505-gd.gif (3538 bytes)

posted: 18.5.2005

Vài lời của web Gđ: Trong buổi đầu mất nước, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết là hai nhà yêu nước đã khởi xướng tinh thần cách mạng kháng Pháp từ lúc kinh đô còn nằm trước ngưỡng cửa chuẩn bị rơi vào tay giặc; nhưng hai ông cũng là hai nhân vật chịu nhiều oan khiên lịch sử nhất.  Đất nước từ đó bị phân chia, kéo dài cuộc kháng chiến trường kỳ 100 năm… cho đến ngày được giải phóng trọn vẹn vào năm 1975. Giữa chiều dài cuộc kháng chiến giải thực, vãn hồi thống nhất đất nước, đã có nhiều tiếng nói rời rạc của vài sử gia ghi chép lại vài sử liệu trung thực hoặc bênh vực cho lòng yêu nước của hai ông - đặc biệt là ông Nguyễn Văn Tường, nhưng có lẽ tác phẩm “Nguyễn Văn Tường (1824-1886), những người trung nghĩa từ xưa…” của Trần Xuân An là một cuốn nghiên cứu sử trọn vẹn và đầy đủ nhất về nhân vật lịch sử này.  Từ nhận xét đó, nên dù tác giả đã có tâm huyết chỉ muốn cống hiến đến quý độc giả như một chia sẻ với tấm lòng dân tộc, chúng tôi vẫn xin được bày tỏ hậu ý nằm ngoài sự ưng thuận của tác giả là: để tạo điều kiện cho sự tiếp nối công sức của những nhà nghiên cứu lịch sử nước nhà chân thực, đề nghị quý độc giả hãy ủng hộ đặt mua sách theo địa chỉ của tác giả kèm theo dưới đây, hoặc liên lạc với web Gđ qua email: giaodiem@giaodiem.com  để biết thêm chi tiết. Trân trọng cảm ơn quý độc giả.    

Địa chỉ tác giả:
71B Phạm Văn Hai
Phường 3, Tân Bình
Thành phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại: [08].8453955.
email: tranxuanan_vn@yahoo.com

Phụ Lc VI:

VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ:
(tính đến 04.2005)
 
Trần Xuân An
Sinh ngày 10.11.1956 tại Huế;
Nhân tộc: Kinh (Việt Nam);
Quê gốc: Quảng Trị;
Tốt nghiệp ĐHSP. Huế (1974 – 1978);
Dạy học tại Lâm Đồng, 1978 – 1983;
Hiện nay, chuyên sáng tác, nghiên cứu
(hội viên Hội Nhà văn Tp.HCM.).
 
Tác phẩm đã xuất bản: 
1.                               Nắng và mưa, thơ, Hội VHNT. Quảng Trị, 1991.
2.                               Hát chiêu hồn mình, thơ, Nxb. Đồng Nai, 1992.
3.                               Tôi vẫn ở trên đường, thơ, Nxb. Văn Nghệ Tp. HCM., 1993.
4.                               Lặng lẽ ở phố, thơ, Nxb. Trẻ, 1995.
5.                               Kẻ bị ném vào bão, thơ, Nxb. Trẻ, 1995.
6.                               Hát với đời ơi thương mến, thơ, Nxb. Trẻ, 1996.
7.                               Quê nhà yêu dấu, trường ca thơ, Nxb. Văn Nghệ Tp. HCM., 1998.
8.                               Có một nơi lá mãi xanh, tiểu thuyết, Nxb. Hội Nhà văn, 1999.
9.                               Ngôi trường tháng giêng, tiểu thuyết, 1998, Nxb. Thanh Niên, 2003.
10.                           Sen đỏ, bài thơ hòa bình, tiểu thuyết, 1999, Nxb. Thanh Niên, 2003.
11.                           Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), truyện kí – khảo cứu lịch sử, hai tập I & II, 2002, hai tập III & IV, 2003, Nxb. Văn Nghệ TP.HCM., 2004.

