posted: 5.5.2005
Chúng tôi sẽ dành hẳn một mục gồm nhiều chương
sách để trình bày đầy đủ về chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ
của Giáo Hội La Mã. Trong chương này, chúng tôi chỉ đề cập đến kế sách tạo cho giáo dân quen với nếp
sống văn hóa Da-tô trong đó có những tập quán cực kỳ phong kiến và phản
tiến hóa trong đạo Da-tô mà thôi. Một trong những mục đích của chủ trương đoàn
ngũ hóa giáo dân là để dễ dàng rèn
luyện tín đồ thuần thục với nếp
sống văn hóa Da-tô hay những tập quán Da-tô. Những tập quán này vừa nặng
tính cách phong kiến làm hèn hạ và giảm giá con người của tín đồ xuống
hàng súc vật. Trong xã hội loài người, có
lẽ chỉ có đạo Thiên Chúa Lã Mã mới
có những tục lệ quái đản như vậy. Cùng là đạo Thiên Chúa, các hệ
phái khác như Tin Lành, Anh Giáo và Chính Thống Giáo, Do Thái Giáo và Hồi
Giáo không có những tục lệ quái đản ghê tởm này. Dưới đây là một
vài tục lệ hay tập quán này: 1.- Chỉ có Giáo Hoàng mới được quyền đưa bàn
chân cho các ông hoàng đế, hay vua chúa
hoặc các nhà lãnh đạo quốc gia qùy mọp xuống hôn hít. Theo sử gia
Paul L. Williams thì tập quái đản này bắt đầu có từ thời Giáo Chủ
Sylvester (314-335). Dưới đây là đoạn văn sử nói về lai lịch cái tập
quán khốn nạn này: “Giáo Hoàng Mitades qua đời trên giường bệnh
của một bậc đế vương. Sylveste lên nối ngôi và tai vị gần 22 năm trời.
Trong thời gian này, Giáo Hoàng bắt đầu năm quyền thế tục. Lên án tà
giáo có nghĩa là những lời dạy trái với lời dạy của Giáo Hội La Mã
sẽ bị trừng phạt bao gồm cả bị bỏ tù, bị phát vãng lưu đày và bị
hành hình. Bao quanh là tất cả những
gì huy hoàng và lộng lẫy với những quan
hầu sẵn sàng cung ứng cho những cơn thích tùy hứng, Giáo Hoàng tự nhiên trở thành vênh
vang và độc đoán thái quá. Không ai có thể tớ gần Giáo Hoang mà không
phủ phục gục mặt xuống ôm hôn bàn chân của ông ta.” (“Mitiades died in a regal bed, surrownded by
attendants. The old bishop was succeeded by Sylvester, who reigned for nearly twenty-two
years. During this time the pope came to wield secular power. The condemnation of heresy
of false teaching – that is, any teaching in contradiction to that of the Roman Church
– was accompanied by civil punishment that came to include imprisonment, exile, and
execution. Surrounded in splendor with attendants ready to cater to their every whim, the
bishops of Như vậy là tục lệ quái đản này đã có từ thế
kỷ 4 và khởi đầu là do bọn quan hầu háo danh và thèm khát quyền lực
muốn tâng công lấy lòng cấp trên mà
tự động phủ phục gục mặt xuống hôn bàn chân của Giáo Hoàng Sivester,
chứ không phải là tục lệ này đã có từ trước hay ông giáo hoàng này
bắt buộc họ phải làm như vậy. Tình trạng này cũng giống như hai tên
Việt gian Ngô Đình Khả và Nguyễn Thân tự động “đào mả cụ Phan Đình Phùng, lấy xác đốt
thành tro, lấy tro trộn vào thuốc xuống rồi bắn xuống sông Lam Giang để
huy diệt di cốt của Ngài”. Nó cũng giống như bọn Việt gian Ngô Đình
Diệm tự động sáng chế ra cách “đốt nến
(đèn cầy) sấy hậu môn tù nhân để lấy khẩu cung”, Vi Văn Định “dùng chày giã cua nện vào khớp xương đê khảo
nghi can”, và Cung Đình Vận “lấy giây thừng quấn thật chặt chân tay tù
nhân cho máu hết lưu thông, nếu nạn nhân chưa chịu khai thì dội nước cho giây thừng nở ra” (Nhiều
tác giả, Ăn Ốc Nói Mò (Costa Mesa, CA:
VietBook, 1998), tr 219-220. Tất cả phương cách trả thù và tra tấn người dã man này đều do bọn Việt
gian háo danh thèm khát quyền lực muốn tâng công lấy lòng quan thày ngoại
nhân mà tự động làm như vậy, chứ không phải là thói quen hay tục lệ
tra tấn người như vậy đã có từ trước.
