posted: 18.5.2005
PHỤ
LỤC I (Sắp xếp lại theo “internet layout” của web Giao điểm): NGUYỄN VĂN TƯỜNG:
NHỮNG NGƯỜI TRUNG NGHĨA TỪ XƯA TƯỞNG KHÔNG HƠN ĐƯỢC TÁC GIẢ: TRẦN
XUÂN AN ĐẠI (trích đoạn
nguyên văn) 1. Nguyễn Văn Tường cùng
đồng sự đi kinh lí huyện Thành Hóa, Quảng Trị, tháng 01 Giáp tí (tháng
02. 1864): “Sai
hữu thị lang Bộ Lại là Thân Văn Nhiếp, biện lý Bộ Binh là Nguyễn Văn
Tường đi các châu tổng trong huyện Thành Hóa, đạo Quảng Trị, để
thăm xét dân tình, địa thế. Bọn Văn Nhiếp xin trích phái 1 quản cơ, 3
suất đội, và 150 tên biền binh ở cơ Định Man đem khí giới đầy đủ
đi theo cho trọng sự thể. Và xin mua theo thị giá các thứ vải hoa màu của
Tây dương và sa nam, may chế quần áo đều 20 bộ, chè bắc hạng to cánh 5
cân, rượu 30, 40 cân, đem ban cấp cho những người ti mục dân thổ, để
tuyên bảo đức ý của Triều đình. Vua y cho”. (ĐNTL.CB.,
tập 30, Nxb. KHXH., 1974,
tr. 51). 2.
Nguyễn Văn Tường là vị quan giỏi được chọn làm phủ doãn để hiểu
bảo giáo dân Thiên Chúa giáo tại kinh đô Huế, tháng 6 Giáp tí (tháng
7.1864): “Vua
cho là hiện nay dân lương, đạo khích nhau, kinh ấp Thừa Thiên, Nghệ An hạt
lớn, cần được người giỏi để hiểu bảo cho dân yên. Bèn cho Ngụy Khắc
Đản (biện lý) lãnh bổ bố chính sứ Nghệ An (nguyên bố chánh là Đoàn
Văn Hội đổi vào làm biện lý Bộ Binh), Nguyễn Văn Tường (biện lý)
lãnh chức phủ doãn (nguyên phủ doãn là Trần Tiến Thọ can dân kiện ở
ngoài đợi xét)”. (ĐNTL.CB.,
tập 30, Nxb. KHXH., 1974,
tr. 97 – 98). 3.
Nguyễn Văn Tường xin trở về Thành Hóa (Cam Lộ) để làm tuyên phủ sứ,
đặt cơ sở để xây dựng Tân Sở, hậu lộ của kinh đô, tháng 02 Ất sửu
(tháng 3.1865): “…
Tri huyện Thành Hóa tỉnh Quảng Trị là Nguyễn Duy Tự, xin đem quân đi xếp
đặt công việc ở bảo Trấn Lao […] [*]. Vua
[…] nhân bảo bộ thần rằng: “Nguyễn Duy Tự không phải là người trọng
hậu, tựa như người hiếu sự, ở nơi biên viễn, mà không được như
Nguyễn Văn Tường, thì lợi chưa thấy, mà hại lại sinh ra, hối làm sao kịp”.
Bèn sai Thân Văn Nhiếp và Nguyễn Văn Tường thương lượng suy xét. Văn
Nhiếp xin cho Nguyễn Văn Tường và Trần Đình Túc cáng đáng việc ấy,
và đặt thêm chức tuyên phủ sứ, chọn người thổ trước [**] để sửa
sang các công việc. Nguyễn
Văn Tường nói: “Các
châu ở Thành Hóa đất liền với kinh đô, đời đời làm phên che giúp đỡ,
sản vật có thể dùng được, dân phong có thể sai khiến được, há nên
cho là các châu nên ràng buộc qua loa. Còn về rừng sâu khí núi độc, thì
có người đã ở quen, chịu đựng nổi; dân Man không biết gì, thì lấy sự
dễ dãi để thân cận họ; biên viễn là việc quan hệ, thì đã có viên
đại viên để trông coi; lại khoan cho kỳ hạn, cho được tùy nghi, sửa
sang dần dần mới mong có thành hiệu. Các điều khoản như Thân Văn Nhiếp
đã tâu xin, tưởng công việc ngày nay, chủ chốt không qua các điều ấy.
Trần Đình Túc chưa từng kinh lịch nơi đó nhưng địa thế, dân tình ở
phủ hạt ấy rất là biết rõ. Thần sinh trưởng ở đất ấy [Quảng Trị
– TXA. ct.], trước kia đã làm tri huyện ở đó [huyện Thành Hóa (Cam Lộ)
– TXA. ct.] hơn 9 năm, năm ngoái lại đi khám xét, thì [tuy rằng – TXA.
ct.] Trần Đình Túc là người giỏi giang quen việc, tôi [:các bề tôi –
TXA. ct.] không thể theo kịp được, nhưng về tục xứ ấy, tình người
Man, thì Đình Túc chưa được hiểu rõ như thần. Xin cho thần đổi chức
tuyên phủ sứ, và kiêm cả chức khuyến nông; phàm công việc nên làm ở
bảo Trấn Lao, thì đốc sức cho huyện viên sửa sang; còn ruộng nương, việc
trị thủy, đời sống của dân, điều lợi điều hại thì hội cùng với
đạo thần [:các quan cai quản ở đạo, một đơn vị hành chính nhỏ thua
một tỉnh – TXA. ct.] thương lượng mà làm. Chức kinh doãn có khuyết, hoặc
cho Trần Đình Túc kế thay, nhưng kiêm coi cả công việc doanh điền”. Vua
lại hỏi Trần Đình Túc, Túc cũng cho là phải, lại tự xin trông coi việc
ấy tự trước đến sau. Vua
cho là chức kinh doãn và doanh điền, đều chưa có công hiệu, cũng chưa rõ
người có tài năng hay không, bèn sai [Nguyễn Văn Tường – TXA. ct.] giữ
chức cũ; Trần Đình Túc thì kiêm biện cả nông điền thủy lợi ở Quảng
Trị; còn các việc trọng đại về doanh điền của phủ đạo nên cùng với
Nguyễn Văn Tường thương lượng bàn định tâu lên, và hội đồng lựa
chọn viên quản
đạo, viên huyện”. (ĐNTL.CB.,
tập 30, Nxb. KHXH., 1974,
tr. 171 – 172). [*]
Kí hiệu […]: các câu, chữ xét thấy không cần thiết, do đó, xin mạn
phép lược bỏ. TXA. [**]
Người thổ trước: người địa phương; từ đời tổ tiên, dòng họ người
đó đã bám trụ (khai hoang, lập làng) ở địa phương ấy (thổ: đất;
trước: bám trụ). Ở vùng bên trong Đèo Ngang, người địa phương ở đấy
là những người đã Nam tiến, sớm nhất là từ sau khi Chế Mân dâng ba
châu Bố Chính, Ma Linh, Địa Lí để làm sinh lễ (1306, đầu thế kỉ
XIII). TXA.
4.
Nguyễn Văn Tường làm khâm phái, bang biện huyện Thành
Hóa, bắt đầu xây dựng Tân Sở và hệ thống thượng đạo, tháng 10
Bính dần (tháng 11.1866): “Quản
đạo Quảng Trị là Nguyễn Quýnh dâng sớ bày tỏ mọi việc: -
Xin
dời kinh đô; -
Xin
đem các tỉnh lên thượng du; -
Xin
từ Nghệ An trở vào Vua
bảo rằng: “Dời các tỉnh thành sợ nhiều việc hoang mang, hoặc làm dần
dần, mới khỏi tiếng tăm, mà khỏi chia quân đóng giữ; di dân không tiện;
việc dựng kinh đô trước đã có người nói, cũng ngại tiếng tăm, nhưng
xét kỹ lúc có việc khác với lúc không có việc; nước Trung Quốc có hai
kinh đô, nhà Thanh đóng đô ở Yên kinh, lại có Thịnh kinh là đất khởi
nghiệp cũ, cũng là dự tính trước; nhưng động làm tất nhiều lời nói
không căn cứ, chưa hợp thời thế”.[…]. Quýnh
lại xin đặt một đồn ở Ba Xuân tỉnh Quảng Trị (cách Thành Hóa một
ngày đường), phái quan quân đóng ở đấy, chiêu tập dân đến ở. Quan
Viện Cơ mật cho là chỗ ấy gần với nước Cao Man, làm đồn đóng quân,
không khỏi làm cho nước ấy nghi ngờ; xin xét tình thế khuyên mộ dân, mở
mang dần dần việc tiến đặt, đợi khi quả thực, dân tình vui theo, người
man không ngờ, mới nên đi kinh lý. Vua bảo rằng: “Trước
Nguyễn Văn Tường cũng xin làm việc ấy, tất phải làm theo lời nói; chuẩn
cho làm bang biện huyện Thành Hoá để làm việc,
cấp
cho ấn “khâm phái quan phòng”, cho được tự ý tư tâu”. (ĐNTL.CB.,
tập 31, Nxb. KHXH., 1974,
tr. 86 – 87). 5.