Tác phẩm đã hoàn tất bản thảo (*):

12.                           Mùa hè bên sông, tiểu thuyết, 1997; bản đã sửa chữa và bổ sung, 2001.
13.                           Thơ những mùa hương, thơ.
14.                           Giọt mực, cánh đồng và vở kịch điên, thơ.
15.                           Nước mắt có vị ngọt, tập truyện ngắn, 1999.
  Soạn phẩm biên khảo đã hoàn tất bản thảo (*):
16.                           Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), thơ – Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng (biên soạn – nghiên cứu, phản bác, và tập hợp một số bản dịch, bài khảo luận văn học và sử học về NVT.), 2000.
17.                           Tiểu sử biên niên Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, “kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp” (từ Đại Nam thực lục, rút gọn), dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết, phần I, 2001.
18.                           Những trang Đại Nam thực lục về Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) và các sự kiện thời kì đầu chống thực dân Pháp… (Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học VN.), chọn lọc, phần II, 2001.
19.                           Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”, khảo luận và phê bình sử học, 2002.
20.  Suy nghĩ về một số vấn đề trong lịch sử cổ đại nước ta, khảo luận sử học, 2003
21.  Ngẫu hứng đọc thơ, phê bình thơ, 2003
 
Tặng thưởng, giải thưởng:
1.                                 Báo Văn nghệ giải phóng, 1975.
2.                                 Giải Sáng tạo trẻ, Hội VHNT. Quảng Trị, 1991. 

(*) Tất cả các tác phẩm, soạn phẩm biên khảo đã được xếp chữ vi tính, ấn hành với phạm vi từ 10 đến 20 bản sách (gửi các nhà xuất bản, nhà nghiên cứu và một số bạn thân), trong khi chờ giấy phép và điều kiện để có thể xuất bản rộng rãi. TXA.

NGUYỄN VĂN TƯỜNG,
“NHỮNG NGƯỜI TRUNG NGHĨA TỪ XƯA,
TƯỞNG KHÔNG HƠN ĐƯỢC”
khảo luận về một vài khía cạnh sử học
 
Kính dâng lên bàn thờ cao tổ phụ:
NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824 – 1886)
Trần Xuân An,
nội hậu duệ thế hệ thứ năm.
 
“…  Nay ta cùng đại thần Tôn Thất Thuyết quanh quẩn,
còn ngươi là phụ chính đại thần thì ở lại mà thương đàm.
Kẻ ở, người đi đều lấy lòng yêu nước lo dân làm căn bản;
đất trời cũng thật chứng giám …”.
 
HÀM NGHI (và TÔN THẤT THUYẾT),
mật dụ từ Tân Sở gửi NGUYỄN VĂN TƯỜNG,
ngày 02.06. Ất dậu, 1885.
 
“… Huân thần tâm sự như thế, cáng đáng như thế,
thật là đau khổ quá chừng. Nhân vật nước ta, những người
trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được …”.
 
HÀM NGHI (và TÔN THẤT THUYẾT),
mật dụ từ Tân Sở gửi hoàng tộc,
ngày 07.06. Ất dậu, 1885.

CUỐN SÁCH ĐẦU TIÊN TÁC GIẢ TỰ XẾP CHỮ, DÀN TRANG, TRÌNH BÀY TRÊN MÁY VI TÍNH TẠI NHÀ.

Từ khi khởi công thực hiện đến lúc hoàn tất:
khoảng 30 ngày trước ngày
17 tháng 4 Nhâm ngọ,
năm thứ 02 công nguyên Hòa Bình
(28.5.2002).
Tự nhuận sắc:
12.7 – 04.8 Quý mùi HB.3 (09 – 31.8.2003)
 
TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN TỪNG CHỮ, TỪNG Ý TƯỞNG CỦA MÌNH.
TRÂN TRỌNG VÀ THÀNH THẬT BIẾT ƠN.
 
NHỮNG TRANG SAU ĐÂY,
TÁC GIẢ TỰ GHI CHÚ THÊM ĐỂ NHỚ
(KHÔNG THUỘC VỀ BẢN THẢO HOÀN CHỈNH)

LƯU Ý:

(cho bản cỡ sách 14 cm x 20 cm; số trang dưới đây là của bản ấy,
chứ không phải của bản cỡ A 4 này):
1.                               Chưa chỉnh lí lại số trang ở mục lục.
2.                               Có một số dòng chữ bị thưa, do dòng ấy có chữ hoặc cụm số vốn nhiều chữ cái hoặc chữ số (vd.: Champeaux, 05.7.1885…).

