505-gd.gif (3538 bytes)

posted: 18.5.2005

PHỤ LỤC V:

MỘT VÀI TƯ LIỆU
TRONG CHUYẾN ĐI THỰC ĐỊA
Ở QUẢNG TRỊ
(SAU KHI THAM DỰ CUỘC HỘI THẢO KHOA HỌC
VỀ NHÂN VẬT LỊCH SỬ NGUYỄN VĂN TƯỜNG)
[1824 – 1886]

TẠI HUẾ, DO TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN THUỘC VIỆN ĐẠI HỌC HUẾ, HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ THỪA THIÊN – HUẾ PHỐI HỢP TỔ CHỨC,

DƯỚI SỰ CHỦ TRÌ HỘI THẢO

CỦA HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM,

02.7.1885 [22.5 ÂL., NHÂM NGỌ]).

      I. Ngày 04.7.2002, lúc khoảng 14 giờ, tôi đến khảo sát, chụp ảnh và ghi chép nguyên văn các dòng chữ Hán – Nôm đã được dịch ra quốc ngữ trên tấm bia đá phía sau tháp tử đạo tại làng Trí Bưu (Cổ Vưu), Quảng Trị.

Các chữ được khắc trên tấm bia đá:

LĂNG TỬ ĐẠO TRÍ BƯU
ĐỂ TƯỞNG NIỆM MUÔN ĐỜI CÔNG ĐỨC TỔ TIÊN
LỊCH SỬ BIẾN CỐ TỬ ĐẠO

      Năm 1885, sau khi kinh đô Huế thất thủ, phái Văn thân xứ Dinh Cát phát động phong trào “Bình Tây sát tả”.

      Sáng ngày 06.9.1885, phong trào được phát lệnh trong thành Quảng Trị.

      Tối ngày 06.9.1885, hơn 800 giáo hữu Trí Bưu chia thành 2 nhóm chạy vào LA VANG lánh nạn cùng với cố Mathey (Thiện) [*] và cha phó Bửu [khoảng để trống, có lẽ để chua tên tiếng Pháp – TXA. chua thêm (ct.)] nhưng sau đó vì sợ không an toàn, nhóm của cha Bửu [khoảng để trống – TXA. ct.] lại trở về Trí Bưu.

      Ngày 07.9.1885, quân Văn thân chiếm làng Trí Bưu và đốt phá nhà thờ, trong đó có cha phó và hơn 400 giáo hữu bị thiêu sát.

      Sau biến cố, cha Bùi Thông Bửu và hơn 600 giáo hữu đã anh dũng chết vì đạo Chúa.

CỔ TỰ HÁN – NÔM

LĂNG TỬ ĐẠO:

          1) Bốn góc đỉnh tháp:

Ai làm cho người hoà thuận ấy là phước thật.

Ai có lòng thương xót người ấy là phước thật.

Ai khóc lóc ăn năn tội ấy là phước thật.

Ai chịu khốn vì đạo ngay ấy là phước thật.

      2) Bốn mặt tháp:

        a. Tiền:

Nhất thiên bát bách [**]

                 Thiên Chúa giáng sanh

Cửu thập tam niên.

      [Năm 1893 /  Thiên Chúa giáng sinh – TXA. ct.].

        b. Hậu:

Nhất thiên bát bách

                 Hồng ân Thiên Chúa

Bát thập ngũ niên.

      [Năm 1885 /  hồng ân Thiên Chúa – TXA. ct.].

        c. Hữu:

Ất dậu niên cửu nguyệt thất nhật

Giáo hữu sở bị thiêu sát tử.

07.9.1885

      [Ngày bảy tháng chín [dương lịch] năm Ất dậu [***]

       Giáo hữu vốn bị chết [do] đốt giết – TXA. ct.].

        d. Tả:

Lục bách dư giáo hữu hài cốt

Dĩ an táng chính tại thử địa.

      [Hơn 600 hài cốt giáo hữu

       Vốn an táng đúng tại [chỗ] đất này  – TXA. ct.].

      3) Bốn góc tháp dưới:

        a. Tiền – hậu:

Qua đống lửa than đốt tan mọi chước

Cõi sinh thường muôn phước hy hoàn.

Phó mình con cho ngọn lửa tiêu pha

Chốn thánh điện dâng mà tế lễ.

        b. Hữu – tả:

Vì đạo Chúa mặc lưỡi gươm phân xẻ

Tiết trung can rạng rỡ làm gương.

