405-gd.gif (4053 bytes)

posted: 28.4.2005

Vietnam muon nam  Sau 30 tháng 4–1975 một thời gian chưa đủ dài để vơi đi những niềm hân hoan bên cạnh những cơn hoảng hốt, lo sợ, đắng cay thì, những tình thâm máu mủ trong vòng gia tộc ở hai phía bắc-nam  -kẻ tập kết ra bắc để giữ vẹn lời thề thống nhất, độc lập đất nước, kẻ vào nam để giải phóng một nửa nước đang còn bị “nô lệ”, gặp nhau mừng tủi. Có những giọt nước mắt đoàn viên sung sướng vang trời đất, nhưng cũng có những nụ cười gượng gạo. Sau những tiếng chào hỏi vấn an, có những tiếng “chửi thề” lặng lẽ... Dù cơn hạnh phúc đoàn viên có tròn đầy hay méo mó còn tùy thuộc vào cảnh huống “thuận nghịch” của mỗi gia đình, nhưng chắc hẳn trong thân tâm mỗi cá nhân trong vòng gia tộc họ hàng, không ai còn có thể coi nhau như kẻ thù địch nữa. Nhưng ba mươi năm sau, trên bình diện quốc gia, liệu thời gian đã đủ dài để chúng ta có thể cư xử với nhau trong tình anh em một nước ? Liệu những niềm tự hào ngây ngất của kẻ chiến thắng đã vơi đi để thay thế cho tình đất nước, dân tộc ? Nếu hai câu hỏi nầy không còn cần thiết, thì việc kẻ chiến thắng biết quay người lại, thắp một nén nhang cho vong hồn những “kẻ thù” anh em chiến bại chính là nghĩa cử của những kẻ anh hùng mã thượng. Trong ý hướng đó mà web Giao Điểm giới thiệu với độc giả hai bài viết của nhà văn Giao Chỉ về hai cái chết của hai vị tướng miền nam: Dương Văn Minh và Nguyễn Khoa Nam dưới đây. (Theo chúng tôi biết, nhà văn Giao Chỉ là bút hiệu của ông Vũ Văn Lộc, cựu đại tá của quân đội VNCH, hiện cư ngụ ở thành phố San Jose, bang California, Hoa Kỳ.) Web GĐ.

* * *

Bài 1-

30 Tháng Tư – 30 Năm Sau
Tưởng Niệm Big Minh
MỘT VÒNG HOA CHO NIÊN TRƯỞNG

Giao Chỉ – San Jose 2005

Nếu anh không nói!  Ai nói?
Bây giờ không nói!  Bao giờ?

            Lời nói đầu:   Từ suốt 30 năm qua, cứ đến 30 tháng 4 là mọi người đều nhắc đến câu chuyện tướng Dương Văn Minh đầu hàng với biết bao nhiêu là oán trách.

     Riêng chúng tôi vẫn giữ trong lòng những suy nghĩ khác.  Bây giờ sống trong thế giới tự do và dân chủ xin cho chúng tôi được giãi bày quan điểm khác biệt với quý vị.  Vào năm 2000, nhiều hồ sơ về chiến tranh Việt Nam đã được giải mật và tháng 4-2005 tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng mới phát hành cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy đã cho thấy dù quyết tâm chiến đấu ngay từ đầu năm 1975 và không có các quyết định chiến lược sai lầm thì số phận miền Nam cũng phải được giải quyết trong thời hạn một năm.

     Tiếp theo với chiến lược sai lầm trong 55 ngày cuối cùng làm mất vùng 1 và vùng 2 với hai quân đoàn và tất cả lực lượng Tổng Trừ Bị, miền Nam chắc chắn không thể nào gượng lại được nữa.

          Vào ngày 28 tháng 4-1975, khi Cộng quân đã đến ngưỡng cửa Sài Gòn, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã không còn bất cứ một nguồn tiếp liệu dự trữ nào tại thủ đô.  Hai tổng kho vĩ đại là Đà Nẵng và Long Bình có khả năng cho 90 ngày tiếp liệu đã nằm trong vùng địch.  Kho bom đại vĩ đại nhất Đông Nam Á ở Thành Tuy Hạ bốc cháy lửa lưng trời.  Nếu tiếp tục chiến đấu, các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa sẽ chỉ còn trên tay các vũ khí nhẹ làm thành các ổ kháng cự nhỏ và sẽ bị tiêu diệt trong thời gian ngắn.  Nếu nỗ lực lập được phòng tuyến vòng đai xa lộ cho thủ đô thì Sài Gòn sẽ chịu trận mưa pháo như An Lộc.  Trong mùa hè đỏ lửa năm 72, thị trấn An Lộc chịu pháo 10 ngàn trái một ngày.  Trong khi đó năm 75, Bắc quân đưa 19 sư đoàn với 1,000 chiến xa và đại pháo hướng về Sài Gòn.  Tất cả các đơn vị trừ bị của Hà Nội đều tung vào Nam.  Trận địa pháo vào Sài Gòn sẽ ác liệt hơn nhiều vì đông dân và không có công sự phòng thủ.

     Vào những ngày tháng năm 75 của 30 năm về trước những cấp chỉ huy cộng sản suốt đời đội bom B52 sẽ rất hả hê vui mừng được bắn phá thủ đô miền Nam trả thù, để tiến vào như đạo quân chiến thắng thực sự thay vì đem quân vào một thành phố bỏ ngỏ.

     Và miền Tây của tướng Nguyễn Khoa Nam tuy chưa nao núng nhưng thực sự chỉ là vấn đề thời gian.  Hình thức chiến tranh mà miền Nam tùy thuộc suốt 20 năm không phải dễ dàng đổi vai trò để biến thành đạo quân cách mạng đánh du kích chống cộng sản xâm lược.

     Đó là hoàn cảnh của ngày 28 tháng 4-1975 khi ông Dương Văn Minh lên làm tổng thống.  Dù muốn hay không, số phận nghiệt ngã của lịch sử đã dành cho ông vai trò chấm dứt cả hai nền Cộng Hòa Việt Nam.   Đệ nhất và đệ nhị.  10 năm trước ông được đưa lên làm đảo chính chấm dứt nền Đệ Nhất Cộng Hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm.  10 năm sau đến lượt Đệ Nhị Cộng Hòa cáo chung khi ông được đưa ra cúi đầu trước lịch sử.

     Nhờ ông Minh người Mỹ có thể ra đi trong trật tự và kéo theo 130,000 dân di tản đợt đầu.

     Và từ đó lịch sử mở tiếp các trang mới đầy đau thương cho đến 30 năm sau.   Trải qua những năm dài với thuyền nhân trên bể khổ để rồi gần 500 ngàn được định cư.  Trải qua những năm dài với tù đày lao cải, trên 400 ngàn HO và gia đình đã định cư.  Các đợt thuyền nhân và HO kéo theo ODP, con lai để rồi chúng ta có 1 triệu 300 ngàn trên miền đất hứa Hiệp Chủng Quốc.   Chúng ta thành công dân của chính quốc gia đã phản bội chúng ta trong chiến tranh Việt Nam.