* * * * *

3.                               Đã chuyển đặt NHỮNG TRANG NGOÀI SÁCH trước phần mục lục, và đã bổ sung tiêu đề thuộc các trang ấy vào mục lục.

4.                               Đã chỉnh lại độ dày của các dòng chữ trong mỗi trang của cả cuốn sách, kể cả phần footnote (FORMAT ( PARAGRAPH, từ SINGLE chuyển sang MULTIPLE: 0,88;  và riêng footnote: 0.93), nên mỗi trang nói chung (cụ thể là các trang tiêu biểu) đều tăng 4 dòng (từ 30 dòng tăng đến 33 hoặc 34 dòng; cả cuốn từ 342 trang chỉ còn 310 trang [304 tr. = 19 tay sách, mỗi tay 16 tr.] ( # 19, 5 tay sách).

Ở mấy trang lời nói đầu, có thực hiện việc làm khít chữ (FORMAT Þ FONT, CHARACTER SPACING, SPACING: CONDENSED: 0.1 pt) nhưng sau đó đã chỉnh lại cự li NORMAL.

5.                               Những trang chú thích trước đây vốn bold với font size 9, nay không bold, font size tăng lên là 10.

6.                               Trang 173 (( tr. 175) có chỉnh lại: (*) Sử Trung Hoa: Kế vị vua Nghiêu, vua Thuấn lập ra nhà Ngu. Hồ Quý Ly biện minh việc cướp ngôi của mình bằng điển tích này. Vấn đề là tại sao lại lấy tên một triều đại bên Tàu để đặt quốc hiệu cho nước ta! Đó là chưa kể khía cạnh khác, trong tiếng Việt thông dụng, chỉ có một chữ ngu (đồng âm, khác chữ, khác nghĩa) với một nghĩa: ngu dốt, ngu ngơ! Trang 296 (( tr. 284): *Nguyên văn tiếng Chăm là brei, có nghĩa là thông [qua]. Cả câu là: Làm [văn] thư xong, thông qua, xin chịu [thua], không dám chiến đấu [nữa].

7.                               Đã đưa trang ghi chú thời điểm xếp chữ và về bản quyền lui sau trang thủ tục. Nếu bỏ trang thủ tục ấy và các trang “lưu ý” này, sẽ còn lại 310 trang. Cuốn sách sẽ gồm 310 trang chữ, kể cả 01 trang thủ tục cuối cùng.

* * * * *

8.       Có bổ sung thêm ở tr. 109 - 111 như sau:

-           Tổng mục lục châu bản triều Nguyễn, do Uỷ ban Dịch thuật sử liệu Viện Đại học Huế (trước 1975) thống kê, phân loại, tài liệu đánh máy, hiện lưu trữ tại Thư viện KHXH. TP.HCM..

-           Mục lục châu bản triều Nguyễn, do Cục Lưu trữ Nhà nước, Viện Đại học Huế xb. trước 1975; Nxb. Văn hoá – Thông tin tái bản (hai tập, triều Gia Long, nửa đầu triều Minh Mạng), 1998;