Theo cờ Thánh giá thắng cả ba thù [Nho, Phật, Lão?!? – TXA. ct.]

Chức tử đạo nghìn thu rực rỡ.

[Hán + Nôm].

CON CHÁU ĐỒNG PHỤNG LẬP.

CHÍNH TẠO: 1893.

TÁI TẠO: 1997 - 1998.

Các chữ khắc trên tấm biển đá nhỏ dưới tấm bia đá:

KÍNH NHỚ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO TRÍ BƯU
HỘI ĐỒNG HƯƠNG TRÍ BƯU
TẠI: QUẢNG THUẬN, 12-8-1998.   

      [Tháp vốn được khảm các dòng chữ Hán – Nôm như trên bằng mảnh gốm sành sứ, vào năm 1893, và có lẽ đã bị bom đạn làm hư hỏng ít nhiều; nay đã được tái tạo đúng như nguyên trạng, với thời gian thi công trong khoảng hai năm, từ 1997 đến 1998 – TXA. ct.].

[*] Theo Henry de Pirey, bài “ Một kinh đô phù du: Tân Sở”, BAVH., bản dịch, tập I, Nxb. Thuận Hoá, 1997, tr. 233: 2 tên thực dân – cố đạo MATHEY này và cố đạo Patinier – đã đẫn quân Pháp lên Tân Sở, tấn công, đốt sạch, phá sạch Tân Sở cùng các làng Mai lộc, Mai Đàn và Bảng Sơn quanh đó.

Xem thêm: Jabouille, “Một trang viết về lịch sử Quảng trị: tháng 9. 1885”, BAVH., bản dịch, tập X, Nxb. Thuận Hoá, 2002, tr. 433 – 445… TXA chú thích.

      [**] Trên bia đá, các dòng chữ quốc ngữ, Hán, Nôm được trình bày theo hàng dọc, theo nguyên tắc đọc từ phải sang trái. Chúng tôi chép lại theo cách trình bày và đọc của chữ quốc ngữ, thường được viết theo hàng ngang, đọc từ trái sang phải. TXA.

[***] Xin lưu ý: Bia được khắc ghi ngày, tháng, năm dương lịch (07.9.1885) nhưng có chua thêm năm thuộc âm lịch (Ất dậu). Lưu ý thêm: Ngày Nguyễn Văn Tường bị Pháp bắt lưu đày là 27.7  âm lịch, Ất dậu, đối chiếu chính xác với dương lịch là 05.9.1885. TXA.

      II. Ngày 04.7. 2002, lúc khoảng 04 giờ, tôi về viếng mộ, dâng hương, chụp ảnh và ghi chép tại Đền thờ Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (vừa mới được xây dựng), tại làng An Cư, xã Triệu Phước, tỉnh Quảng Trị:

      Chiêm khởi [:khỉ], kính tôn, tinh linh hộ thế xán tung thiên

      Ngưỡng di, cao trãi [:trĩ], thể phách tuẫn quốc hoàn bổn quán.

[Tạm dịch:

Chiêm nghiệm cao trông,

thờ kính tôn vinh:

anh linh giúp cho thế hệ chói lên trời dọc;

Ngưỡng vọng xa ngó,

quý trọng trọn đầy:

thể phách chết vì non sông về lại quê xưa.

– TXA.].                      

Kỉ niệm chuyến đi hội thảo khoa học và khảo sát thực địa:

Tp. HCM. – Huế (Cửa Hữu, cửa Hiển Nhơn, Khu Lục bộ,

nhà thờ Kim Long, cửa Chương Đức, miếu Âm Hồn,

đàn Âm Hồn) – Thành Cổ – làng Trí Bưu – làng An Cư – làng Hậu Kiên (nhà lưu niệm cố tổng bí thư Lê Duẩn) –

Đông Hà – sông Bến Hải (các làng Xuân Hoà, Hải Chử

thuộc xã Trung Hải, các làng Võ Xá, Kinh Thị [chợ Kên (Kênh?)], có đường tỉnh lộ đất đỏ dọc sông Bến Hải, thuộc xã Trung Sơn;

cầu Tiên An, làng Giàng Phao, Kinh Môn

bên kia đường sắt) – Cam Lộ (Khu Chính phủ lâm thời Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam 1973 – 1975;

vùng Cùa, di tích thành luỹ Tân Sở thuộc xã Cam Chính) –

Tp. HCM.,

từ ngày 01 đến 08.7.2002 (21 - 28.5 âl., Nhâm ngọ, năm thứ 2 công nguyên Hoà Bình).

