posted: 5.5.2005
Tham lam và ích kỉ là cha đẻ những đặc tính tham
lợi háo danh và thèm khát quyền lực. Những kẻ tham lợi, háo danh, thèm
khát quyền lực đều là những kẻ chỉ biết danh vọng và quyền lực. Hạng
người này có thể làm những chuyện đại nghịch bất đạo như giết
cha, giết mẹ, giết anh em, đối xử tàn tệ với vợ con, phản thày, phản
bạn, phản quốc, phản lại giống nòi để chiếm đoạt cho bằng được
những thứ lợi, danh và quyền lực mà họ đang theo đuổi. Đây là một sự
thật đã từng xẩy ra rất nhiều lần trong lịch sử nhân loại và vẫn
còn tiếp tục xẩy ra trong cuộc sống hàng ngày ở bất kỳ nơi nào trên
thế giới, đặc biệt là nó đang diễn ra trong các hội đoàn của người Việt hải ngọai tại Bắc Mỹ. Dưới đây là một vài cái gương lưu xú
vạn niên này: 1.- Vì thèm khát quyền lực, Thương Thần giết cha
là Sở Thành Vương để có thể nhẩy lên ngai vàng cai trị nước sở với
vương hiệu là Sở mục Vương. Chuyện này xẩy ra ở nước Sở trong thời
Đông Châu Liệt Quốc. Chuyện rằng Sở Thành Vương có nhiều con trai và
đã lập ngôi thái tử cho người con cả là Thương Thần. Nhưng vì tham quyền
cố vị, dù là đã ở ngôi 46 năm rồi, Sở Thành Vương vẫn cứ ngồi lỳ
bám chặt lấy quyền lực, không chịu nhường ngôi cho con như các vua nhà
Trần của nước ta. Thương Thần chờ lâu quá, nóng lòng và sợ rằng biết
đâu vào một lúc nào đó, Sở Thành Vương sẽ đổi ý truất ngôi Thái Tử
của mình và lập một người con khác lên thay thế. Rồi chuyện xẩy ra đúng
như Thương Thần đã lo sợ. Sau khi lập Thương Thần làm thái tử rồi, Sở
Thành Vương lại thương yêu một người con thứ tên là Chức và có ý truất
ngôi thái tử của Thương Thần để đưa Chức lên thay thế. Biết được
tin này, Thương Thần liền âm mưu với Phan Sùng làm đảo chính. Nửa đêm,
hai người này đem quân vào cung vây bắt Sở Thành Vương và buộc phải thắt
cổ tự tử, rồi lên ngôi lấy vương hiệu là Mục Vương. Rõ ràng là lòng háo danh và thèm khát quyền lực đã
khiến cho Thương Thần giết cả người cha ruột của mình để đạt được mục đích. Độc ác thay. Đúng
là loài súc sinh! 2.- Vì thèm khát quyền lực cho nên Lữ Bát Vi đã
muối mặt đem cả người vợ thân thương yêu quý của ông ta là Triệu Cơ
dâng hiến cho công tôn Dị Nhân nước Tần (đang bị giữ làm con tin ở nước
Triệu) để lót đường tiến vào cửa quyền.
