu không nói là hàng
ngàn tỷ năm, ở đây ta thấy được bao nhiêu cái được nói đến và
không nói đến bởi bốn chữ "Phải có
ánh sáng." Và vụng về trong lời giải thích.
6 Thiên Chúa phán: "Phải
có một cái vòm ở giữa khối nước, để phân rẽ nước với nước."
7 Thiên Chúa làm ra cái vòm đó
và phân rẽ nước phía dưới vòm với nước phía trên. Liền có như vậy.
8 Thiên Chúa gọi vòm đó là
"trời". Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ
hai.
Danh từ firmament
(vòm trời) theo tiếng Hebrew là rakia chỉ có nghĩa là một khỏang
không. Trong ấy là thực thể các hành tinh mới hình thành, một cầu trường
của năng lượng vũ trụ - cái “vòng-không-qua” (ring-pass-not) của ngành
vũ trụ học cổ đại. Sự phân chia nước (năng lượng) ở bên trên và
bên dưới chỉ là sự phân chia những nguyên tố hành tinh khỏi Uyên
Nguyên, và Hữu thể khỏi Vô thể.
9 Thiên Chúa phán: "Nước
phía dưới trời phải tụ lại một nơi, để chỗ cạn lộ ra." Liền
có như vậy.
Cứ cho là chỗ cạn [bản
tiếng Anh viết là “dry land”] là thể chất của quả đất ngày nay, xem
ra ta không nắm được tòan bộ ý nghĩa của chương này, cốt chỉ nói đến
cái thế giới tiền-vật-chất. Sự phân chia ở đây không phải giữa đất
và nước mà là giữa khí và chất, giữa Ba Ngôi và Địa kỳ thứ
Tư. Điều này đã xảy ra trên chỏm của lớp cuộn thứ ba và thứ tư. Cái
sai của nhà thờ là đã giữ lại cái phần (thần) khí để phụng thờ,
trong khi cái bốn (vật) chất lại là sự kết chặt của cái ba (thần)
khí. Tạo Hóa đã chặt cầu sau lưng, nhưng không hề gì đối với tôn
giáo nên thầy tu đã ém nhẹm đi.
10 Thiên Chúa gọi chỗ cạn là
"Đất", khối nước tụ lại là "Biển". Thiên Chúa thấy
thế là tốt đẹp. [bản NCGPV không viết hoa – người
dịch sữa lại]
“Đất” ở đây là đất-định hình, ở lớp thứ tư và vẫn chưa
thấy được. “Biển” cũng như thế. Trong khắp cả Cựu Ước và Tân Ước,
cả ba lớp nằm giữa khí và chất được gọi là “biển”, là “nước”
vv. Giữa lớp thứ tư và thế giới vật chất là chu kỳ mặt trời, sự
kiện có đến hàng ngàn tỷ năm. Thầy tu có thể là ngu dốt hoặc không
muốn biết đến điều này. Các tác giả của Tân Ước đã biết điều này,
nhưng lại trình bày một cách rất mơ hồ để cho người tân thời khó hiểu
nỗi. Chúng tôi sẽ giải thích thêm về sau.
11 Thiên Chúa phán: "Đất phải sinh
thảo mộc xanh tươi, cỏ mang hạt giống, và cây trên mặt đất có trái,
ra trái tuỳ theo loại, trong có hạt giống." Liền có như vậy.
Người viết
kinh nhà thờ đã nhìn thấy rõ rằng mọi vật trong thế giới sinh ra từ một
cái hạt của nó, nhưng không thể hoặc không muốn thấy chuyện này cũng
đã xảy ra cho quả đất. Nếu y bảo rằng một cái cây vũ trụ “tự nó
đã có mầm” thì mọi chuyện đã khác. Từ đó cái siêu nhiên đã không
che mờ tự nhiên; chuyện “thần thánh” đã không làm chúng ta chệch hướng
với Thực tại.
(Còn Tiếp) |