posted: 13.5.2005
Trước
Cách mạng Tháng tám năm 1945 [(1885 – 1945) – TXA. chua thêm (:ct)], tuy nước
ta là một nước quân chủ, vua là bậc chí tôn, nhưng thật ra uy quyền kém
hẳn viên khâm sứ. Dưới
ông khâm sứ, còn có các ông công sứ, các ông cố vấn bộ Lại, Hộ,
Binh, Hình, Công. Các quan thượng thơ của ta muốn làm việc gì, nhất nhất
đều phải gởi dạng bản đến để họ xem trước. Họ có chấp thuận mới
được thi hành, bằng không thì phải gác lại. Cho đến những quyền hành
nhỏ mọn như bổ dụng một viên thừa phái hạng bét hay chi tiêu một món
tiền cỏn con cũng phải qua tay người Pháp. Cái
uy quyền đó đã tiêu tan theo cuộc đảo chánh Nhật Bản ngày 9.3.1945, còn
Tòa Khâm sứ Pháp thì phần lớn đã bị đổ nát theo bom đạn trong cuộc
chiến tranh chống Pháp, những căn nhà còn lại thì mái trụt tường xiêu,
cỏ cây hoang dại ăn lan từ sân trước đến sân sau, diễn ra cảnh thê lương
sau hơn 80 năm đô hộ [(1862? – 1945?) – TXA. ct.]. Nay Trường Đại học
Sư phạm Huế được xây dựng ở đó. @ Viên
khâm sứ Pháp xuất hiện trên đất cố đô này do điều khoản 20 của hiệp
ước Giáp tuất kí kết ngày 15.3.1874 giữa hải quân thiếu tướng Đuypơrê
(Dupré) và Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường. Trong [cưỡng ước – ct.] đó khoản
15 [đúng ra là khoản 13 – ct.] định rằng: Nước Pháp được đặt quyền
lãnh sự các cửa bể và các thành thị để mở ra cho ngoại quốc vào
buôn bán. Theo
hiệp ước Giáp tuất còn có một thương ước nữa kí ngày 30.8.1874. Các
điều khoản 2, 6, 7 của thương ước này cho viên khâm sứ quyền xuất cảng
gỗ lim, gạo và tơ tằm. Thế là bao nhiêu sản phẩm quý giá của ta, người
Pháp có toàn quyền mua để đem về xứ hay bán đi các nước khác. Sợ
các quan ta, nhất là các quan ở thương cảng có thể gây trở ngại, trong
thương ước này còn nói thêm: Viên khâm sứ có quyền chấp nhận hay
không chấp nhận các viên quan phục vụ tại các hải cảng mở ra để
giao thiệp với Pháp. Như vậy có nghĩa là nhưng kẻ nào chống đối lại
người Pháp có thể bị thải hồi hay đổi đi làm việc ở một nơi khác. Sau
hiệp ước Giáp tuất được kí kết, ngày 15 tháng 01 năm 1875, thượng
thư hải quân Pháp gởi thư cho thống đốc Nam kì Đuyperê [Duperré – ct.],
yêu cầu đề cử một người giữ chức khâm sứ để giao thiệp với Triều
đình Huế. Và Đuyperê đã cử Râyna đề Étxa (Rheinart des Essart), sanh ngày
01.11.1840, xuất thân đại úy hải quân lục chiến, từng làm tham biện tại
Soái phủ ở Sài Gòn và công sứ ở Hà Nội. Râyna
đi trên chiếc thuyền Ăngtilốp (Antilope) và tới Thuận An vào ngày 25
tháng 7. Bên ta phái một viên quan Bộ Lễ về Thuận An nghinh tiếp, sau đó
đưa về công quán. Hai ngày sau, ông Râyna sang thăm các quan Thương bạc (tức
là quan Ngoại giao của ta) và được thượng thư Nguyễn Văn Tường đón
tiếp niềm nở. Cuộc bang giao ban đầu diễn ra tốt đẹp (như Râyna bị
ốm, vua Tự Đức liền cho người đến hỏi thăm sức khoẻ), nhưng về
sau, giữa viên khâm sứ Pháp và Triều đình Việt Lúc
Râyna đến Huế thì Tòa Khâm sứ chưa xây cất nên phải tạm trú tại
công quán mà Triều đình Huế dùng để đón tiếp các nhà ngoại giao các
nước. Công quán này tuy bằng tranh nhưng cũng khá đẹp, trước mặt có cột