Nguyễn Văn Tường phòng thủ trước việc thực dân Pháp xâm chiếm đất
hoang, tháng 11 Bính dần (tháng 12.1866): “Bang
biện Thành Hoá huyện vụ là Nguyễn Văn Tường tâu nói: Đồn Trấn Lao
hơi có lam chướng, nhưng đất rộng dân thuần, không khác gì trung châu; lại
nghe người Tây sắp phái người chiếm đất hoang ở đằng sau núi, nên phải
tính ngay; xem ra mạo lam chướng, vỡ đất hoang […], thì thế dễ đề phòng,
mà đất bỏ không ở biên giới, đều có chia giữ, cũng là việc cần phải
chiếm đất khai hoang trước. Vua y cho”. (ĐNTL.CB., tập 31, Nxb. KHXH., 1974,
tr. 89). 6.
Nguyễn Văn Tường tâu bày về công việc sơn phòng đạo Cam Lộ, trong đó
có việc mở thượng đạo Bình Định – Nghệ An, tháng 12 Bính dần (tháng 01.1867): “Bang
biện huyện Thành Hóa là Nguyễn Văn
Tường tâu bày 6 điều về việc sơn phòng đạo Cam Lộ: -
Xin
đem binh đội Thiên Thiện và binh đồ tù các tỉnh đạo, đều phát đến
cơ Định Man; chọn người cai quản, cấp cho lương ăn để khai khẩn ruộng
đất. -
Xin
ở Sơn Tây tỉnh Bình Định và Trấn Ninh tỉnh Nghệ An, mở con đường ở
thượng du thông đến Cam Lộ, để chống giữ lẫn nhau. -
Mộ
thêm cơ Định Man; các quản suất, thưởng cho phẩm hàm; và gạo lương của
lính mộ, xin theo lệ làm việc; sau thành nền nếp, mỗi đội đặt làm một
làng, ruộng vỡ hoang cho lấy một nửa làm thế nghiệp, nửa sung làm ruộng
công; có người tình nguyện mộ dân làm nhà ở khai khẩn, thì cấp thực
cho tiền 10 quan, cho vay 35 quan, 3 năm phải nộp trả lại, mộ được dân nội
tịch cho được trừ, biên là chính mộ, đều chiểu lệ thưởng hàm; và
mua trâu giao người phu mộ chăn nuôi, để giúp việc cày cấy. -
Quan
kinh thu thuế hàng hóa của người Kinh, người Man ở trường mậu dịch,
xin đình chỉ; nhưng phái 2 người thanh liêm, công bằng, lãnh tiền công
mua hàng hóa, cùng với người Kinh, người Man trao đổi, lấy lãi giúp vào
chi phí; và cho người Kinh lãnh trưng; thị trường chọn chỗ làm ra chỗ
khác. -
Xin
đem 2 tổng An Lạc, Bái Ân thuộc huyện Do Linh, nửa tổng An Đôn thuộc
huyện Đăng Xương và các phường ở thượng nguyên [vốn – TXA. ct.] từ
nơi khác đến ở, xin đổi lệ thuộc vào huyện Thành Hoá; lần lượt dời
làm huyện nha. -
Xin
rút số lính cơ 2 phường Bảng Sơn, Mai Lộc lại về ngạch hộ lấy gỗ,
chịu nộp thuế gỗ, nhưng đem giản binh 2 làng Cam Lộ, Châu Lạng cùng với
dân có tên trong sổ đồn điền vào số lính cơ Định Man còn thiếu. Vua
nghe theo”. (ĐNTL.CB.,
tập 31, Nxb. KHXH., 1974,
tr. 103 – 104). 7. Bản sớ
Nguyễn Văn Tường thay mặt sứ bộ vạch trần âm mưu xâm chiếm lục tỉnh
“Lúc
trước tướng Pháp bức lấy ba tỉnh An Giang, Hà Tiên và Vĩnh Long, định
lại điều ước mới, đem tờ thay đổi đến bắt ta phải đóng ấn kí
tên; rồi sau [vua – TXA. ct.] sai sứ cùng với hắn sang Tây; đình thần
bàn lấy thượng thư Bộ Lễ Nguyễn Văn Phong làm chánh sứ, tả thị lang
Bộ Lễ [vốn – TXA. ct.] sung làm việc Nội các là Phan Đình Bình sung làm
phó sứ, bang biện huyện Thành Hoá gia hàm thị độc học sĩ là Nguyễn Văn
Tường sung làm bồi sứ, đến Gia Định bàn với tướng Pháp, đi đến thành
Ba Lê thương thuyết với triều đình nước Pháp, (nói cho chuộc ba tỉnh
trước; trả lại trong [phạm vi – TXA. ct.] ba tỉnh, vẫn phải nhường
trong [phạm vi – TXA. ct.] ba tỉnh thì tha hết tiền bồi thường), và đi
khắp các nước Anh-cát-lợi, I-pha-nho xem xét tình hình hiện tại của
[các – TXA. ct.] nước ấy, về tâu trả lời. Đến
nay Nguyễn Văn Tường đến kinh, cùng với Văn Phong, Đình Bình, làm sớ
nói: “Ba
tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên đã vào trong bụng người, hình cách thế
cấm, ta đã khó giữ được, mà người Tây cũng coi là vật ở trong túi;
năm trước Dô-du-anh-đê [Drouyn de Lhuys – TXA. ct.] thường cùng Phô-na
[Bonard – TXA. ct.] từng đến yêu cầu ta giao cho, gần đây Gia-lăng [De la
Grandière – TXA. ct.] lại nói là sáu tỉnh ấy
không thể cắt đứt được, thì mưu kế thôn tính, tưởng nước ấy cùng
hội bàn từ lâu; tỉnh Gia Định hiện nay, sửa sang nền nếp đã thành, nước
ấy mới lấy đấy làm thế trọng yếu; tuy ta có phí nhiều lời khúc chiết,
[chúng – TXA. ct.] đâu có chịu bỏ; nếu hư ứng nhất thời nhường giả
ít nhiều, rồi lại bội ước mà lấy, tưởng cũng như việc tỉnh Vĩnh
Long trước mà thôi; huống chi sinh việc cầu công là thói thường của
quan ở biên giới [:biên thần; ở đây, chỉ tướng Pháp tại Gia Định
thuộc Pháp – TXA. ct.], mà ghen công tranh giỏi cũng là lòng người tất có;
tướng Pháp mà còn ở lại Gia Định, thì sứ thần đến thẳng [Ba Lê
(Paris) – TXA. ct.] làm việc quyền nghị, hoặc còn có cơ; nay hắn đến
[Ba Lê – TXA. ct.] trước, thêu dệt che đậy, nước ấy tất uỷ cho hắn
cùng nói với ta; nếu hắn vẫn có lòng tốt thì trong khi bàn nói ở Gia Định,
tưởng đã làm điều hay cho người, để ơn về mình, đâu phải đợi đến
nước ấy mà để cho người khác cướp mất cái tốt ư? Xem thư hắn gửi
đến, thứ nhất thì nói rằng: không phải nói nữa; thứ hai thì nói rằng: có hắn ở đấy
để cùng chước định; thì ý cự tuyệt nói kín đã rõ; về việc
nhường trả đất đai, mười phần đã khó dắt lời; nếu hoặc nước Tây
đã lợi về đất đai, mà tha hết tiền bồi thường thì đường đường
sứ bộ một nước mà cầu xin chỉ có 40 vạn đồng, không kể không đủ
tiền phí tổn, mà ý kiến nhỏ mọn đồn vang, e bị nước láng giềng
dòm dỏ; sự tình đến thế thực đáng ngại. Trộm
nghĩ từ xưa nghị hoà, yếu mà xin hoà thì có; nước Pháp đối với ta,
chiến thắng, đánh đâu được đấy, thì khó gì mà cùng ta ước hẹn; bởi
vì vượt mấy lần biển mà đến, ở đất nước ta, thấy sĩ dân ta phần
nhiều đem lòng ngờ vực, cho nên
[Pháp – TXA. ct.] tất muốn được khoán ước của ta, cho khiến nước ta tự nhận là
trái, để [ta – TXA. ct.] cô phụ [:bỏ mặc trong cô lập – TXA. ct.]
tấm lòng mong mỏi của sĩ dân; không thế thì hoà ước
năm trước, rõ ràng biết là nhường nào, mà nay cho là hư văn hết, lại
cầu định lại; một lần đã là quá lắm, còn làm lại sao được; thà rằng
[cứ để cho Pháp – TXA. ct.] tạm bợ mà thành [:không có khoán ước
– TXA. ct.], mối lo [của Pháp, khi chúng chiếm cứ 3 tỉnh Miền Tây –
TXA. ct.] không gì lớn bằng [vì dân lục tỉnh còn có cớ nổi dậy –
TXA. ct.]; sao bằng không thể giữ được thì bỏ đi, mà lo toan về sau;
kinh sư là nơi căn bản, đồn luỹ đã kiên cố chưa? Khí giới đã sắc bén chưa?