Vì từ thế kỷ
4 đến cuối thế kỷ 11, thân phận Giáo Hội chỉ là công cụ làm tay sai
cho các chính quyền Đế Quốc Lã Mã, Đế Quốc Đông Phương, Pháp, Đức và Ý, cho nên cái hành động
phủ phục gục mặt xuống hôn bàn chân ghê tởm này chỉ được các ông
chức sắc trong Giáo Hội La Mã vì lòng háo danh và thèm khát quyền lực
mà tự động làm như vậy mà thôi, rồi dần dần trở thành tục lệ.
Vào cuối thế kỷ 11, các chính quyền Pháp, Đức và Ý đều suy yếu, Tòa
Thánh Vatican trở nên mạnh hơn cả và có thể khống chế các chính quyền
thế tục trong toàn vùng Tây và Nam Âu. Chính vì thế mà Giáo Hoàng Gregory
VII (1073-1085) mới thừa thắng xông lên đưa ra cả một danh sách gồm 27
nguyên tắc quái đản, trong đó cái tục lệ quái đản “ôm hôn bàn chân của Giáo Hoàng” được
mở rộng cho các nhà lãnh đạo chính quyền thế tục cũng được hưởng
cái ân huệ ghê tởm này. Sự kiện này được sử gia Malachi Martin ghi
trong cuốn The Decline And Fall Of The Roman
Church như sau: "The Pope alone offers his foot to be kissed by princes."
[ii]
2.- Khi đến
thăm các nhà truyền giáo của Giáo Hội, các
linh mục và các thày tư tế bản địa phải cúi mọp xuống hôn hít giầy dép của họ.
Đây là tập quán trong cộng đồng Gia-tô ở
Việt "Tại Bùi Chu, ngày lễ Thánh Đa Minh, tất cả
các linh-mục người Việt, bất kể hạng tuổi nào, phải sụp lạy trước
mặt các thừa sai , kể cả đối với mấy người còn trẻ măng, hoặc chỉ
là thầy phó tế thôi, và phải hôn
kính giầy của các thừa sai đó, để giúp
mình nhớ lại lời thánh Phaolô: "Phúc đức thay bàn chân các nhà truyền
giáo." [iii] Người viết không biết rõ cái tục lệ ghê tởm này này có từ bao giờ,
nhưng chắc chắn là nó đi theo nhà truyền giáo Ini-Khu vào Việt 3.- Giáo dân khi
có dịp tới diện kiến các ông giám mục thì sẽ được hưởng ân huệ xếp hàng theo thứ
tự chờ đến lượt tới phủ phục chờ ông ta chìa ngón tay đeo nhẫn ra
trước mặt cho mà ôm hôn để lấy phước. Cụ Vương Hồng Sển là người
chứng kiến cái cảnh lợm giọng này và kể lại trong cuốn Hơn Nửa Đời Hư với nguyên văn như sau: ”Quốc lão người
phốp pháp đến gần như mập, mắt sáng, giọng trong, tiếng nói nghe rất
oai nghi, mặt hồng hào, miệng luôn luôn điểm một nụ cuời đắc chí: vốn
là anh lớn của Tổng Thống đương thời, trong đạo giữ đến chức giám
mục chứ không vừa, nhưng tham vọng quá nhiều, còn muốn lên cho được
ngôi Tổng Giám Mục trong nước. Sau này, sự nghiệp của nhà này vì đó
mà hư. Tuy tuổi đã trên sáu bẩy mươi, nhưng quốc lão trông còn trẻ lắm,
vì sống trong nhung lụa, sống ngon lành đầy đủ. Nếu không có chiếc áo
nhà tu chứng minh, người ta có thể lầm quốc lão với một đại phú gia
hào hoa phong nhã. Lúc tôi còn chơi
với Thanh Lãng, một linh mục kiêm giáo sư, trưởng ban văn chương trường
Văn Khoa Đại Học, Thanh Lãng thường ví tôi và cho rằng tôi có cách nói
năng giống quốc lão, cũng nhạy cười,
nhạy khôi hài. Nhưng tôi đã lật đật cải chính không dám nhận lời
phê bình này, vì tự xét quen ăn mặn nói phét, làm sao dám sánh cùng vị
giám mục quyền uy sất sá này... Quốc lão thường đeo một chiếc nhẫn,
biểu hiệu của cấp bực giám mục, tín đồ khi tiếp xúc lần đầu, trước
tiên phải quì hôn chiếc nhẫn, và lấy đó làm một vinh hạnh. Lần thứ nhất,
tôi gặp mặt quốc lão, là nhơn nhóm họp tại dinh ông tổng trưởng đặc
trách văn hóa Trương Công Cừu để bàn về cách thức thành lập hội ”Bác
Cổ Thần Kinh” do Giám Mục chủ xướng, và hôm ấy là ngày 16/2/1963. Khi quốc lão bước