     Nếu chúng ta bằng lòng với cuộc sống hiện nay, chúng ta không thể nguyền rủa ông Dương Văn Minh.  Nếu chúng ta bất mãn với cuộc sống hiện nay, chúng ta cũng phải trút oán hờn vào nơi khác.  Niên trưởng Dương Văn Minh với công việc làm tổng thống miền Nam trong hai ngày cuối cùng chỉ là ông đại tướng đóng vai tốt đen làm con chốt thí.  Dứt khoát là ông đã cứu Sài Gòn với hàng chục ngàn cái chết hoàn toàn vô ích trong những ngày cuối cùng của miền Nam Việt Nam.  Trong niềm cảm thông sâu xa với vai trò bẽ bàng đau khổ của niên trưởng Dương Văn Minh tôi xin viết bài này gửi ông một vòng hoa tưởng niệm.  Bài viết khi ông chết năm 2001 và được bổ túc lại vào dịp 30 năm của ngày 30 tháng 4 oan trái.

*    *     *

          Trong số các niên trưởng quân đội, tôi nghĩ rằng tướng Dương Văn Minh là người đã gặp nhiều oan trái nhất.  Có thể do lỗi của chính ông.  Tuy nhiên, thực ra nguyên nhân đã đến từ nhiều phía.  Trong một niềm riêng, tôi viết bài này cho đại tướng, một cấp bậc mà ông không chấp nhận, ông cũng không bao giờ đeo lon đại tướng từ lúc được thăng cấp cho đến khi ông qua đời.  Đây không phải là một vòng hoa rực rỡ cho người anh hùng mà là một vòng hoa tang lạnh lẽo cho vị niên trưởng đã ra đi lần cuối tháng 8-2001.

          Hơn 30 năm qua, ông Dương Văn Minh là người bị phê bình và oán trách khá nhiều, nhưng ông lại là người ít lên tiếng để biện minh.  Trong chỗ riêng tư và qua người con rể là đại tá Nguyễn Hồng Đài, ông đã nói như sau:  “Viết để bào chữa cho mình thì tôi không làm, viết để kể xấu người khác thì tôi càng không muốn.”  Ông đã nhận chức tổng thống VNCH trong hai ngày cuối cùng, cô đơn giữa một nội các khập khiễng và hoàn toàn không nắm vững tình thế.  Các giới chức Hải Quân VNCH trước khi lên đường có ngỏ ý sẵn sàng chở tướng Minh đi vào đêm 29 tháng 4-1975.

          Tướng Minh quyết định ở lại và dự trù chỉ gửi vợ con ra đi.  Nhưng bà Dương Văn Minh cũng nhất định ở lại với chồng và chỉ có gia đình con gái và con rể đi vào giờ chót.  Ông Minh cho biết là Cộng Sản đã phối trí pháo chung quanh để khai hỏa đồng loạt dằn mặt Sài Gòn.  Ông ở lại và chấp nhận tất cả mọi hậu quả.

          Ông cũng cho biết, qua lời đại tá Nguyễn Hồng Đài là người Mỹ đã yêu cầu chính phủ của ông ra thông cáo “mời họ ra đi.”  Việc này vị Thủ tướng của ông Tổng thống Dương Văn Minh là luật sư Vũ Văn Mẫu đã chính thức lên tiếng trên đài phát thanh Sài Gòn.

          Tuy nhiên, phải thành thật mà ghi lại rằng, đây vẫn còn là bí ẩn của lịch sử.  Mỹ yêu cầu Việt Nam mời họ đi hay là quyết định đơn phương của Nội Các Dương Văn Minh.

          Sau khi đầu hàng, ông ở nhà chờ Cộng Sản kêu đi học tập.    Ông nói rằng:  Khi cụ Huyền (tức phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền) và ông Mẫu (tức thủ tướng sau cùng Vũ Văn Mẫu) bị gọi đi học tập, mình ở nhà chờ đợi thật khó chịu.

          Một năm sau, có một người nhận là “thủ trưởng” đem đến một thùng sách nói là để giúp ông học tập tại nhà.  Tướng Minh nói:  “Tôi không có lòng dạ nào mà học tập, cũng chẳng thấy có gì cần học tập, xin anh cứ đem về.”  Thùng sách nằm tại phòng khách.  Bốn tháng sau, thủ trưởng đến khảo sát kết quả nhưng thấy ông bị bệnh nên đã đem sách về.

          Khi bị đau nặng chính phủ Hà Nội đề nghị ông đi Nga, hoặc là đi Đông Đức để chữa bệnh nhưng ông từ chối.  Gia đình ông yêu cầu cho đi Pháp nhưng cứ chờ đợi mãi.  Sau cùng được biết trước một ngày.  Sáng hôm sau có xe chở ra phi trường Tân Sơn Nhất, đến cửa phi cơ mới thấy vé máy bay và thông hành.

          Viên phi công người Pháp đã được lệnh chờ và dành chỗ cho 2 người khách đặc biệt, lúc đó mới biết đó là ông bà cựu tổng thống Dương Văn Minh.

          Một vài tin tức ghi trên đã ghi lại từ đại tá Vũ Quang và đại tá Nguyễn Hồng Đài.

          Sau hết, đã từ lâu đã muốn đưa lên một ý kiến riêng tư về hoàn cảnh đại tướng Dương Văn Minh, tuy nhiên tôi không muốn mở ra một cuộc tranh luận mới.  Vì vậy nên ý kiến của chúng tôi nếu không được chấp nhận, xin quý độc giả vui lòng lượng thứ.  Những ý kiến đó như sau:

            OAN TRÁI MỘT ĐỜI

     Mỗi người trong chúng ta đều có riêng một ngày ba mươi tháng tư.  Và niên trưởng của tôi, Đại Tướng Dương Văn Minh tức Minh Dương hay Big Minh cũng có riêng của ông một ngày ba mươi tháng tư vô cùng tệ hại.

     Hình ảnh Tổng Thống Dương Văn Minh cao lớn, cúi đầu, hai tay buông thõng phía trước như người bị trói, bước đi giữa hai cán binh Cộng Sản đăng trên báo chí toàn thế giới đã làm cho chúng ta vô cùng đau đớn.

     Trước đó 12 năm, báo chí thế giới phổ biến hình ảnh hai anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu bị thảm sát trên thiết vận xa M113.  Hình ảnh này cũng mang nặng trách nhiệm trên vai tướng Minh, là người lãnh đạo cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11-1963.  Thậm chí dư luận buộc tội ông chính là người ra lệnh giết Tổng Thống và bào đệ.

     Sáu năm sau ngày 30 tháng 4-1975, chiến binh Việt Nam Cộng Hòa huynh đệ đang ở trong các trại tù lao cải bị lùa ra sân ngồi chờ coi phim thời sự.

     Anh em đã lại thêm một lần căm gan tím ruột khi Cộng Sản chiếu hình Tướng Minh, vị Tổng Thống cuối cùng của miền Nam đi bỏ phiếu bầu với tư cách là công dân của chế độ mới.

     Trong suốt một phần tư thế kỷ lưu vong, Đại Tướng Dương Văn Minh thường là đề tài của biết bao nhiêu oán hận, chê trách.   Dưới thời đệ nhất Cộng Hòa, ông bị nghi là thân Pháp âm mưu phản nghịch.  Đến biến cố năm 1963 ông bị tố cáo là tay sai của Mỹ và giết chết Tổng Thống.   Dù là người lãnh đạo đảo chính thành công, ông đã bị đàn em lưu đày đi Thái Lan dưới thời đệ nhị Cộng Hòa của Tổng Thống Thiệu.

     Sau đó ông trở về nước tham gia cuộc tranh cử Tổng Thống với các liên danh ông Thiệu, ông Kỳ.  Rút cuộc Thiếu Tướng Kỳ và Đại Tướng Minh cùng rút lui để Trung tướng Thiệu độc diễn và đắc cử.