cờ, chung quanh có tường, viên khâm sứ ở đây với Priơ (Prieux), quan cai
trị hạng nhất, Đôphanh (Dauphin), thư kí, Xuliê (Souliers), bác sĩ, Phơlơri
(Fleury), thợ làm bánh mì, Đôm (Dhomps), quản gia, và một viên chủ Sở
Công chánh ra Huế để lo việc xây cất Tòa Khâm sứ. Lúc bấy giờ ở Huế
chỉ có mấy giáo sĩ và 7 người Pháp kể trên là được phép lưu trú mà
thôi. Ngoài ra, trong Sứ quán còn có một viên thông ngôn, những người đầu
bếp và một số ít lính đều là người Việt. Công
việc trước tiên của Râyna khi đến Huế là chọn đất để làm Tòa
Khâm. Trong thương ước, có khoản nói rằng: Chánh phủ Việt Nam nhường
không cho Chánh phủ Pháp đất đai cần thiết để làm nhà cho các viên
công sứ hay nhân viên tùy tùng ở. Tuy thế, Triều đình Huế chỉ bằng
lòng để cho Râyna sử dụng những mảnh đất thật xa thành phố, lại ẩm
thấp, cứ đến mùa mưa thì ngập nước. Những nơi mà Râyna vừa ý thì
các quan ta lại không thuận, lấy cớ đất ấy là của riêng nhà vua hoặc
của các ông hoàng bà chúa, hay sắp dùng để xây cất đền này đài nọ
v.v… Râyna
thấy ta làm khó dễ, nên đã quyết định bảo với viên chủ Sở Công
chánh Sămbe (Sambert), cùng với những người giúp việc đến nhà thờ Lịch
Đại (gần ga Huế), đóng nọc định làm bừa Tòa Khâm sứ ở đó. Sợ
Râyna liều lĩnh xâm phạm nơi thờ phụng, nên Triều đình Huế bằng lòng
cho mảnh đất nơi công quán, mà Râyna hiện đang tạm trú. Mảnh đất này
nằm tại hữu ngạn sông Hương, gần cầu Trường Tiền. Dần dần lâu đài,
dinh thự lập lên chung quanh vùng này và tạo thành một khu vực mang tên
là khu vực của người Âu (tuy gọi thế chứ phần nhiều là của người
Pháp). Tòa
Khâm sứ chiếm một khoảng đất vào lối 200 thước vuông. Nhân công (chừng
30 người Trung Hoa) và vật liệu đều đưa từ Sài Gòn ra, chỉ trừ vôi
và cát mua ở Huế. Làm tầng dưới xong, lúc xây tầng trên, Râyna bị các
quan ta phản đối vì lẽ Toà Khâm dám vô lễ xây cao hơn cung điện của
vua. Và khi lợp mái nhà bằng những lá kẽm thì lại gây ra dư luận cho rằng
người Pháp sợ ta bắn đại bác vỡ mái nhà nên không dám lợp ngói. [Sở
dĩ có dư luận xem ra có vẻ buồn cười ấy, tất nhiên không phải vì
dân kinh đô cổ lỗ, mặc dù trước vật liệu xây dựng khá mới lạ đối
với miền nhiệt đới là tôn kẽm, mà vì tôn kẽm rất nóng bức đối với
người ở, nhưng Pháp vẫn cố chịu đựng (?) – TXA. ct]. Nhưng
về sau mọi trở ngại đã được dàn xếp và Tòa khâm vẫn làm theo họa
đồ đã vẽ từ trước. Râyna
là một tay thực dân hạng nặng, vì thế nên mối bất hòa giữa ông với
Triều đình Huế mỗi ngày một trở nên trầm trọng. Nhà cầm quyền Pháp
thấy rằng nếu để ông thì bất lợi cho đường ngoại giao trong buổi
ban sơ nên đã ra lệnh triệu hồi, khiến ông không kịp dự vào lễ khánh
thành Tòa Khâm sứ. @ Người
thay Râyna là Philát (Philastre). Ông đến Huế vào ngày 14.12.1876. Qua đến
tháng 7 năm 1878, Tòa Khâm hoàn thành và phí tổn đến một triệu quan Pháp. Trái
với Râyna, Philát tỏ ra biết điều hơn, chẳng bao lâu lại bị thay. Người
thay thế ông không ai khác hơn là Râyna, có thể áp đảo Triều đình Huế
được. Tình
thân thiện Việt – Pháp đã mất đi từ ngày Philát từ giã cố đô Huế.