vào phòng, các ông có mặt, đều quỳ hôn chiếc nhẫn, lần lượt hết
người này đến người kia. Đến lượt tôi, tôi quýnh quá, không làm như
vậy được và đánh liều, tôi đứng ngay mình và nắm tay quốc lão gục
gặc, vì chưa quì hôn nhẫn. Tôi vẫn biết mình làm như vậy có thể bị
sa thải, nhưng thà mất chén cơm còn hơn là mất phẩm giá... Trong khi tôi
bắt tay không quì, quốc lão ngừng lại day mắt ngó tôi chăm chăm. May thời
lúc ấy ông Trương Công Cừu lẹ miệng giới thiệu bằng một câu tiếng
Pháp: ”Mr. Sển conservateur du musée”. Quốc lão hừ một tiếng rồi tiếp
tục đưa tay cho người khác hôn. Sau buổi họp, tôi
về nhà suốt đêm không nhắm mắt. Mấy
ngày liền ăn ngủ mất ngon. Nhờ sau này thét không thấy xẩy ra chuyện
gì, tôi mới bớt lo... Ngày thứ hai
25-3-1963, 21 giờ, lại có một buổi họp khác, cũng ở đường Tú Xương,
nơi nhà ông Trương Công Cừu. Trong buổi họp, quốc lão đưa đề nghị phá
bỏ vách thành nội Huế, lấy gạch đá xây thánh đường, xây trường học,
xây dưỡng đường, như vậy hữu ích hơn, vừa có công ăn việc làm cho
bao nhiêu người thất nghiệp. Thêm mở rộng đất đai, không có vách bít
bùng, ấy là tự do, không tù túng. Chỗ Ngọ Môn sẽ xây hồ tắm, cho sinh
viên nam nữ, và sẽ xây một hàng rào
sắt thật đẹp trước mặt tiền điện Thái Hòa. Chúng tôi một
nhóm nhỏ, bàn luận với nhau, muốn lên tiếng phản đối, lại e sấm sét
búa rìu, bằng nín thinh thì tủi hổ cho thân khiếp nhược và tủi cho
vách thành, một cổ tích lịch sử, vì bọn nịnh a dua vách sắp bị phá vỡ
thì uổng quá. Hàng rào sắt hay ho gì, v.v... May sao, quốc lão ngầm biết
không ai tán thành vấn đề này nên bỏ qua luôn. Quốc lão ban một câu sắt
lẻm: ”Làm hồ tắm cho trẻ con nó nhờ, không muốn thì thôi, dẹp!”. Câu chuyện không
quỳ hôn nhẫn, đến ngày thứ hai 8/4/1963 (rằm tháng 3 Quí Mão), mới được
lấy ra hâm nóng lại (bỏ nguội từ 16/2/163). Sáng, lối chín giờ, tôi
đang làm việc, bỗng có chuông điện
thoại reo. Ông Võ Văn Hải, chánh văn phòng Phủ Tổng Thống (Điện Gia
Long), cho tôi hay có lịnh 10 giờ 30 phút, tôi phải có mặt ở Dinh, Đức
Cha Ngô Đình Thục có chuyện cần muốn nói.
Tôi lật đật ba
chân bốn cẳng, lên xe buýt Sở Thú, trở về nhà trong Bà Chiểu để thay
đổi ý phục, vì ăn mặc (bộ đồ xá xẩu) rủi bị quở là sỗ sàng thất
lễ thì nguy. Xem đồng hồ thấy 9:45. Nếu đi xe buýt cà rịch cà tang e trễ
hẹn, tôi bóp bụng gọi một chiếc Tắc xi, ăn một cuốc 15 đồng (15$),
chở tôi đến đầu đường Pasteur góc đường Gia Long. Tôi xuống xe, định
đi tìm ông Giá vốn quen sẵn, nhờ dắt đường, nhưng ngặt thay ông quản
gia Điện Gia Long hôm nay đi vắng. Tôi bước đại qua Dinh Tổng Thống,
theo ngả Pasteur, nhưng vừa đến phòng trực thì bị chặn lại. Một ông
đại úy, cổ đeo ba bông mai vàng, dạy
tôi rằng đây là ngõ ra, và khuyên tôi nên lên xe chạy qua cửa bên Công
Lý mới thật là ngõ vào... Ông đại úy đứng
phắt dậy. mời tôi theo ông và ông lấy xe díp trong dinh, bổn thân tự
lái và đưa tôi tuốt qua cổng Công Lý, trong nháy mắt, vừa mau vừa sướng,
nhưng vào điện, không phải dễ... Tôi vào phòng
khách, ngồi chờ một giây lâu, mới thấy cửa trong mở toác. Ông Ngô Đình
Thục bước ra, mặc đại phục, áo màu tím, trông rất oai nghi. Phen này,
ông không bước lại gần, nên tôi chỉ đứng xa cúi đầu chào. Ông lấy
mắt chỉ ghế cho tôi ngồi, còn ông, ông đứng sau chiếc ghế bành, hai
tay vịn vào thành ghế và suốt buổi tiếp xúc, ông đứng chớ không ngồi.