Chí quân lòng dân đã hăng hái chưa? Đường thuỷ, đường bộ phòng bị
đã chu đáo, bền vững chưa? Lương quân, khí giới làm sao cho đầy đủ;
hào mục, sĩ dân làm thế nào cho cố kết; chỗ nào hiểm yếu mà phải giữ
thì phải canh giữ bằng cách nào cho tất bền vững? Hoặc nên đặt viên quan chuyên trách để
uỷ làm việc ấy, hoặc nên sai người địa phương để cho am hiểu; phàm
những việc ấy tưởng
nên tính kỹ, cho thi hành ngay, ngõ hầu khỏi ngại về sau; hoặc thế của
ta còn có thể đợi, xin làm quốc thư, cả thư của viên Thương bạc,
mỗi thứ một bức đưa cho tướng ấy, xem nước ấy trả lời thế nào mới
được”. Vua
nghe lời, sai viên Thương bạc viết thư cho tướng Pháp, rồi phát quốc thư
đưa đến nước ấy; sai Nguyễn Văn Tường về Cam Lộ làm việc như cũ”. (ĐNTL.CB.,
tập 31, Nxb. KHXH., 1974,
tr. 202 – 204). 8. Tư tưởng
chính trị nhân trị, đức trị đi đôi với việc tăng cường quân đội của Nguyễn Văn Tường, trong việc
xếp đặt ở Bắc kì, tháng 6 Canh ngọ (tháng 7.1870): “Nguyễn
Văn Tường cũng tâu bày công việc xếp đặt về sau, nói: “Nam
Kỳ, Bắc Kỳ là căn bản của nước; theo sự thế trong Nam, nên tính thư
thả; nên trước hết giữ Bắc Kỳ, cho là việc cần; giữ phên giậu ở
Cao, Lạng, Thái, Tuyên; giữ rừng biển ở đông, tây, nam, bắc; Hà Nội
ở giữa là nơi hình thế danh thắng, trong khi vô sự phải rất chú ý, huống
chi giặc trốn coi thường chiến tranh còn nhiều đứa lọt lưới; giặc
trước về Tầu, gián hoặc mến tiếc sào huyệt, chưa nên cho là việc đã
yên mà bỏ qua. Hiện nay kho tàng công tư đáng phải thương xót, sức lực
quân dân cũng gọi là đã kiệt, đợi đến lúc ấy sợ không có cách gì.
Người đảm đương công việc thường hay cẩu thả, hình như không để
ý tới, bỗng chợt có biến, chỉ lấy quân nhát, dân ngu tự gỡ; ai chịu
cái lỗi làm cho dân nhọc, dân oán? Muốn tâu bày thẳng tệ ấy thì nói
không thể xiết được; muốn dùng pháp luật để sửa chữa, lại sợ không thể cậy được.
Người xưa có nói: “Được một quan huyện tốt, hơn là có 3 vạn quân
tinh nhuệ”, là vì không có chính sự hà
khắc thì không có phản nghịch lớn. Xin chọn quan văn võ người
thanh liêm tài giỏi, đông, tây, nam, bắc, mỗi tỉnh đều 2 người sung làm
tổng đốc, đề đốc, lại giao cho 500 quân tinh nhuệ (lính thú, mỗi tỉnh
Đường Ngoài 500 tên, một nửa lính kinh, một nửa lính Thanh, Nghệ); ở
Hà Nội thì lấy quan đại thần có lòng công bằng, trung trực, biết xếp
đặt việc nước, uy vọng rõ rệt, như quan Võ hiển Nguyễn Tri Phương,
sung làm kinh lược đại sứ, giao cho 2.000 quân tinh nhuệ để giúp việc đàn
áp; các tỉnh ở Bắc Kỳ, việc chỉnh bờ cõi, đốc suất việc binh, xét
hỏi quan lại, vỗ yên nhân dân, đều ủy cho đại sứ chuyên việc trông
coi; quy chế cũ ở Hà Nội cũng nên theo thời sửa đổi. Như thế, quan chính
đính thì dân chẳng ai dám chẳng chính đính,
mà Trung châu thế mạnh đủ để trấn áp bọn gian, các tỉnh ven
biên giới mới được tính dần công việc xếp đặt về sau; đợi một vài
năm công việc được xong, quân có nên
rút, do quan đại sứ xét nghĩ thi hành. Không thế thì đại binh ca hát
trở về chưa khỏi lại phải chú ý xếp đặt công việc lần nữa. Không
dám nói hết, sợ làm tăng sự ngày đêm lo nghĩ của hoàng thượng” ”. (ĐNTL.CB.,
tập 32, Nxb. KHXH., 1975,
tr. 31 – 32). 9.
Việt gian theo Thiên Chúa giáo mưu bắt Nguyễn Văn Tường để phá hỏng việc
Pháp trao trả 4 tỉnh Bắc kì, tháng 11 Quý dậu (tháng 12.1873): “…
Hoắc Đạo Sinh [Philastre – TXA. ct.] thuận nghe, bèn định ngày mồng 8 chạy
đến Hải Phòng, dẹp trừ giặc biển. (Bỗng
gặp 20 chiếc thuyền của giặc biển về đậu ở Hải Phòng. Quan thuyền
ấy bảo phải nộp hết súng và khí giới, tạm cho sống mà về. Hiện thu
được súng bằng đồng 25 cỗ, còn súng đại bác và thuốc nổ chìm hết
xuống sông, và các tàu ra biển đều bị tàu Đề Ta Di [Decrès – TXA. ct.]
đón chặn đốt giết). [Khi
tàu – TXA. ct.] tiến đến thành tỉnh Hải Dương (trong thành hiện có
viên quan một người Pháp và 30 tên lính đóng giữ), nguỵ tổng đốc (tên
là Trương, là người thợ rèn theo giáo, nguyên là người An Nghiệp [Françis
Garnier – TXA. ct.] mới đặt) mưu bắt Văn Tường để phá hỏng việc; Văn
Tường dò biết, mật bàn với quan nước Pháp, giải đưa xuống tàu giam lại,
rồi tư ngay cho tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên đem quân đến (Bắc Ninh 400 người,
Hưng Yên 200 người) và triệu tập lính tỉnh tổng cộng hơn 1.000 người
để sai phái. Đến ngày 12, giao nhận tỉnh thành, tạm đặt quan viên quản
trị …”.
(ĐNTL.CB.,
tập 32, Nxb. KHXH., 1975,
tr. 356 – 357). 10.
Nguyễn Văn Tường yêu cầu Pháp giải tán quân ngụy ở Bắc kì, tháng 11
Quý dậu (tháng 12.1873): “…
Khi ấy Văn Tường và Hoắc Đạo Sinh [Philastre – TXA. ct.] ở lại Hà Nội
hội với quan Pháp bàn nghị. (Quan Pháp 10 người, đều là bè lũ của An
Nghiệp [Françis Garnier – TXA. ct.], muốn cầu công tất cả, phần nhiều ngờ
thống sát Hoắc Đạo Sinh nhận của hối lộ).
3 ngày mới định xong, liền triệu tập lính mộ (nguyên trước
An Nghiệp mộ được 12.000 người, lẫn cả người đi lương, người đi
đạo), cấp phát tiền lương, nhân đấy kiểm thu khí giới, rồi cho giải
tán …”. (ĐNTL.CB.,
tập 32, Nxb. KHXH., 1975,
tr. 359). 11.