Vua Tự Đức cũng như Râyna không có thái độ nhân nhượng lẫn nhau, tình
thế bỗng nhiên trở nên căng thẳng. Có những vấn đề gì quan trọng,
Râyna phải khó khăn lắm mới vào yết kiến vua Tự Đức được. Một việc
rắc rối đã xảy ra khiến viên khâm sứ Pháp không bao giờ quên: Râyna
cùng với bác sĩ Xuliê đi thuyền lên Kim Long, lúc trở về thì bị quân
lính ta chặn lại, buộc phải lên bộ đi băng qua mấy cánh đồng để trở
về Tòa Khâm sứ, vì vua Việt Nam đang câu cá trên sông, thuyền của người
Pháp không thể đi ngang qua đó. Thế
rồi vua Tự Đức gởi hai phái đoàn sang Bắc Kinh và Vọng Các [ Đến
cuối tháng năm 1880, Tôn Thất Thuyết chuẩn bị cuộc chống Pháp và qua
tháng bảy năm ấy, vua ta ban hành một đạo dụ nói rằng: Những kẻ buôn
lậu tiền đồng, ngay cả người Âu cũng vậy, đều bị phạt trượng. Đạo
dụ này khiến người Pháp hết sức bất bình. Vì theo hiệp ước đã kí
giữa hai nước thì mỗi khi người Pháp phạm tội, chỉ có tòa án Pháp
là có quyền xử họ mà thôi, còn các quan ta không có quyền căng nọc ra,
dùng trượng mà đánh như trong dụ đã ban hành. Chưa
đủ phương tiện để gây hấn với Triều đình Huế, chính quyền Pháp lại
một lần nữa thay đổi khâm sứ. Palát đơ Sămpô (Palasme de Champeaux) thay
thế Râyna vào tháng 10 năm 1880. Sămpô
là cựu sĩ quan hải quân, đã từng giúp việc tại Soái phủ ở Sài Gòn,
biết tiếng Việt và thông hiểu tánh tình, phong tục của dân ta. Ban đầu
mối bang giao có thể tương đối gọi là tử tế, nhưng chẳng bao lâu mối
bất hòa lại xảy ra. Ngày 15.8.1881, Sămpô ra Bắc, nhưng đến năm 1883, sau
khi Thuận An thất thủ, ông cùng toàn quyền Hátmăng (Harmand) về Huế nghị
hòa và kí kết hiệp ước. Trong
thời gian Sămpô ra Bắc, lại vẫn Râyna đến thay thế. Mối bất hòa sẵn
có nay trở nên sâu đậm hơn. Một người giúp việc ở Tòa Khâm sứ bị
quan ta bắt giam. Râyna biết rằng không thể dùng phương pháp thương lượng
để tiến đến việc đô hộ nước ta được, nên đã viết thư cho Tômxông
(Thomson), thống đốc Nam kì, trong đó có câu: “Với những cuộc thương thuyết, ta không thâu
hoạch được một chút nhượng bộ nhỏ mọn nào; chỉ dùng sức mạnh mới
chiếm được một cái gì mà thôi” [TXA in đậm (:iđ.)]. Trong một đoạn
khác, ông lại viết: “Nhiệm vụ của viên khâm sứ ở Huế còn trở
nên vô dụng trong
một thời gian lâu hơn nữa, vì họ chỉ nhượng bộ sức mạnh. Về phần
tôi, tôi sẽ gặp vô cùng khó khăn hơn bất cứ một ai để được hưởng
đôi chút nhượng bộ. Trong thời kì đầu tiên ở Huế, tôi đã có nhiều
việc rắc rối với Triều đình và từ đó viên thượng thư Bộ Hộ Nguyễn
Văn Tường, lúc này đối với nhà
vua là người rất có thế lực, hết sức
căm thù tôi, sau những vụ bất hòa giữa ông và tôi” [TXA. iđ.]. Lúc
này lại xảy ra mấy việc trọng đại: Quân Pháp chiếm Mặc
dầu Tômxông đã căn dặn, Râyna trước thời cuộc biến chuyển, trước
những cuộc chuẩn bị chiến tranh của ta, đã quả quyết rời Huế về
Sài Gòn. Ông ta đến nơi vào ngày 06.5.1883 trên chiếc Paxơvan (Patceval) cùng
với hồ sơ và tất cả nhân viên Tòa Khâm sứ. Viên thống đốc Râyna
ra đi không phải với một niềm lưu luyến, với tiệc rượu tiễn đưa,
tiếng sâm banh nổ vang như pháo mà với một thái độ hung hăng dọa nạt.
