505-gd.gif (3538 bytes)

posted: 13.5.2005

GS. BỬU KẾ
(1914 – 1989)
(cố học giả, dịch giả, GS. Đại học Văn khoa Huế)
 
TOÀ KHÂM SỨ PHÁP          
(MỘT TUỲ BÚT – KHẢO LUẬN VỀ LỊCH SỬ,
VÀ VÀI NÉT BÌNH CHÚ)

Trước Cách mạng Tháng tám năm 1945 [(1885 – 1945) – TXA. chua thêm (:ct)], tuy nước ta là một nước quân chủ, vua là bậc chí tôn, nhưng thật ra uy quyền kém hẳn viên khâm sứ.

Dưới ông khâm sứ, còn có các ông công sứ, các ông cố vấn bộ Lại, Hộ, Binh, Hình, Công. Các quan thượng thơ của ta muốn làm việc gì, nhất nhất đều phải gởi dạng bản đến để họ xem trước. Họ có chấp thuận mới được thi hành, bằng không thì phải gác lại. Cho đến những quyền hành nhỏ mọn như bổ dụng một viên thừa phái hạng bét hay chi tiêu một món tiền cỏn con cũng phải qua tay người Pháp.

Cái uy quyền đó đã tiêu tan theo cuộc đảo chánh Nhật Bản ngày 9.3.1945, còn Tòa Khâm sứ Pháp thì phần lớn đã bị đổ nát theo bom đạn trong cuộc chiến tranh chống Pháp, những căn nhà còn lại thì mái trụt tường xiêu, cỏ cây hoang dại ăn lan từ sân trước đến sân sau, diễn ra cảnh thê lương sau hơn 80 năm đô hộ [(1862? – 1945?) – TXA. ct.]. Nay Trường Đại học Sư phạm Huế được xây dựng ở đó.

@

Viên khâm sứ Pháp xuất hiện trên đất cố đô này do điều khoản 20 của hiệp ước Giáp tuất kí kết ngày 15.3.1874 giữa hải quân thiếu tướng Đuypơrê (Dupré) và Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường. Trong [cưỡng ước – ct.] đó khoản 15 [đúng ra là khoản 13 – ct.] định rằng: Nước Pháp được đặt quyền lãnh sự các cửa bể và các thành thị để mở ra cho ngoại quốc vào buôn bán.

Theo hiệp ước Giáp tuất còn có một thương ước nữa kí ngày 30.8.1874. Các điều khoản 2, 6, 7 của thương ước này cho viên khâm sứ quyền xuất cảng gỗ lim, gạo và tơ tằm. Thế là bao nhiêu sản phẩm quý giá của ta, người Pháp có toàn quyền mua để đem về xứ hay bán đi các nước khác.

Sợ các quan ta, nhất là các quan ở thương cảng có thể gây trở ngại, trong thương ước này còn nói thêm: Viên khâm sứ có quyền chấp nhận hay không chấp nhận các viên quan phục vụ tại các hải cảng mở ra để giao thiệp với Pháp. Như vậy có nghĩa là nhưng kẻ nào chống đối lại người Pháp có thể bị thải hồi hay đổi đi làm việc ở một nơi khác.

Sau hiệp ước Giáp tuất được kí kết, ngày 15 tháng 01 năm 1875, thượng thư hải quân Pháp gởi thư cho thống đốc Nam kì Đuyperê [Duperré – ct.], yêu cầu đề cử một người giữ chức khâm sứ để giao thiệp với Triều đình Huế. Và Đuyperê đã cử Râyna đề Étxa (Rheinart des Essart), sanh ngày 01.11.1840, xuất thân đại úy hải quân lục chiến, từng làm tham biện tại Soái phủ ở Sài Gòn và công sứ ở Hà Nội.

Râyna đi trên chiếc thuyền Ăngtilốp (Antilope) và tới Thuận An vào ngày 25 tháng 7. Bên ta phái một viên quan Bộ Lễ về Thuận An nghinh tiếp, sau đó đưa về công quán. Hai ngày sau, ông Râyna sang thăm các quan Thương bạc (tức là quan Ngoại giao của ta) và được thượng thư Nguyễn Văn Tường đón tiếp niềm nở. Cuộc bang giao ban đầu diễn ra tốt đẹp (như Râyna bị ốm, vua Tự Đức liền cho người đến hỏi thăm sức khoẻ), nhưng về sau, giữa viên khâm sứ Pháp và Triều đình Việt Nam trở nên thù hằn chỉ chờ cơ hội để hại lẫn nhau.

Lúc Râyna đến Huế thì Tòa Khâm sứ chưa xây cất nên phải tạm trú tại công quán mà Triều đình Huế dùng để đón tiếp các nhà ngoại giao các nước. Công quán này tuy bằng tranh nhưng cũng khá đẹp, trước mặt có cột cờ, chung quanh có tường, viên khâm sứ ở đây với Priơ (Prieux), quan cai trị hạng nhất, Đôphanh (Dauphin), thư kí, Xuliê (Souliers), bác sĩ, Phơlơri (Fleury), thợ làm bánh mì, Đôm (Dhomps), quản gia, và một viên chủ Sở Công chánh ra Huế để lo việc xây cất Tòa Khâm sứ. Lúc bấy giờ ở Huế chỉ có mấy giáo sĩ và 7 người Pháp kể trên là được phép lưu trú mà thôi. Ngoài ra, trong Sứ quán còn có một viên thông ngôn, những người đầu bếp và một số ít lính đều là người Việt.

Công việc trước tiên của Râyna khi đến Huế là chọn đất để làm Tòa Khâm. Trong thương ước, có khoản nói rằng: Chánh phủ Việt Nam nhường không cho Chánh phủ Pháp đất đai cần thiết để làm nhà cho các viên công sứ hay nhân viên tùy tùng ở. Tuy thế, Triều đình Huế chỉ bằng lòng để cho Râyna sử dụng những mảnh đất thật xa thành phố, lại ẩm thấp, cứ đến mùa mưa thì ngập nước. Những nơi mà Râyna vừa ý thì các quan ta lại không thuận, lấy cớ đất ấy là của riêng nhà vua hoặc của các ông hoàng bà chúa, hay sắp dùng để xây cất đền này đài nọ v.v…

Râyna thấy ta làm khó dễ, nên đã quyết định bảo với viên chủ Sở Công chánh Sămbe (Sambert), cùng với những người giúp việc đến nhà thờ Lịch Đại (gần ga Huế), đóng nọc định làm bừa Tòa Khâm sứ ở đó. Sợ Râyna liều lĩnh xâm phạm nơi thờ phụng, nên Triều đình Huế bằng lòng cho mảnh đất nơi công quán, mà Râyna hiện đang tạm trú. Mảnh đất này nằm tại hữu ngạn sông Hương, gần cầu Trường Tiền. Dần dần lâu đài, dinh thự lập lên chung quanh vùng này và tạo thành một khu vực mang tên là khu vực của người Âu (tuy gọi thế chứ phần nhiều là của người Pháp).

Tòa Khâm sứ chiếm một khoảng đất vào lối 200 thước vuông. Nhân công (chừng 30 người Trung Hoa) và vật liệu đều đưa từ Sài Gòn ra, chỉ trừ vôi và cát mua ở Huế. Làm tầng dưới xong, lúc xây tầng trên, Râyna bị các quan ta phản đối vì lẽ Toà Khâm dám vô lễ xây cao hơn cung điện của vua. Và khi lợp mái nhà bằng những lá kẽm thì lại gây ra dư luận cho rằng người Pháp sợ ta bắn đại bác vỡ mái nhà nên không dám lợp ngói. [Sở dĩ có dư luận xem ra có vẻ buồn cười ấy, tất nhiên không phải vì dân kinh đô cổ lỗ, mặc dù trước vật liệu xây dựng khá mới lạ đối với miền nhiệt đới là tôn kẽm, mà vì tôn kẽm rất nóng bức đối với người ở, nhưng Pháp vẫn cố chịu đựng (?) – TXA. ct].

Nhưng về sau mọi trở ngại đã được dàn xếp và Tòa khâm vẫn làm theo họa đồ đã vẽ từ trước.

Râyna là một tay thực dân hạng nặng, vì thế nên mối bất hòa giữa ông với Triều đình Huế mỗi ngày một trở nên trầm trọng. Nhà cầm quyền Pháp thấy rằng nếu để ông thì bất lợi cho đường ngoại giao trong buổi ban sơ nên đã ra lệnh triệu hồi, khiến ông không kịp dự vào lễ khánh thành Tòa Khâm sứ.