Tôi nhột nhạt quá, cũng đứng dậy luôn cho đúng lễ. Bắt đầu câu chuyện,
ông khởi sự bằng mấy câu chuyện dằn mặt cho biết oai: Ông về nói lại
với ông Tổng Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục, đức giám mục nói rằng
ông ấy không biết cách làm việc. Những chỉ thị của tôi, ông ấy đều
làm sai bét. Tỉ dụ, tôi dạy thâu tiền nguyệt liễm mỗi 6 tháng là 500,
mỗi một năm là một nghìn đồng. Tôi muốn nói tiền vô hội ”Bác Cổ
Thần Kinh” ấy mà. Thế ông ấy đã nói với ông là bao nhiêu? Dạ thưa giám mục,
có lẽ tôi nghe không rành, vì nghe ”đóng 500 đồng” Ấy đó, ông thấy
không? Họ làm sai bét những lời tôi đã dạy. Ông làm quản thủ thư viện
bảo tàng, tiền lương của ông mỗi tháng có bao lăm, làm sao đóng 500 đồng
mỗi tháng. Mỗi tháng đóng 500 đồng, ông đóng làm sao cho nổi! Đóng 500 đồng là mỗi kỳ 6 tháng chứ! Ông nói đến đây, tôi rón rén trả lời.
- Dạ thưa đức giám mục. Ông nói nãy giờ
là bảo tôi trình lại ông Tổng Trưởng Quốc Gia Giáo Dục. Nhưng tôi ở
còn cách rất xa ông Tổng Trưởng. Tôi là một viên chức nhỏ. Chẳng dám
nào đức giám mục làm cho một bức thư, tôi cầm đem về trao lại có thể
dễ dàng hơn. Vì phận tôi thấp, thật tôi không dám ”học lại” những
lời giám mục vừa nói đó. Xin xét cho. Thôi được, ông giám mục đáp. Để tôi
nói lại. Ông khỏi nói. Đến đây, ông bắt qua bàn chuyện bâng quơ trời
mưa trời nắng, rồi cho tôi ra về. Cuộc tiếp kiến này vỏn vẹn có 35
phút đồng hồ. Sau có người nói với
tôi, ấy là ông giám mục muốn xem mắt tôi, xem có dùng được không, nhưng
vì tôi lù khù quá, nên ông không dùng. Hú hồn!”. [iv]
Cũng như tục lệ các nam nữ tu sĩ Gia-tô bản địa
được hưởng ân huệ quỳ mọp xuống hôn hít giầy dép của các cán bộ
truyền giáo từ Âu Châu đến Việt
Nam, tục lệ quỳ mọp xuống hôn nhẫn
của một ông giám mục có lẽ cùng đi theo cái tục lệ Gia-tô quái đản
này vào Việt Nam từ giữa thế kỷ XVI. Người viết xin nói nhỏ với tín đồ Da-tô người
Việt rằng, cái nhẫn của ông Giám-mục và quý vị may mắn được quỳ mọp
xuống trước chỗ ông ta ngồi để hôn hít có tích lũy không biết bao
nhiêu rước rãi của những người đã hôn hít nó trước đó. Rất có thể
những nước rãi này có chứa đủ mọi thứ vi trùng ở trong đó, thí dụ
như là vi trùng ho lao, vi trùng cùi, vi trùng bệnh hoa liễu, v.v… 4.- Sử dụng những
thuật ngữ ngược ngạo hết sức chướng tai.- Tìm hiểu nếp sống văn
hóa Da-tô, chúng ta thấy tín đồ Da-tô người Việt sử dụng những thuật
ngữ một cách hết sức dị hợm nghe rất chướng tai, phơi bày ra cho mọi
người thấy cái bản chất lố bịch, trịch thượng, cao ngạo hợm hĩnh, phản ảnh một tâm hồn thiển cận, hẹp
hòi của loại người “ếch đáy giếng”. Chúng ta biết rằng, trong
ngôn ngữ Việt Nam, "ông" là bố của "cha"
tức là người đẻ ra "cha". Do đó, những người mang tước
hiệu "Đức
Ông" phải có địa vị cao hơn hay lớn hơn của những người
mang tước hiệu "Đức Cha". Ấy thế mà trong hệ
thống quyền lực của Giáo Hội La Mã, những người mang tước hiệu
"Đức
Ông" lại có địa vị và
quyền lực nhỏ hơn địa vị và quyền lực của những người mang tước
hiệu "Đức Cha". Khôi hài hơn nữa, trong
ngôn ngữ loài người, "Đức Cha" tương ứng với "Đức Mẹ".