     Cho đến tháng 4-1975 ông bị buộc tội thân Cộng và lên cầm quyền chỉ nhằm mục đích đầu hàng.

     Hình ảnh của một Tổng Thống miền Nam đầu hàng và cộng tác với chính quyền Cộng Sản đã ghi xâu đậm niềm cay đắng trong tâm khảm của hàng ngàn anh em tù “cải tạo” đem ra hải ngoại, tưởng chừng sẽ không bao giờ xóa bỏ được.   Cho đến ngày...

     Cho đến ngày 6 tháng 8 năm 2001 khi ông Dương Văn Minh 86 tuổi, bị té xuống đất tại thành phố Pasadena, quận Los Angeles phía Nam tiểu bang California.

     Và như vậy, người thanh niên của tỉnh Long An sinh năm 1916, học chương trình Pháp, đi lính cho Pháp, trưởng thành trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, ở lại với xã hội chủ nghĩa, đi chữa bệnh và cư ngụ tại Pháp, nhưng sau cùng đã trải qua những năm chót cho đến khi qua đời tại Hoa Kỳ.  Trong nhà của cô con gái và các cháu ngoại.

          VÀI HÀNG TIỂU SỬ

     Theo tài liệu của Chử Bá Anh, dù vóc dáng võ biền nhưng ông Dương Văn Minh là người có học lực khá cao.

     Sinh năm 1916 tại Mỹ Tho, theo học Chasseloup Laubat tại Sài Gòn, ông Minh đỗ tú tài II chương trình Pháp ban toán vào năm 1938 cùng một lớp với tướng Trần Văn Đôn.   Thế chiến lần thứ hai bùng nổ, người Pháp tổ chức 3 chương trình đào tạo cán bộ cho quân đội.  Trung tâm huấn luyện “TONG” ở miền Bắc đã đào tạo ra Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ.  Trung tâm Mang Cá ở miền Trung đã đào tạo ra Đại Tá Hà Văn Lâu sau này theo Cộng Sản.  Trung tâm ở miền Nam đặt tại Thủ Dầu Một.  Nơi đây ông Minh đã ra trường với cấp bậc Aspirant tức là Chuẩn Úy vào năm 1940.

     Khi Nhật đảo chánh Pháp, ông Minh đang phục vụ tại Cap’s Jacques và bị Nhật cầm tù năm 1945.   Khi Pháp trở lại, ông bị Tây bắt cùng với ông Nguyễn Ngọc Thơ.  Hai cái răng cửa của ông bị Tây đánh gẫy và nhiều năm sau này ông vẫn không trồng răng giả để giữ kỷ niệm về trận đòn của công an Pháp.  Vì vậy trong quân đội còn gọi ông là Minh Sún.   Khi lên cấp tướng, các sĩ quan gọi là Minh Dương hoặc Minh lớn để phân biệt với tướng Minh Trần.  Báo chí Hoa Kỳ gọi ông là Big Minh.

     Tháng 9 năm 1955 ông được cử làm đại tá tư lệnh chiến dịch Hoàng Diệu đánh Bình Xuyên tại Rừng Sát.  Lúc đó trung tá Nguyễn Khánh làm tư lệnh phó và thiếu tá Nguyễn Hữu Hạnh làm tham mưu trưởng.

     Sau khi hoàn tất việc dẹp Bình Xuyên, ông Minh được tổng thống Diệm tín nhiệm trong chức vụ tư lệnh chiến Nguyễn Huệ rồi tiếp đến Thoại Ngọc Hầu để bình định miền Tây đánh quân Hòa Hảo của tướng Ba Cụt.

     Trở về Saigon dù mang lon tướng nhưng ông Dương Văn Minh dần dần bị thất sủng trong chức vụ “ngồi chơi xơi nước” tại Bộ Tư Lệnh Hành Quân.  Năm 1963 với cấp bậc trung tướng thâm niên nhất sau đại tướng Lê Văn Tỵ, tướng Minh được coi như một thứ anh Hai của các tướng lãnh ngấm ngầm chống gia đình tổng thống Ngô Đình Diệm.

     Tuy ông là người lãnh đạo cuộc đảo chính 1 tháng 11-1963 nhưng thực sự chủ động do các tướng lãnh đàn em thực hiện.  Từ việc âm mưu móc nối, đến việc liên lạc với Hoa Kỳ, điều động các đơn vị đều do các tướng Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính v.v... đảm trách.

     Trong một cuốn hồi ký đại tá Phạm Bá Hoa đã ghi lại một câu nói phản ảnh của con người tướng Dương Văn Minh và sự liên hệ trong vụ đảo chánh.

     Ông Minh nói với hội đồng quân nhân Cách Mạng sau khi nhóm họp:  “Sao, tụi toi có cần gì moi nữa không?”

     Với cung cách lãnh đạo như vậy, các tướng lãnh đảo chánh đã phải trải qua một thời gian đầy sóng gió, sau khi nền đệ nhất Cộng Hòa bị xóa sổ.

     Trong sự rối ren về chính trị đó, dưới sự điều động của Tướng Nguyễn Khánh, quốc Trưởng Phan Khắc Sửu đã thăng cấp đại tướng cho ông Dương Văn Minh và cả ông Nguyễn Khánh.  Dù vẫn được gọi là đại tướng nhưng ông Minh từ chối đeo lon và bị đàn em đẩy đi Thái Lan làm đại diện chính phủ.   Một chức vụ rất vớ vẩn đặt ra vì nhu cầu chính trị.

     Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu khi ổn định nền đệ nhị Cộng Hòa đã cho phép tướng Minh về nước.  Trở về với thú vui cây cảnh tại dinh “Hoa Lan” Tướng Minh lại được phía Hoa Kỳ móc nối để yêu cầu ra ứng cử tranh đua chức tổng thống với ông Thiệu, ngõ hầu tạo cho cuộc bầu cử có mầu sắc dân chủ.

     Sau đó vì nhận thấy sẽ chỉ là lá bài lót đường nên ông Minh đã rút lui.

     Bất hạnh cho ông, thay vì lót đường trong kỳ tranh cử tổng thống thì định mệnh đã dành cho ông làm công việc lót đường tủi nhục hơn vào tháng Tư năm 1975.

      MỘT VÒNG HOA CHO NIÊN TRƯỞNG

     Khi ông trưởng thành thì tôi mới ra đời.  Ông vốn là dân Long An sinh ra ở Mỹ Tho.  Nơi sinh của tôi là Nam Định dù chính quán Hải Dương.  Mỹ Tho Long An và Hải Dương Nam Định đều cách xa ở hai đầu đất nước.

     Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh của ông tư lệnh chiến dịch Nguyễn Huệ duyệt qua hàng sĩ quan tại bộ tư lệnh ở Long Xuyên hơn 40 năm về trước.

     Tướng Dương Văn Minh vóc dáng cao lớn, mặt mũi đen đủi, răng cửa trống toác, tay cầm can vung vẩy nói với anh trung úy Bắc Kỳ con nít mặt còn mụn trứng cá, với nửa mối tình đầu.

     “Toi người Bắc vậy có muốn theo qua đánh ra Hà Nội không?”

     Tôi đáp lại giọng yếu xìu:  Có.

     “Nói nhỏ xíu mà đánh đấm gì.”

     “Thưa Thiếu tướng có, đánh thẳng ra Hà Nội.”  Anh trung úy đáp lớn hơn, giọng pha một chút tự ái.