@

Người thay Râyna là Philát (Philastre). Ông đến Huế vào ngày 14.12.1876. Qua đến tháng 7 năm 1878, Tòa Khâm hoàn thành và phí tổn đến một triệu quan Pháp.

Trái với Râyna, Philát tỏ ra biết điều hơn, chẳng bao lâu lại bị thay. Người thay thế ông không ai khác hơn là Râyna, có thể áp đảo Triều đình Huế được.

Tình thân thiện Việt – Pháp đã mất đi từ ngày Philát từ giã cố đô Huế. Vua Tự Đức cũng như Râyna không có thái độ nhân nhượng lẫn nhau, tình thế bỗng nhiên trở nên căng thẳng. Có những vấn đề gì quan trọng, Râyna phải khó khăn lắm mới vào yết kiến vua Tự Đức được. Một việc rắc rối đã xảy ra khiến viên khâm sứ Pháp không bao giờ quên: Râyna cùng với bác sĩ Xuliê đi thuyền lên Kim Long, lúc trở về thì bị quân lính ta chặn lại, buộc phải lên bộ đi băng qua mấy cánh đồng để trở về Tòa Khâm sứ, vì vua Việt Nam đang câu cá trên sông, thuyền của người Pháp không thể đi ngang qua đó.

Thế rồi vua Tự Đức gởi hai phái đoàn sang Bắc Kinh và Vọng Các [Bangkok – ct.] để nối lại tình giao hảo với hai nước đã bị Pháp cắt đứt.

Đến cuối tháng năm 1880, Tôn Thất Thuyết chuẩn bị cuộc chống Pháp và qua tháng bảy năm ấy, vua ta ban hành một đạo dụ nói rằng: Những kẻ buôn lậu tiền đồng, ngay cả người Âu cũng vậy, đều bị phạt trượng.

Đạo dụ này khiến người Pháp hết sức bất bình. Vì theo hiệp ước đã kí giữa hai nước thì mỗi khi người Pháp phạm tội, chỉ có tòa án Pháp là có quyền xử họ mà thôi, còn các quan ta không có quyền căng nọc ra, dùng trượng mà đánh như trong dụ đã ban hành.

Chưa đủ phương tiện để gây hấn với Triều đình Huế, chính quyền Pháp lại một lần nữa thay đổi khâm sứ. Palát đơ Sămpô (Palasme de Champeaux) thay thế Râyna vào tháng 10 năm 1880.

Sămpô là cựu sĩ quan hải quân, đã từng giúp việc tại Soái phủ ở Sài Gòn, biết tiếng Việt và thông hiểu tánh tình, phong tục của dân ta. Ban đầu mối bang giao có thể tương đối gọi là tử tế, nhưng chẳng bao lâu mối bất hòa lại xảy ra. Ngày 15.8.1881, Sămpô ra Bắc, nhưng đến năm 1883, sau khi Thuận An thất thủ, ông cùng toàn quyền Hátmăng (Harmand) về Huế nghị hòa và kí kết hiệp ước.

Trong thời gian Sămpô ra Bắc, lại vẫn Râyna đến thay thế. Mối bất hòa sẵn có nay trở nên sâu đậm hơn. Một người giúp việc ở Tòa Khâm sứ bị quan ta bắt giam. Râyna biết rằng không thể dùng phương pháp thương lượng để tiến đến việc đô hộ nước ta được, nên đã viết thư cho Tômxông (Thomson), thống đốc Nam kì, trong đó có câu: “Với những cuộc thương thuyết, ta không thâu hoạch được một chút nhượng bộ nhỏ mọn nào; chỉ dùng sức mạnh mới chiếm được một cái gì mà thôi” [TXA in đậm (:iđ.)]. Trong một đoạn khác, ông lại viết: “Nhiệm vụ của viên khâm sứ ở Huế còn trở nên vô dụng trong một thời gian lâu hơn nữa, vì họ chỉ nhượng bộ sức mạnh. Về phần tôi, tôi sẽ gặp vô cùng khó khăn hơn bất cứ một ai để được hưởng đôi chút nhượng bộ. Trong thời kì đầu tiên ở Huế, tôi đã có nhiều việc rắc rối với Triều đình và từ đó viên thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường, lúc này đối với nhà vua là người rất có thế lực, hết sức căm thù tôi, sau những vụ bất hòa giữa ông và tôi” [TXA. iđ.].

Lúc này lại xảy ra mấy việc trọng đại: Quân Pháp chiếm Nam Định và Hòn Gay, khiến dư luận trong nước rất sôi nổi. Lòng căm thù người Pháp sôi lên sùng sục. Tômxông khuyên Râyna phải thận trọng trong khi chờ người thay thế, có thể tạm lánh xuống mấy chiếc tàu đậu gần Huế, nhưng không nên cắt đứt dây liên lạc ngoại giao với Chánh phủ Việt Nam.

Mặc dầu Tômxông đã căn dặn, Râyna trước thời cuộc biến chuyển, trước những cuộc chuẩn bị chiến tranh của ta, đã quả quyết rời Huế về Sài Gòn. Ông ta đến nơi vào ngày 06.5.1883 trên chiếc Paxơvan (Patceval) cùng với hồ sơ và tất cả nhân viên Tòa Khâm sứ. Viên thống đốc Nam kì ngạc nhiên hết sức.

Râyna ra đi không phải với một niềm lưu luyến, với tiệc rượu tiễn đưa, tiếng sâm banh nổ vang như pháo mà với một thái độ hung hăng dọa nạt. Ông ta khóa cửa Tòa Khâm lại, giao chìa khóa cho các quan Thương bạc. Nhưng các quan ta không nhận. Râyna hách dịch ném chìa khóa xuống đất mà nói: “Từ đây nếu có một sự cướp phá nhỏ mọn nào xảy ra thì Chính phủ Nam triều phải chịu trách nhiệm”.

Thấy Râyna hậm hực ra đi, Triều đình Huế không khỏi lo ngại. Vì ngày nào còn viên khâm sứ ở đó, chắc người Pháp chưa dám đánh với chúng ta. Vì nếu xảy ra chiến cuộc thì viên khâm sứ có thể lâm nguy trong khi chưa có quân lính để hộ vệ. Nay Râyna vào Sài Gòn biết đâu không kéo quân ra để gây sự?

Chìa khóa mà Râyna bỏ lại, các quan Thương bạc cho cầm đến nhờ giáo sĩ Cátpa (Caspar) giữ hộ, nhưng ông này từ chối.

Sau nhiều lần thương thuyết, Cátpa chấp thuận biện pháp này: Chìa khóa bỏ vào trong một cái tráp để tại Tòa Khâm sứ. Cửa ngoài khóa lại, niêm phong tử tế, có một hội đồng cứ 10 ngày đến khám con niêm một lần. Giáo sĩ Cátpa phái linh mục Rơnôn (Renauld) sung vào hội đồng này.

@

Trong lúc Tòa khâm vắng bóng viên khâm sứ, những việc quan yếu khác lại xảy ra. 

Tại Bắc kì, quân ta hợp tác với quân Trung Hoa đã chuyển từ thế hòa ra thế công [TXA. iđ.]. Tổng đốc Bắc Ninh Trương Quang Đản, phó kinh lược sứ Bùi Ân Niên đem binh đóng ở huyện Gia Lâm, kéo sang đánh thành Hà Nội. Hoàng Tá Viêm sai Lưu Vĩnh Phúc làm tiên phong đem quân đóng ở phủ Hoài Đức, chuẩn bị tấn công quân Pháp.

Sáng ngày 13 tháng 4 năm 1883, đại tá Hănri Rivie (Henri Rivière) đem 500 binh sĩ tiến đánh vùng Ô Cầu Giấy, bị quân ta mai phục chung quanh đổ ra giáp chiến. Đại tá Rivie tử trận, đại úy Bectơ đơ Vile (Berthe de Villers) bị thương. Trận này binh sĩ Pháp vừa bị chết vừa bị thương vào lối 100 người.

Với cuộc thất trận này, Chánh phủ Pháp đã phản ứng bằng cách gửi sang quân tiếp viện. Hạ nghị viện Pháp chấp thuận bỏ ra một ngân khoản 5 triệu rưỡi quan để chi phí vào công cuộc cướp nước. Còn bên ta thì Triều đình Huế đã tổ chức những tiệc vui, đã ban thưởng những người tham chiến.