Từ đó, người ta có thể nghĩ rằng "Đức Mẹ"
là vợ của "Đức Cha" và là "con dâu"
hay con gái của "Đức Ông". Nhưng trong đạo Gia-tô,
những từ ngữ được sử dụng để xưng hô trên đây hoàn toàn không thuận
lý, khiến cho người ta có cảm tưởng là luân thường bị đảo lộn. Đối với những người có trình độ thông minh trung bình và hành sử theo lương tâm
và lương tri, việc sử dụng ngôn ngữ như vậy trong đạo Da-tô là một
hành động “cưỡng từ đoạt lý"
và ngược đời. Từ "công giáo"
(catholic) và cụm từ "Hội Thánh duy nhất,
thánh thiện, công giáo và tông truyền" là những trường hợp điển hình. Trường hợp sử dụng những từ "đức ông", và "đức bà", "đức cha” và
“đức mẹ" bị coi như là loạn
luân đối với truyền thống văn hóa Đông Phương. Những trường hợp khác
nói lên tính cách trịch thượng. Đó là những từ "đức thánh cha", "đức ông", "đức cha", "cha". Đăc biệt là từ "trở lại đạo" vừa nói lên tính
cách trịch thượng, vừa nói lên tính cách bất chấp cái nghĩa đích thực
của ngôn ngữ, bất chấp cả lẽ phải,
bất chấp cả "cái lý đương nhiên ai
cũng phải công nhận" (công lý). Nói chung, tất cả những trường
hợp trên đây đều bị lên án là
"cưỡng từ đoạt lý" nếu
không muốn nói là "hiếp dâm ngôn ngữ". Đặc tính "cưỡng
từ đoạt lý" trong Giáo Hội La Mã được thể hiện rõ rệt nhất
qua những ngôn từ của những tín đồ Gia-tô
cuồng tín người Việt ở hải ngọai khi họ sử dụng những
từ ngữ như "nhà ái quốc",
"chí sĩ yêu nước" "mất nước" và "phản quốc".Cungt cách họ sử dụng những
từ này giống y hệt như họ thường sử dụng những từ ngữ "công giáo”, "trở lại đạo", "Đức Ông", "Đức Cha", v.v... Những tên Việt gian cuồng nô vô tổ quốc như Trần
Lục, Nguyễn Bá Tòng, Ngô Đình Khả, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Khôi, Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi, v.v... suỗt cả
đời bán nước và làm tay sai cho quân cướp ngoại thù là Đế Quốc Vatican và Đế Quốc Pháp
thì được họ gọi là các "nhà ái quốc"
và "chí sĩ yêu nước". Trong khi đó những
người yêu nước chân chính của dân tộc đã hy sinh cả đời vào cuộc
chiến đánh đuổi quân cướp xâm lăng Vatican và Pháp trong suốt chiều
dài lịch sử từ năm 1858 cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 lại bị họ gọi là những tên "Việt
gian", những "tên phản lọan". Tiếu lâm hơn nữa là Việt Nam
ngày nay đã hoàn toàn độc lập, đã được cả thế giới công nhận và
có chỗ ngồi, có thế đứng, có tiếng nói
ở trong tổ chức Liên Hiệp Quốc, ấy thế mà họ vẫn kêu là "mất nước". (Thật ra, nước tổ Vatican của họ đã mất thế đứng ở Việt Trong ngôn ngữ Việt Nam, chữ (từ) "đức" được sử dụng đì kèm với từ
"vua" là trường hợp độc nhất để nói về những người còn sống.
Đó là thời quân chủ phong kiến.
Thông thường, từ "đức" chỉ
được sử dụng đi kèm theo với tước hiệu hay danh tánh của một nhân vật
được nhân dân hay dân tộc kính trọng và đã qua đời. Đây là trường
hợp của Đức Trần Hưng Đạo, Đức Khổng Tử, Đức Phật, v.v... Những người còn sống sờ sờ mà sử
dụng từ (chữ) "đức" kèm theo với tước hiệu hay chức vụ hoặc
danh tánh của mình thì quả thật là hết sữc vắt vẻo, hết sức ngạo mạn.