Ông ta khóa cửa Tòa Khâm lại, giao chìa khóa cho các quan Thương bạc.
Nhưng các quan ta không nhận. Râyna hách dịch ném chìa khóa xuống đất mà
nói: “Từ đây nếu có một sự cướp phá nhỏ mọn nào xảy ra thì
Chính phủ Thấy
Râyna hậm hực ra đi, Triều đình Huế không khỏi lo ngại. Vì ngày nào
còn viên khâm sứ ở đó, chắc người Pháp chưa dám đánh với chúng ta.
Vì nếu xảy ra chiến cuộc thì viên khâm sứ có thể lâm nguy trong khi chưa
có quân lính để hộ vệ. Nay Râyna vào Sài Gòn biết đâu không kéo quân
ra để gây sự? Chìa
khóa mà Râyna bỏ lại, các quan Thương bạc cho cầm đến nhờ giáo sĩ Cátpa
(Caspar) giữ hộ, nhưng ông này từ chối. Sau
nhiều lần thương thuyết, Cátpa chấp thuận biện pháp này: Chìa khóa bỏ
vào trong một cái tráp để tại Tòa Khâm sứ. Cửa ngoài khóa lại, niêm
phong tử tế, có một hội đồng cứ 10 ngày đến khám con niêm một lần.
Giáo sĩ Cátpa phái linh mục Rơnôn (Renauld) sung vào hội đồng này. @ Trong
lúc Tòa khâm vắng bóng viên khâm sứ, những việc quan yếu khác lại xảy
ra. Tại
Bắc kì, quân ta hợp tác với quân Trung Hoa đã chuyển từ thế hòa ra thế
công [TXA. iđ.]. Tổng đốc Bắc Ninh
Trương Quang Đản, phó kinh lược sứ Bùi Ân Niên đem binh đóng ở huyện
Gia Lâm, kéo sang đánh thành Hà Nội. Hoàng Tá Viêm sai Lưu Vĩnh Phúc làm
tiên phong đem quân đóng ở phủ Hoài Đức, chuẩn bị tấn công quân
Pháp. Sáng
ngày 13 tháng 4 năm 1883, đại tá Hănri Rivie (Henri Rivière) đem 500 binh sĩ tiến
đánh vùng Ô Cầu Giấy, bị quân ta mai phục chung quanh đổ ra giáp chiến.
Đại tá Rivie tử trận, đại úy Bectơ đơ Vile (Berthe de Villers) bị
thương. Trận này binh sĩ Pháp vừa bị chết vừa bị thương vào lối 100
người. Với
cuộc thất trận này, Chánh phủ Pháp đã phản ứng bằng cách gửi sang
quân tiếp viện. Hạ nghị viện Pháp chấp thuận bỏ ra một ngân khoản 5
triệu rưỡi quan để chi phí vào công cuộc cướp nước. Còn bên ta thì
Triều đình Huế đã tổ chức những tiệc vui, đã ban thưởng những người
tham chiến. Việc
nước đang trăm phần rắc rối, chiến cuộc Việt – Pháp chưa biết rồi
đi đến đâu thì vua Tự Đức mất (16.6 năm Quý mùi, 1883). Vua Dục Đức
lên ngôi ba ngày thì bị Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường truất phế.