Việc nước đang trăm phần rắc rối, chiến cuộc Việt – Pháp chưa biết rồi đi đến đâu thì vua Tự Đức mất (16.6 năm Quý mùi, 1883). Vua Dục Đức lên ngôi ba ngày thì bị Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường truất phế. Em vua Tự Đức là Lãng quốc công, húy Hồng Dật, lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Hiệp Hòa.

“… Trong ba người con, thì Tự Đức thương yêu Ưng Đăng hơn cả. Ưng Chân, mặc dù không được thương yêu bằng hai em, nhưng vì là con trưởng, một lí do chính đáng để được thừa hưởng ngai vàng. Vả lại, lúc bấy giờ, giặc Pháp đang gây chiến, trong nước cần phải có một ông vua lớn tuổi, nên Dực Tông Anh hoàng đế buộc lòng phải để di chiếu giao ngôi báu lại cho Ưng Chân, lấy niên hiệu Dục Đức.

Nhưng khi để di chiếu, vua Tự Đức lại nói đến những tánh hư tật xấu của hoàng trưởng tử, mặc dù Trần Tiễn Thành *, phụ chánh đại thần, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, đồng phụ chánh đại thần, đã dâng sớ xin vua bỏ đoạn nói về tánh xấu của tự quân và mấy chữ “chưa chắc đương nổi việc lớn” (… vị tất năng đương đại sự) [TXA. iđ.]. Nhưng vua không nghe, cho rằng nhưng lời trong di chiếu như cả một tiếng chuông cảnh tỉnh, sẽ làm cho Dục Đức lo sợ mà thay đổi tánh tình”.

     (Chúng tôi đã mạn phép trích đúng nguyên văn từ một bài viết khác, kể cả chú thích về Trần Tiễn Thành, của chính GS. Bửu Kế, được in trong cùng một cuốn sách của học giả hoàng tộc này [1], để chèn vào ngay giữa bài mà chúng ta đang đọc, nhằm làm rõ hơn ý tưởng của GS. Bửu Kế.

Và chúng tôi thấy cần nói rõ thêm một điều rất thừa mà Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược (1921) đã khẳng định: Dục Đức thường xuyên đi lại với người Pháp, thân Pháp:

“Bấy giờ ông Rheinart lại sang làm khâm sứ ở Huế […]lại nhớ ông Dục Đức ngày trước, khi vua Dực Tông hãy còn, thường hay đi lại với người Pháp, bởi vậy viên khâm sứ nghĩ đến tình cũ…” [2].      

Do đó, bởi tình thế bắt buộc, hai vị phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và đình thần phải truất phế Dục Đức; truất phế Dục Đức mới có thể đương đầu với Pháp, mới có thể chống Pháp được, mặc dù ai cũng biết rằng việc truất phế sẽ gây ra “tác dụng phụ” là “rối ren” tạm thời. Suy xét thận trọng, kĩ lưỡng hơn, chúng ta thấy, từ lâu, lúc còn là hoàng tử, Dục Đức đã bị Pháp mua chuộc; sự mua chuộc từ trước này cộng với việc diễn ra trước mắt mà ĐNTL.CB. IV ghi chép rõ, là đưa 14 tên “người riêng” (có thêm một giáo sĩ Thiên Chúa giáo) vào cung đình, và “các tờ tâu của các quân thứ các tỉnh tâu lên, có khi để ở trong điện một đêm, vẫn chưa giao ra”, mới là nguyên nhân chính, đẩy Triều đình lâm vào cảnh rối ren). TXA.

Thấy Triều đình Huế lâm cảnh rối ren, người Pháp cho rằng đó là một cơ hội tốt để có thể tấn công dễ dàng hơn. Thiếu tướng Buê (Bouet) đánh Hà Nội, thiếu tướng Cuốcbê (Courbet) thì đánh cửa Thuận An. Đi cùng Cuốcbê có toàn quyền Hatmăng (Harmand) và cựu khâm sứ Trung kì Sămpô, lên Huế nghị hoà.

Qua những ngày thương thuyết, đến hôm 23 tháng 7 bản hoà ước ra đời, gọi là hòa ước Quý mùi (1883). Phía Pháp thì Hatmăng, Sămpô, còn phía ta thì khâm sai toàn quyền Trần Đình Túc và phó khâm sai Nguyễn Trọng Hiệp [:Hợp – TXA. ct.] kí kết vào hoà ước. Ngoài các khoản tước mất các chủ quyền của ta về ngoại giao, kinh tế, chính trị, [Pháp còn – TXA. ct.] xén bớt đất đai (Bình Thuận sáp nhập vào Nam [kì – ct.], từ đèo Ngang trở ra thì đặt công sứ ở các tỉnh để kiểm soát các công việc của các quan lại Việt Nam), Triều đình Huế chỉ còn lại vỏn vẹn mấy tỉnh ở giữa. Lại còn có khoản minh định rằng: Viên khâm sứ Pháp không những có cả quyền tự do ra vào yết kiến vua Việt Nam mà lại còn có cả quyền sung vào Hội đồng Cơ mật để kiểm soát công việc của vua nữa.

Sămpô ở lại Huế để giữ chức khâm sứ.

Tuy hiệp ước đã kí kết, viên khâm sứ Trung kì đã trở lại, nhưng các quan ta vẫn không chịu thừa nhận cảnh bại vong và cố tình gây ra những nỗi khó khăn nên Sămpô trong lúc tổ chức thương mại, thương chính, thuế khóa đã vấp phải nhiều trở lực.

Và các quan trong triều, phe thân thiện với Pháp thì ít còn phe chống lại thì mỗi ngày mỗi gia tăng. Hai viên đại thần thế lực vẫn là Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết. Hai ông này đã từng ra lệnh bắt giam mấy người Pháp phạm tội ở Thuận An, lại ngầm phái Hầu Chuyên và phò mã Đặng Huy Cát tuyển mộ binh sĩ, xây thành đắp lũy ở Tân Sở (Quảng Trị), phòng khi thất trận thì dời kinh đô ra ngoài ấy [TXA. iđ.].

Lúc được chọn lên kế vị vua Dục Đức, Lãng quốc công đã từng tỏ thái độ e dè, sợ sệt, khóc lóc từ chối ngai vàng. Vì vua cũng biết trước tình thế nguy nan, ở vào cái thế trên đe dưới búa, một bên thì người Pháp mỗi lúc một kiếm cách lấn quyền, một bên thì hai vị đại thần Tường, Thuyết giữ hết quyền bính, còn vua không có lấy một chút hậu thuẫn. Nhưng sau khi lên ngôi, vua Hiệp Hoà muốn cầu an để hưởng phú qúy, thừa nhận cuộc bảo hộ của Pháp, lại tìm cách thoát khỏi áp lực của Tường, Thuyết bằng cách dựa vào sức mạnh của Pháp. Vua đã cho yết bản chiêu an do Toà Khâm sứ gửi sang, lại còn viết mật thư, giao cho Hường Kỷ, con Tuy Lý vương đưa qua cho Sămpô để cầu viện [TXA. iđ.]. Bức thư lọt vào tay Nguyễn Văn Tường, Hường Kỷ bị giam chết trong ngục. Cả gia đình Tuy Lý vương phải tội lưu đày.

Tối hôm hạ ngục Hường Kỷ (28.11.1883), vua Hiệp Hòa cũng bị tố cáo là phạm phí công quỹ quốc gia, giam lỏng trong cung, đưa ra phủ Dục Đức, ép uống thuốc độc chết.

“… Hồng Dật, em út của vua Tự Dức, được chọn để tôn lên ngôi nhưng rồi cũng bị phế vì tội thông đồng với người Pháp và tìm cách mưu hại hai vị phụ chánh [TXA. iđ.]…”.

(Mạn phép trích nguyên văn của chính GS. Bửu Kế [3], để chèn vào giữa bài tuỳ bút – khảo luận này, cũng của chính học giả Bửu Kế. TXA.).

Sau khi vua Hiệp Hoà mất, Kiến Phúc lên nối ngôi, lúc ấy mới 15 tuổi.

Sămpô sợ Toà Khâm sứ có thể bất thình lình bị tấn công, nên yêu cầu Lêja (Léjard), viên quan chỉ huy đồn Thuận An, gởi thêm 50 binh sĩ. Như thế Sămpô có cả thảy 150 quân và một chiếc pháo hạm đậu trên sông Hương. Lêja lại gửi thêm cho Sămpô 100 lính trích trong số 550 lính hiện đóng ở Thuận An.

Mặc dầu hiệp ước đã kí kết, các quan ta ở Bắc có người chịu giải giáp nhưng cũng có lắm người không tuân lệnh Triều đình, có người từ quan rồi lại đứng ra mộ lính để chống với giặc Pháp.