TRẦN XUÂN AN

TƯ LIỆU DÂN GIAN CHĂM
NHÂN CHUYẾN ĐI NINH THUẬN
KHỞI HÀNH VÀO LÚC KHOẢNG  04 GIỜ 30 NGÀY 17.7.2002,
VỀ ĐẾN NHÀ VÀO LÚC 03 GIỜ NGÀY 20.7.2002

      Rất tình cờ, ở Chakleng (làng Mỹ Nghiệp, Ninh Phước, Ninh Thuận), Inrasara tặng tôi cuốn Văn học Chăm II – Trường ca, Nxb. Văn hoá Dân tộc, 1996. Mở ra, tình cờ phát hiện một đoạn ngắn trong trường ca Ariya Po Parơng [đọc là Pô Parăng], có nhắc đến cuộc Kinh Đô Quật Khởi, 05.7.1885 (23.5 Ất dậu), ở tr. 170 - 174. Đây là trường ca do một người Chăm, bị bắt buộc phải đi “du khảo bác vật” với tên quan lớn Pháp (pô Parăng [France]) E. Aymonier, viết về chuyến đi đó. Đại Nam thực lục, bản dịch, tập 36, Nxb. KHXH., 1976, tr. 158 có chép lại việc Viện Cơ mật – Thương bạc cấp giấy phép cho chuyến “du khảo bác vật” này trong một đề mục thuộc tháng 06 năm Giáp thân (1884). Có lẽ E. Aymonier đã “du khảo” ở phía nam thuộc tỉnh Bình Thuận xưa (Phan Thiết) vài ba tháng, rồi mới yêu cầu quan sở tại điều động những người Chăm ở phía bắc thuộc tỉnh Bình Thuận xưa (Phan Rang) đi theo y. Chính HƠP AI, tác giả bản Ariya Po Parơng, đã viết rõ: tác giả khởi hành từ tháng giêng năm Ất dậu (1885):

                     … “Ngày hai mươi tháng giêng năm Dậu (1)

                     Quan Pháp sai bắt chúng tôi đi cùng” …

                                                       (sđd., tr. 163).

      Về cuộc Kinh Đô Quật Khởi, nguyên văn bản dịch của Inrasara như sau:

“… Vào lúc bảy giờ ngày hai mươi tháng sáu (1)

Quân Pháp đánh vào Huế, bắn phá dinh vua

Khói lửa bay tung mù trời

Quân nhà Nguyễn chết như kiến, cả ngựa lẫn

       voi

Sau đó, quân Pháp tiến vào mở cửa thành

Binh lính trong thành sống sót, chẳng biết

       đường nào mà đi

Mãi tới trưa mới tìm được lối ra

Bụng đói, mắt thâm quầng, chân run đi

       không nổi

Hoảng hồn bước lên rồi té ngã

Thêm choáng váng bởi thuốc súng, người họ

       mệt lả bơ phờ

Có người bò trườn ra tới cửa thành

Vừa ngóc đầu lên nhìn thì bị một tên lính Tây

       đứng gác, nạt lớn không cho ra

Khi ấy (nghe tin) Tôn Thất Thuyết phò vua

Cùng chạy ra khỏi thành đi ẩn náu ở xứ khác

Nguyên soái (2) cho chạy tin khắp đất nước

Lệnh cho quân nhà Nguyễn trong mười ngày

phải (nộp vũ khí) xin hàng

Tướng (3) trong triều cũng đã giao thành

Rồi ký sắc lệnh chịu hàng không chống Pháp

       nữa

Ngoài khơi, bảy chiến hạm chực sẵn

Sáng hôm sau, quân Pháp ra lệnh truy tìm

       nhà vua…”

                                                         (sđd., tr. 171 & tr. 173).

(1)                           Có lẽ tác giả người Chăm có tên  là Hơp Ai này tính ngày tháng theo lịch Chăm.

(2)                           Nguyên soái (nguyên tác: “Ngwen Srwac”, xem sđd., tr. 172): chỉ De Courcy. Xin xem thêm từ “nguyên soái” này ở sđd., câu 196, tr. 191.