Nguyễn Văn Tường với ý thức và hành động canh tân Đất nước: tìm
mua và dâng tiến sách tiếng Tây, tháng 4 Giáp tuất (tháng 5.1874): “Sứ
thần (Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Tăng Doãn) tiến 20 tập sách chữ Tây (4
tập Khung giang bát vật đồ chí, 3 tập Lãng sa kỳ đăng hiệu, 11 tập Nam
Kỳ điều lệ, 1 tập thuế lệ, 1 tập binh thuyền, trong đó có tập thì tướng
nước Pháp tặng, có tập hỏi mua mà quan Tây không lấy tiền). Vua bảo rằng:
“Đấy thực là có lòng, có ích, giao Viện giữ cẩn thận, đợi dịch rõ
để tiện xem” ”. (ĐNTL.CB.,
tập 33, Nxb. KHXH., 1975,
tr. 42). 12.
Nguyễn Văn Tường với ý thức và hành động canh tân Đất nước: tiến
dâng súng Tây, tìm dùng người biết ngoại ngữ, người có trình độ kĩ
thuật công nghệ, tháng 8 Giáp tuất (tháng 9.1874): Nguyễn
Văn Tường từ Gia Định về xin đem súng Tây đã mua được cung tiến (1
khẩu súng lục, 500 viên đạn, theo giá bạc tính thành tiền là 180 quan).
Vua khen là nhậy lắm, có thể dùng được, sắc cho giữ cẩn thận để phòng
sai phái. Lại đi Nam Kỳ lần này gọi được 5 người thông dịch, 7 người
biết máy móc (đều là người Gia Định), tâu xin liệu cấp lương để tiện
sai phái. Vua y cho. (Trước
đã chuẩn cho thuê người trong (ĐNTL.CB.,
tập 33, Nxb. KHXH., 1975,
tr. 111). 13.
Thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường cải cách thuế ruộng đất trên cơ
sở vì quyền lợi của dân nghèo canh tác ruộng công và vì sự thống nhất
kinh tế – tài chính “Cho
thuế ruộng công, tư, từ Hà Tĩnh trở ra Bắc, chiểu theo thuế lệ từ Quảng
Bình trở vào (Quảng
Bình trở vào Nam, ruộng công, tư mỗi mẫu hạng nhất 40 thưng thóc, hạng
nhì 30 thưng, hạng ba 20 thưng. Mà Hà Tĩnh trở ra Bắc, ruộng công hạng nhất
thóc thuế 80 thưng, hạng nhì 56 thưng, hạng ba 33 thưng; ruộng tư hạng nhất
26 thưng, hạng nhì 20 thưng, hạng ba 13 thưng; so với trở vào Nam, ruộng công rất nặng,
ruộng tư rất nhẹ, cho nên cho đều nhau)”. (ĐNTL.CB.,
tập 33, Nxb. KHXH., 1975,
tr. 220). 14.
Nguyễn Văn Tường tâu xin tiếp tục tăng cường việc xây dựng hệ thống
sơn phòng ở Quảng Trị như khắp cả vùng rừng núi Trung – Bắc kì, đặc
biệt là như sơn phòng trọng yếu Sơn Tây, tháng 10 Ất hợi (tháng
11.1875): “Đặt
nha kinh lý sơn phòng tỉnh Quảng Trị, (văn vũ chánh phó sứ mỗi chức một
người), lấy 2 huyện Thành Hoá, Hướng Hóa lệ thuộc vào, theo lời xin của
Nguyễn Văn Tường. (Tường
cho là đồn Trấn Lao, huyện Thành Hóa, giáp giới với Long Giang [Mê Kông
– TXA. ct.], đất tốt lợi nhiều, có thế khống chế. Trước vâng mệnh
kinh lý nhưng không chuyên trách, sau không thành công. Xin châm chước công
việc sơn phòng ở Sơn Tây, đặt sơn phòng để được thực tế)”. (ĐNTL.CB.,
tập 33, Nxb. KHXH., 1975,
tr. 255). 15.
Thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường tâu bày về việc cải cách thuế
ruộng đất “Trước đây,
bố chính sứ Bắc Ninh trước là Phan Đình Bình dâng sớ tâu: “Thuế ruộng
định lại, quan cho là thuế quân đều, dân bảo là thu thêm. Lại như thuế
ruộng tư mỗi hộc thu thêm 1 bát, dân gian nhiều người nói là nặng, khó
chịu nổi. Về khoản thu thêm, xin thôi”. Đến đây, Bộ
Hộ tâu rằng: “Từ Hà Tĩnh
trở ra Bắc, ruộng công là ruộng của dân, mà thuế so ra có phần nặng;
ruộng tư phần nhiều do bọn cường hào gian ác chiếm riêng, mà thuế so
ra có phần nhẹ. Đổi ra làm thuế chia đều, cũng là muốn định ra
phép thường, mà cho trong nước không có chính [sách – TXA. ct.] khác nhau;
lệnh thuế chia đều được thi hành, tuy thuế ruộng tư tăng mà thuế ruộng
công giảm, tức như ba tỉnh lớn Hải Dương, Nam Định, Hà Nội,
dân đều thu nộp, yên lặng không lời nào khác. Thì bảo là thu thêm, chẳng
qua chỉ là lời bàn riêng của bọn đàn anh
giàu có ở một hạt Bắc Ninh mà thôi. Làm việc nước phải tự có
thể cách chính đại công bằng, sao được mọi người vui lòng cả; huống
chi, ruộng tư thu thêm [mỗi hộc 1 bát – TXA. ct.], chứa riêng vào kho
công, để phòng chẩn cấp, cũng là một việc cứu năm mất mùa. Xin theo lệ
thi hành, để tỏ chính lệnh tin đúng; đợi sau này kho chứa được nhiều,
có nên châm chước miễn cho, sẽ do quan tỉnh ấy xét tâu lên”. Vua nghe theo”. (ĐNTL.CB.,
tập 34, Nxb. KHXH., 1976,
tr. 332 – 333). 16.
Thủ đoạn bao vây, cô lập nước ta về ngoại giao của Chính phủ thực
dân Pháp, tháng 8 Tân tị (tháng 9 – tháng 10.1881): “… Lúc bấy
giờ, sứ nước Pháp là Lê-na đã sang thay, nói với quan Thương bạc [lúc
này là Nguyễn Trọng Hợp – TXA. ct.] : “Trong hoà ước có nói, nước ta
có việc, nước ấy phải giúp, tuy không nói rõ là “bảo hộ”, nhưng ý
nghĩa đã bao hàm ở trong. Nay khoản ấy Triều đình nước ấy đã định
làm, mà làm như thế, nước ấy [nước Pháp – TXA. ct.] không lấn quyền
nước ta, chỉ bắt ta không được giao thiệp với nước khác thôi. Ta nếu
không nghe, nước ấy cũng bắt làm cho được”. Triều đình rất
lấy làm lo. Quan Viện Cơ mật
– Thương bạc tâu nói: “Tướng và sứ nước ấy để ý đã lâu, nay
tính sẽ làm, mưu đã sắp thành, tưởng cũng khó tranh luận khúc chiết với
nước ấy, tất phải phái người sang nước ấy hoặc có thể làm việc
được … […] … Nước ta nhất định phải đi … […] … Việc ấy
nghĩ nên làm ngay, khỏi lỡ việc sau” ”. (ĐNTL.CB., tập
35, Nxb. KHXH., 1976, tr. 59). 17.
Cơ mật viện – Thương bạc nhận định và vạch kế hoạch mở rộng ngoại
giao để phá vỡ âm mưu bao vây, cô lập nước ta về ngoại giao của thực
dân Pháp, tháng 8 Tân tị (tháng 9 – tháng 10.1881): “Quan Cơ mật
viện – Thương bạc lại tâu nói: “Nước ấy đã
mưu, không phải một ngày. […] … Ngăn ngừa ta giao thông với nước ngoài,
là chỗ giảo quyệt của nước ấy. Duy trong ước có một điều “nước
ta muốn định thương ước với nước nào
đều được tuỳ tiện” thì nước ấy đâu có thể trái lời ước
được. Nhưng ta từ trước đến giờ chưa giao thông với các nước, mà nước
ấy không khỏi giữ ngầm ở trong, nên 6, 7 năm nay, các nước chưa nước
nào đến định thương ước với nước ta. Gần đây ta cùng với nước Y
Pha Nho định ước, giao ước với nhau đã lâu, mà nước ấy [nước Y Pha
Nho – TXA. ct.] cũng chưa có đến, thì tình có đáng ngờ, cũng là tình của
ta chưa thông với các nước, cho nên nước ấy [nước Pháp – TXA. ct.] mưu
làm tự chuyên. Vả lại giao thiệp với nước ngoài thực khó, ta chỉ sợ
khích nước ấy, lòng mưu tính ta, vì đó lại phát ra. Nay mưu nước ấy sắp
thành, ta há nên không giải quyết sớm, huống
chi ta cũng cứ lý mà làm, làm sáng cho chúng biết, có trái ước gì đâu,
mà chúng vin cớ để nói được … […] Nhưng tự trước đến giờ thường
bị nước ấy ngăn trở, vì ta không có tàu, chỉ đáp tàu với nước ấy,
tùy theo nước ấy đi hay đứng mà phải thế. Nay xin sửa soạn tàu của
ta, chọn người ở Triều đình có lòng đảm đương công việc, lấy 2, 3
người, lấy cớ đi tìm học về bác vật, như nước Thanh cho người đi học
các nước, tư rõ trước cho nước ấy biết. Đến lúc đi thì đến nước
ấy trước, nhân chuyển đi các nước Y, Anh, Phổ, Mỹ, khiến cho các nước
biết ta tự chủ, nhân đó mà thông suốt tình ý. Tục Thái Tây thích giao
thiệp chơi bời với nước xa, ta đến, tự khắc không nước nào không nhận,
tưởng cũng có nước muốn giao thiệp
thông thương với nước ta, thực khiến cho tình của nước ta thông suốt
các nước, thì nước ấy [Pháp – TXA. ct.] không thể tự ý làm càn được.