Em vua Tự Đức là Lãng quốc công, húy Hồng Dật, lên nối ngôi, lấy
niên hiệu là Hiệp Hòa. “…
Trong ba người con, thì Tự Đức thương yêu Ưng Đăng hơn cả. Ưng Chân, mặc
dù không được thương yêu bằng hai em, nhưng vì là con trưởng, một lí
do chính đáng để được thừa hưởng ngai vàng. Vả lại, lúc bấy giờ,
giặc Pháp đang gây chiến, trong nước cần phải có một ông vua lớn tuổi,
nên Dực Tông Anh hoàng đế buộc lòng phải để di chiếu giao ngôi báu lại
cho Ưng Chân, lấy niên hiệu Dục Đức. Nhưng
khi để di chiếu, vua Tự Đức lại nói đến những tánh hư tật xấu của
hoàng trưởng tử, mặc dù Trần Tiễn Thành *, phụ chánh đại thần, Nguyễn
Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, đồng phụ chánh đại thần, đã dâng sớ
xin vua bỏ đoạn nói về tánh xấu của tự
quân và mấy chữ “chưa chắc đương nổi việc lớn” (… vị tất năng
đương đại sự) [TXA. iđ.]. Nhưng vua không nghe, cho rằng nhưng lời
trong di chiếu như cả một tiếng chuông cảnh tỉnh, sẽ làm cho Dục Đức
lo sợ mà thay đổi tánh tình”. (Chúng
tôi đã mạn phép trích đúng nguyên văn từ một bài viết khác, kể cả
chú thích về Trần Tiễn Thành, của chính GS. Bửu Kế, được in trong cùng
một cuốn sách của học giả hoàng tộc này [1], để chèn vào ngay giữa
bài mà chúng ta đang đọc, nhằm làm rõ hơn ý tưởng của GS. Bửu Kế. Và
chúng tôi thấy cần nói rõ thêm một điều rất thừa mà Trần Trọng Kim
trong Việt “Bấy
giờ ông Rheinart lại sang làm khâm sứ ở Huế […]lại nhớ ông Dục Đức
ngày trước, khi vua Dực Tông hãy còn, thường hay đi lại với người Pháp,
bởi vậy viên khâm sứ nghĩ đến tình cũ…” [2].
Do
đó, bởi tình thế bắt buộc, hai vị phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn
Thất Thuyết và đình thần phải truất phế Dục Đức; truất phế Dục
Đức mới có thể đương đầu với Pháp, mới có thể chống Pháp được,
mặc dù ai cũng biết rằng việc truất phế sẽ gây ra “tác dụng phụ”
là “rối ren” tạm thời. Suy xét thận trọng, kĩ lưỡng hơn, chúng ta thấy,
từ lâu, lúc còn là hoàng tử, Dục Đức đã bị Pháp mua chuộc; sự mua
chuộc từ trước này cộng với việc diễn ra trước mắt mà ĐNTL.CB. IV
ghi chép rõ, là đưa 14 tên “người riêng” (có thêm một giáo sĩ Thiên
Chúa giáo) vào cung đình, và “các tờ tâu của các quân thứ các tỉnh
tâu lên, có khi để ở trong điện một
đêm, vẫn chưa giao ra”, mới là nguyên nhân chính, đẩy Triều đình
lâm vào cảnh rối ren). TXA. Thấy
Triều đình Huế lâm cảnh rối ren, người Pháp cho rằng đó là một cơ hội
tốt để có thể tấn công dễ dàng hơn. Thiếu tướng Buê (Bouet) đánh
Hà Nội, thiếu tướng Cuốcbê (Courbet) thì đánh cửa Thuận An. Đi cùng Cuốcbê
có toàn quyền Hatmăng (Harmand) và cựu khâm sứ Trung kì Sămpô, lên Huế
nghị hoà. Qua
những ngày thương thuyết, đến hôm 23 tháng 7 bản hoà ước ra đời, gọi
là hòa ước Quý mùi (1883). Phía Pháp thì Hatmăng, Sămpô, còn phía ta thì