     ”Bon, Engage” ông tướng hài lòng nói bằng tiếng Pháp rằng tốt lắm, hãy sẵn sàng nhập cuộc.

     Sau đó, tôi với ông không có nhiều liên hệ trực tiếp.  Sau các chiến dịch miền Tây, ông tư lệnh về Sài Gòn, còn anh Trung úy Bắc kỳ đổi về Quân khu 1 sống với các địa danh lạ lùng từ Sông Bé đến Bình Giả.  Hết Bời Lời, Củ Chi lại đến Hồ Bò Đồng Xoài  Cho đến những năm sau cùng tại bộ Tổng Tham Mưu, tôi biết về ông qua anh bạn Nam Kỳ là đại tá Nguyễn Hồng Đài con rể của tướng Minh mà anh em gọi đùa là phò mã.

     Tuy nhiên, tôi vẫn còn ghi nhớ cái thỏa ước bất thành văn với niên trưởng Dương Văn Minh về một trận đánh ra Hà Nội.

     Nào ngờ tháng 4 năm 1975 ông chẳng đánh ra Hà Nội mà lại ngồi ở Dinh Độc Lập chào đón người Hà Nội đánh vào Saigon.  Phần tôi, anh trung úy Bắc Kỳ con nít năm xưa cũng chẳng bao giờ có dịp theo ông đánh ra Hà Nội.  Khi nghe tiếng ông ra lệnh buông súng trên Radio thì tôi chỉ còn đường vội vàng xuống tàu Quân Vận tại Khánh Hội mà chạy thẳng ra biển.

     Đại tướng Dương Văn Minh xuất thân võ bị nhưng thực ra cuộc đời của ông dính liền đến chính trị.  Từ trong tâm khảm, ông là người thích vui thú điền viên nhưng với một chút tham vọng còn lại cũng đủ bị lôi kéo vào thời sự.  Với hình ảnh của một anh Hai Nam Kỳ, “qua” nói cho các em nghe, ông đã có được một số thân cận trong chính giới và nhà binh trải qua nhiều năm và nhiều hoàn cảnh.  Tuy là người hoạt động chính trị nhưng ông luôn luôn bị thời sự chính trị qua mặt và bị lừa vì những ảo tưởng của chính ông cũng như từ nhiều phe phái đem đến.

     Với thành tích dẹp các giáo phái từ Bình Xuyên đến Hòa Hỏa đúng ra ông phải là công thần số một của nền đệ nhất Cộng Hòa.  Vì nhờ đó mà chế độ đã vượt qua giai đoạn phôi thai khó khăn nhất.  Nhưng tướng Dương Văn Minh đã trở thành một tướng lãnh Nam Kỳ bị ngồi chơi xơi nước, ngay sau ông Ngô Đình Diệm ổn định được miền Nam.

     Qua cuộc binh biến của Nhẩy Dù với Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông, giới quân nhân rút kinh nghiệm về khả năng của anh em ông Diệm lật lại thế cờ, nên đã phải ra tay quyết liệt.

     Khi phe đảo chính tấn công vào dinh Gia Long không thấy anh em ông Diệm, tất cả đều đã sững sờ thất sắc.

     Do đó cái chết của anh em ông Diệm là chuyện không thể tránh được trong hoàn cảnh đảo chính hỗn quân hỗn quan.  Nhất là sau đợt đấu tranh căm thù sôi sục vì những hành động sai lầm của ông và bà Ngô Đình Nhu.

     Trong vai trò lãnh đạo, mỉa mai thay, người quyết định ít nhất nhưng lại là người lãnh trọn vẹn trách nhiệm về cái chết của một tổng thống.  Ông Dương Văn Minh không thể chối bỏ được trách nhiệm đó.

     Đến năm 1975, một lần nữa tướng Dương Văn Minh lại bị thời cuộc chính trị và tất cả các phe phái lừa dối.

     Người Mỹ liên lạc mời ông chuẩn bị cầm quyền để thương thuyết trong giai đoạn chuyển tiếp.  Người Pháp, qua tòa đại sứ dứt khoát cho biết đã liên lạc với mọi phía và rằng chỉ có Big Minh mới là nhân vật giải quyết được tình hình.  Nhóm phật giáo Ấn Quang tự nhận có móc nối với phía bên kia hứa hẹn sẽ sẵn sàng nói chuyện.

     Thậm chí cả chính quyền Hà Nội khi lên tiếng đòi tổng thống Thiệu từ chức, rồi tiếp theo cũng không chịu nói chuyện với ông Trần Văn Hương vì nại cớ cụ Hương cũng là người của ông Thiệu.

     Bằng cách không phản đối tướng Dương Văn Minh, Hà Nội có ý gián tiếp gửi một thông điệp coi như đây là người có thể nói chuyện được.

     Và chính tướng Minh cùng giới chức thân cận của dinh Hoa Lan cũng đều hy vọng là sẽ lập nội các mới để thỏa hiệp ngưng bắn tại chỗ, ngõ hầu bàn chuyện hòa giải dân tộc.

     Ngay cả quốc hội VNCH vào những ngày cuối cùng cũng đều có ảo tưởng giao quyền từ cụ Hương qua ông Minh sẽ ngưng được cuộc tiến quân của Cộng Sản để nói chuyện hòa đàm. 

     Vào buổi chiều mưa gió tại Dinh Độc Lập, khi trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, tổng tư lệnh quân đội đã bay qua Đài Bắc, đại tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng bay qua Thái Lan, phía quân đội chỉ còn trung tướng Đồng Văn Khuyên đại diện.  Cuộc bàn giao chức tổng thống giữa cụ Trần Văn Hương và ông Dương Văn Minh đã diễn ra trong bầu không khí nghiêm trọng và ảm đạm.

     Cả 2 người đều dùng những tiếng rất tình cảm trong các bài diễn văn lịch sử.  Mở đầu cụ Trần Văn Hương:  “Thưa đại tướng, bây giờ xin đại tướng có cơ hội thì ra nhận trách nhiệm mà cứu đất nước.”  Cụ Hương không bao giờ nghĩ rằng sẽ giao cho đại tướng công việc đầu hàng.

     Để đáp từ, ông Dương Văn Minh gọi cụ Hương là thầy:  “Thưa thầy, tôi sẽ hứa chu toàn trách nhiệm.   Sẽ nói chuyện phải quấy với người anh em phía bên kia.”  Đại tướng không bao giờ nghĩ rằng nhận trách nhiệm từ thầy Hương để rồi sẽ đầu hàng.  Trước khi ông Big Minh đọc bài diễn văn nhậm chức, một sĩ quan đã gỡ tấm huy hiệu cũ của tổng thống Thiệu trên bục thuyết trình để thay bằng huy hiệu Mai Vàng rực rỡ.  Đó không phải là sự chuẩn bị để đầu hàng.

     Vì vậy niên trưởng Dương Văn Minh đã bị lừa.  Ông Thiệu lừa cả cụ Hương, cả quốc hội, cả QLVNCH và cả miền Nam để ra đi cho êm thắm.   Khi từ chức Tổng thống Thiệu nói là ông từ nhiệm chứ không đào nhiệm.  Một cách vô cùng khéo léo, và do tình thế góp phần ông đã trở thành một nhân vật cản trở cho hòa bình và khi ông ra đi lại là một sự hy sinh.  Nhưng thực sự, ông ra đi quá trễ đã để lại một quốc gia và một quân đội tan tác không thể hàn gắn được.  Hoa Kỳ cũng lừa ông Kỳ và ông Minh để cuộc rút lui của họ được yên ổn và trật tự.  Người Mỹ một mặt hứa hẹn lăng nhăng để tướng Kỳ án binh bất động.  Một mặt vào giờ chót, Hoa Kỳ yêu cầu ông Minh ra thông cáo buộc người Mỹ phải ra đi.