Hãy tưởng tượng, nếu có ai đem chữ "đức" ghép với những chữ "tổng thống",
"thống đốc", "thị trưởng" để rồi gọi hay xưng hô
"Đức Tổng Thống", "Đức Thống
Đốc", "Đức Thị Trưởng" thì chúng ta sẽ thấy nó
"bất bình thường" và "dị hợm"
không giống ai cả. Tương tự như vậy, ngọai trừ những quốc gia theo
chế độ quân chủ phong kiến, không có quốc gia nào lại dùng tên những người còn sống sờ sờ để đặt tên
cho các đường phố, công thự hay các
cơ sở công cộng của quốc gia, dù người đó là cha già của dân tộc như
các nhân vật Tôn Dật Tiên của Trung Hoa, Washington của Hoa Kỳ, Mustafa
Kemal của Thổ Nhĩ Kỳ, Nasser của Ai Cập,
v.v... Ấy thế mà những chuyện này lại rất thịnh hành ở trong đạo
Gia-tô và hiện tại vẫn còn như vậy. Trong những năm 1954-1963, ở Vĩnh
Long có Đại Lộ Ngô Đình Thục (chạy ngang qua trường Sư Phạm Vĩnh
Long), dù rằng ông Giám-mục Ngô Đình Thục, chẳng có công trạng gì cho
dân tộc Việt Nam, (nếu không muốn nói là Việt gian bán nước cho Liên
Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp -Thập Ác Vâtican) và lúc đó ông
ta vẫn còn sống sờ sờ ở Vĩnh Long. Mãi đến năm 1960 thì ông ta được Tòa Thánh Vatican thuyên chuyển
ra Huế, và tới tháng 9 năm 1963, ông ta xuất ngoại đi Ý, rồi cuối cùng
sang Hoa Kỳ dưỡng lão và chết ở Tình trạng "hiếp
dâm ngôn ngữ" trong đạo Kitô quá phổ quát như vậy đã đưa đến
tình trạng lộn xộn về lối ăn nói,
cách xưng hô trong xã hội Kitô La Mã.
Tình trạng lộn xộn này khiến cho những người không có kinh nghiệm với
xã hội Gia-tô cứ ngỡ là "Đức Cha" là chồng của "Đức Mẹ" và "Đức Ông" là
chồng của "Đức Bà".
Còn nữa, trong những gia đình có con học nghề làm linh mục, sau khi được
thụ phong linh mục thì việc xưng hô giữa cha mẹ và người con linh mục này
cũng trở thành một vấn đề. Khi cha mẹ nói chuyện với người con linh mục
này thì phải một điều "thưa cha",
hai điều "thưa cha" và xưng là
"con", nghe thật là chướng tai.
Có lẽ chỉ ở trong đạo Kitô La Mã mới
có cái lối xưng hô quái đản như vậy. 5.- Tín tín đồ
Gia-tô phải hành xử trịch thượng đối với những người thuộc các
tôn giáo khác vào bất cứ khi nào có thể làm được. Hành động xấc
xược ngược ngạo này thường là cưỡng bách, chèn ép hay đòi hỏi những
người khác tôn giáo phải theo đạo Gia-tô và thường hay xẩy ra vào những
khi: a.- có quyền lực trong tay, b.- khi có con em thành hôn với người khác đạo, c.- khi có cơ hội giúp đỡ một người khác đạo
một việc gì . 6.- Các đấng bề
trên và những người có địa vị hay chức vụ quan trọng hoặc có thế
lực trong xã hội Da-tô có thói quen
coi tín đồ thuộc lọai bạch đinh giống như một bầy nô lệ và ngu
xuẩn như "con cừu".
Việc Giáo Hội sử dụng từ "con
chiên" để gọi tín đồ là
bằng chứng nói lên sự kiện này. 7.- Tạo cho tín đồ
có thói quen ăn không nói có, gian dối, quay quắt, lắt léo, quanh co và lươn
lẹo nhằm để chạy tội hay lấp liếm tội ác dã man và bạo ngược của
Giáo Hội và của tín đồ bản địa chống lạoi tổ quốc và dân tộc
và cũng là để bảo mật những việc làm bất chính của xóm đạo nói
riêng và của Giáo Hội nói chung. Sự kiện này đã được tên văn nô
Da-tô đã công khai tuyên bố với nguyên văn: “Một sử
gia có lương tri, hãy tôn trọng lời khuyên của các bậc tiền bối dạy
con cháu “Tôn tốt đẹp khoe ra, xấu xa đạy lại.” [v]
Việc bảo mật những việc làm tội ác hay những
việc làm xấu xa trong xóm đạo và trong Giáo Hội cũng được nhà văn Da-tô
Nguyễn Ngọc Ngạn ghi nhận như sau: “Là một tín đồ ngoan đạo, anh thấy có bổn
phận phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong
giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo được biết!” [vi] Thông thường,
ở vào bất kỳ thời nào và trong xã hội nào, người nào có thái độ
hay hành động gian dối, ăn không nói có, quay quắt lắt léo, quanh co và lươn lẹo đều bị người đời lên
án và ghê tởm. Cũng vì thế mà những hạng người có những ác tính hay bản chất xấu xa ghê tởm này đều phải đắn đo suy nghĩ kỹ trước khi hành động, và chỉ dám trổ
mòi vào khi nào thuận tiện mà thôi. Thế nhưng, đối với tín đồ Gia-tô,
cái bản chất xấu xa ghê tởm này có thể hiện ra ở bất kỳ hòan cảnh
nào và hình như họ còn tán trợ và khuyến khích nhau trổ tài để làm như
vậy. Vấn đề này đã được trình bày khá rõ ràng ở Chương 11 trong Trường hợp thứ
nhất: Năm 1956, Tổng Thống Gia-tô Ngô Đình Diệm gửi hai ông Linh-mục
Toán và Hoàng xuống tận nhà khám Cần
Thơ để đòi rửa tội cho ông Ba Cụt. Sự thật là ông Ba Cụt từ chối
không bằng lòng rửa tội theo đạo Da-tô. Độc giả có thể kiểm chứng
chuyện này với thân nhân của ông Ba Cụt hiện ở Hoa Kỳ, trong đó có
bà Phấn là vợ lớn của ông Ba Cụt, và một người con gái của ông Ba Cụt.