Nếâu nước ấy
có lòng nào bắt ức ta, ta cũng có thể cùng các nước điều đình giúp
bàn lại, tưởng cũng là một kế đấy… […]Lại việc này còn xa,
nay gần mà có thể giao thông được thì ở Yên kinh, sứ các nước đều
ở đấy, nhiều lần sứ bộ ta sang Yên kinh chưa biết bàn đến việc ấy,
vì sự thể giao tế khác nhau, cho nên khó làm. Nay có Cục Chiêu thương chở
hàng thuê, do quan ở Cục ấy giới thiệu, tưởng cũng là một cơ hội. Gần đây tiếp được
tin báo Đường Đình Canh tháng này cũng đến, xin do bọn tôi thương thuyết,
nhờ viên ấy ngỏ ý với Lý Hồng Chương nhờ mật dò ý sứ các nước
Anh, Mỹ, Phổ, để nắm được cốt yếu, thông thuyết giúp cho. Còn
sứ Y Pha Nho ở đấy, nước ấy đã định ước với ta, thì nên bàn với
họ. Nước Thanh gần đây tranh nước Lưu Cầu với nước Nhật Bản mà
không được [vì có sự can thiệp của tổng thống Mỹ Grant – TXA. ct.],
nay nước ấy [nước Thanh – TXA. ct.] […] tưởng cùng nòi giống [da vàng
– TXA. ct.] với ta
cũng lo [lo âu về các nước thực dân da trắng – TXA. ct.], tất hết lòng
mưu thực mà việc chóng xong…”.
(ĐNTL.CB., tập
35, Nxb. KHXH., 1976, tr. 59 –
62). 18.
Nguyễn Văn Tường tiếp xúc với sứ giả Đường Đình Canh để tranh thủ
sự giúp đỡ của triều Thanh Trung Hoa, nhằm vận động sự ủng hộ của
sứ thần các nước tại Yên Kinh, tháng 12 Tân tị (tháng 01 – tháng 02.
1882): “Vua cho là
quan nước Thanh vào yết kiến, sợ sinh ngờ, bèn cho Nguyễn Văn Tường bàn
kín với Đường Đình Canh. Đình Canh
nói: “Tháng 10 năm nay, khâm sai nước Thanh đóng ở nước Anh là Tăng Kỷ
Trạch báo tin rằng: Nghị viện nước Pháp bàn kín, Bắc Kỳ nước ta đất
cát màu mỡ, núi sông lại có mỏ vàng, bạc, đồng, sắt, than đá, xét ra
tình thể, chỉ giở bàn tay là xong. Lãnh sự nước Pháp là Thoát Lãng lại
đã xin đem 1, 2 nghìn quân đánh lấy Bắc Kỳ. Nghị viện nước Pháp đã
chuẩn y. Chẳng bao lâu tất đem quân nước ấy cùng các đạo quân ở Tây
Cống [Sài Gòn – TXA. ct.] khẩn cấp cùng phát đi. Còn nói là đuổi Lưu
Vĩnh Phúc chỉ là nói thác ra mà thôi. Vua nước Thanh giao cho các nha môn
quân cơ bàn cho thỏa đáng, cho nên tổng đốc tỉnh ấy phái đạo viên
ấy báo tin cho nước ta, phải mưu tính ngay để mong giữ được”. Vua cho là thư của
tổng đốc ấy đã hồn nhiên, ta cũng không nên lộ; sai Văn Tường mật dặn
Đình Canh 3 việc: -
[…] Nước ta
đặt quan đón đón chờ ở kinh đô nước Thanh, nếu có việc gì, được
tố cáo ở Tổng lý nha môn. -
Ở Quảng Đông,
hiện nghe lãnh sự các nước phần nhiều đóng ở đấy […] … Nước ta
đặt 1 lãnh sự ở đấy để tiện đi lại buôn bán, thông báo tin tức,
nhân cùng giao du với các nước để thông hiểu tình ý. -
Nước ta muốn
phái người đi khắp các nước như các nước Anh, Nga, Phổ, Pháp, Mỹ,
Áo, Nhật Bản, xem xét và học … […]. […] … Lại đều
đem đồ vật gửi tặng […] … Tổng đốc họ Trương [Trương Thụ Thanh
– TXA. ct.] […] đem đồ vật ấy trả lại, nói rằng nhận sợ nước Pháp
ngờ, có việc khó giảng thuyết; tổng đốc họ Lý [Lý Hồng
Chương – TXA. ct.] cũng lấy thơ và tờ khải đưa cho để tỏ tình cùng
khuyên về ý đều phải tự cường”.
(ĐNTL.CB., tập
35, Nxb. KHXH., 1976, tr. 90 –
91). 19.
Đoạn di chiếu của vua Tự Đức về Dục Đức (hoàng trưởng tử Ưng Chân),
tháng 6 Quý mùi (tháng 7.1883): “…
Trẫm nuôi sẵn 3 con. Ưng chân, cố nhiên là học lâu trưởng thành, chính
danh đã lâu; nhưng mặt [mắt – TXA. ct.] hơi có tật, giấu kín không rõ
ràng, sợ sau không sáng; tính lại hiếu dâm; cũng rất là không tốt; chưa
chắc đương nổi việc lớn. Nhưng nước cần có vua nhiều tuổi, đương
lúc khó khăn này, không dùng hắn thì dùng ai? …”. (ĐNTL.CB.,
tập 35, Nxb. KHXH., 1976,
tr. 199).
20.
Đoạn di chiếu của vua Tự Đức về 3 phụ chính, tháng 6 Quý mùi (tháng 7.1883): “…
Bọn Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất thuyết cùng ta gặp biết,
tuy có sớm muộn hơi khác, mà lòng trung thành yêu mến chăm lo
như một; từng làm việc nơi cơ yếu đã lâu, thân được chỉ bảo;
nếu có gặp việc khó khăn, cũng giải quyết được. Vậy cho Trần Tiễn
Thành sung làm phụ chính đại thần; Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết
sung cùng là phụ chính đại thần. Bọn ngươi nên nghiêm sắc mặt đứng
ở Triều đình, giữ mình đứng đắn; đốc suất quan thuộc, mọi việc cùng
lòng làm cho thỏa đáng; trên giúp vua nối ngôi điều không biết đến,
dưới chữa chỗ lệch lạc cho các quan, để Nhà nước yên như núi Thái Sơn;
thế là không phụ sự ủy thác …”.
(ĐNTL.CB.,
tập 35, Nxb. KHXH., 1976,
tr. 200). 21.
Đoạn di chúc của vua Tự Đức về Ưng Kĩ (Đồng Khánh), Ưng Đăng (Kiến
Phúc), tháng 6 Quý mùi (tháng 7.1883): “…
Trong 3 người con, thì Ưng Chân đã nói rồi. Ưng Kỹ người yếu hay ốm,
có tâm tật, học chưa thông mà kiêu ngạo, hay bới việc riêng của người
khác, cho lạm thẳng, đều không phải là tư chất thuần lương, theo lời
phải; sợ bọn ngươi khó lấy lời nói can được. Duy con út là Ưng
Đăng, hầu hạ cẩn thận, biết sợ, dạy được,
chưa thấy có vết gì, nhưng tuổi còn ít, đương học chưa thông, đương
lúc khó khăn này chưa chắc đã am hiểu. Cho nên trẫm cắt bỏ lòng riêng,
theo lẽ công, quyết thi hành mưu kế lớn, là vì xã tắc. Nghĩ ơn nuôi
nấng hết lòng, không nên để cho phân biệt, nhưng chưa kịp làm, nay cho
sung làm hoàng tử, cho đổi tên là Ưng Hỗ …”. (ĐNTL.CB.,
tập 35, Nxb. KHXH., 1976,
tr. 201). 22.