3.- Vì thèm khát quyền lực, Dương Quảng giết cả
cha là Dương Kiên Tùy Văn Đế (581- 605), giết mẹ và giết cả anh ruột
là Dương Dũng để nhẩy lên ngai vàng, lấy đế hiệu là Tùy Dạng Đế
(605-618). 4.- Cũng chỉ vì lòng háo danh và thèm khát quyền lực
mà Tổng Giám-mục Charles Maurice de Talleyrand (1754-1838) trở thành vua trở cờ
với những thành tích phản lại Giáo Hội đi theo Cách Mạng Pháp 1789; khi
thấy rằng Liên Minh Thánh (Holy Alliance) của Giáo Hội mạnh, ông lại trở
cờ, phản lại Cách Mạng Pháp đi theo Liên Minh Thánh, nhưng vì bị Liên
Minh Thánh truy cứu tội phản lại Giáo Hội trong những ngày đầu của Cách
Mạng Pháp 1789, nên ông ta phải trốn chạy sang Hoa Kỳ sống lưu vong và
được chính quyền Hoa Kỳ bao che. Khi thấy Tướng Napoléon Bonarparte lên nắm
chính quyền ở Pháp và đang ở thế mạnh, ông
tìm cách trở về Pháp xin phục vụ và được cho giữ chức vụ
Bộ Trưởng Ngọai Giao trong suốt thời kỳ từ cuối thập niên 1790 cho đến đầu thập niên 1810. Cuối thập
niên 1790, vì còn đang ở thế yếu, lại
đang phải đối phó với Anh quốc, Hoa Kỳ gửi một phái đoàn sang Thủ Đô
5.- Cũng chỉ vì lòng thèm khát quyền lực, mà ông
Da-tô tứ đại Việt gian Ngô Đình Diệm đã trở thành một nhân vật lưu
xú vạn niên trong thời cận và hiện đại với những thành tích vừa là
một tến Việt gian ác ôn (dùng phương cách
tra tấn “đốt đèn cầy sấy hậu môn các tù nhân yêu nước” để
lấy khẩu cung), vừa là ông vua phản phé còn siêu hơn cả ông vua trở
cờ Talleyrand như đã nói trên. Cả hai nhân vật Da-tô lưu xú vạn niên lừng danh
này đều đã được trình bày khá đầy đủ ở trong Chương 16, sách Thực Chất Của Giáo Hội La Mã (Tacoma,
Washington, TXB: 1999). 6.- Tất cả những người Việt muối mặt nhẩy ra
làm Việt gian bán nước cho Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp -
Vatican trong suốt thời kỳ 1858-1954 và Liên Minh Mỹ - Vatican trong những năm
1954-1975 đều là những người tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực. Phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy rằng những
kẻ nào càng nặng lòng tham lam ích kỷ, càng háo danh và thèm khát quyền lực
thì càng trở thành mù quáng và càng dễ
dàng bị sai khiến bằng danh lợi và quyền lực. Đây là một quy luật tâm lý xã hội mà
Giáo Hội La Mã đã triệt để áp dụng quy luật này bằng cách soạn thảo
thành kế sách khơi động và nuôi dưỡng lòng tham lam ích kỷ trong lòng
tín đồ để lợi dụng họ làm tay sai đắc lực cho Giáo Hội. Nhờ đã triệt để áp dụng kế sách này, Giáo Hội
La Mã đã đạt được những gì mà Giáo Hội mong muốn, tức là đạt được
cái mục đích tối hậu của Giáo Hội. Mục đích tối hậu này là hủy dịêt nếp sống văn hóa bản địa ở
trong lòng tín đồ để thay thế vào đó bằng nếp sống văn hóa Da-tô.
Quả thật là như vậy! Quan sát trong xã hội Da-tô,
chúng ta thấy kế sách này đã gây ra một tác dụng vô cùng khủng khiếp
mà chúng ta có thể nhìn thấy rõ ràng trong cung cách hành xử hàng ngày của
họ. Dưới đây là một vài trường hợp điển hình: 1.- Vì lòng tham
lam, ích kỷ và háo danh để được tiếng là con chiên ngoan đạo mà vợ
con ông Charlie Nguyễn đã muối mặt lôi ông ra đấu tố, làm cho luân thường
đạo lý bị đảo ngược. 2.- Cũng vì lòng háo danh và muốn tỏ ra có quyền lực
mà những bà hội viên trong Hội Con Đức Mẹ mới có những hành động
ác độc tàn ngược trong việc đấu tố em bé Mai trong trại định cư Tân
Hạ (Xóm Đạo) như đã nói ở trên. 3.- Cũng chính vì lòng ích kỷ với tinh thần cầu
an quá nặng và cũng là muốn tỏ ra được phỉnh nịnh là con chiên ngoan
đạo mà khi chứng kiến thảm cảnh người gái nhỏ dại (bé Mai) của họ
bị đấu tố (bị đánh bề đồng) tàn nhẫn ngay ở trước mặt mà họ cũng vẫn không hề xông ra bênh vực
chống đở và bảo vệ đứa con của khốn khổ của họ. 4.- Cũng chính vì lòng tham lam ích kỷ, háo danh và
thèm khát quyền lực mà ông Linh-mục Trần Lục đã dẫn hơn 5 ngàn quân
lính thập tự Phát Diệm đi tiếp viện cho Liên Quân Xâm Lược Pháp -