(3)                           “Tướng”, nguyên văn tiếng Chăm là “Praung Ywơn” (sđd., tr. 172), có nghĩa là tướng người Kinh hoặc đại thần người Việt, chỉ đệ nhất phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường. Thật ra, quân tướng Pháp đã chiếm thành bằng cuộc tấn công với hoả lực mạnh. Nguyễn Văn Tường phải kí thoả ước tạm thời với De Courcy để nhận lại kinh thành. Tác giả Hơp Ai của kí sự thơ này không ghi nhận được kế sách kẻ đánh, người đàm, “kẻ ở, người đi” của Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. TXA. chú thích.

      Đoạn thơ lục bát kiểu Chăm (từ cặp câu thứ 61 đến cặp câu thứ 70) nói trên, vào ngày 24.7.2002, Inrasara đã dịch sát nghĩa từng chữ (theo cách thức dịch tư liệu) như sau:

… “Năm [ngày sau ngày rằm: 20] tháng sáu, đánh ở Huế

Bảy giờ sáng, Pháp đánh tan thành (dinh)

Khói lửa tối tăm mù mịt

[Người] Kinh chết như kiến, ngựa [và] voi không sót

Rồi họ mở cửa thành [dinh] thật lớn

Mấy [:số] tàn quân sót lại không biết đi nơi đâu

Giữa trưa mới thấy lối ra

Bụng đói, mắt quầng, run rẩy đi không nổi

Sợ hãi bước đi, đứng dậy rồi lại ngã

Kiệt lực không đi nổi, [mùi thuốc] đạn làm xây xẩm

Trườn lết ra tới cổng thành

[Gượng] dậy, trông thấy một người Tây [nạt] nộ

       không cho ra (1)

Đâu vua [?], Tôn Thất Thuyết, ông ta bồng [:phò]

Chạy ra, mang lên, đi đâu xứ khác

Nguyên soái [Pháp] cho chạy thư khắp xứ

Đánh hoặc làm thế nào, ông ta hẹn mười ngày

Tướng Việt [:Kinh] chịu giao thành [:dinh] cho Tây

Làm thư rồi ban bố*, xin hàng, không dám đánh

Tàu Pháp đậu ở Huế bảy chiếc

Buổi sáng nó [:họ] ở không [:không động tĩnh], nó [:họ] chạy   

      thư đi tìm vua (2)”…

(1)                                                                                                   Dị bản: Nhìn thấy một người Tây treo cờ lên.

(2)                                                                                                   Dị bản: Treo cờ, chuẩn bị xong, cho thư tìm vua.

*Nguyên văn tiếng Chăm là brei, có nghĩa là thông [qua]. Cả câu là: Làm [văn] thư xong, thông qua, xin chịu [thua], không dám chiến đấu [nữa].

      Ngoài ra, ariya Po Parơng còn ghi nhận không khí trước ngày Kinh Đô Quật Khởi 05.7.1885, trước sự uy hiếp Huế của De Courcy, ở Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi:

“… Riêng tôi cáo từ mọi người ra Bình Định

      trước tiên

Lòng những e ngại khi phải đi một mình

Ông parơng khôn hơn nên lánh mặt

Xua chúng tôi toàn bọn đi trước dẫn đường

      …”.

                                                         (sđd., tr. 167).

“… Một người Kinh đi tới, tay xách theo chiếc

      roi

Người thấp lùn và xấu trai, hắn bảo có quen tôi

Lời lẽ hắn với vẻ chân thành

Bảo vì thương tôi nên mới báo tin cho biết

                         Rằng có người doạ tìm giết

Rồi khuyên can tôi đừng đi tiếp nữa, kẻo chết

      oan

Thật là số hên nên được người Kinh thương

Quay về ngay trong đêm, tôi ghé ngủ nhờ nhà

      dân đạo

Sáng sớm, sau khi nhét thuốc súng vào đầu

       súng

Chúng tôi trở về báo cáo với quan Pháp

Tôi trình bày những điều nghe được

Với po Parơng và ông ta thở dài

Ở Quảng Nam, Quảng Ngãi cũng có người

Chuẩn bị gươm đao để tấn công đoàn chúng

       tôi

Doạ giết rồi họ sẽ chạy thư đi

Cho quân bao vây và nhắn tin khích người

      Pháp tới đánh

                                                         (sđd., tr. 171).