-           Châu bản triều Tự Đức (1847 – 1883), Vũ Thanh Hằng, Trà Ngọc Anh, Tạ Quang Phát tuyển chọn và dịch, Ban Văn học thuộc Viện KHXH. TP.HCM. in ronéo, 1979. Tài liệu này vừa được Trung tâm Nghiên cứu Quốc học chỉnh lí (nhưng lại chỉ “tuyển chọn và lược thuật”!), Nxb. Văn Học xuất bản trong tháng 5.2003. Rất tiếc, trong các năm có nhiều sự kiện rất quan trọng (chẳng hạn, 1881 – 1883, Pháp chuẩn bị rồi thực sự đánh chiếm Bắc Kì lần thứ hai, Nguyễn Văn Tường đại diện cho triều đình nước ta liên minh với nhà Thanh, Trung Hoa…), lại để thiếu sót, không có một trang châu bản nào liên quan, đề cập đến. Nói cụ thể hơn, năm 1881, chỉ có hai tiểu mục về tiễu phỉ và về việc gửi người đi học cách sử dụng đại bác; hai năm 1882, 1883, chỉ có dăm tiểu mục về sách sử, chứ không có lấy một sự kiện nào về chính trị, ngoại giao, quân sự, kinh tế, xã hội cả (chưa kể sự nhầm lẫn, ghép vào châu bản thời Thành Thái; hẳn không phải vô ý?)! Theo lời giới thiệu ở những trang đầu sách, châu bản triều Tự Đức hiện còn đến 352 (ba trăm năm mươi hai) tập, mỗi tập gồm khoảng 600 (sáu trăm) trang chữ Hán, chữ Nôm, chữ Pháp viết tay, và 600 tr. của mỗi tập có độ dày từ 06 (sáu) đến 10 (mười) xăng ti mét. Thế nhưng, cuốn “Châu bản triều Tự Đức (1847 – 1883), tuyển chọn và lược thuật” nói trên, chỉ có 288 (hai trăm tám mươi tám) trang in chữ quốc ngữ, cỡ 16 x 24 cm, kể cả lời nói đầu, lời giới thiệu và phần sách dẫn! Thật quá ít ỏi, sơ lược (cố nhiên là không được ghi chú, phân tích!). Đáng tiếc là việc tuyển chọn cũng không tiêu biểu chút nào! Đâu rồi số châu bản 1882 – 1883?

Ngoài ra, còn châu bản các triều liên quan đến Nguyễn Văn Tường và ĐNTL.CB. IV, V, VI như triều Kiến Phúc (1884): 01 (một) tập; triều Đồng Khánh (9.1885 – 1888): 04 (bốn tập). Đó là chưa nói đến châu bản triều Thành Thái (1889 – 1907): 74 (bảy mươi bốn) tập; triều Duy Tân (1907 – 1916): 35 (ba mươi lăm tập)… Vẫn chưa được công bố!

Tuy nhiên, căn cứ vào phương pháp suy luận khoa học, chúng tôi đoan chắc rằng các châu bản được trích dẫn trong ĐNTL.CB. IV, V, VI vẫn là các văn bản tương đối có giá trị tiêu biểu (theo nguyên tắc sử dụng dẫn chứng). Từ đó, suy ra, kho châu bản không thể mâu thuẫn với ĐNTL.CB. (1847 – 1888), mà chỉ làm rõ hơn, mạnh mẽ hơn những gì còn quá rụt rè ở các phần sử thuộc các kỉ kể trên: tinh thần chống Pháp, chống tả đạo của nhân dân, sĩ phu và vua quan triều Nguyễn. Sự rụt rè ấy là do áp lực của thực dân Pháp, của tả đạo Thiên Chúa giáo!

Dĩ nhiên, tham khảo được châu bản vẫn là tốt nhất. Nhưng, rất đáng tiếc, cuốn “Châu bản triều Tự Đức” nói trên lại quá thiếu sót và tuyển chọn chưa thật tiêu biểu. Hoặc giả, châu bản đã bị thất tán những phần quan trọng, tiêu biểu đó?!? Chúng tôi không tin như vậy, và đã qua điện thoại, trực tiếp hỏi GS.TS. Mai Quốc Liên, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, người đã viết lời nói đầu cho cuốn sách. Ông trả lời rằng: “Châu bản về các năm 1881 – 1883 vẫn còn, tuy không đầy đủ. Sở dĩ không đưa vào sách số châu bản ấy là do người tuyển chọn. Phải nhờ GS. Trần Nghĩa trả lời cụ thể về vấn đề này”. Dẫu sao, trước tình trạng cuốn “Châu bản triều Tự Đức” như thế, trong khi chờ “Châu bản…” được bổ túc, chúng tôi đành vui lòng tự đối chiếu với cuốn sách của chúng tôi (TXA.), cũng cùng một cách thức biên soạn tương tự, nhưng lại lấy ĐNTL.CB. IV, V, VI làm chuẩn cứ, mặc dù đề tài chỉ nhắm đến một nhân vật cùng các sự kiện tiêu biểu cho thời đại ấy: “Tiểu sử biên niên Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, ‘kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp’”. Rất tiếc là cuốn “Tiểu sử…” này chưa được xuất bản! Tuy vậy, với ĐNTL.CB. IV, V, VI, sẽ có sự bổ cứu, và nhất là để khỏi khiếm khuyết khi nhận định về Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) cùng các triều vua liên quan. Về giá trị ĐNTL.CB. IV, V, VI và tính thống nhất tương ứng theo từng giai đoạn phân kỉ của ba kỉ sử ấy với châu bản, chúng tôi đã trình bày bên trên và ở bài viết sau trong cuốn sách này.