Vatcian tiêu diệt lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta dưới
quyền chỉ huy của nhà ái quốc Đinh Công Tráng tại căn cứ Ba Đình vào
năm 1887. 5.- Cũng chính vì lòng tham lam ích kỷ, háo danh và
thèm khát quyền lực mà những tín đồ Gia-tô người Việt như Trần Bá Lộc,
Lê Hoan, Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, Pétrus Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trường
Tộ, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Bá Tòng, Lê Hữu
Từ, Phạm Ngọc Chi, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Lạc Hóa, Đinh Xuân Hải, Mai Ngọc
Khuê, và
không biết bao nhiêu ngàn tín đồ Da-tô khác đã muối mặt phản
lại đất nước, phản lại dân tộc, muối mặt làm tay sai cho quân cướp
ngọai thù là Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Pháp - Vatican trong suốt chiều
dài lịch sử từ giữa thế kỷ 19 cho đến ngày nay. 6.- Cũng chính
vì lòng tham lam ích kỷ, tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực mà
ngày 27/8/1964, ở giữa Thủ Đô Sàigòn, Linh-mục Hoàng Quỳnh đã ngang
nhiên hô hào giáo dân rằng, “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”
. Ngoài ra, chúng ta còn thấy, lòng tham lam ích kỷ đã
làm cho tín đồ Gia-tô mờ mắt và mất hết lý trí, cho nên họ thường tỏ
ra rất trân trọng những chức tước, những phẩm hàm trong hệ thống quyền
lực của Giáo Hội và các địa vị trong chính quyền. Đây cũng là động
lực khiến cho tín đồ Da-tô, đặc biệt là tín đồ Da-tô người Việt, rất hăng say lao đầu vào việc tranh giành
hơn thua, chiếm cho được phần hơn về mình. Tình trạng này gây nên những
ác tính khác theo quy luật giây chuyền với những căn bệnh đố kị, tị
hiềm và ganh ghét trong con người của họ. Những ác tính này càng ngày
càng trở nên trầm trọng. Cũng vì thế mà họ trở thành những hạng người
thiển cận, lố bịch, trịch thượng (tư
phong cho họ là "dân Chúa", gọi
những tôn giáo khác là "tà đạo" hay "tà giáo" là những
thành phần thuộc các nền văn hóa khác là những quân "mọi rợ",
những dân "man di"). Căn bệnh lố bịch trịch thượng này lại sinh ra
chứng bệnh huênh hoang, khoác lác, hợm hĩnh một cách vô cùng lố bịch.
Đây là căn bệnh đội trên đạp dưới rất thông thường trong xã hội
Da-tô (xun xoe, ninh bợ những người có chức
tước, địa vị, quyền hành và khinh rẻ những người ngoại giáo, những
người lép vế thế cô và những người thấp hèn). Đây cũng là một
nét đặc thù trong nếp sống văn hóa Da-tô và được nhà trí thức Da-tô Nguyễn Văn Trung ghi nhận như sau: “Ai có dịp gần
gũi các giám mục Việt Nam đều có chung nhận xét rằng về mặt cá nhân,
các Ngài có vẻ đạo mạo, cởi mở, dễ mến, trừ một ít vị tỏ ra cao
ngạo, khép kín, quan liêu. Những trong lề lối làm việc, các giám-mục thường
rất độc tài, độc đoán. Trong đối xử thường tỏ ra kỳ thị, ban phát
ân huệ, coi thường bề dưới, ganh tị và kèn cựa với đồng liêu để
lập công với Tòa Thánh. Những điểm nổi bật là tiền hậu bất nhất,
việc làm không đi đôi với lời rao giảng, trọng ngoại khinh nội, tham
phú phụ bần, vô cùng sợ hãi Tòa Thánh, đến nỗi có những linh mục
nói rằng, “Tòa Thánh đánh rắm cũng
khen thơm”,…..” [ii]
Đặc tính huêng hoang, khoác lác, khoe khoang này
không những thể hiện ra trong cung các hành xử hàng ngày của họ với những
thái độ và ngôn từ như trên, mà còn thể hiện ra qua những lời văn
trong những ấn phẩm của họ. Đọc lá thư 1/11/1995 của ông cựu luật sư
Da-tô Nguyễn Văn Chức gửi ông cựu
Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNama, chúng ta thấy rằng, ngoài những lời
lẽ chủ quan thiển cận của một hạng người “ếch ngồi đáy giếng”, tác giả lá thư
này còn kê ra tới 5 cái chức vụ và nghề nghiệp trong cuộc đời của
ông ta. Đặc tính huênh hoang, khóac lác khoe khoang này lại
đẻ ra một cái tật quái đản khác
là nói láo hay làm những chuyện giả dối để tô vẽ cho cá nhân mình.