Các quan ta thâu thuế của dân dùng để nuôi quân Cờ Đen và luôn luôn xúi giục dân chúng nổi dậy. Vì thế nên nhiều viên quan bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo. Tinh thần kháng chiến của toàn dân bùng nổ, mặc dầu lực lượng yếu ớt. Thỉnh thoảng ta lại kéo lính đến tập kích các đồn binh Pháp. Quân Cờ Đen đến nhục mạ, khiêu khích. Quân Pháp vì chưa nhận thêm quân tiếp viện nên vẫn ở lì trong đồn, không dám ra đánh. Thế rồi ta lọt vào thành phố Hải Dương, thiêu hủy nhà cửa, chợ búa. Quân Pháp tổn thất nặng ở Bắc Ninh.

Những tin tức ấy làm Triều đình Huế phấn khởi nên đã yêu cầu Pháp rút khỏi Thuận An [TXA. iđ.].

Sămpô trả đũa bằng cách không thừa nhận vua Kiến Phúc [TXA. iđ.], cắt đứt mọi liên lạc với Triều đình Việt Nam, cố thủ trong Toà Khâm sứ để chờ viện binh. Tômxông phái một chiếc tàu từ Sài Gòn ra Huế để hộ vệ cho Râyna; Cuốcbê lại cho thêm viên khâm sứ Pháp hai chiếc tàu hạng nhẹ và 200 binh sĩ.

Tuy đã có quân tiếp viện, nhưng Sămpô vẫn nằm trong tình trạng nguy ngập, vì bên ta đang ráo riết chuẩn bị chiến tranh.

Tình hình đang căng thẳng thì ở Bắc kì Pháp nhận được quân tiếp viện, đánh chiếm được tỉnh Sơn Tây sau 3 hôm giao phong (14, 15, 16 tháng 12 năm 1883) và Hoàng Tá Viêm bị thất trận. Các quan ta tạm tỏ thái độ hoà hoãn với Pháp vì biết chưa tiện gây hấn.

Giữa lúc ấy Sămpô xin từ chức. Tricu (Tricou) lúc bấy giờ đang ở Sài Gòn, được cử ra thay thế và đến Huế vào hôm 28-12-1883.

Ban đầu Tricu không được phép vào Nội yết kiến vua Kiến Phúc. Nhưng sau đó hai bên đã dàn xếp và Tricu lại được tiếp kiến trong một buổi thiết triều long trọng.

@

Ở miền Trung vì là nơi đóng đô của Triều đình Huế nên Pháp còn kiêng nể, nhưng ở Bắc, mặc dầu có lực lượng hùng hậu của quân Cờ Đen, Pháp vẫn muốn áp dụng chính sách tàm thực, một khi có đủ binh lực thì hết đánh tỉnh này đến đánh tỉnh khác, cố chiếm trọn cả lãnh thổ Bắc kì.

Biết rõ dã tâm của Pháp, nên ta lo đào hầm đắp luỹ, đặt chướng ngại vật ở sông Hương, mở các con đường lên núi và nhất là chỉnh đốn lại Tân Sở, phòng một khi Pháp tấn công và giữ không nổi kinh đô Huế thì Triều đình sẽ chạy ra nương náu ở đó.

Lúc bấy giờ tuy các tỉnh ở Trung châu Bắc Việt như Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Tuyên Quang đều thuộc vào tay người Pháp, nhưng các tỉnh ở vùng biên giới như Lạng Sơn, Cao Bằng, Lao Kay quân Tàu còn chiếm đóng, không chịu thừa nhận cuộc bảo hộ của Pháp ở Việt Nam.

Mối chỉ rối ấy, Pháp cần gỡ, thì một cơ hội tốt đẹp đã đưa đến. Nguyên Phuốcniê (Fournier), trung tá hải quân Pháp, có quen thân với Lý Hồng Chương, tổng đốc Trực lệ. Năm 1878, Phuốcniê đã từng ở Trung Quốc, lúc ấy Lý có mua mấy pháo hạm của Anh, và Phuốcniê chỉ cho Lý thấy những chỗ hư hỏng của những chiếc pháo hạm, nên Lý có thiện cảm với Phuốcniê và định đề nghị cho viên sĩ quan này trông coi một hạm đội của thủy quân Trung Quốc. Nhân mối tình thân hữu ấy, Phuốcniê gởi thư cho Lý Hồng Chương để dàn xếp xích mích giữa Pháp và Trung Hoa ở Bắc Việt. Lý Hồng Chương là người trước kia đã thúc giục Chính phủ Bắc Kinh xen vào chính tình Việt Nam và định thi hành chương trình chia đôi Bắc Việt với Pháp [TXA. in nghiêng (:ing.) & iđ.]. Nhưng nay nhận thấy binh lực của Pháp mạnh, có thể gây tổn thất trên lục địa Trung Hoa nên nhận lời gặp gỡ Phuốcniê để nghị hòa. Đây là một cuộc thương thuyết tay đôi, không có viên sứ thần Pháp ở Trung Hoa tham dự vì viên này đã bị nhà cầm quyền Trung Hoa tẩy chay từ lâu.

Trung tá Phuốcniê đến Thiên Tân ngày 05.5 năm 1884 như một nhà du lịch. Ông ta đưa ra cho Lý một dạng bản hiệp ước và được viên tổng đốc Trung Hoa vui lòng chấp nhận.

Phuốcniê đánh điện để hỏi ý kiến, Pháp bằng lòng cho Phuốcniê toàn quyền thương thuyết.

Qua đến ngày 11.5.1884, hiệp ước Phuốniê – Lý Hồng Chương được kí kết tại nha môn của Lý, và gồm có 5 khoản. Tựu trung có hai khoản quan trọng hơn cả:

1.                               Rút hết quân đội Trung Hoa ở Bắc Việt về.

2.                               Tôn trọng trong hiện tại cũng như tương lai những hiệp ước kí kết giữa Pháp và Triều đình Huế.

Hòa ước kí kết xong, trung tá Phuốcniê điện cho tướng Milô (Millot) ở Bắc kì biết về việc quân Trung Quốc sẽ phải kéo về nước.

Cho rằng tình thế có thể tạm yên, và thể theo lời yêu cầu của Chánh phủ Việt Nam, Chánh phủ Pháp định sửa lại tờ hòa ước Hátmăng kí kết ngày 23.7 năm Quý mùi (1883).

Trên con đường sang Bắc Kinh, viên tân đại sứ Pháp Patơnốt (Patenôtre) đã nhận được điện tín của Chánh phủ Pháp sai ông đến Huế để đảm nhận công việc ấy.

Tờ hòa ước này kí kết tại Tòa Khâm sứ vào ngày 13 tháng 5 năm Giáp thân (06.6.1884) giữa Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật, Tôn Thất Phan và Patơnốt. Khác hiệp ước trước ở chỗ trả lại Bình Thuận và 3 tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá cho Trung kì. Nhưng khoản 5 lại nói đến việc viên khâm sứ Trung kì ngoài việc được phép yết kiến vua Việt Nam lại còn được phép cùng với các binh sĩ tháp tùng đóng ở Mang Cá trong Thành Nội.

Trong lúc bàn bạc để kí kết hiệp ước, có một vấn đề mà Pháp muốn giải quyết một cách dứt khoát: Đó là cái ấn mà vua nhà Thanh giao cho vua Gia Long trong lễ tuyên phong.

Theo hòa ước Phuốcniê – Lý Hồng Chương [TXA. iđ.], cái ấn ấy không có lí do gì tồn tại nữa, Pháp yêu cầu Triều đình ta gởi ấn ấy về Pháp đề làm vật kỉ niệm.

Bên ta quan phụ chánh Nguyễn Văn Tường nhất định không chịu [TXA. iđ.]. Sau cùng đi đến sự thỏa thuận là cái ấn ấy phải nấu cho chảy ra trước khi hai bên kí kết hiệp ước. Đến giờ đã ấn định, Nguyễn Văn Tường và các quan Thương bạc đem ấn sang Tòa Khâm sứ, đặt lên cái bàn, trước mặt Patơnốt. Giữa phòng người ta đã bảo thợ đem lò bễ đến chực sẵn. Patơnốt lại một lần nữa khẩn khoản xin cái ấn ấy để gởi về Pháp, và các quan ta lại một lần nữa cương quyết từ chối.