     Cũng như năm xưa, dưới thời thủ tướng Phan Huy Quát và quốc trưởng Phan Khắc Sửu, khi Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã đổ bộ xuống ở miền Trung ngày 8 tháng 3-1965, qua hôm sau chính phủ Việt Nam mới biết để vội vàng thảo thông cáo mời quân đội Mỹ tham chiến.

     Người Pháp và Phật Giáo Ấn Quang đều bị Cộng Sản lừa bịp ậm ừ sẵn sàng hòa đàm để rồi chuyển lại các tin tức bánh vẽ cho tướng Minh và thân hữu..

     Kịp đến khi toàn quân tan nát, không còn gì để điều đình, thậm chí không còn gì để bàn giao nữa thì đã quá muộn màng.

     Năm 1963 với quyền rơm vạ đá, niên trưởng Dương Văn Minh đã chịu tội cho tất cả các tướng lãnh và quân đội làm đảo chánh, nếu cho rằng cuộc đảo chánh giết anh em ông Diệm là một tội lỗi.

     Năm 1975, một lần nữa, niên trưởng Dương Văn Minh đã giơ đầu chịu báng theo cung cách mà quân đội gọi là ra “lãnh đạn”.

     Tất cả các tướng lãnh đã một thời Huynh Đệ Chi Binh chia ngọt sẻ bùi đều không ai có mặt, để lại một ông đại tướng hoàn toàn không nằm vững tình thế từ quân sự đến chính trị gánh toàn bộ ngàn cân tủi nhục của vai trò thua trận đầu hàng.

     Nếu toàn quân và toàn dân có những lý do mà trách cứ ông Dương Văn Minh, tôi sẽ không có gì để tranh luận.  Nhưng riêng phần tôi, tôi không tin là ông Minh lên cầm quyền nhằm mục đích đầu hàng phản bội miền Nam.  Trong đệ nhị thế chiến, tướng Petain ra đầu hàng Đức quốc xã nói là để cứu Paris là kinh đô ánh sáng với ngàn vạn sinh linh khỏi bị tàn phá, dù sao ông cũng còn được làm thống chế bù nhìn dưới sự cai trị của Đức.

     Trong khi đó niên trưởng Dương Văn Minh cay đắng trong bản án đầu hàng oan nghiệt cho đến ngày phải ra đi lần cuối.

     Quả thực từ trong tâm khảm, ông đã biết cuộc chiến kéo dài chỉ thêm đau thương chết chóc.   Chịu đựng nhục nhã thêm một lần, ông chỉ muốn thành phố Saigon thân yêu của ông khỏi bị tàn phá.  Saigon không bao giờ của ông Diệm.  Saigon không phải của ông Thiệu hay ông Kỳ.  Và Saigon cũng không bao giờ của Cộng Sản.    Saigon không phải là của Hồ Chí Minh.

     “Qua chỉ muốn sống chết ở Saigòn, nhưng không được!”  Đó là thành phố của ông Minh.

     Trải qua bao nhiêu dâu bể, trước khi ra đi lần cuối, tướng Dương Văn Minh đã trở về nhà con gái sống giữa cộng đồng Việt Nam ở miền Nam California.  Khép kín, không phân trần, không tranh luận, không kết án và không biện hộ.

     Hơn 10 năm trước, chuyến bay muộn màng đã đưa ông ra khỏi Việt Nam.  10 năm sau, chuyến bay nào sẽ đưa ông về nơi vĩnh cửu.   Vị tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, tại chức chưa được một tuần.

     Thưa niên trưởng Dương Văn Minh.

     Khi đi khỏi Saigòn, anh em chúng tôi ai cũng muốn làm một De Gaule để vượt biển Manche mà trở lại Paris với khúc khải hoàn ca.  Rút cục chúng tôi chỉ là các tướng De Gaule giả.

     Khi nghe tin niên trưởng ra đi lần cuối, xin nhờ bạn Nguyễn Hồng Đài gửi một vòng hoa phúng điếu của anh trung úy Bắc Kỳ năm xưa trong Bộ Tham Mưu chiến dịch Nguyễn Huệ.  Dù Trung Nam Bắc, ở đâu thì cũng cần phải có sự công bình và chung thủy.

Giao Chỉ – San Jose 2005

Bài 2- 

NGUYỄN KHOA NAM, MẶT TRỜI THÁNG 4

Giao Chỉ - San Jose

     Việt sử ghi rằng khi Pháp chiếm đóng 3 tỉnh miền Tây Nam Phần, cụ Phan Thanh Giản không giữ được thành đã uống thuốc độc tự tử.  Về sau Cần Thơ thành lập trường trung học lấy tên là Phan Thanh Giản.

     30 tháng 4-1975, Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Khu IV nhận trách nhiệm không giữ được miền Tây đã dùng súng lục tự vẫn.  Trước đó Tư Lệnh đã đi một vòng lần cuối thăm những người lính của ông tại Quân Y Viện Phan Thanh Giản.

     Bên giường bệnh, một thương binh mà vết thương còn chảy máu đã nắm lấy tay vị tư lệnh mà nói rằng:

     -  Xin Thiếu Tướng đừng bỏ tụi em.

     Nước mắt chảy dài trên mặt vị Thiếu Tướng của Quân Đoàn IV.  Ông nói:

     -  Qua không bỏ các em đâu.  Qua ở lại với các em.

     Đó là lời của ông Nam nói với anh thương binh và đồng thời ông nói với cả QLVNCH.  Ông đã ở lại vĩnh viễn.  Ông là Mặt Trời Tháng 4.

     Nguyễn Khoa Nam không phải là con người của huyền thoại.  Ông là con người rất gần gũi với chúng ta.  Sinh năm 1927 tại Thừa Thiên, đã đỗ tú tài và đi làm công chức tại Huế từ 1951.  Sau đó động viên Khóa 3 Trừ Bị Thủ Đức 1953 và đeo lon Thiếu Úy tham dự các cuộc hành quân miền Bắc trong hàng ngũ Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù.

     Năm 1965, ông đã lên Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, đánh trận Quảng Ngãi nhận đệ tứ đẳng Bảo Quốc Huân Chương.

     Năm 1967, ông thăng cấp Trung Tá chỉ huy Chiến Đoàn 3 Nhảy Dù thắng trận Kontum với đệ tam đẳng Bảo Quốc Huân Chương.  Trong quân đội không có sĩ quan cấp Trung Tá nào có Bảo Quốc Đệ Tam ngoại trừ người đầu tiên là Trung tá Đỗ Cao Trí và người thứ hai là Nguyễn Khoa Nam.

     Năm 1970, với cấp bậc Đại Tá ông làm Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh tại Mỹ Tho.

     Năm 1974, ông lên làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV với cấp bậc Thiếu Tướng.

     Cho đến tháng 4-1975, ông vẫn sống cuộc đời độc thân và gần như dâng hiến tất cả cuộc đời cho quân đội và đất nước.

     Trong suốt hơn 20 năm chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam, Hà Nội luôn luôn xưng tụng các anh hùng vô sản nhưng trên thực tế trong hàng ngũ các tướng lãnh của phe cộng sản chưa hề có cấp lãnh đạo nào nêu gương dũng liệt.  Phần lớn là các huyền thoại về cấp dưới đã hy sinh trong gian khổ.  Ngay cả khi bị bắt bởi quân đội Pháp thời trước hay QLVNCH sau này thì chính sách của đảng luôn luôn là hy sinh đàn em và bảo vệ cán bộ.