khâm sai toàn quyền Trần Đình Túc và phó khâm sai Nguyễn Trọng Hiệp [:Hợp
– TXA. ct.] kí kết vào hoà ước. Ngoài các khoản tước mất các chủ quyền
của ta về ngoại giao, kinh tế, chính trị, [Pháp còn – TXA. ct.] xén bớt
đất đai (Bình Thuận sáp nhập vào Nam [kì – ct.], từ đèo Ngang trở ra
thì đặt công sứ ở các tỉnh để kiểm soát các công việc của các
quan lại Việt Nam), Triều đình Huế chỉ còn lại vỏn vẹn mấy tỉnh ở
giữa. Lại còn có khoản minh định rằng: Viên khâm sứ Pháp không những
có cả quyền tự do ra vào yết kiến vua Việt Sămpô
ở lại Huế để giữ chức khâm sứ. Tuy
hiệp ước đã kí kết, viên khâm sứ Trung kì đã trở lại, nhưng các
quan ta vẫn không chịu thừa nhận cảnh bại vong và cố tình gây ra những
nỗi khó khăn nên Sămpô trong lúc tổ chức thương mại, thương chính, thuế
khóa đã vấp phải nhiều trở lực. Và
các quan trong triều, phe thân thiện với Pháp thì ít còn phe chống lại
thì mỗi ngày mỗi gia tăng. Hai viên đại thần
thế lực vẫn là Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết. Hai ông này đã từng ra lệnh bắt giam mấy người
Pháp phạm tội ở Thuận An, lại ngầm phái Hầu Chuyên và phò mã Đặng
Huy Cát tuyển mộ binh sĩ, xây thành đắp lũy ở Tân Sở (Quảng Trị),
phòng khi thất trận thì dời kinh đô ra ngoài ấy [TXA. iđ.]. Lúc
được chọn lên kế vị vua Dục Đức, Lãng quốc công đã từng tỏ thái
độ e dè, sợ sệt, khóc lóc từ chối ngai vàng. Vì vua cũng biết trước
tình thế nguy nan, ở vào cái thế trên đe dưới búa, một bên thì người
Pháp mỗi lúc một kiếm cách lấn quyền, một bên thì hai vị đại thần
Tường, Thuyết giữ hết quyền bính, còn vua không có lấy một chút hậu
thuẫn. Nhưng sau khi lên ngôi, vua Hiệp Hoà muốn cầu
an để hưởng phú qúy, thừa nhận cuộc bảo hộ của Pháp, lại tìm cách
thoát khỏi áp lực của Tường, Thuyết bằng cách dựa vào sức mạnh của
Pháp. Vua đã cho yết bản chiêu an do Toà Khâm sứ gửi sang, lại còn viết
mật thư, giao cho Hường Kỷ, con Tuy Lý vương đưa qua cho Sămpô để cầu
viện [TXA. iđ.]. Bức thư lọt vào tay Nguyễn Văn Tường, Hường Kỷ
bị giam chết trong ngục. Cả gia đình Tuy Lý vương phải tội lưu đày. Tối
hôm hạ ngục Hường Kỷ (28.11.1883), vua Hiệp Hòa cũng bị tố cáo là phạm
phí công quỹ quốc gia, giam lỏng trong cung, đưa ra phủ Dục Đức, ép uống
thuốc độc chết. “…
Hồng Dật, em út của vua Tự Dức, được chọn để tôn lên ngôi nhưng rồi
cũng bị phế vì tội thông đồng với
người Pháp và tìm cách mưu hại hai vị phụ chánh [TXA. iđ.]…”. (Mạn
phép trích nguyên văn của chính GS. Bửu Kế [3], để chèn vào giữa bài tuỳ
bút – khảo luận này, cũng của chính học giả Bửu Kế. TXA.). Sau
khi vua Hiệp Hoà mất, Kiến Phúc lên nối ngôi, lúc ấy mới 15 tuổi. Sămpô
sợ Toà Khâm sứ có thể bất thình lình bị tấn công, nên yêu cầu Lêja
(Léjard), viên quan chỉ huy đồn Thuận An, gởi thêm 50 binh sĩ. Như thế
Sămpô có cả thảy 150 quân và một chiếc pháo hạm đậu trên sông Hương.