Ấn nặng 6 kilô bằng bạc mạ vàng, có khắc mấy chữ “Việt Nam quốc vương chi ấn” lần lần chảy ra đóng lại thành một khối. Chiều hôm ấy thì hai bên kí bản hiệp ước. Râyna đến Huế với Patơnốt đã lưu lại đất kinh kì để nhận lãnh chức khâm sứ.

@

Tại Huế, chiếu theo khoản 5 của hoà ước Patơnôt, viên khâm sứ Râyna đem quân vào đóng ở Mang Cá, nhưng bị Triều đình Huế cản trở không cho vào Thành Nội.

Ngày 10.6 năm Giáp tuất (1884), vua Kiến Phúc lâm bệnh mất, làm vua được hơn 7 tháng.

Từ trước đến nay, cái chết của vua Kiến Phúc đã nêu lên một nghi án, mặc dầu trong sử chép rằng Kiến Phúc chết vì bệnh.

Có thuyết cho rằng vua bị Nguyễn Văn Tường giết, lấy lẽ bịnh tình Kiến Phúc không lấy gì làm nặng, lại chết một cách đột ngột, nên có thể là Nguyễn Văn Tường đã bỏ thuốc độc vào thang thuốc của vua.

Nhưng vì sao Nguyễn Văn Tường lại ám hại vua Kiến Phúc? Sau đây cũng lại là những giả thuyết:

1.                               Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đồng ý giết vua Kiến Phúc, tôn một vị vua nhỏ tuổi hơn để dễ việc nắm trọn quyền bính.

2.                               Hai vị quyền thần cho rằng hiệp ước Patơnốt, các quan ta đã nhân danh vua Kiến Phúc để kí kết với Pháp, nếu vua Kiến Phúc không còn nữa thì hiệp ước sẽ mất hết hiệu lực.

3.                               Ban đêm, Nguyễn Văn Tường tự tiện vào trong cung nên bị vua Kiến Phúc la quở. Vua đã nói với Tường một câu: “Thầy đừng tưởng gươm nhà Nguyễn không sắc”.

Sau khi vua Kiến Phúc thăng hà, hoàng thân, đình thần tôn Ưng Lịch lên ngôi, lấy hiệu là Hàm Nghi [TXA. ing.], lúc ấy mới 12 tuổi.

Tôn vương tức vị là một việc hết sức trọng đại, thế mà viên khâm sứ Trung kì không được tham khảo ý kiến. Râyna lấy làm tức tối nên phản đối kịch liệt và không công nhận vua mới.

Quan phụ chánh Nguyễn Văn Tường [TXA. iđ.] bảo cho viên khâm sứ Pháp biết rằng hiệp ước Việt – Pháp không bao giờ đề cập đến việc lập vua cần phải có sự thoả thuận của Chính phủ Pháp [TXA. ing.]. Nước không thể một ngày không vua, nên phải tôn hoàng tử  Ưng Lịch.

Râyna đề nghị tôn Gia Hưng vương, nhưng hai phụ chánh không thuận [TXA. iđ.], lấy cớ vua Kiến Phúc trước khi mất có di chiếu chỉ định Ưng Lịch. Viên khâm sứ vẫn một mực phản đối việc tấn tôn này, cho rằng vua Kiến Phúc chưa đến tuổi trưởng thành, di chiếu ấy không có giá trị.

Tuy thế, Râyna cũng không biết quyết định thế nào cho phải lẽ nên gửi điện văn xin chỉ thị ở Pháp.

     Theo cách triển khai các ý tưởng, giả thuyết, sự việc ở đoạn văn viết về cái chết của Kiến Phúc và về âm mưu, quyết tâm tôn lập Gia Hưng vương Hồng Hưu của Râyna (Rheinart), GS. học giả Bửu Kế đã mặc nhiên cho chúng ta thấy cái lô gich (logic, logique) của chuỗi sự kiện. Lô gich này đúng với ĐNTL.CB. V [đệ ngũ kỉ] [4], tr. 150 – 151, tr. 176 – 178, (xin xem 2 trích đoạn ở phần phụ lục tư liệu chuẩn cứ). Chúng tôi đã hơn một lần khẳng định rõ bằng ngôn từ minh xác: Hồng Hưu ám sát Kiến Phúc theo ý đồ của thực dân Pháp. Tuy nhiên, rõ ràng ĐNTL.CB. V đã khẳng định Kiến Phúc chết vì bệnh tái phát (bệnh mới sắp khỏi lại tái phát thường là rất nguy kịch, dễ dẫn đến tử vong). Thế thì chúng ta căn cứ vào tư liệu giám định thực nghiệm nào để khăng khăng kết luận?!? Do đó, chúng tôi chỉ có thể nhất trí với 1 trong 2 điều sau:

       1. Kiến Phúc chết vì bệnh tái phát rất nguy kịch, đúng như ĐNTL.CB. V đã ghi chép.

       2. Kiến Phúc bị đầu độc bởi Hồng Hưu, (Hồng Hưu là kẻ đáng ngờ nhất, theo lô gich của chuỗi sự kiện trong ĐNTL.CB V [đệ ngũ kỉ], và theo lô gích nói trên của GS. Bửu Kế), do một loại chất độc mà các quan ngự y của Thái y viện không thể giám định y khoa được. Cần lưu ý thêm: đầu độc nhà vua là một việc không đơn giản (thăm bệnh, bắt mạch, bốc thuốc, sắc thuốc, nâng chén cho vua uống thuốc, ngay cả việc cơm ăn, nước uống, nơi ở, giường nằm của vua, đều có cơ chế giám sát với người chuyên môn giám sát từng li từng tí).

      Hơn nữa, cái gọi là giả thuyết thì vô cùng, ai đơm đặt gì chả được! Theo phương pháp khoa học, cái gọi là giả thuyết đòi hỏi phải được chứng minh, và phải chứng minh bằng các dữ liệu cụ thể, đã được giám định thực nghiệm (tang chứng, vật chứng, nhân chứng). Viết sử, nghiên cứu sử, hoặc sáng tác tiểu thuyết, tùy bút lịch sử, làm sao dám chép lại, đưa ra những giả thuyết không một chút bằng cớ, thậm chí có giả thuyết ngây ngô như vậy! Nếu đã đưa ra giả thuyết thì phải chứng minh ngay, tiếp theo ngay vào đoạn văn chép lại giả thuyết ấy, bằng không là đã can tội hình sự, cho dù vô tình hay hữu ý: tội gieo nghi án cho người khác. Kẻ thù chẳng mong gì hơn là lợi dụng được tật cả tin, khía cạnh tâm lí trong một xã hội có mâu thuẫn giai cấp mặc dù thống nhất ý chí chống ngoại xâm và thói đời “tiếng lành đồn gần” nhưng “tiếng dữ đồn xa”, để gieo được nghi án về người chúng căm hận! Đó là chưa kể đến thủ đoạn “câu khách” của các cây bút thuộc loại “ngồi lê đôi mách” với các chuyện thâm cung bí sử, thời nào cũng bị thêu dệt. Chúng tôi xin phép được nhấn mạnh: Bất kì thời nào người đời cũng háo hức, thèm khát trong việc thêu dệt, nghe ngóng, hóng hớt, đồn đãi các loại bí sử. Và kẻ thù đã lợi dụng triệt để loại tâm địa thuộc dạng thói đời rất phi chính trị, rất thế sự này.

      Chúng tôi xin được mạn phép học giả Bửu Kế để “đọc và bình chú” tác phẩm tuỳ bút – khảo luận lịch sử này của ông, bởi lẽ, bài viết thiếu những cước chú cụ thể cần thiết để tiện tra cứu, và nhất là để bảo chứng cho các chi tiết lịch sử được ghi lại, hoặc được phân tích, bình luận. Vâng, xin mạn phép gọi là “tuỳ bút – khảo luận lịch sử”, mặc dù GS. là chuyên gia về chữ Hán, dịch giả Pháp văn, với bảng liệt kê sách báo tham khảo thật có sức nặng [5]*.

Chánh phủ Pháp không muốn sinh chuyện lôi thôi, nên đánh điện văn phúc đáp, ra lệnh cho tướng Milô đưa ngay một trung đoàn đến Huế, vào kinh thành tấn phong vua Hàm Nghi.

Đại tá Gheriê (Guerrier), tham mưu trưởng của Milô, nhận lãnh sứ mệnh này, đem theo 600 binh sĩ và 2 pháo đội.

Lúc Gheriê đến nơi thì cửa thành đóng kín, không vào được. Nhưng bên trong không có vẻ chuẩn bị để kháng cự.