     Phía Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa qua ngày 30 tháng 4-1975, các tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai đã ghi tên trong quân sử bằng hành động tuẫn tiết rất can trường.

     Do những tình cờ của lịch sử, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã dâng hiến cho đất nước những người con uy dũng của cả ba miền:  Lê Nguyên Vỹ của đất Thăng Long, Nguyễn Khoa Nam của Phú Xuân, và Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai của Thành Gia Định.

     Sau cuộc chiến, hàng chục ngàn sĩ quan các cấp đã bị lùa đi cải tạo nhưng sau nhiều năm, gần như không một ai của phòng tuyến quốc gia bị khuất phục theo cộng sản.

     Nhân ngày 30 tháng 4 của 29 năm sau, chúng tôi xin giới thiệu với quý vị câu chuyện về những giờ phút cuối cùng của Tướng Nguyễn Khoa Nam.   Con người dù đã chết nhưng gương sáng vẫn chói lọi như Mặt trời tháng 4.

     Bài viết này được trích đoạn từ bút ký đặc biệt của Trung úy Lê Ngọc Danh, sĩ quan tùy viên của Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam.

Giao Chỉ - San Jose

          Tôi là Trung úy Lê Ngọc Danh, xuất thân Thủ Đức, đã tham dự các cuộc hành quân tại Trung Đoàn 10 Bộ Binh, bị thương nhiều lần.  Cơ duyên tình cờ về làm tùy viên cho ông Tư Lệnh từ lúc còn ở Sư Đoàn 7 vào năm 1973 rồi đến cuối năm 1974 thì theo ông về Quân Khu IV tại Cần Thơ.

     Trong suốt thời gian làm việc gần tướng Nguyễn Khoa Nam, ông xem tôi như người nhà, đứa con trong gia đình, không bao giờ la rầy hay nặng tiếng.   Tôi đã ở với ông cho đến giây phút cuối và xin kể lại từ tháng 4-1975 như sau:

     Tháng 4-1975

          Tình hình chiến sự vào tháng 4-1975 rất căng thẳng.   Vùng 1, Vùng 2 đang đánh lớn còn Vùng 3 và 4 vẫn còn nguyên vẹn.  Tư Lệnh đi họp liên tục, lúc thì ở Tổng Tham Mưu, ở Dinh Độc Lập gặp Tổng Thống, lúc ở Dinh Phó Tổng Thống.  Thời gian còn lại, Tư Lệnh thường đến thăm các tiểu khu và sư đoàn trực thuộc, nhiều nhất là các tiểu khu Long An, Định Tường, Kiến Tường và Châu Đốc.  

          Vào đầu tháng 4, Việt cộng tấn công mạnh, nhằm vào Quốc Lộ 4 thuộc hai tiểu khu Định Tường và Long An.  Sư Đoàn 7 Bộ Binh chịu trách nhiệm khu vực Tiểu Khu Định Tường còn Sư Đoàn 22 Bộ Binh rút từ Vùng 2 về chịu trách nhiệm khu vực Tiểu Khu Long An.

     Vào buổi trưa, Tư Lệnh đến Tiểu Khu Long An để thị sát tình hình tại đây, VC đã pháo một quả hỏa tiễn 122 ly rơi xuống giữa cầu Long An nhưng không gây thiệt hại gì.   Địch càng ngày càng tấn công mạnh dọc Quốc Lộ 4, Tư Lệnh ngày đêm đến các đơn vị hay gọi điện thoại khích lệ tinh thần chiến đấu của tất cả sĩ quan cùng binh sĩ.  Tư Lệnh đã khen thưởng các đơn vị thuộc Vùng 4 vì không hề bỏ chạy trước địch quân, không để mất một căn cứ nên cho tới bây giờ VC vẫn không chiếm được một vị trí nào cả.

     Vào một đêm, địch pháo kích trên 10 hỏa tiễn 122 ly vào thành phố Cần Thơ, mục tiêu chính là Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV và tư dinh Tư Lệnh.  Pháo địch xuất phát từ hướng Đông của Chi Khu Bình Minh thuộc Tiểu Khu Vĩnh Long, bay qua dinh Tư Lệnh rớt bên xóm nhà đèn cách dinh độ 300 thước, kết quả tổn thất nhẹ về phía dân chúng. 

     Tình hình càng ngày càng căng thẳng, dân chúng di tản bằng tàu thủy hay máy bay có nhiều chuyến chở về Quân Đoàn IV đổ dân xuống vùng Tri Tôn, Sa Đéc.

     Trong lúc này, công việc của Tư Lệnh rối bời vì lớp lo phòng thủ, lớp lo thăm viếng an ủi dân đã di tản về vùng ngoại ô.  Thiếu Tướng ra lệnh các tiểu khu ra sức cứu trợ nạn nhân chiến cuộc.  Tư Lệnh chỉ thị các đơn vị sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Quân Đoàn IV và nhất là giữ gìn Quốc Lộ 4 đừng để VC cắt đứt.  Tư Lệnh đặc biệt đến thăm Tiểu Khu Châu Đốc, đi bộ thăm vòng đai phòng thủ quy mô của tiểu khu. 

     Những ngày kế tiếp, Tư Lệnh họp liên tục với các tiểu khu và sư đoàn.  Trong lúc tình hình hỗn loạn, nhiều máy bay trực thăng từ hướng Sài Gòn lũ lượt bay về phi trường Trà Nóc và một số bay ra hướng Phú Quốc.

     Sáng ngày 24 tháng 4, Tư Lệnh đi họp ở Bộ Tổng Tham Mưu.  Qua sáng 25 tháng 4, họp ở Tiểu Khu Định Tường, trong phiên họp này có tướng Trưởng tham dự.

     Ngày 27 tháng 4, Tư Lệnh ra lệnh giới nghiêm, các đơn vị ở thế sẵn sàng chiến đấu, không được rời vị trí. 

     Sáng 28 tháng 4, Tư Lệnh tiếp cố vấn Mỹ tại văn phòng Tư Lệnh.

     Sáng ngày 29, Tư Lệnh vẫn đi bay thị sát, buổi chiều 29 về họp với tương Mạch Văn Trường ở Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh gần phi trường Trà Nóc.  Trên đường về, tôi thấy dân chúng lao xao, nhớn nhác, chạy lung tung.  Có người đi hôi của tại Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ rút đi bỏ lại, giấy vương vãi đầy mặt Đại Lộ Hòa Bình, quần áo, ly tách, đồ hộp, lon bia vất tứ tung.

     Áp lực địch vẫn đè nặng ở Quốc Lộ 4, Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Long An xin gặp Tư Lệnh báo cáo tình hình nguy ngập và xin giật sập cầu Long An.   Tư Lệnh không cho và ra lệnh các đơn vị tiếp tục phòng thủ.  Tư Lệnh viết nhật lệnh đưa Thiếu tá Đức, Chánh Văn Phòng chuyển đến phòng Chiến Tranh Chính Trị để đọc trên Đài Phát Thanh và Đài Truyền Hình Cần Thơ để trấn an dân chúng và anh em binh sĩ.

     Vào buổi chiều, tôi thấy được hình Tư Lệnh và kèm theo là bản nhật lệnh của ông, nội dung ngắn gọn nhằm trấn an dân chúng không được bạo động.