Thế nhưng, không biết hai ông Linh-mục Toán và Hoàng báo cáo với Dinh Độc Lập như thế nào
mà ông Tổng Thống Ngô Đình Diệm lại tỏ ra vô cùng hí hửng. Chuyện
này được cựu tướng Hùynh Văn Cao kể lại trong cuốn Một Kiếp Người nhu sau: "Vì ông Ba Cụt mà tôi phải chạy đôn chạy
đáo, dậy sớm thức khuya cả mấy hôm. Nguyên là khi Ba Cụt bị án tử
hình, tôi thấy cụ Diệm đầu bù tóc rối, ban trưa, ban tối cũng như ban
sáng, xem ra Tổng Thống băn khoăn lo nghĩ rất nhiều. Cụ gọi tôi vào nói
chuyện thiêng liêng mà thôi. Cụ bảo "Án tử hình của Ba Cụt thì
không thể ân xá được, bây giờ phải làm sao mà cứu vớt linh hồn ông
ấy. Sáng mai, anh lấy máy bay xuống Cần Thơ, gặp Tướng Minh và ông Quang
(Đặng Văn Quang - NMQ), yêu cầu họ để
cho hai cha vào khuyên nhủ Ba Cụt trở lại (trở lại đạo - NMQ) để cứu
phần rỗi (phần hồn - NMQ) cho ông ta. Cha Hoàng và Cha Toán có mặt ở Cần
Thơ rồi. Anh ghé vào gặp Đức Cha Bình, và thưa chuyện với Ngài biết. Bảo
Đại Tá Quang phải đích thân can thiệp với khám (nhà tù - NMQ) để giúp
phần hồn cho Ba Cụt. Nếu Ba Cụt thuận thì tôi đỡ đâu cho." Ngày mai, tôi thi
hành đúng theo chỉ thị. Trở về Sàigòn, lúc ban chiều, tôi trình Tổng
Thống nhiệm vụ hoàn tất. Lại phải lo làm công việc văn phòng bù lại
cả ngày đi vắng. Tối đến, vừa mới và (ăn) một chén cơm, Tổng Thống
điện thọai gọi vào Dinh. Cụ lại giảng thuyết về thiêng liêng, thiên
đường, hỏa ngục, và xem ra Cụ rất lo lắng về phần hồn của Ba Cụt.
Nửa đếm mới ra về. Tắm gội xong lên
giường ngủ là một giờ sáng. Tôi ngủ mê như cây gỗ. Thình lình điện
thọai reo vang, nghe bên kia ống nói là giọng Tổng Thống. "Ừ, vào đây
có việc gấp". Nhìn đồng hồ mới 5 giờ 30. Tôi vội vàng rửa mặt,
chải đầu, ăn mặc chỉnh tề, đi vào Dinh. Vừa bước vào
khỏi cửa phòng, Cụ cười tươi như hoa, đó là lần đầu tiên tôi trông
thấy Cụ vui cười cởi mở quá sức. Cụ bảo: "Ba Cụt chịu phép rửa
tội rồi. Giờ đây Ba Cụt chết là về Thiên Đàng thẳng ro ro". Tôi
hỏi cụ: "Con cũng cầu cho Ba Cụt được lên thiên đàng, nhưng nếu mấy
mươi năm trời phạm đủ mọi thứ tội, mà bây giờ chịu phép rửa tội,
thì được lên Thiên Đàng, như vậy có bất công không". Cụ trợn mắt
nhìn tôi, như quyết liệt bênh vực Ba
Cụt. Cụ nói: "Thôi bị trảm quyết là một hình phạt quá sức rồi.