Thí dụ như chuyện ông Da-tô Cao Thế Dung
tự xưng là tiến sĩ đã trở thành trò hề cho thiên hạ. Tại tiểu bang Sự đời, những kẻ ngu dốt thường hay nói chữ.
Vì thế mà có tình trạng một ông tín đồ Da-tô mớ học xong mấy năm
trong chương trình undergraduate (bậc 1) của Phân Khoa Luật thuộc Trường Đại
Học Sàigòn và học theo chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ như trên
mà đã tưởng như là một đại trí thức rồi huênh hoang khóac lác và nhảy
rào sang cả lãnh vực sử học và khoa học chính trị để “múa rìu qua mắt thợ” trong cái thời tin
học như ngày nay thì quả thật là thứ người “ếch ngồi đáng giếng”, chỉ làm trò hề
cho thiên hạ. Đây là trường hợp ông cựu
thẩm phán Nguyễn Cần, dùng bút hiệu
khi viết sách là Lữ Giang và khi viết báo là Tú Gàn. Vì căn bệnh huênh hoang khoác lác và thích khoe
khoang, ông Lữ Giang mới hí hửng nhẩy rào sang lãnh vực sử và ti toe viết
rằng: “Thân phụ của hai ông Ưng Đệ và
Ưng Trạo là Ưng Thuyên”. Cái trò hề này đã khiến cho cụ Phan Bá Kỳ
mới “chỉnh” ông Lữ Giang bằng bài viết “Sửa Sai” đăng trên tờ
Nguyệt San Người Dân số 77 tháng 1/1977, sau đó lại được in trong cuốn
tạp luận Ăn Ốc Nói Mò (Costa Mesa,
CA; VietBooks, 1998). Bài này khá dài với nội dung “sửa sai” ông Lữ Giang
về nhiều chỗ “cương ẩu” để chạy tội cho Giáo Hội La Mã và cho
cha con ông Ngô Đình Khả. Vì giới hạn của chương sách này, người viết
chỉ trích một đọan nói về môt trong những điểm “cương ẩu” của
nhà viết sử xé rào này mà thôi. Về chuyện “ông Ưng Thuyên là thân phụ của hai ông Ưng
Đệ và Ưng Trạo”, cụ Phan Bá Kỳ viết: “Ở đây tôi chỉ
đề cập đến khả năng cúa ông Lữ Giang. Ông Lữ Giang viết về những sự
kiện lịch sử mà không có nổi những kiến thức sơ đẳng, lại không chịu
tìm tòi: Vua Gia Long Nguyễn
Phúc (Phước) Ánh có 9 (13 ?) hoàng tử. Mỗi hoàng tử đặt tên con cháu bằng
một bài thơ. Hoàng tử Cảnh là con trưởng nhưng không được làm vua, vì
theo Công Giáo. Con cháu ông này được đặt tên như sau:
Vua Thiệu Trị tên
là Miên Tông, vua Tự Đức là Hồng Nhậm, vua Đồng Khánh là Ưng Kỵ, vua
Khải Định là Bửu Bảo, vua Bảo Đại là Vĩnh Thụy. Thân phụ của hai
ông Ưng Đệ và Ưng Trạo phải là Hồng Thuyên, chứ sao lại là Ưng Thuyên
được. Dù bà Ngô Thị Hiệp, chị ông Ngô Đình Diệm, dốt nát, có thể
cung cấp cho ông Lữ Giang cái chi tiết sai lạc này đi nữa, thì ông Lữ
Giang cũng không có quyền có cái dốt nát mà cho rằng Ưng là một họ, rồi
con… họ Ưng thì tất nhiên cha cũng họ… Ưng. Nhất là khi ông Lữ Giang
lại là người miền Trung. Họ của tất cả những người đó là Nguyễn
Phước!” Cũng vì mang cái bệnh huênh hoang khác lác, cho nên