      Và về phong trào Cần vương ở Trung – Bắc kì:

“… Ngày chủ nhật, Tây lên tấn công

Tàu salút chuyển quân suốt đêm ngày không

      nghỉ

Bên Pháp một ngày có năm mươi quân bị giết

Khi đem chôn xác chết, họ cởi hết áo quần

Tập tục như thế, ai họ cũng không chừa

Thể xác trần truồng không còn manh áo

Đêm đêm chúng tôi sợ run không ngủ được

Nuốt không trôi cơm nên ai nấy mệt phờ

Mãi khấn nguyện trời cao phò hộ độ trì

Được bình an thoát khỏi chốn này nhờ ơn

       trên

Còn khi nghe tiếng súng nổ đùng đùng

Lại bắt đầu thấy hoảng nên chẳng ai ngó tới

      bữa ăn

Rồi thì xúm nhau lại cầu nguyện nữa

Đó là nơi họ gọi Phủ Kho Quang (1) (2) …”.

                                                         (sđd., tr. 177).

(1)                                                                                 Khauw Kwang: tên một phủ ở Bắc kì (?).Inrasara chú thích.

(2)                                                                                 Phủ Nho Quan ở Ninh Bình?

      Và những mưu toan thực dân với luận điệu lừa mị, trong khi chúng đã vơ vét, cướp đoạt tượng thờ, bia đá Chăm trong chuyến đi này …

Tp. HCM., ngày 21 – 24.7.2002

(12 – 15 tháng 06 Nhâm ngọ,

năm thứ 2 công nguyên Hoà Bình).

TRẦN XUÂN AN

Trích bài thơ dài
CẢM NHẬN BÊN DÒNG SÔNG

12

Nguyễn Đình Chiểu

Phương nam! Rời rã mỏi mòn

Đã mất Mẹ, Nước có còn, Nước ơi!

Có đôi mắt cũng mù rồi

Bước qua số phận, chân người cứng thêm

Ước mơ – ngọn lửa bùng lên

Nung rèn gươm bút Vân Tiên giữa đời

Từng đơn thuốc ấm tình người

Với quê hương lại rạng ngời trái tim

Đuốc nghĩa quân sáng niềm tin

Từ trong dân dã cái nhìn sáng hơn?

13

Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết,

Lễ tần Nguyễn Nhược Thị Bích,

Nguyễn Thượng Hiền,

và vè “Thất Thủ kinh đô”

Dụ Cần vương dậy Trường Sơn

Giải Triều, trung nghĩa, tờ son gửi về

Bình Tây, sát tả-tà-mê

Cho Tân Sở – Huế tư bề hoa giăng

Lễ tần viết sắc “hoà” ban

Tôn Thuyết chiến để Nguyễn Văn Tường đàm

Pháp tung cáo trạng Bắc, Nam

Lưu đày Kì Vĩ, chết thầm đảo xa

Súng rền, khâm sứ bôi nhoà

Hòm tù đỏ, Hạnh Thục ca hoen vàng

Vè Thất thủ giữa dân gian

Giọng run lệch, bởi chuông vang giáo đường

Thơ Nguyễn Thượng Hiền buốt sương

Thương thái phó +, ngó sen vương, dặm về

14

Nguyễn Khuyến

và sau đó, Trần Tế Xương

Bơ vơ, về với làng quê

Nụ cười Yên Đổ thoáng nghe thu buồn

Cờ dở cuộc, bạc chạy lường ++

Quốc kêu khuya vắng, máu tuôn thấm lòng

Rất riêng, vẫn một nguồn sông

Chút tình non nước vọng hồn nước non

Trách mình chi, buổi hoàng hôn

Chao ơi phỗng đá vẫn còn đó đây

Lửa bùng, tắt nghẹn, đêm dày

Mưa đời vây bủa như dây trói lòng

Niềm đau buốt xót tận hồn

Tú Xương bật tiếng cười dòn, ngẩn ngơ

Lạc đường, ngóng đến bao giờ

Giật mình, lạnh tiếng gọi đò, đêm khuya

15

Phan Bội Châu

và “Việt Nam vong quốc sử”…

Mắc mưu Hữu Độ toả mê

Khang, Lương (Đại Hán!), xoá thề Cần vương

Duy tân theo Nhật, nghẹn đường

Súng gươm Quang phục, tự cường, khôn nguôi

Mai Lão Bạng +++, sống bên Người

Sách kia ai sửa?

                  Quên lời sắt son!