Chúa tha thứ hết. Ừ, thế mà Ba Cụt
hơn mình rồi. Lên Thiên Đàng hạnh phúc lắm." Và Cụ nói tiếp: "Chỉ có chừng nấy,
tôi tin cho anh mừng, vì mới được tin Cha Toán cho hay, thành tôi mới gọi
anh đó."[vii]
Qua câu chuyện trên đây, chúng ta thấy rõ là: A.- Hai ông Cha Toán và Cha Hoàng đã nói láo (ăn không nói có), báo cáo láo với
Tổng Thống Ngô Đình Diệm rằng ông Ba Cụt đã bằng lòng rửa tội theo đạo Da-tô trước khi bị chém đầu.
Vì vậy ông Ngô Đình Diệm mới tỏ ra vui mừng hí hửng như vậy. B.- Cho rằng chỉ cần bằng lòng và làm thủ tục rửa
tội theo đạo trước khi chết thì sẽ lên "Thiên Đàng thẳng ro ro" và "lên Thiêng Đàng hạnh phúc lắm" thì
chỉ có hạng người ngu xuẩn đến cùng
mức của ngu xuẩn mới tin như vậy. Ấy thế mà miền Nam Việt Nam lại
có một tên ngu xuẩn như vậy được
Giáo Hội La Mã và Hoa Kỳ đưa lên làm Tổng Thống cả chín năm trời.
Như vậy thì nhân dân miền C.- Thành công trong việc làm cho tín đồ tin rằng, "Chỉ cần được
rửa tội theo đạo trước khi chết thì sẽ lên Thiên Đàng thẳng ro ro"
và "lên Thiêng Đàng hạnh phúc lắm",
cho ta thấy rõ tâm địa của các nhà lãnh đạo Giáo Hội La Mã quả thật
là lưu manh gian dối đến cùng mức của lưu manh gian dối. Nó cũng cho chúng
ta thấy rõ chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã quả thật là
siêu việt và vô cùng hữu hiệu. Cũng vì thế mà chúng tôi sẽ dành hẳn
một mục gồm nhiều chương sách để
nói về chính sách ngu dân của Tòa
Thánh Trường hợp thứ
hai: Đọc lại đọan văn do cụ Vương Hồng Sển kể lại ở trên,
quý vị cũng sẽ thấy các cung cách lươn lẹo trong lời lẽ của ông Giám
Mục Ngô Đình Thục qua câu nói: “Ấy đó, ông thấy không? Họ làm sai bét những
lời tôi đã dạy. Ông làm quản thủ thư viện bảo tàng, tiền lương của
ông mỗi tháng có bao lăm, làm sao đóng 500 đồng mỗi tháng. Mỗi tháng đóng
500 đồng, ông đóng làm sao cho nổi ..” Thực ra, còn nhiều lắm,
nói hoài cũng không hết. Văn
tức là người. Đọc những lời văn của họ
tất nhiên là biết được con người của họ. Tương tự như vậy, khi trực diện đối
thoại với người nào, nếu chú tâm để ý đến nét mặt, cặp mắt và
giọng lưỡi ăn nói của họ, chúng ta sẽ nhận ra lòng ngay thẳng hay tâm
địa bất chính của người đó. Muốn kiểm chứng sự kiện này, quý vị
nên tiếp xúc với các “con chiên ngoan
đạo” của các ông Giám-mục Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi hay bất
kỳ một tín đồ Da-tô người Việt thuộc
loại “sống đạo theo đức tin Kitô”
ở tại địa phương của quý vị, đặc biệt là những ông văn nô Da-tô
đã từng có những ấn phẩm hay đang làm báo, viết sách hoặc làm MC cho
các chương trình văn nghệ tại hải ngoại, để tìm hiểu thì sẽ thấy
rõ thực hư như thế nào? Tất cả những đặc tính khác thường đến
độ quái đản trong cung cách hành xử và xưng hô giữa những tín đồ
Da-tô với nhau và đối với những người thuộc các tôn giáo khác được
gọi là đặc tính tinh túy của nếp sống văn hóa Da-tô. [i] Paul
L. Williams, The [ii]
Malachi Martin, The Decline And Fall of the Roman Church (New York: G. P. Putnam’s Sons,1981), p 140. [iii] Trần
Tam Tỉnh, Sd., tr 53. [iv]
Vương
Hồng Sển. Hơn Nửa Đời Hư.
Westminster, California: Văn Nghệ, 1995, trang 484-488. [v]
Bùi Hoàng Thu. “Bạn Ðọc Góp Ý.” Văn Nghệ Tiền Phong. Ngày 16 –
30/11/1998: 44-45. [vi]
Nguyễn Ngọc [vii]
Hùynh Van Cao, Một Kiếp Ngườii
(Chantilly, VA: Thu Minh Hu?nh, 1993), tr 52-53. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com