khi viết lá thư gửi cho ông cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara,
ông cựu luật sư Nguyễn Văn Chức đã
kể ra tới 5 cái chức vụ và nghề nghiệp ở bên dưới mà không biết rằng
những chức vụ và nghề nghiệp này không những chẳng có giá trị thuyết
phục gì đối với bất cứ vấn đề gì mà còn để lộ cho người đọc
nhìn thấy rõ cái dốt vĩ đại của mình dù là đã từng là luật sư và
là thượng nghị sĩ trong chính quyền miền Nam Việt Nam trong những năm tháng
4/1975. Lòng tham lam ích kỷ, háo danh và thèm khát quyền lực
đã làm cho họ hết sức thiển cận, không còn khả năng suy nghĩ sâu xa.
Chính vì thế mà họ mới hăng say lao đầu vào làm những việc độc ác
và tàn ngược như đã trình bày ở trên. Tín đồ càng háo danh và càng
thèm khát quyền lực thì Giáo Hội càng dễ dàng khai thác và lợi dụng
dùng những miếng mồi danh lợi, quyền lực cũng như bánh vẽ “hồng ân Thiên Chúa” và “Chúa sẽ trả ơn” để lôi cuốn họ
hăng say gia nhập vào các đạo quân thập tự phục vụ cho các cuộc chiến
do Giáo Hội phát động đi đánh chiếm các vùng đất của các nhóm dân
thuộc các tôn giáo khác cũng như làm những việc đại nghịch bất đạo
như phản quốc và “Cha con tố cáo nhau, vợ chồng tố cáo nhau,
anh em tố cáo nhau, bạn hữu tố cáo nha, hàng xóm láng giềng tố cáo nhau
v.v... trước tòa án của Giáo Hội.” Vì chỉ được tiếp nhận những lời dạy dỗ của
Giáo Hội La Mã, họ trở thành lọai người “ếch ngồi đáy giếng”. Vì tình trạng
này, họ mới tuyệt đối tin tưởng vào những tín lý Kitô, phép mầu và
các phép bí tích của Giáo Hội mà họ
không biết rằng những thứ quái đản này chỉ là những điều hoang tưởng
phi nhân bản, phản khoa học, thiếu logic do bọn lưu manh buôn thần bán
thánh bịa đặt ra với dã tâm lường gạt và lừa bịp người đời đi kèm theo những chữ
“sẽ được” để dùng làm những
miếng mồi câu nhử con mồi. Cũng vì ở trong tình trạng ngu dốt và thiển cận
như vậy, họ không có khả năng lý trí
để nhìn ra những tín cách độc đóan, áp bức trong những cái gọi là
“thánh luật”, những “giáo
luật”, và tính cách siêu phong kiến, phản tiến hóa trong các đẳng
cấp của các hàng giáo phẩm trong trong Giáo Hội La Mã, trong cung cách xưng
hô và trong các tục lệ trong đạo Da-tô. Họ cũng không có khả năng suy
luận để nhìn ra tất cả những thứ quái thai này đều do tập đoàn tu sĩ
trong Tòa Thánh Vatican bịa đặt ra vừa dùng làm những lời đường mật
để dụ khị tín đồ và người đời, vừa để củng cố quyền lực vừa
dùng làm công cụ đàn áp và khuất phục những kẻ nào tỏ ra hòai nghi
và bất tuân khục Giáo Hội. Dưới đây là một vài lời đường mật đùng
để dụ khị người đời: "Nếu theo đao thì
sẽ được hưởng hồng ân Thiên