Quan phụ chánh Nguyễn Văn Tường [TXA. iđ.] không chịu bảo quân lính mở cửa, thoái thác rằng bản hiệp ước Việt – Pháp cần thương thuyết lại và quân Pháp không có quyền vào đóng trong hoàng thành.

Đại tá Gheriê đáp lại: Hiệp ước Patơnôt bao giờ cũng có hiệu lực, và hẹn trong 12 tiếng đồng hồ nếu bên ta không nhượng bộ thì bắn đại bác vào Đại nội.

Ngày 15.8.1884, vào lúc 03 giờ chiều, sắp hết hạn đã ấn định trong tối hậu thư, Nguyễn Văn Tường và mấy quan Cơ mật thân hành qua Tòa Khâm sứ báo cho Râyna và tướng Gheriê biết là Chánh phủ ta thuận theo các điều khoản trong hiệp ước và xin phép lập vua Hàm Nghi.

Bản xin phép viết bằng chữ Nôm, Râyna không thuận, buộc phải dùng chữ Hán. Trong câu chuyện, viên khâm sứ có ý dọa ngầm rằng: Ông ta có thể đưa hai quan phụ chánh Nam triều ra trước toà án quân sự về những hành động bất thân thiện và trái hiệp ước.

Đại tá Gheriê muốn hòa giải, nên ôn tồn bảo với các quan ta là ngày hôm sau, ông sẽ sang tấn phong vua Hàm Nghi.

Thấy bên ta nhượng bộ, Gheriê chờ cho Nguyễn Văn Tường đi rồi, liền đem quân về Mang Cá, kéo cờ Pháp lên, đóng quân để chận nơi hiểm yếu của quân ta.

Chúng ta không khỏi ngạc nhiên, khi thấy Nhà Cầm quyền Pháp cũng như viên khâm sứ ép buộc vua Việt Nam phải nhận lễ tấn phong của người Pháp, một điều mà trong hiệp ước không bao giờ nói đến. Khoản 5 của hiệp ước ngày 06.6.1884 chỉ nói rằng: “Viên khâm sứ đại diện Chánh phủ Pháp, chủ tọa các liên lạc ngoại giao điều hành công cuộc bảo hộ nhưng không can thiệp vào nội trị tại các tỉnh đã ấn định ở khoản 3 (tức là các tỉnh từ biên giới Nam Việt [lục tỉnh Nam kì – TXA. ct.] đến địa giới tỉnh Ninh Bình). Viên khâm sứ sẽ ở trong kinh thành Huế cùng với các đoàn tuỳ tùng quân sự, có quyền lấy tư cách riêng để yết kiến vua Việt Nam”.

Với đầu óc thực dân, người Pháp chỉ [nghĩ – TXA. ct.] rằng trước kia, thần phục Trung Hoa, vua Việt Nam phải thọ phong [bởi – TXA. ct.] vua Trung Hoa, nay chịu bảo hộ của Pháp, thì phải nhận lễ tuyên phong của Pháp. Có như thế họ mới xen vào nội tình của Việt Nam được.

Ngày 17.8.1884, vào lúc 09 giờ sáng, đại tá Gheriê, khâm sứ Râyna, thuyền trưởng chiếc tàu Tát (Tarn) đem 25 sĩ quan và 160 binh sĩ vào Đại nội để làm lễ tấn phong. Gheriê, Râyna và viên thuyền trưởng đi cửa giữa, không mang theo vũ khí, 60 binh lính và sĩ quan đi cửa hai bên, còn những kẻ khác đứng chực ở ngoài. Vào đến điện Thái Hoà, Gheriê đăït lên cái bàn trước ngai vàng huy chương bắc đẩu bội tinh.

Lễ xong, khi đoàn người ra về, đến Ngọ môn thì cửa giữa đã đóng lại, phải đi cửa hai bên để ra ngoài.

Như trên đã thấy, theo hiệp ước Patơnôt thì viên khâm sứ Trung kì được coi như là quan thượng thơ Ngoại giao của Việt Nam. Do đó, đường lối ngoại giao ở Trung cũng như ở Bắc đều lệ thuộc viên khâm sứ Trung kì. Milô, trông coi Bắc kì, lúc bấy giờ là một viên trung tướng, còn Râyna thì chỉ mới đại úy. Một viên đại úy không thể nào lại giữ một chức vụ có thể điều khiển một viên trung tướng được, vì thế nên Chánh phủ Pháp triệu viên quan võ Râyna về và bổ sung một viên quan văn thay thế.

Một điện văn gửi từ Pháp hôm 30.8.1884 cử Lơme (Lemaire), tổng lãnh sự Thượng Hải, giữ chức khâm sứ Trung kì, và yêu cầu đến nhiệm sở gấp.

Lơme nhận được chỉ thị bảo phải có thái độ ôn hoà với Triều đình Huế nhưng cũng đừng để bị lấn áp.

Lơme đến Huế ngày 10.10.1884 với trọng trách tổ chức nền cai trị ở Bắc Việt và điều hành công cuộc bảo hộ ở Trung Việt. Nhưng chỉ trông nom về phương diện hành chánh mà thôi, còn quân sự thì vẫn thuộc các sĩ quan Pháp.

Không chịu thừa nhận chế độ bảo hộ vừa kí kết, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, bên ngoài giả vờ tử tế, nhưng lại cho đặt súng chung quanh hoàng thành và khu kinh thành [TXA. ing. & iđ.]. Đại tá Pécnô (Pernot) lại báo cáo chuyện đó với tướng Brie đờ Lislơ (Brière de L’Isle). Các võ quan Pháp mới bàn bạc với nhau tổ chức những cuộc tập trận và cả ngày lẫn đêm kéo quân đi chung quanh thành để diễu võ giương oai.

Triều đình Huế phản kháng với viên khâm sứ, cho rằng những cuộc diễu hành và tập trận ấy đã làm náo động nhân tâm ở kinh đô Huế [TXA. ing.].

Sau cùng hai bên thoả thuận: quân đội Pháp dẹp hẳn cái lối khiêu khích hăm doạ ấy, còn bên ta thì cất hết những khẩu súng, nhất là những khẩu đang há họng chĩa sang Toà Khâm sứ.

Tuy đại bác đã triệt hạ, nhưng Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết [TXA. iđ.] vẫn cho vận tải súng ống, lương thực ra Tân Sở [TXA. ing.], gửi mật thư [TXA. iđ.] cho các quan ở Bắc Hà yêu cầu thu thuế, thu thóc về kinh đô để phòng ngự chiến tranh. 

Ta lại gửi mua ở Hương Cảng 6.000 thước xích sắt hạng lớn, với mục đích giăng ngang ở các cửa bể, cửa sông, khiến những lúc có chiến tranh, tàu Pháp không tiến vào kinh kì được. Cuối tháng 3, lúc hàng về, một chiếc tàu cắm cờ Đức bị pháo hạm của Pháp chận bắt, cho rằng những dây xích ấy có mục đích quân sự.

Các quan Thương bạc phản đối kịch liệt, lấy cớ rằng các đội long thuyền và hai tuần dương hạm cỡ nhỏ của Việt Nam rất cần đến những sợi dây xích ấy. Viên khâm sứ bằng lòng kí giấy cho nhập nội.

Lơme là một người có kinh nghiệm về đường ngoại giao. Trong những cuộc tranh chấp giữa ta và người Pháp, Lơme đã xử trí một cách khôn khéo.

Một sĩ quan Pháp bị một người trong hoàng tộc chế nhạo. Y nổi cáu đánh một bạt tai. Viên khâm sứ đã trừng phạt sĩ quan đó để lấy lòng người Việt.

Nhưng đến việc thứ hai thì Lơme vấp phải sự chống đối của bọn Pháp ương ngạnh.

Mấy người thủy thủ của chiếc tàu Lion (Lionne) đậu tại cửa Thuận An bị mất cắp, viên võ quan chỉ huy chiếc tàu ấy là Hennít (Hennique) vào trong làng lùng bắt viên lí trưởng rồi dùng roi để đánh.

Chánh phủ ta phản kháng với viên khâm sứ, Lơme gửi giấy khiển trách Hennít. Viên sĩ quan này không nhận lỗi, đưa việc ấy ra Hà Nội. Tướng Brie ở Hà Nội bênh vực Hennít, thế rồi không bên nào nhượng bộ bên nào. Cuối cùng viên thượng thư hải quân Pháp phải đứng ra can thiệp, nhưng lại can thiệp một cách rất thực dân. Hennít nguyên chức đại úy hải quân được thăng lên hàm trung tá.