Vụ truất phế Dục Đức, tháng 6 Quý mùi (tháng 7.1883): “Quý
mùi, năm Tự Dức thứ 36 (1883), tháng 6, ngày mậu thìn, Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Thuyết bỏ vua nối ngôi, lập em út vua là Lãng quốc công Hồng
Dật. Trước
đây, vua mới mất đi chọn nuôi hoàng tử, cùng trước sau nuôi ở trong
cung 2 công tử nữa là hoàng tử thứ 2, hoàng tử thứ 3. Vua cho là hoàng tử
thứ 3, tuổi còn bé, hầu hạ cẩn thận, biết sợ, rất yêu.
Mà về hoàng trưởng tử thì dạy bảo càng nghiêm, thường vì lầm
lỗi bị quở. Văn Tường nghĩ hoàng trưởng tử tất không
được lập lên làm vua mới khinh thường hoàng trưởng tử [về tư cách
đạo đức, quan điểm chính trị – TXA. ct.] mà chỉ để tâm đến
hoàng tử thứ 3. Đến nay tờ chiếu để lại cho
nối ngôi lại là hoàng trưởng tử, Văn Tường trong lòng không được yên,
Thuyết cũng không bằng lòng với tự quân. Gặp
khi tự quân ở điện Hoàng Phúc đem nhiều người riêng vào hầu hộ vệ ở điện Hoàng Phúc
và các sở Quang Minh, (đều
sai chế bài cấp cho đeo), bọn ấy nhân đó ra vào tự do; các tờ tâu khẩn cấp của các quân thứ
các tỉnh tâu lên, có khi để ở trong điện một đêm, vẫn chưa giao ra. Lại
trong khi làm lễ điện (cúng vua mới chết) vẫn mặc áo sắc lục cũ, hoặc
sai chế ngay các đồ dùng riêng (các thứ quần áo đồ dùng). Văn
Tường bảo kín Thuyết rằng: “Tiên đế đã bảo vua nối ngôi chưa chắc đương nổi việc lớn, lại giao
cho ngôi lớn. Nay bắt đầu, cử động đã như thế, huống chi là ngày sau
ư? Đó là việc lo riêng cho chúng ta”. Thuyết vốn tính cương trực lại
cậy quyền cầm quân liền mật đáp rằng: “Cứ như lời chiếu thì
mưu tính là vì xã tắc, bất đắc dĩ
mà làm việc nhỏ như Y Doãn, Hoắc Quang (*), cũng là chí của tiên đế”;
nhân thế cũng có ý mưu bỏ [phế Dục Đức – TXA. ct.] đi. Sau
rồi vua nối ngôi lại nghĩ trong tờ di chiếu răn bảo có những câu không
tốt, không thể truyền bá cho mọi người nghe; triệu các phụ chính đại
thần, cần bớt một đoạn ấy đi, không tuyên lục ra. Trần Tiễn Thành bảo
thế cũng ổn, 2 người đều thưa rằng: “Xin nhà vua quyết định”; vua
nối ngôi tin là cùng bằng lòng, bèn sai sao tờ di chiếu, tự tay xóa bỏ
đoạn ấy đi; dặn Trần Tiễn Thành nhớ mà làm. 2 người ra bàn kín với
nhau rằng: được rồi; mưu ấy bèn nhất định. Đến
lúc tuyên đọc tờ chiếu, Văn Tường cáo ốm không đứng trong ban chầu,
Thuyết đứng vào bên Trần Tiễn Thành. Tiễn Thành đọc đến đoạn ấy,
đọc nhỏ hàm hồ không rõ. Văn Tường ở chái bên đông, làm ra vẻ quái
lạ, nói rằng: “Vua nối ngôi sao được
giấu bớt di chiếu của tiên đế? Bậy bạ không gì to hơn nữa; còn có
thể nối theo tôn miếu xã tắc được ư?”. Tuyên
đọc xong, hai người hỏi vặn Tiễn Thành; Tiễn Thành biết là bị chúng
đánh lừa, nói chữa rằng: “Có phải không đọc đâu, nhưng lão phu có bệnh ho, đọc
đến đây hết hơi tiếng nhỏ mà thôi”. Thuyết chứng tỏ là không phải,
cho là càn bậy, cũng như lời của Văn Tường nói; rồi nhân phái
quân túc vệ canh gác trong ngoài cung thành rất nghiêm (bắt hết cả người riêng của vua
nối ngôi là bọn Nguyễn Như Khuê, hơn 10 người, giao cho đem gông cùm lại).
Họp hoàng thân và các quan ở Tả
vu, 2 người tuyên bố về việc tội lỗi của vua nối ngôi, xin bỏ đi, lập
vua khác. Tiễn Thành muốn can ngăn, Thuyết trừng mắt nhìn, nói rằng ông
cũng có tội to, còn nói gì. Trong
khoa đạo có chưởng ấn là Phan Đình Phùng [**] tiến lên nói rằng: “Vua
nối ngôi nếu có lỗi, chưa thấy can ngăn, đã vội bàn như thế; việc bỏ vua, dựng vua là việc
to, lại dễ dàng quá thế”. Thuyết quát lên, sai tả hữu đem Đình Phùng
trói để ở trại quân Cẩm y, bảo đợi để nghiêm trị. (Lúc bấy
giờ, 4, 5 người theo sau Đình Phùng nghe Thuyết thét trói Đình Phùng tức
đều lui tan), cho nên Tiễn Thành và hoàng thân, các quan không ai dám trái;
rồi cùng ký tên tâu xin ý chỉ của Từ Dụ thái hoàng thái hậu truất bỏ
đi. Sai
người đưa vua nối ngôi về chỗ cũ là Dục Đức đường, canh phòng rất
kỹ. Khi
mật bàn người được lập, Văn Tường để ý đến hoàng tử thứ 3 mà
Thuyết thì cho là hoàng đệ Lãng quốc công có tư chất thông minh, vốn
quen biết sẵn, để ý đến Lãng quốc công. Văn Tường tính là không
tranh nổi, cũng theo lời ấy, rồi đem ý xin lập vua nhiều tuổi tâu trước
với cung Gia Thọ (tức là Từ Dụ thái hoàng thái hậu) để lãnh chỉ.
Được ý chỉ truyền rằng: “Hiện nay
trong thì lo về vua mới mất, ngoài thì có giặc ngoại xâm, người ít tuổi
thực không đương nổi, nhưng thân này già cả, sao biết được, phần nhiều
nhờ Tôn nhân, phụ chính, đình thần, cùng nhau chọn các hoàng đệ, ai nên
lập thì lập lên làm vua”. Thuyết
bèn đến phòng Cơ mật bảo bọn thượng thư Nguyễn Trọng Hợp, thị lang
Lâm Hoành, Trần Thúc Nhận [Nhẫn – TXA. ct.], Hoàng Hữu Thường, thị vệ
đại thần Tôn Thất Thái rằng: “Ngày nay phi tìm vua nhiều tuổi cho xã tắc, không ai hơn Lãng quốc công; các ông nên phải
nói”. Lúc
bấy giờ bên ngoài nghe tin cấp báo đương gấp, chợt có biến bên trong,
đều không ai biết làm thế nào; đến khi hội bàn ở Tả vu, Văn Tường
và Thuyết hỏi trước các thân phiên, hoàng thân thì đều nói rằng: “Tuy
cũng ở trong tôn thống, nhưng ngày thường
mỗi người ở riêng một nhà, không biết rõ được; xin 3 đại thần cùng
đình thần liệu bàn”. Tường, Thuyết lại hỏi; đình thần nói
ngày nay việc không thể hoãn được. Trọng Hợp bèn nói trong các hoàng đệ
có Lãng quốc công, vốn khen là người có
học, được tiên đế cho sung chức Tôn đài; nay hiện việc như thế,
chưa biết Lãng quốc công có đương nổi không? Lãng quốc công đứng dậy
khóc nói rằng: “Tôi là con út của tiên đế, tư chất tầm thường, thực
vạn vạn phần không dám nhận”. Văn Tường và Thuyết đều nói rằng:
“Đấy thực là phúc của xã tắc, xin
đừng từ chối”; bèn cùng các quan ký tên tâu xin ý chỉ của thái
hoàng thái hậu, lập Lãng quốc công làm vua”. (ĐNTL.CB.,
tập 35, Nxb. KHXH., 1976,
tr. 205 – 209). (*)
Y Doãn đuổi vua là Thái Giáp ra ở Đông cung 3 năm, sau lại đón về cho
làm vua. Hoắc Quang làm tướng, bỏ vua là Xương Ấp vương, lập Hán Tuyên
đế làm vua (xem Bắc sử) [chú thích của Viện Sử học]. [**]
Ngay sau đó, Phan Đình Phùng đã hiểu rõ sự thể, nên năm sau (1884), ông lại
được Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết trọng dụng trong việc tiếp tục
tổ chức, xây dựng, kiện toàn Sơn phòng Hà Tĩnh. Xin xem: ĐNTL.CB., tập
36, Nxb. KHXH., 1976, tr. 184 – 185. TXA. 23. Tập tâu
của nhóm chủ chiến (Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết), tháng 6 Quý
mùi (tháng 7.1883): “Quan
Viện Cơ mật lại tâu: “Ta
cùng với nước Pháp, mạnh yếu khác nhau, cho nên trước thì 3 tỉnh, sau rồi
6 tỉnh Nam Kỳ đã bị chúng chiếm cứ. Vừa rồi, đến Bắc Kỳ lấy 4 tỉnh
rồi lại trả liền, nay lại lấy Nam Định, Hà Nội mà chiếm cứ. Hoà ước
rõ ràng, mà chúng dám coi thường như thế, thì
hoà ước cũng không đủ cậy. Ta đã chịu khuất, không dám tranh
đua sức mạnh, mà chúng cũng chưa từng thương kẻ yếu. Tuy thông sang Vân
Xin
lại giáng dụ nghiêm sức các quan quân thứ chia quân tiến đánh, cho chúng nhọc về
phòng bị, không có thì giờ mưu tính việc khác, thì ta mới giữ vững để
đợi nước Thanh xử trí”. Vua
bảo rằng trí khôn mọi người đã định, việc thành là ở quả quyết,
tạm nghe theo”. (ĐNTL.CB.,
tập 35, Nxb. KHXH., 1976,
tr. 215).