Chúa, sẽ được Chúa ban ơn, sẽ được Chúa ban phước lành, sẽ được Chúa ban cho no đủ, sẽ được
Chúa ban cho phép lạ, v.v..." Những lời dạy dỗ bịp bợm trên đây cho thấy rõ cái bản chất khơi
động và nuôi dưỡng lòng ích kỷ và
tham lam để câu nhử và dụ khi những phường háo danh tham lợi chạy theo
để vào đạo. Kể từ thế kỷ 4, khi
đưa ra chủ trương "Tôn giáo chỉ đạo
thế quyền" với dã tâm thiết lập các chế độ đạo phiệt Gia-tô
làm tay sai cho Giáo Hội, ở bất kỳ quốc gia nào, một khi đã có được một chế độ đao phiệt
như vậy thì Giáo Hội lập tức thi
hành kế sách sử dụng miếng mồi danh lợi như các chức vụ, địa vị và
quyền lợi trong chính quyền cũng như ở ngoài xã hội để câu nhử những
phương háo danh hám lợi vào đạo với hy vọng sẽ được Giáo Hội ban
phát cho họ những gì họ thèm khát. Kế sách này cũng được Giáo Hội
áp dụng khi Giáo Hòang Urban II (1088-1099) kêu
gọi tín đồ gia nhập vào các đạo quân thập ác trong những đợt tiến
quân vào vùng Palestine và miền Nam nước Pháp để chiếm đất, giết người cướp của ở
trong các vùng này. Sách Men and Nations viết về nghệ thuật sử dụng sách
lược lưu manh này của Giáo hội La Mã như sau: “Người ta gia nhập
vào các Đoàn Quân Thập Ác này vì nhiều lý do. Giáo Hoàng hứa hẹn sẽ ban thưởng cho họ vừa được
lên thiên đường vừa được
hưởng những phần thưởng vật chất thiết thực ở nơi trần thế. Mọi
tội lỗi của nguời lính Thập Ác đều được tha thứ. Tài sản và gia
đình của họ sẽ được Giáo Hội bảo đảm, trông nom săn sóc
trong thời gian họ xa nhà đi chiến đấu. Những
ai còn mang nợ sẽ được xóa bỏ hết nợ nần và những tội đồ sẽ được xóa bỏ hết tội ác,
miễn bị trùng phạt nếu họ gia nhập vào đoàn quân Thập Ác của Giáo Hội.
Nhiều ông hiệp sĩ chóa mắt vì những
miếng mồi quyến rũ về những đất đai và của cải mà họ hy vọng sẽ
ăn cướp được ở vùng Cận Đông giầu có. Các thương gia thì thấy đây
là cơ hội bằng vàng cho họ kiếm được
những món lời lớn trong việc kinh doanh. Các cuộc viễn chinh của Đoàn
Quân Thập Ác này một phần mang tính cách tôn giáo, nhưng cũng là một cuộc
chiến tranh khích động lòng yêu thích
phiêu lưu của con người, lòng hám lợi
và khát vọng trốn thoát khỏi cảnh nợ nần, tù tội và buồn chán.” ("Men joined
the Crusades for many different reasons. The pope promised both heavenly and
earthly rewards. All the sins of a crusader were forgiven. His property and family were
guaranteed protection by the Church during his absence. A debtor who took the cross had
his debts canceled; a criminal was relieved of punishment. Knights were dazzled by the
lure of land and plunder in the rich Near East. Merchants saw a chance for comercial gain.