Thấy rõ sự chống đối giữa các nhà cai trị và quân sự Pháp ở Việt Nam, Triều đình Huế mới thảo một giác thư nhờ Lơme gởi thẳng cho Chánh phủ Pháp, gồm mấy khoản, đại khái:

1.                               Hiệp ước Patơnốt chưa được phê chuẩn mà 2.000 hay 3.000 lính Pháp đã chiếm đóng Mang Cá. Khoản 5 của hiệp ước này cần phải sửa đổi, nghĩa là đồn binh của viên khâm sứ phải đóng ở ngoài thành [TXA. ing. & iđ.] để khỏi phạm đến uy quyền của vương triều và cũng để khỏi làm cho dân chúng sợ hãi.

2.                               Nhiều viên công sứ ở Bắc kì đã xử tử, xử phạt trượng, phạt xuy (đánh bằng gậy và roi), phạt tiền các quan tỉnh hoặc phủ, huyện [TXA. ing. & iđ.].

3.                               Các tàu Pháp kiểm soát quá chặt chẽ các ghe thuyền của Việt Nam. Tại các tỉnh, việc giữ ghe thuyền quá lâu làm hại cho nền thương mại.

4.                               Vì dùng cường quyền để áp bức [TXA. iđ.], Triều đình Huế phải huỷ ấn phong vương của vua Trung Quốc. Bạc của cái ấn ấy trị giá 240 đồng Mễ Tây Cơ. Lẽ ra phải gởi trả lại cho Bắùc Kinh, chứ không nên đem phân chia cho các sĩ quan tham dự trong buổi lễ hôm ấy.

5.                               Viện Cơ mật đòi các thứ thuế nha phiến, thuế mỏ và các thứ thuế khác. [Về thuế nha phiến, đây là chi tiết lịch sử – cụ thể, hậu quả của thủ đoạn ngược ngạo bóc lột “chiến phí” của thực dân Pháp hồi 1862…; là thứ thuế một đi không trở lại! – TXA. ct.]

Khoản 2 trong bức giác thư đã tố cáo những hành vi tàn nhẫn của các viên công sứ Bắc kì hồi đó. Chính Râyna cũng đã xác nhận là việc có thật. Nhiều quan phủ, huyện bị bắt cóc hay bị giết. Hà Văn Quan, tổng đốc Hải Dương, bị đày ra Côn Đảo vì tội chống Pháp.

Các sĩ quan Pháp rất tức tối khi thấy kẻ đại diện cho nước Pháp tại Huế cũng đồng ý với ta điểm đó.

Trong khi ấy, Nguyễn Văn Tường gởi thông tư cho các quan ngoài Bắc, ngăn cấm không cho giúp đỡ người Pháp trong việc mộ lính và phu khuân vác, vì cho rằng Brie đờ  Lislơ tuyển lính pháo thủ 2 đại đội là trái với hiệp ước [TXA. iđ.].

Những sự chống đối của hai quan phụ chánh, nhất là Tôn Thất Thuyết, đã làm cho Chính phủ Pháp bất bình. Phơrâyxinê (Freycinet), bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp, gởi giấy cho khâm sứ tại Huế yêu cầu tìm cách trừng phạt Tôn Thất Thuyết, không cho ở địa vị ấy nữa và bắt đày đi một nơi khác.

Cũng như Philát, Lơme không được thượng cấp tin cậy, vì tỏ ra ôn hoà với Triều đình Việt, lại không hết lòng bảo vệ chế độ thuộc địa, không tìm cách lấn áp quyền hành của dân bị trị. Vì thế nên ngày 12.4, thượng thư Bộ Binh Pháp bổ nhậm Ruxen đờ Cuốcxy (Roussel de Courcy) sang Việt Nam với những quyền hành hết sức rộng rãi. Các viên khâm sứ ở Huế và ở Bắc đều thuộc dưới quyền điều khiển của viên tướng này.

Trong cuộc tranh chấp giữa quân sự và hành chánh, ta thấy quân sự đã thắng thế. Nam kì bị tách rời và coi như là thuộc địa của Pháp, ta chỉ còn lại Trung và Bắc. Trước kia, Lơme, một viên chức hành chánh đại diện cho Pháp để giao thiệp với Triều đình Huế, quyền hành lớn hơn các khâm sứ và các quan binh ở Bắc. Nay Pháp lại đưa sang một tướng lãnh mà Lơme có bổn phận phải phục tùng. Như thế viên khâm sứ Huế, không còn là vị đại diện của Chánh phủ Pháp nữa, mà chỉ đại diện cho tướng Cuốcxy mà thôi.

Tướng Cuốcxy chủ trương bình định Bắc kì trước, kiếm cách ngăn cản để Triều đình Huế không thể nào thúc giục dân chúng Bắc Việt nổi lên được nữa, rồi uy hiếp Trung Việt sau.

Tướng Cuốcxy đến Bắc kì vào hôm 31.5.1885, liền cho chiếc tàu Pluyviê (Pluvier) vào Huế đón Lơme ra hỏi công việc.

Lơme bất bình về việc Chánh phủ Pháp đặt tướng Cuốcxy làm thống đốc quân vụ kiêm tổng thống toàn quyền, khiến ông mất hết quyền bính, nên sau khi gặp tuớng Cuốcxy ở Hà Nội và trình bày công việc xong, ông liền bàn giao, xin từ chức và không trở lại Huế nữa.

Sămpô được cử giữ chức khâm sứ, đại diện cho Cuốcxy ở Huế.

Tướng Cuốcxy được chính phủ Pháp giao phó quyền hành hết sức rộng rãi. Ngoài việc thống lĩnh tất cả binh quyền ở Trung và Bắc, ông còn nắm cả quyền chính trị của cả 2 xứ.

Chính sách của Pháp bấy giờ là sau khi chiếm Nam kì liền lần ra Bắùc, và bình định Bắc xong sẽ uy hiếp Trung kì. Nơi đây có vua, có Triều đình và một binh lực tương đối hùng hậu hơn các miền khác. Nhưng sau khi sang Đông Dương, được báo cáo rõ về hai viên phụ chánh Tường và Thuyết đang chuẩn bị để tấn công Pháp [TXA. iđ.], tướng Cuốcxy định đánh mạnh một đòn vào Huế để làm tan rã chánh quyền của Việt Nam rồi dần dà dùng võ lực để bình định Bắc kì sau.

Ngày 26.6.1885, từ Hà Nội tướng Cuốcxy gởi điện văn về cho Thượng thư bộ binh Pháp: “Tôi mang trong lòng những nỗi căm hờn đối với các vị phụ chánh. Tôi sẽ hành động thận trọng nhưng cương quyết. Đánh điện về Huế cho biết, nêu Bộ chống lại việc dùng võ lực” [TXA. ing. & iđ.].

Không ngờ Bộ Chiến tranh không chấp thuận việc gây chiến với Triều đình Huế. Tuy vậy, tướng Cuốcxy vẫn quyết hành động theo ý của mình bằng cách tạo ra cơ hội để đưa đến việc dùng bạo lực [TXA. ing.].

Tướng Cuốcxy ban bố lệnh giới nghiêm, đem ra Huế 800 lính Ả Rập do tiểu đoàn trưởng Métdingê (Metzinger) chỉ huy và 154 khinh binh.

Sămpô báo tin cho Triều đình Huế biết để chuẩn bị việc nghinh tiếp. Cuốcxy muốn đến Huế một cách oai vệ để mọi người thấy rõ uy quyền của mình và cũng để hăm doạ hai quan phụ chánh [TXA. iđ.].

Ngày 19-5 năm Ất Dậu (1-7-1885), tướng Cuốcxy đến Thuận An. Bên phía người Pháp có Sămpô và mấy viên văn võ quan, bên ta hai vị đại thần đi đón và có quân lính dàn hầu.

Các cửa thành đều treo cờ và khi tàu cập bến ta bắn 19 phát súng để chào mừng.

Về đến Tòa Khâm, Cuốcxy mật nghị với Sămpô và các tướng lãnh định mưu bắt Tôn Thất Thuyết. Mưu đó rất giản dị, giống kiểu Tôn Quyền mời Quan Vân Trường sang phó hội và chặn bắt. Nhưng cơ mưu ấy bị những người bồi bếp trong Toà Khâm tiết lộ ra ngoài.

Với hành động ngang trái này, tướng Cuốcxy dựa vào ý kiến của Phơrâyxinê, bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp. Phơrâyxinê đã từng gởi điện văn cho viên khâm sứ Huế, khuyến cáo nên trừng phạt Tôn Thất Thuyết, không những bãi chức mà còn đổi đi xa.