24.
3 đại thần đã xin vua Tự Đức bỏ bớt đoạn răn bảo Dục Đức, Tự
Dức không đồng ý; nay xét xử tội “truyền tả chế thư sai lầm” của Trần Tiễn Thành, tháng 8 Quý
mùi (tháng 9.1883): “Khoa
đạo là Hoàng Côn, Đặng Trần Hanh tâu nói: “Hôm trước ở Tả vu điện
Cần Chánh, cứ viên đồng phụ chính đại thần là Tôn Thất Thuyết nói
rõ, là có một đoạn trong di chiếu của tiên đế răn bảo vua nguyên nối
ngôi, vì vua nguyên nối ngôi sao lục ra đã bỏ bớt
đi, đại thần Trần Tiễn Thành tuyên đọc cùng bỏ đoạn ấy đi,
có phần không phải”. Trẫm
xét: “Ngày tiên đế ngồi tựa ghế ngọc, các phụ chính đại thần đã xin bớt đoạn
ấy đi. Tiên đế không nghe, đủ biết là tiên đế nghĩ việc phó
thác tôn miếu, xã tắc là việc trọng đại, lo sâu nghĩ xa, cho nên nói khẩn
thiết như thế. Đại thần được dự nghe mệnh lệnh dặn lại, phải nên
trên thể theo ý của tiên đế mà tuyên bố cho mọi người nghe, lại coi
như bỏ rơi; trước đã xin bớt mà không được, nay lại tự bỏ đi mà
không đọc” [*]. Tôi
cho là: “Vua nguyên nối ngôi bỏ bớt lời di chiếu, chưa chắc đã không
phải tự viên đại thần ấy dẫn đường ra trước. Vậy xin giao cho đình
thần bàn xét để nghiêm kỷ cương”. Vua
giao cho đình thần bàn, mọi người đều xin chiểu luật “truyền tả chế thư sai lầm” mà xử tội
trượng, cách chức. Vua
cho là đời xưa thời bình chính giản, cũng còn dùng người cũ, nữa là
ngày nay thời khó khăn, việc nhiều, há nên đem viên đại thần 4 triều,
lầm một cái mà không dung thứ ư? Đổi làm giáng 2 cấp, lưu [dụng –
TXA. ct.]”. (ĐNTL.CB.,
tập 35, Nxb. KHXH., 1976,
tr. 231). [*]
Xin xem thêm: Bản sớ của Trần Tiễn Thành về vụ việc này, trong bài viết
của Đào Duy Anh, “Những người bạn cố đô
Huế” (Bulletin des amis du vieux Huế, 1944), đã được Bùi Trần Phượng dịch,
in trong cuốn “Phụ chánh đại thần
Trần Tiễn Thành” của Nguyễn Đắc Xuân, Nxb. Thuận Hóa, 1992, tr.
13 – 87. Bản sớ
ấy viết rõ: Nguyễn Văn Tường cho rằng, chiếu lập vua nối ngôi mà kể
tọâi Ưng Chân (Dục Đức) như thế, e rằng không hợp lắm, xin bỏ bớt
đoạn ấy đi. Trần Tiễn Thành và Tôn Thất Thuyết đều đồng ý, cùng
làm sớ xin Tự Đức bỏ. Nhưng Tự Đức không đồng ý bỏ. TXA. 25.
Vụ phế truất, thi hành án vua Hiệp Hoà cùng Trần Tiễn Thành và những kẻ
đồng mưu câu kết với thực dân Pháp, tháng 10 Quý mùi (tháng 11.1883): “Ngày
đinh sửu, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết phế vua và giết đi, và giết
cả đại thần Trần Tiễn Thành; lập hoàng tử thứ 3 lên làm vua. Trước
đây, phế đế đã nối ngôi, Tường, Thuyết cậy công tôn lập lên, việc
gì cũng chuyên quyền làm bậy [chủ chiến là làm bậy?!? – TXA. ct.]. Vua
ghét hai người ấy, muốn tước bớt quyền đi. Cho nên ngoài mặt vẫn hậu
đãi, mà trong ức chế cũng nhiều, (như việc đổi Thuyết sang Bộ Lại,
không cho giữ binh quyền; lại tờ tâu của 6 bộ, đều giao cho Nội các
duyệt tâu, không chuyên giao cho hai người ấy). Gặp khi những người thân
tín của vua là tham tri Bộ Lại Hồng Phì, tham biẹân Nội các Hồng Sâm mật
mưu việc ấy; Tuy Lý vương Miên Trinh, huyện công Hồng Tu đều có dự mưu
(Hồng Tu, Hồng Sâm đều là con Tuy Lý
vương). Tường, Thuyết đã biết việc ấy. Vua lại muốn dùng mẹo để 2
người giết nhau. Triệu Văn Tường vào nói chuyện, thì bảo Văn Tường là
người trung thành, vẫn rất tin cậy; còn Thuyết rất là ngang ngược, dặn
Văn Tường tìm cách bỏ Thuyết đi. Thuyết vào hầu, vua cũng nói thế. Hai
người lại ra, đều đem lời nói ấy mật bảo nhau; nhân mưu việc bỏ
vua mà lập vua khác. Thuyết
bèn lấy cớ là Thuận An sau khi thất thủ, phủ hạt Thừa Thiên nên tự
tìm cách bảo vệ gia hương, phát hổ phù (*) ra mật sai mộ nhiều hương
dũng (nhưng sai người thân tín là Kỳ nội hầu Hồng Chuyên, phò mã Đặng
Huy Cát chia nhau cai quản) để phòng sai khiến. Người ngoài chưa ai biết cả.
Gần đây phái viên
nước Pháp nhân hoà nghị đến xin chầu yết, hai người kiếm cớ tránh mặt,
không dự việc ấy. Vua lại đặc cách sai Tuy Lý vương chuyên đi lại
sứ quán bàn bạc. 2 người ngờ vua đem mưu ấy dặn Tuy Lý vương cầu cứu
với người Pháp. Bèn vào ngày bính tý là ngày 29 tháng ấy [**], lúc canh
hai, các cửa hoàng thành, kinh thành đã đóng kín, Thuyết thu hết cả chìa
khoá cửa. Bèn trước nói dối là đêm ấy nghe nói ngoài thành có bọn bậy
bạ họp kẻ dị dạng, xin tự kiểm biền binh, mật phòng bị sẵn, biên
ra giao cho quan trực hầu tâu lên. Rồi ngoài thì phát ra hổ phù, sai họp tất
cả mộ dũng ở bờ phía nam sông Hương; trong thì đòi gọi các quân đều
mang khí giới, do các viên Ông Ích Khiêm, Trương Văn Đễ đi trước, dẫn
đến đóng ở Sở Tịch điền. Cho mời văn võ đình thần người nào hiện
ở ngoài hoàng thành cũng đến công đường Bộ Hộ (chỗ Văn Tường ở).