The Crusades were partly religious expeditions, but they also appealed to men 's love of
adventure, hope of gain, and desisre to escape debts, pinishment, or boredom.") [iv]
Kế sách này cũng được Giáo Hòang Nicholas V
(1447-1455) nhắc lại rõ ràng trong Thánh Lệnh Romanus Pontifex do (Đức) Giáo Hoàng
Nicholas V (1447-1455) ra ngày 8 tháng Giêng năm 1454 để dụ khị chính quyền
Bồ Đào Nha đem quân đi đánh cướp các
vùng đất ở ngoài lục địa Âu Châu. Nôi dung của cái Thánh Lệnh ăn cướp
này được Linh-mục Trần Tam Tình ghi nhận trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm và đã được trích
dẫn ở Chương 1. Vì bị nhồi sọ và
tiêm nhiễm ngay từ thuở mới chào đời và trải qua nhiều thế hệ, hết
thế hệ này qua thế hệ khác, những ác tính ích kỷ và gian tham này đã
trở thành bản chất trong con người tín đồ của Giáo Hội. Vì đã trở thành bản chất thì khó có thể
mà thay đổi được (giang san dị cải, bản
chất nan di), cho nên, ở Việt Trong thực tế, tín đồ Gia-tô của Giáo Hội trong
các đòan quân thập ác chắc chắn được
làm những chuyện đi càn quét đốt làng, phá đình, cha chùa, cướp của,
tàn sát thanh niên đàn ống thanh niên, hãm hiễp đàn bà con gái. Cũng vì cái tham vọng gian ác này đã trở thành bản
chất, và bản chất này của họ không bao giờ thay đổi được, cho nên
chúng ta thấy, từ cuối thập niên 1970 cho đến ngày nay, trong các cộng đồng người Việt hải ngọai
tại các địa phương ở Bắc Mỹ đều có những tín đồ của Giáo Hôi
bu vào các hội đồng chuột như đàn ruồi đàn nhặng bu quanh một cái gì
có mùi hôi thối, để giành giật những chức chủ tịch và ban chấp hành
về tay những người đồng đạo của họ bằng những mưu mô thủ đoạn
rất là Da-tô. Rồi sau đó, họ lại quay ra tranh giành với nhau "cái
danh hão huyền này" bằng những thủ đọan cũng rất Gia-tô, từ gièm pha, phỉ báng, chụp mũ và triệt
hạ nhau bằng mọi giá, y hệt như các hệ phái Thiên Chúa Giáo (Gia-tô La Mã, Do Thái Giáo, Hồi Giáo, Tin
Lành, Anh Giáo, Chính Thống Giáo) ở Âu Châu
từ thời Trung Cổ cho đến ngày nay. Quý vị có thể kiểm chứng sự kiện này qua các tờ
bào Việt ngữ ở Bắc Mỹ và ở trong các diễn đàn của họ trong các mạng (websites). Trước khi đạo Gia-tô lan truyền đến Việt Tất cả những việc làm đại nghịch bất đạo và
những hiện tượng quái đản trên đây đều là sản phẩm của nền văn
hóa Da-tô. Chình vì thế mà nhà báo
Long Ân đã ghi nhận như sau: “Con người đã
nhân danh tôn giáo để làm những chuyện điên cuồng nhất, đã nhân danh
tôn giáo để biện minh quyền lực phi nhân áp đặt lên đầu kẻ khác.
Con người đã phản lại tôn giáo, đã chặt đứt cây cầu đưa đến cuộc
tìm kiếm chính mình, đã cúi đầu đi trên bố chân để từ con người trở
về với nguồn gốc của con người súc sinh.” [v]
Và cũng chính vì thế mà văn hào Voltaire mới gọi
đạo Da-tô là “cái tôn giáo ác ôn” [vi],
và học giả Da-tô Henri Guillemin gọi Giáo Hội La Mã là “cái giáo hội
khốn nạn”. [vii] [i]
Jack Abramowitz,. American History. [ii]
Nhiều tác giả, Sđd., tr 116. [iii]
Nhiều tác giả, Ăn Ốc Nói Mò (Costa
Mesa, CA: VietBooks, 1998) tr 217-218. [iv]
Anatole G. Mazour & John M. Peoples. Men And
Nations - A World History (New York: Harcourt Brace Jovanovich, 1975), pp. 217-218. [v]
Nguyễn Mạnh Quang, Việt [vi] Bùi Ðức Sinh, Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo, Phần Nhì
(Sàigòn: Chân Lý, 1973), tr 165, [vii] Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội Và Xin Lỗi? ( |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com