Lêja lại gửi thêm cho Sămpô 100 lính trích trong số 550 lính hiện đóng
ở Thuận An. Mặc
dầu hiệp ước đã kí kết, các quan ta ở Bắc có người chịu giải giáp
nhưng cũng có lắm người không tuân lệnh Triều đình, có người từ quan
rồi lại đứng ra mộ lính để chống với giặc Pháp. Các
quan ta thâu thuế của dân dùng để nuôi quân Cờ Đen và luôn luôn xúi giục
dân chúng nổi dậy. Vì thế nên nhiều viên quan bị Pháp bắt đày ra Côn
Đảo. Tinh thần kháng chiến của toàn dân bùng nổ, mặc dầu lực lượng
yếu ớt. Thỉnh thoảng ta lại kéo lính đến tập kích các đồn binh Pháp.
Quân Cờ Đen đến nhục mạ, khiêu khích. Quân Pháp vì chưa nhận thêm
quân tiếp viện nên vẫn ở lì trong đồn, không dám ra đánh. Thế rồi ta
lọt vào thành phố Hải Dương, thiêu hủy nhà cửa, chợ búa. Quân Pháp tổn
thất nặng ở Bắc Ninh. Những
tin tức ấy làm Triều đình Huế phấn khởi nên đã yêu cầu Pháp rút khỏi
Thuận An [TXA. iđ.]. Sămpô
trả đũa bằng cách không thừa nhận vua Kiến Phúc [TXA.
iđ.], cắt đứt mọi liên lạc với Triều đình Việt Tuy
đã có quân tiếp viện, nhưng Sămpô vẫn nằm trong tình trạng nguy ngập,
vì bên ta đang ráo riết chuẩn bị chiến tranh. Tình
hình đang căng thẳng thì ở Bắc kì Pháp nhận được quân tiếp viện, đánh
chiếm được tỉnh Sơn Tây sau 3 hôm giao phong (14, 15, 16 tháng 12 năm 1883) và
Hoàng Tá Viêm bị thất trận. Các quan ta tạm tỏ thái độ hoà hoãn với
Pháp vì biết chưa tiện gây hấn. Giữa
lúc ấy Sămpô xin từ chức. Tricu (Tricou) lúc bấy giờ đang ở Sài Gòn,
được cử ra thay thế và đến Huế vào hôm 28-12-1883. Ban
đầu Tricu không được phép vào Nội yết kiến vua Kiến Phúc. Nhưng sau đó
hai bên đã dàn xếp và Tricu lại được tiếp kiến trong một buổi thiết
triều long trọng. @ Ở
miền Trung vì là nơi đóng đô của Triều đình Huế nên Pháp còn kiêng nể,
nhưng ở Bắc, mặc dầu có lực lượng hùng hậu của quân Cờ Đen, Pháp
vẫn muốn áp dụng chính sách tàm thực, một khi có đủ binh lực thì hết
đánh tỉnh này đến đánh tỉnh khác, cố chiếm trọn cả lãnh thổ Bắc
kì. Biết
rõ dã tâm của Pháp, nên ta lo đào hầm đắp luỹ, đặt chướng ngại vật
ở sông Hương, mở các con đường lên núi và nhất là chỉnh đốn lại Tân
Sở, phòng một khi Pháp tấn công và giữ không nổi kinh đô Huế thì Triều
đình sẽ chạy ra nương náu ở đó. Lúc
bấy giờ tuy các tỉnh ở Trung châu Bắc Việt như Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng
Hóa, Tuyên Quang đều thuộc vào tay người Pháp, nhưng các tỉnh ở vùng
biên giới như Lạng Sơn, Cao Bằng, Lao Kay quân Tàu còn chiếm đóng, không
chịu thừa nhận cuộc bảo hộ của Pháp ở Việt Nam. Mối
chỉ rối ấy, Pháp cần gỡ, thì một cơ hội tốt đẹp đã đưa đến.