          Sau khi nghe đọc nhật lệnh trên TV, Tư Lệnh buồn buồn chấp tay sau lưng, đi tới đi lui trong phòng làm việc ở Bộ Tư Lệnh.   Sau đó, Tướng Hưng, Tư Lệnh Phó vào gặp Tư Lệnh bàn luận về thời cuộc.

     Đêm 29, VC tấn công mạnh ở phi trường thuộc Tiểu Khu Vĩnh Bình.  Địch đã nhiều lần đánh rát vào phi trường nhưng bị đẩy lui và thiệt hại nặng.  Tư Lệnh bảo tôi gọi Trung tá Sơn, Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Vĩnh Bình để ông nói chuyện.  Trong lúc VC tấn công mạnh vào phi trường, tiểu khu xin máy bay yểm trợ nhưng không có máy bay.

     Sáng sớm 30 tháng 4, Tư Lệnh bay xuống họp ở Tiểu Khu Định Tường.  Cuộc họp chấm dứt nhanh chóng xong ông bay về Cần Thơ.

     Thành phố Cần Thơ sáng ngày 30 tháng 4 rất vắng vẻ, dân chúng và xe cộ thưa thớt.  Mặc dù địch tăng cường những cuộc tấn công mạnh và tình hình chung đang rất bất lợi cho Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa, tinh thần chiến đấu của binh sĩ thuộc Quân Đoàn IV vẫn hăng say, các đơn vị không nơi nào bỏ vị trí, không nơi nào bị địch chiếm đóng.

     Bất chợt, tiếng của Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng cộng sản vang lên trên đài phát thanh.  Lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện có đại ý như sau:  “Tất cả các đơn vị trưởng và anh em binh sĩ ở yên tại chỗ, bàn giao vị trí cho Chính Phủ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.”  Tôi vội xô cửa vào phòng làm việc của Tư Lệnh và nói:

     -  Tổng thống Dương Văn Minh đã... 

     Chưa hết câu, Tư Lệnh nhỏ nhẹ cắt ngang lời tôi:

     -  Qua đã nghe rồi.

     Tôi lặng người, quay lưng chầm chậm bước ra ngoài.

     Từ lúc này, Tư Lệnh Phó thường vào gặp Tư Lệnh trong văn phòng qua lối cửa chánh.  Lần thứ hai, Đại Tá Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Long An xin gặp gấp Tư Lệnh trên điện thoại.  Ông muốn xin giật sập cầu Long An để cắt đường tiến quân của VC về Vùng 4.   Một lần nữa, Tư Lệnh bảo tôi chuyển lời:  “Cầu để yên không được phá sập.”

     Khoảng gần trưa 30 tháng 4, tôi được báo cáo là Thiếu Tá Chánh Văn Phòng rời văn phòng bỏ đi theo Đại Tá Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Phong Dinh cùng một số sĩ quan theo lộ trình dọc sông Hậu Giang ra biển.  Tôi vội xuống hầm làm việc mới của Tư Lệnh để báo cho ông rõ.  Căn hầm này là phòng làm việc thừ hai của Tư Lệnh, nằm ngay dưới chân phòng làm việc chính thức, được xây lúc Vùng 1 và 2 đang xảy ra việc đánh lớn.  Hầm rộng và cao, thiết trí giống như phong làm việc ở tầng trên, có lối đi xuống từ văn phong Tư Lệnh.  Bước vào hầm, tôi thấy Tư Lệnh đang ngồi viết tại bàn làm việc.  Tư Lệnh, như thường lệ, đưa tay kéo lệch cặp mắt kính trề xuống sống mũi, ngước nhìn tôi hỏi:

     -  Có gì không?

     -  Trình Thiếu Tướng, Thiếu Tá Chánh Văn Phòng và Đại Tá Tỉnh Trưởng Phong Dinh đã bỏ đi cùng với một số sĩ quan bằng tàu theo sông Hậu.

     Tư Lệnh vẫn điềm nhiên, không tỏ chút gì giận dữ, ông nói:

     -  Đi hả?  Đi làm chi vậy?

     Nói xong, Tư Lệnh tiếp tục xem giấy tờ, thái độ trầm tĩnh như không có gì quan trọng xảy ra.  Tôi bước lên cầu thang về phòng làm việc của mình, lúc này tôi mở Radio 24/24 để theo dõi tình hình ở Sài Gòn.  Đang lắng nghe Radio, Tư Lệnh bấm chuông gọi tôi vào và bảo:

     -  Gọi Đại tá Thiên gặp tôi.

     -  Dạ.

     Rồi Tư Lệnh chỉ định Đại tá Thiên nhận chức vụ Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Phong Dinh kể từ sáng hôm đó.  Tức là sau khi đã có lệnh đầu hàng.

     Trưa 30 tháng 4, sau khi đi ăn cơm trưa ở Câu Lạc Bộ Cửu Long về, Tư Lệnh đi thẳng vào phòng làm việc.  Qua lỗ kiếng nhỏ thông qua phòng làm việc, tôi thấy Tư Lệnh đang soạn một số giấy tờ để trên bàn.  Tư Lệnh nhìn từng trang một, rồi từ từ xé nhỏ bỏ vào sọt rác.  

     Khoảng 2 giờ chiều, Tư Lệnh xuống hầm làm việc.  Tôi không biết Tư Lệnh làm gì bởi vì phòng làm việc này kín mít.   Tư Lệnh bấm loa gọi tôi:

     -  Danh, xuống đây tôi bảo.

     Tôi xuống cầu thang vào gặp Tư Lệnh.  Ông đang ngồi ở Sofa nhìn về hướng bản đồ Vùng 4, thấy tôi, Tư Lệnh nói:  

     -  Danh tháo bỏ tất cả ranh giới và những mũi tên trên bản đồ.  Những đường ranh và những mũi tên làm bằng những băng keo màu xanh đỏ.

     Tôi từ từ tháo bỏ, nhìn tổng quát, tôi thấy bản đồ chia ra từng ô nhỏ, những mũi tên xanh đỏ châu đầu vào nhau, những răng bừa màu xanh với những mũi tên đỏ chĩa vào.  Có thể đây là bản đồ về Hành Quân Mật sẽ thực hiện vào giờ chót theo như tin đồn.   Tôi tháo gỡ tất cả những mẩu băng keo bỏ vào sọt rác, tháo xong tôi nói:

     -  Trình Thiếu Tướng, em đã tháo xong.

     -  Được rồi.

*    *    *

     Vào khoảng 4 giờ chiều, viên Quân Cảnh ở phòng chờ đợi lên gặp tôi nói:

     -  Có hai ông VC mặc đồ thường phục, trên dưới 50 tuổi xin vào gặp Tư Lệnh.

     Tôi nói:

     -  Anh bảo họ chờ một chút để tôi trình Tư Lệnh.

     Tôi gõ cửa vào gặp Tư Lệnh và nói:

     -  Trình Thiếu Tướng, có hai VC mặc thường phục xin vào gặp Thiếu Tướng.

     -  Được, mời họ vào.

     Xuống phòng khách, tôi thấy hai người Việt cộng đang chờ ở đây, một người cao ốm nước da trắng, tóc hoa râm độ trên 50 tuổi, ăn mặc thường phục giống như thầy giáo.  Một người hơi thấp, nước da ngăm đen cũng mặc thường phục.  Họ đi tay không, không mang giấy tờ và vũ khí.