Gót chân ngang dọc chưa mòn

Mắt sương Bến Ngự vẫn còn ngóng trông

Xa xa một ngọn cờ hồng ++++

Nụ cười hi vọng, ấm dòng sông Hương

TRẦN XUÂN AN

 

+ Ngoài tước hiệu Kì Vĩ quận công, Nguyễn Văn Tường còn có cung hàm là thái phó.

Bài thơ có nguyên văn như sau:

[VÔ ĐỀ]

Huyền vũ lâu tiền mãn địa sương

Dũ phong đình nguyệt thái thê lương

Sơn xuyên cố quốc âm tình cải

Nhung mã toàn gia đạo lộ trường

Không quá Tây môn bi thái phó

Thùy tòng Bắc hải vấn trung lang

Ngu uyên thử nhật vô tiêu tức

Trường đoạn thanh khê bích ngẫu hương.

Mai Sơn

NGUYỄN THƯỢNG HIỀN

(1868 - 1925)

Huyền Vũ lầu không đặc lớp sương

Trăng sân gió cửa quá thê lương

Non sông cố quốc bao thay đổi

Gươm ngựa toàn gia vạn dặm trường

Không (*) đến cửa Tây thương thái phó

Ai về biển Bắc hỏi trung lang (**)

Tìm trời đáy biển (***) không tin tức

Đứt ruột sen khe lộ ngó hương.

Chu Thiên Hoàng Minh Giám

(1904 – 1995)

dịch thơ

(*) Không: cái hư không, tức là Trời.

(Không và thuỳ [:ai], tiểu đối với nhau).

(**) Làng Trung Lương bên sông Bến Hải?

Quan chức thượng nguồn trung thành (trung lang)?

Có lẽ là hai chức danh đối với nhau theo phép tiểu đối.

(***) Ngu uyên: phương mặt trời lặn, chứ không phải là đáy biển!

++ Cũng chẳng nghèo mà cũng chẳng sang

Chẳng gầy chẳng béo chỉ làng nhàng

Cờ đang dở cuộc, không còn nước

Bạc chửa thâu canh, đã chạy làng

Mở miệng nói ra gàn bát sách

Mềm môi chén mãi tít cung thang

Nghĩ mình mà gớm cho mình nhỉ

Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng!

Dị bản: Ta chẳng nghèo mà cũng chẳng sang.

+++ Theo cuốn Tự Phán của Phan Bội Châu (Nxb. Văn hoá – Thông tin tái bản, 2000, tr. 142 – 144): Mai Lão Bạng là một linh mục Thiên Chúa giáo. Ông có tham gia vào Duy Tân hội và Quang Phục hội của Cường Để và Phan Bội Châu. Tổng cộng số thời gian Mai Lão Bạng bị chính quyền Trung Hoa, Xiêm La, chịu áp lực của Pháp, bắt giam, và bị chính thực dân Pháp bắt tù, lưu đày ở Côn Đảo là gần mười lăm năm. Mai Lão Bạng là một người yêu nước, hoạt động chống Pháp, nhưng vẫn là một linh mục Thiên Chúa giáo, và theo lời Phan Bội Châu, “một đời Cụ vì thương xót đồng bào, ngậm cay nuốt đắng, vào tội ra tù, thiệt là tín đồ của Dê Du vậy” (sđd., tr. 144). Dê Du chính là Chúa Jésus, người đã chống đế quốc La Mã xâm lược của các çésar một cách “ôn hoà”, trong lịch sử Do Thái, được chép lại trong Kinh Thánh.

Trong cuốn Tự Phán, Phan Bội Châu xác nhận những điều trên. Tuy nhiên, cụ Phan cho rằng Mai Lão Bạng là đại biểu của Giáo hội Thiên Chúa giáo; điều đó là không thể chính xác được, vì chính các cố đạo thực dân Tây (Pháp, Tây Ban Nha), vốn nắm các chức sắc trong “giáo hội Thiên Chúa giáo Việt Nam”, đã cải tạo tư tưởng yêu nước, chống Pháp của Mai Lão Bạng, đồng thời chúng đe doạ Mai Lão Bạng sẽ bị vạ tuyệt thông (bị rút phép thông công, bị cô lập) (*a). Do đó, rõ ràng Mai Lão Bạng hoạt động độc lập, không tuỳ thuộc vào cố đạo thực dân Pháp, Tây Ban Nha. Ngoài ra, cũng trong Tự Phán, Phan Bội Châu có viết: “Tôi khi chưa gặp Cụ, chưa chụp bóng bao giờ, đến lúc hoan nghênh Cụ, tôi mới cùng Cụ chung nhau chụp một bức ảnh. Người Pháp biết được ảnh tướng tôi là từ lúc đó” (sđd., tr. 144). Xin hiểu câu này, trong điều kiện máy ảnh còn thô sơ, chưa có ống kính tối tân hiện đại, việc mật thám chụp ảnh lén là rất khó; chỉ có thể chụp ảnh trong hiệu ảnh. Chúng tôi nghĩ rằng, việc Pháp có được ảnh Phan Bội Châu để truy nã hẳn là ngẫu nhiên.