Lúc tướng Cuốcxy đến Huế, mang theo binh lực, Triều đình Huế không khỏi lo ngại.

Tôn Thất Thuyết vội đến dinh Nguyễn Văn Tường để bàn bạc.

Tường nói:

“Quan lớn là kim chi ngọc diệp, lẽ tất nhiên là phải hết lòng hết sức tôn phù xã tắc. Còn tôi, mặc dù là kẻ bách tính, nhưng cũng biết vị quốc vong thân. Nhưng quan lớn không nghĩ rằng: Nếu gây việc can qua, biết đâu chúng ta sẽ không thất trận? Gia Định thành trì kiên cố, vẫn không chống nổi đại bác của giặc Tây. Vừa rồi thất thủ Thuận An, nhân tâm xao xuyến, vàng bạc tiêu tan. Nếu đánh nhau, thánh thượng không khỏi kinh tâm, quân lính sợ không hết lòng chiến đấu. Hay là chúng ta thử đem tiền bạc, đất đai mà nhượng cho bọn chúng? Nhưng nếu quan lớn tin chắc rằng quân ta có thể đuổi được giặc, đem lại cảnh thái bình thì tuỳ quan lớn định liệu, tôi không dám bàn đến”.

Nghe Nguyễn Văn Tường đưa ra những luận cứ ấy, tuy đúng với tình trạng hiện thời, nhưng lúc bấy giờ bầu nhiệt huyết của Thuyết đang hăng, lại bị dồn vào thế bí, biết rằng các tướng lãnh cao cấp Pháp hiện đang cố kiếm cách hãm hại mình. Vả lại, [trước – TXA. ct.] chính sách tàm thực tham lam của Pháp, dầu ta có đối xử ôn hoà cũng không sao thành công được. Vì thế Tôn Thất Thuyết đã bất bình đáp lại:

“Ăn cơm vua, phải trả nợ nước, huống chi cầm binh quyền trong tay, nếu để giặc Tây chiếm hãm thành trì thời còn đâu nữa vàng bạc thuế má? Tôi nhất quyết đương đầu với giặc, dẫu sau này ra sao cũng đành. Vì vậy tôi định ra lịnh cho các võ quan và binh sĩ phải chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu”.

Sau cuộc đàm luận, hai quan phụ chánh chia tay, nhưng trong lòng đã bắt đầu thiếu sự đồng tâm nhất trí.

Tướng De Cuốcxy đưa giấy mời các hoàng thân, các quan Cơ mật sang dự tiệc tại Toà Khâm sứ để bàn việc triều yết vua Hàm Nghi cùng đệ trình quốc thơ. Trong số quan khách đến dự, người ta thấy vắng bóng quan đệ nhị phụ chánh.

Vừa nhập tiệc, Cuốcxy liền nâng cốc, cầu chúc hai nước được thịnh vượng, đoạn nói tiếp:

“Nếu qúy quốc muốn được yên ổn thì trong vòng 3 ngày phải nạp chiến phí cho chúng tôi là 20.000 thoi vàng, 200.000 thoi bạc và 200.000 quan tiền. Chúng tôi vui mừng thấy các ngài đến đây đông đủ. Nhưng sao quan phụ chánh Tôn Thất thuyết lại vắng mặt? Hay là quan phụ chánh ở nhà để sửa soạn đánh chúng tôi?”.

Một vị đại thần tìm cách nói đỡ: “Dạ, quan phụ chánh của chúng tôi bị bệnh nên không sang được”.

Cuốcxy lên cao giọng trịch thượng: “Nếu bị bệnh cũng phải võng đến. Thế nào chúng tôi cũng cho người đến nhà để bắt!”.

Các quan nghe nói thảy đều ngao ngán. Còn cuộc bàn bạc việc triều yết vua Hàm Nghi thì không mang đến kết quả nào cả. Cơ mật viện yêu cầu: Lúc vào Đại nội, chỉ có tướng Cuốcxy đi cửa giữa, các quan theo hầu đều đi cửa  hai bên, không mang theo vũ khí. Lúc lên điện Thái Hoà, bước vào ngang hàng cột thứ nhì, phải dừng lại, đưa quốc thư cho một viên đại thần dâng lên vua.

Tướng Cuốcxy bác bỏ những lời đề nghị ấy, buộc vua Việt Nam phải tiếp ông ta, nhận quốc thơ xong rồi mới ngồi trên ngai vàng. Còn việc vào cửa Ngọ Môn thì ông nói một cách hống hách: “Không những các quan theo tôi, mà ngay cả quân lính cũng đi cửa giữa”.

Cuộc bàn bạc chưa xong thì tướng Cuốcxy yêu cầu hoãn lại, đợi lúc nào Tôn Thất Thuyết bình phục sẽ hay.

Về phần Nguyễn Văn Tường thì ông đã phản kháng với tướng Cuốc xy là binh sĩ Pháp ăn mặc lôi thôi, hay phá phách, nên yêu cầu cấm chỉ không cho họ vào Thành Nội nữa [TXA. ing.].

Tiệc tan ra về, Nguyễn Văn Tường liền đi ngay đến Bộ Binh, gặp Tôn Thất Thuyết, đem tự sự thuật lại, và nói: “Đến nước này, chúng ta không sao chịu nổi, thôi đành liều may rủi với trời” [TXA. iđ.].

Tôn Thất thuyết cũng giận run lên, bảo với Tường rằng:

“Binh lính của chúng ta đều đã sẵn sàng, chỉ cần hành động gấp để bọn chúng không kịp trở tay. Ngoài Bắc chúng đã chiếm cứ Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, nay đến cửa Thuận. Nếu ta bó tay ngồi nhìn giặc Tây hoành hành thì còn gì là cơ nghiệp nữa! Tôi sắp đặt thế này: Mặt tiền quan hệ hơn cả thì đã có lính Long Thuyền, Võ Sinh, đều tinh thông võ nghệ. Trong hoàng thành do lính Cẩm Y và Kim Ngô chống giữ. Bọn mới tuyển cho đóng ở phía sau. Cửa Đông Ba có 5 vệ, đóng dọc về thẳng Trường Định. Tại cửa An Hoà có 5 vệ, cửa Hậu, 5 vệ. Cửa Tả có vệ Hổ Oai, chọn lựa những đứa thiện chiến. Cửa Chính Tây đã có đội Hùng Nhuệ giữ. Trong và ngoài thành đều có voi, mỗi con 2 nài, súng đại bác bố trí khắp nơi. Bên kia sông, phía trước lầu sứ, lính Long Thuyền, Phấn Nghĩa chuẩn bị sẵn, hễ nghe hiệu lệnh là xung phong vào các trại để tàn sát lính Pháp”.

Hai quan phụ chánh mật đàm mọi việc ổn thoả, chỉ chờ cơ hội là thực hiện [TXA. iđ.].

@

Cuộc bang giao Việt – Pháp đi lần đến chỗ sụp đổ. Về phía Việt Nam như ta thấy, chuẩn bị chiến cuộc từ lâu. Triều đình cũng như sĩ phu, dân chúng đều muốn đánh đuổi quân Pháp ra khỏi Đất nước, nhưng tự liệu lực lượng, thấy khó địch nổi nên phải ẩn nhẫn để chờ thời. Nay như thuốc nổ bị châm ngòi, tức lòng nên phải nổ; Tôn Thất Thuyết lo sợ, chưa biết quân Pháp đến bắt mình lúc nào; nên suốt cả ngày 21 và 22 tháng 5 năm Ất dậu (03 – 04.7.1883), hai quan phụ chánh chuẩn bị công việc hoàn tất [TXA. iđ.]. Muốn tăng gia sức lực chiến đấu, Tôn Thất Thuyết ra lệnh mở rộâng cửa nhà lao, chặt xiềng, tháo gông, tha tội cho các phạm nhân, cho bọn chúng tiền bạc, cơm rượu và dụ bọn chúng cầm khí giới quyết tâm giết giặc.

Công cuộc sửa soạn nằm trong vòng quân cơ bí mật. Tuy thế, giám mục Cátpa vẫn biết được và tin báo cho tướng Cuốcxy hay. Cuốcxy tự phụ ở binh sĩ, ở súng ống của mình nên xem thường, không buồn lưu ý. Vì thế cuộc khởi nghĩa của ta đã gây cho Pháp ít nhiều thiệt hại.

Thái độ khiêu khích của Cuốcxy đã biểu lộ một cách rõ rệt. Các tặng phẩm của vua và đình thần đem qua biếu, Cuốcxy từ chối trả lại.

@