          Tôi hướng dẫn hai người này lên bậc tam cấp vào phòng làm việc của Tư Lệnh.  Tư Lệnh chào hỏi và mời ngồi nơi Sofa, tôi bước nhanh ra phòng làm việc gọi người hạ sĩ quan mang trà vào.  Tôi mang vội khẩu súng Colt 45 và lấy khẩu AR15 lên đan và bước nhanh vào phòng làm việc Tư Lệnh.  Tôi đứng sau hai ông VC này cách khoảng 4 thước, với tư thế sẵn sàng nổ súng.  Tôi sợ hai ông này ám sát Tư Lệnh nên gườm tay súng chuẩn bị nếu thấy hai ông này có hành vi lạ là tôi bắn liền.   Tư Lệnh ngồi đối diện với họ, đang nói chuyện rất nhỏ tôi không nghe được.  Bất chợ Tư Lệnh ngước lên, nhìn tôi và bảo:

     -  Danh đi ra ngoài để tôi nói chuyện.

     Tôi ấp úng trả lời:

     -  Dạ... em ở đây với Thiếu Tướng.

     -  Được rồi, không sao đâu.  Em ra ngoài đi.

     -  Dạ.

     Tôi ra lại phòng làm việc, súng vẫn gườm thủ thế, mắt nhìn về hướng văn phòng theo kẽ hở của cánh cửa đang hé mở.  Tôi thấy Tư Lệnh với họ vừa uống trà vừa nói chuyện.  Cuộc nói chuyện kéo dài trên 10 phút.  Tư Lệnh và hai người chỉ nói chuyện không đưa ra sổ sách hay giấy tờ gì cả.   Sau đó, hai người VC đứng dậy từ giã, Tư Lệnh bắt tay, rồi hai người theo cửa trước xuống bậc tam cấp ra về.  Tư Lệnh ngồi trên ghế, gương mặt thật buồn.  Một lát sau, ông đứng dậy đi qua đi lại trong phòng.  Thời gian trôi qua thật chậm, căng thẳng và ngộp thở.  Tôi suy nghĩ lung tung:  Nếu VC chiếm được Vùng 4 thì Tư Lệnh sẽ ra sao?  Tại sao Tư Lệnh vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra?  Bây giờ còn đi ngoại quốc kịp không?  Còn máy bay không?  Hay là Thiếu Tướng có người thân phía bên kia?  Những câu tự hỏi đã xoay trong óc tôi.  Bất chợt, tôi nghe tiếng la ó vang dậy ở ngoài đường.   Nhìn ra ngoài đường, tôi thấy một đoàn người rất đông chạy ngang qua cửa Bộ Tư Lệnh, xuống cầu Cái Khế.   Họ vừa chạy vừa la hét vui mừng, thì ra đó là những người tù vừa được thoát trại giam.  Tôi thò đầu ra cửa sổ nhìn cho kỹ, tôi thấy bọn tù trên dưới 50 người, quần áo xốc xếch, có người mặc quần cụt, có người cởi trần vừa chạy vừa nhảy lên vừa reo hò vui vẻ nhưng họ không phá phách.

     Khoảng 6 giờ rưỡi, Tư Lệnh sửa soạn về tư dinh, Thiếu Tướng nói với tôi:

     -  Danh chuẩn bị xe để đi thăm bệnh viện Phan Thanh Giản.

     -  Dạ.

     Xe chở Tư Lệnh từ văn phòng đi thẳng vào bệnh viện.  Tư Lệnh dến từng giường hỏi thăm thương binh, kẻ nằm người ngồi, băng tay băng đầu, có người mất một chân, chân còn lại quấn dây băng treo lên trên giá.  Tư Lệnh đến bên thương binh này hỏi:

     -  Em tên gì?

     -  Dạ em tên...

     -  Em ở đơn vị nào?  Có khỏe không?

     -  Dạ khỏe, em là Địa Phương Quân ở Tiểu Khu Vĩnh Bình.”

     Tư Lệnh nói tiếp:

     -  Em nằm nghỉ dưỡng bệnh.

     Tư Lệnh đi từ đầu phòng đến cuối phòng hỏi thăm từng bệnh nhân, rồi Tư Lệnh đi qua dãy kế bên và tiếp tục hơn một giờ thăm viếng thương, bệnh binh buồn tẻ và nặng nề.  Gần giường một thương binh, anh cụt hai chân, vải băng trắng xóa, máu còn rịn ra lốm đốm đỏ cuối phần chân đã mất.  Tư Lệnh đứng sát bên và hỏi:

     -  Vết thương của em đã lành chưa?

     -  Thưa Thiếu Tướng, vết thương mới mấy ngày còn ra máu, chưa lành.

     Với nét mặt buồn buồn, Tư Lệnh nhíu mày lại làm cặp mắt kiếng đen lay động.   Tư Lệnh chưa kịp nói thêm thì anh thương binh này bất chợt chụp tay Tư Lệnh mếu máo:

     -  Thiếu Tướng đừng bỏ tụi em nhé Thiếu Tướng.

     -  Qua không bỏ các em đâu.  Qua ở lại với các em.

     Qua ánh đèn của bệnh viện, tôi thấy Tư Lệnh đưa ta nâng sửa cặp kính đen và hai giọt nước mắt từ từ chảy lăn dài trên khuôn mặt đau thương của ông.  Tư Lệnh cố nén xúc động, nhưng người đã khóc, khóc không thành tiếng và những giọt nước mắt tự nhiên tuôn trào.   Tư Lệnh vịn vai người thương binh nói trong nghẹn ngào:

     -  Em cố gắng điều trị... có qua ở đây.

     Tư Lệnh bước nhanh ra cửa bệnh viện, khi ra đến ngoài sân Tư Lệnh dừng lại quay mắt nhìn về bệnh viện.  Tư Lệnh đứng yên bất động khoảng một phút rồi bước vội ra xe không nói gì nữa cả.   Trên suốt đường về tư dinh, Tư Lệnh không nói một lời nào khiến tôi cảm thấy sự im lặng quá nặng nề.

     Về đến tư dinh, tôi thấy Quân Cảnh vẫn còn gác ở cổng, tôi đi một vòng xung quanh, những vọng gác vẫn còn người gác, tuy nhiên tôi thấy ít lính đi tới đi lui như mọi hôm, có lẽ họ đã bỏ đi bớt. 

     Sau khi cất khẩu Colt đeo trên người, tôi xuống nhà bếp gặp Trung sĩ Hộ quản gia xem hôm nay anh nấu món gì vì hôm nay thăm bệnh viện về trễ.  Gặp anh Hộ, tôi nói:

     -  Anh Hộ, bắt một con gà làm thịt và luộc để Thiếu Tướng dùng!

     -  Dạ con gà nào Trung Úy?

     -  Đàn gà nòi Thiếu Tướng nuôi đó!  Anh chọn một con!

     Lúc này đã hơn 8 giờ tối, về hướng Cồn Cát cách một con sông phía sau dinh, thỉnh thoảng VC bắn bổng những loạt AK đạn lửa bay đỏ xé màn đêm đen nghịt, càng lúc VC bắn càng nhiều.  Con gà, anh Hộ làm thịt và nấu xong.  Tôi đích thân ra sau Trailer mời Thiếu Tướng vào ăn cơm.  Tư Lệnh ngồi vào bàn ăn và nói:

     -  Danh ngồi ăn cơm cho vui.

     Đi các đơn vị hay tiểu khu, tôi ăn cơm chung với Tư Lệnh còn ở dinh, Tư Lệnh thường ăn  cơm một mình, vừa ăn cơm vừa xem truyền hình rất lâu.