Dẫu sao, Mai Lão Bạng vẫn là một nhân vật ngây thơ hoặc nhân vật bi kịch: một linh mục Thiên Chúa giáo phải chống lại Giáo hội Thiên Chúa giáo, mà các giáo hoàng thời bấy giờ thực chất là những tên thực dân chủ trương xâm lược (xin xem lại các tư liệu đã dẫn (*b)).

Trong những năm cuối đời, ông sống gần gũi với cụ Phan tại Bến Ngự (Huế), và mất sau cụ Phan. Người ta có thể ngờ rằng, ngoài tư tưởng đoàn kết của cụ Phan, chính Mai Lão Bạng khiến cho cụ Phan đã ít nhiều bày tỏ sự tranh thủ cảm tình đối với Thiên Chúa giáo; hoặc ngờ rằng, chính Mai Lão Bạng đã lén lút sửa sách của Phan Bội Châu theo chính kiến của một linh mục Thiên Chúa giáo kính Chúa, yêu nước, thương xót giáo dân Việt Nam, chống Pháp, chống Tây Ban Nha, chống Toà thánh Vatican, và chắc hẳn Mai Lão Bạng cũng chống những lãnh tụ, nghĩa sĩ Văn thân, Cần vương chủ trương Bình Tây sát tả. Phải chăng linh mục Mai Lão Bạng vẫn muốn biện minh cho Thiên Chúa giáo trong chừng mức có thể? Chúng tôi mong sẽ đọc được những tư liệu xác thực, đã được giám định về Mai Lão Bạng. Chúng tôi vẫn theo câu ngạn ngữ đã thành phương châm: “tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã” (biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, ấy là biết vậy). Có một điều đã được nhiều nhà văn bản học khẳng định, rằng sách của Phan Bội Châu đã bị sửa chữa, sao chép sai lạc, “tam sao thất bản” (sao chép ba lần, có đến bảy dị bản!), “xuất [bỏ bớt], nhập [thêm vào]” (**), nhưng không rõ là do ai, những người nào, hoặc có thể do chính cụ Phan tự sửa chữa? Chúng tôi không dám gieo nghi án cho cụ Phan và linh mục Mai Lão Bạng. Lúc này, chúng tôi vẫn gọi Mai Lão Bạng là “ông”, không phải một cách trung tính, mà ở mức độ kính trọng (?) (như đã phân tích).

(*a) & (*b) Xem: Linh mục Trần Tam Tỉnh, Thập giá và lưỡi gươm, linh mục Vương Đình Bích dịch từ nguyên tác tiếng Pháp, Nxb. Trẻ, 1988, tr. 189 – 190.

(**) Xem Lời nói đầu: Những tác phẩm của Phan Bội Châu (tập 1), gồm Việt Nam vong quốc sử, Việt Nam quốc sử khảo, Văn Tạo chủ biên và nhiều người dịch, hiệu đính, Nxb. KHXH., 1982, tr. 6 – 7.

++++ Trong cuốn Tự Phán, sđd., tr. 232 – 236, tiểu mục “Giao thiệp với người Nga và thấy sự xảo quyệt của họ”: Vào năm Canh thân (1920), cụ Phan Bội Châu có tiếp xúc với phái đoàn cán bộ Liên Xô do Voitisky làm trưởng đoàn. Cụ Phan cho đoàn cán bộ Liên Xô là xảo quyệt, khi họ đề nghị cụ đứng vào hàng ngũ những người cộng sản quốc tế và tuyên truyền về cách mạng vô sản cho nhân dân Việt Nam. Nhưng về sau, theo nhiều nhà nghiên cứu, cụ Phan Bội Châu lại viết tác phẩm Chủ nghĩa xã hội, tán thành phong trào cách mạng vô sản này, với niềm hi vọng lớn.

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com