9.                               Có bổ sung thêm ở phần Sách báo tham khảo, tr. 294 &  296: 9. Hoàng Tiến, Chữ quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết thế kỉ 20, Nxb. Thanh Niên, 2003. 33 ( 34. Quốc sử quán triều Nguyễn, Châu bản triều Tự Đức (1847 – 1883), Ban Văn học thuộc Viện KHXH. TP.HCM. trích dịch, tóm lược, in ronéo, 1979; Trung tâm Nghiên cứu Quốc học chỉnh lí, Nxb. Văn Học, 5.2003.

10.                           Có bổ sung ở mục lục, tr. 307:

ª Ảnh: Hầm mộ quàn thi hài PCĐT. Nguyễn Văn Tường tại Tahiti (hiện nay vẫn còn).

ª Ảnh: Ngôi mộ PCĐT. Nguyễn Văn Tường tại quê nhà, 2002.

11.                           có bổ sung ở tr. 97:

4. Mọi người đều biết rõ khi Pháp chuẩn bị xâm lược Bắc Kì lần thứ hai, Nguyễn Văn Tường đã đại diện triều đình tiếp xúc với Đường Đình Canh (Chiêu thương cục) để liên minh với nhà Thanh, vào những tháng cuối năm 1881, đầu năm 1882. Nhưng sau đó, nhà Thanh Trung Hoa đã mưu toan và bộc lộ dã tâm cùng với Pháp xâu xé, chia đôi Bắc Kì, nên Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết buộc lòng phải thực hiện ngoại giao đối trọng, trung lập giữa hai nước xâm lược ấy. Đó là thế trận “toạ sơn quan song hổ đấu” 5. Và cuộc chiến tranh Pháp – Hoa ngã ngũ với sự thất bại về phía Trung Hoa.

Việc thực hiện ngoại giao đối trọng, trung lập giữa hai nước xâm lược Pháp – Hoa, với thế trận “toạ sơn quan song hổ đấu”, không những khiến Pháp thù ghét, còn khiến những kẻ Đại Hán bành trướng chủ nghĩa như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu không thể không căm hận. Thật ra, Pháp thù ghét là chuyện đã đành, còn chính những kẻ Đại Hán cam tâm xâu xé một nước láng giềng trước nạn thực dân da trắng đúng ra phải tự vấn lương tâm. 

Phan Bội Châu còn có bút hiệu là Phan Thị Hán, nên không thể không đồng tình với Lương Khải Siêu để “chụp mũ” Nguyễn Văn Tường!

12. Có sửa chữa ở các tr. 95, 108, 114…:

-                                   tr. 95: 1807 Þ 1908;

-                                   tr. 108: và về Nguyễn Văn Vĩnh;

-                                   tr. 114: trước và sau thời điểm nói trên, về cơ bản có sự đối lập, trái ngược lẫn nhau.

-                                   … [một số trang khác nữa (đã đánh dấu ở bản 21.8.2003, có bìa màu xanh da trời)].

Sẽ chỉnh lí tất cả sau khi Nxb. TN. & Nxb. ĐHQG. biên tập xong; và sẽ chỉnh lí ngay trên máy vi tính có máy in, lúc in nhũ (vì các máy vi tính khác nhau về độ phân giải, nên số trang sẽ khác nhau; chỉnh lí trước cũng vô ích).

TXA.

05.9.2003 (09.8. Quý mùi HB.3).
15.9.HB.3.
ĐÃ BỔ SUNG Ở CÁC TR. 108, 288 & 290.
19.9.HB.3. & 20.9.HB.3.
Tự nhuận sắc đến ngày
25.9.2003 (29.8 Quý mùi HB.3).

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com