Hai người bảo rằng: “Lãng quốc công
nối ngôi đến nay, làm việc phần nhiều trái phép cũ, lại gần gũi người
bậy (ngầm chỉ bọn Hồng Phì, Hồng Sâm, Hồng Tu), người đều không phục.
Nay nên xin bỏ đi, đón hoàng tử thứ 3 lên nối nghiệp lớn”. Lúc bấy
giờ các quan đều vốn sợ uy lệnh của 2 người ấy, không ai dám
nói điều gì khác. 2 người bèn một mặt dự làm tờ tâu, một mặt đem
văn võ đình thần chuyển đến Sở Tịch điền, (duy có thượng thư Bộ Công
là Đoàn Văn Hội cáo ốm không đến); sai đem tờ tâu lấy chữ các quan
ký tên. Lúc bấy giờ đã trống canh tư. Bèn sai Hậu quân là Nguyễn Hanh,
thị lang Bộ Binh là Lê Đại, trích phái biền binh đi đến nhà Dưỡng Thiện
ở Khiêm lăng, (hoàng tử thứ 3 nguyên ở Dưỡng Thiện đường, ở bên hữu
nhà Duyệt Thị gần đấy; rước linh cữu tiên đế để ở điện Hòa
Khiêm tại Khiêm cung, Hoàng tử thứ 3 theo đến ở nhà quan xá ngoài cửa Vụ
Khiêm, nhân thể cũng gọi [nhà quan xá ấy – TXA. ct.] là Dưỡng Thiện
đường), đón hoàng tử thứ 3. Lúc mờ sáng, về đỗ ở điện Quan canh Sở
Tịch điền. Hai người cùng các quan ở Sở ấy đều lần lượt lạy mừng. (Khi
ấy bọn Hanh mới đến đón, hoàng tử thứ 3 rất sợ hãi; bọn Hanh ôm
lên võng rước đi. Đến khi về đến nơi, hai người nói với hoàng tử
thứ 3 là xin lập lên làm vua. Hoàng tử thứ 3 nói rằng: “Ta còn bé, sợ
không làm nổi”. Hai người nói rằng: “Tiên đế đã có ý
ấy, nhưng chưa kịp làm. Nay là mệnh trời vậy. Xin nghĩ đến tôn miếu
xã tắc là quan trọng”). Đến
sáng rõ, (tức ngày đinh sửu là ngày 30 tháng 10), hai người thông báo cho
các quan hiện túc trực đêm ấy ở trong Nội (văn trực thần là tham tri
Hà Văn Quan, võ trực thần là quyền chưởng doanh Hùng Nhuệ Trần Văn Cư,
tham biện Viện Cơ mật là Hồ Lệ, tham biện Nội các là Lê Duy Thụy, thị
vệ sứ đại thần là Tiền quân Tôn Thất Thạ) đều đến họp. (Lúc bấy
giờ Đoàn Văn Hội cùng đến). Khi
đồng hồ 5, 6 chuyển, vua mới biết là có sự biến; hỏi đến những
người trực thần, thì chỉ có vài người cung Thái giám; vội vàng thất
thố, không biết làm thế nào, chỉ phải dự phê tờ chiếu nhường ngôi,
để đợi. Đến
giờ mùi, hai người đón hoàng tử thứ 3 vào Viện Cơ mật tạm nghỉ; và
đem tờ tâu bỏ vua cũ, lập vua mới, tâu lên Từ Dụ thái hoàng thái hậu,
lấy ý chỉ để thi hành; lại sai mở cửa mạn tây nam (ngày hôm ấy cửa
4 mặt kinh thành đóng kín cả ngày); cho gọi các hoàng thân, cũng lục tục
vào Tả vu. Đến nơi thì ai cũng im lặng, chỉ trông nhau mà thôi. (Duy
Tuy Lý vương, Hồng Tu, Hồng Sâm ở ngoài, nghe biết tin sợ bị vạ lây,
bèn đem gia quyến đến chỗ phái viên Pháp đóng ở Thuận An cầu cứu. Hoằng
Hoá công Miên Triẹân, Hải Ninh quận công Miên Tằng cũng sợ hãi đi mất.
Sau đấy vài ngày Hồng Phì đi công sai ngoài Bắc về, đến đầu địa giới
Quảng Trị, nghe biết tin tự cho là nguy, lập tức thuê thuyền đến hội
với Tuy Lý vương. Sau vì phái viên Pháp giao trả về, cùng với Hồng Tu, Hồng
Sâm, đều bị nạn). Lúc
bấy giờ, vua sai thái giám là Trần Đạt đem tờ chiếu nhường ngôi, yêu
cầu lui về chỗ phủ cũ. Hai người giả cách nhận lời, sai Tôn Thất Thạ
đem võng đưa vua cùng phi tần nội cung cho về phủ cũ (ở địa phận xã
Phú Xuân), nhưng mật dặn riêng Ích Khiêm, Văn Đễ trực [:chực – TXA.
ct.] trước ở ngoài cửa Hiển Nhân, đón đường, sai đưa đến nhà Hộ
thành, cho uống thuốc độc giết đi. (Hộ
thành nha nguyên trước là Dục Đức đường, mới đổi tên. Lúc bấy giờ,
những phi tần đã cho về trước, để hộ vệ đưa vua. Khi đến đấy,
Ích Khiêm, Văn Đễ cho thuốc độc vào nước chè dâng lên; vua không chịu
uống. Văn Đễ ra lạy khóc, khuyên rằng: “Vua tôi đến lúc biến không
thể làm thế nào được”. Vua nói rằng: “Ta lại không được bằng Thụy
quốc công à?”; còn lần chần không uống.
Ích Khiêm bèn đem nước chè ấy đổ vào miệng vua; lập tức phát
lên như người phải gió. Một lúc lâu, Trần Xuân Soạn ra truyền nói rằng:
“Nếu để chậm quá, sẽ phải tội nặng”;
lập tức lấy tay bóp họng, vua lè lưỡi, lồi mắt ra, rồi vua mới
chết. Đến lúc đưa vua về phủ, thấy chỗ cổ họng vua sưng như cái
cung giương lên, ai cũng lấy làm lạ). Ích
Khiêm, Văn Đễ vào bảo rằng: “Lãng quốc công đến đấy đã uống thuốc độc chết rồi”. Hai người
bèn rước hoàng tử thứ 3 vào ở điện Hoàng Phúc, đợi sẽ chọn
ngày tốt, tôn lên làm vua. Trần
Tiễn Thành cùng hai người ấy vẫn không bằng lòng nhau. Trước đây vì
việc tuyên chiếu, đã bị 2 người tham hặc diếc móc, giận không quên
được. Bọn Hồng Phì mật tâu xin bỏ cường thần, Tiễn Thành
cũng có đi lại mật với nhau. (Tiễn Thành đêm thường ngầm đến dinh thự
Hồng Phì bàn kín với nhau). Hai người đã biết. Cho nên việc Tiễn Thành
cáo ốm xin về nhà riêng, đều do hai người bắt buộc. Đêm hôm trước họp nhau ở Sở Tịch
điền, 2 người cũng có đem bản thảo tờ tâu đến tường với Tiễn Thành,
yêu cầu phải theo làm việc ấy. Tiễn Thành lại khước từ, nói rằng:
“Bỏ vua nọ lập vua kia, sao có thể
làm mãi? Tôi đã bãi chức về nhà, không dám dự việc ấy”. Hai người
lại càng ngờ mà ghét. Nhân thể đêm ấy cũng sai người đến giết
Tiễn Thành ở nhà riêng (nhà ở ấp Doanh Thị Trung). Ngày
hôm sau (tức là mồng 1 tháng 11) hai người tâu xin chôn vua bằng lễ nghi
quốc công, giao cho phủ Tôn nhân chiểu lệ chôn cất. Còn Tiễn Thành thì
do phủ Thừa Thiên khám biên cho là bị kẻ cướp giết chết. Đến lúc việc
phát ra, ai cũng biết là do 2 người ấy sai người giết, mà chả ai dám
nói ra”. (ĐNTL.CB.,
tập 35, Nxb. KHXH., 1976,
tr. 255 – 260). (*)
Hổ phù là tín hiệu để trưng triệu quân lính (chú thích của Viện Sử
học). [**]
Về ngày 29.10 Quý mùi, xin xem thêm ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH., 1976, tr. 63
– 64, đã có trích in trong phần phụ lục này. TXA. |