Nguyên Phuốcniê (Fournier), trung tá hải quân Pháp, có quen thân với Lý Hồng
Chương, tổng đốc Trực lệ. Năm 1878, Phuốcniê đã từng ở Trung Quốc,
lúc ấy Lý có mua mấy pháo hạm của Anh, và Phuốcniê chỉ cho Lý thấy những
chỗ hư hỏng của những chiếc pháo hạm, nên Lý có thiện cảm với Phuốcniê
và định đề nghị cho viên sĩ quan này trông coi một hạm đội của thủy
quân Trung Quốc. Nhân mối tình thân hữu ấy, Phuốcniê gởi thư cho Lý Hồng
Chương để dàn xếp xích mích giữa Pháp và Trung Hoa ở Bắc Việt. Lý Hồng
Chương là người trước kia đã thúc
giục Chính phủ Bắc Kinh xen vào chính tình Việt Trung
tá Phuốcniê đến Thiên Tân ngày 05.5 năm 1884 như một nhà du lịch. Ông ta
đưa ra cho Lý một dạng bản hiệp ước và được viên tổng đốc Trung
Hoa vui lòng chấp nhận. Phuốcniê
đánh điện để hỏi ý kiến, Pháp bằng lòng cho Phuốcniê toàn quyền thương
thuyết. Qua
đến ngày 11.5.1884, hiệp ước Phuốniê – Lý Hồng Chương được kí kết
tại nha môn của Lý, và gồm có 5 khoản. Tựu trung có hai khoản quan trọng
hơn cả: 1.
Rút
hết quân đội Trung Hoa ở Bắc Việt về. 2.
Tôn
trọng trong hiện tại cũng như tương lai những hiệp ước kí kết giữa
Pháp và Triều đình Huế. Hòa
ước kí kết xong, trung tá Phuốcniê điện cho tướng Milô (Millot) ở Bắc
kì biết về việc quân Trung Quốc sẽ phải kéo về nước. Cho
rằng tình thế có thể tạm yên, và thể theo lời yêu cầu của Chánh phủ
Việt Trên
con đường sang Bắc Kinh, viên tân đại sứ Pháp Patơnốt (Patenôtre) đã
nhận được điện tín của Chánh phủ Pháp sai ông đến Huế để đảm
nhận công việc ấy. Tờ
hòa ước này kí kết tại Tòa Khâm sứ vào ngày 13 tháng 5 năm Giáp thân
(06.6.1884) giữa Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật, Tôn Thất Phan và Patơnốt.
Khác hiệp ước trước ở chỗ trả lại Bình Thuận và 3 tỉnh Hà Tĩnh,
Nghệ An, Thanh Hoá cho Trung kì. Nhưng khoản 5 lại nói đến việc viên khâm
sứ Trung kì ngoài việc được phép yết kiến vua Việt Trong
lúc bàn bạc để kí kết hiệp ước, có một vấn đề mà Pháp muốn giải
quyết một cách dứt khoát: Đó là cái ấn mà vua nhà Thanh giao cho vua Gia
Long trong lễ tuyên phong. Theo
hòa ước Phuốcniê – Lý Hồng Chương [TXA. iđ.], cái ấn ấy
không có lí do gì tồn tại nữa, Pháp yêu cầu Triều đình ta gởi ấn ấy
về Pháp đề làm vật kỉ niệm. Bên
ta quan phụ chánh Nguyễn Văn Tường nhất định không chịu [TXA. iđ.]. Sau
cùng đi đến sự thỏa thuận là cái ấn ấy phải
nấu cho chảy ra trước khi hai bên kí kết hiệp ước. Đến giờ đã ấn
định, Nguyễn Văn Tường và các quan Thương bạc đem ấn sang Tòa Khâm sứ,
đặt lên cái bàn, trước mặt Patơnốt. Giữa phòng người ta đã bảo thợ
đem lò bễ đến chực sẵn. Patơnốt lại một lần nữa khẩn khoản xin cái
ấn ấy để gởi về Pháp, và các quan ta lại một lần nữa cương quyết
từ chối. Ấn
nặng 6 kilô bằng bạc mạ vàng, có khắc mấy chữ “Việt @ Tại
Huế, chiếu theo khoản 5 của hoà ước Patơnôt, viên khâm sứ Râyna đem quân
vào đóng ở Mang Cá, nhưng bị Triều đình Huế cản trở không cho vào
Thành Nội. Ngày
10.6 năm Giáp tuất (1884), vua Kiến Phúc lâm bệnh mất, làm vua được hơn
7 tháng. Từ
trước đến nay, cái chết của vua Kiến Phúc đã nêu lên một nghi án, mặc dầu trong sử
chép rằng Kiến Phúc chết vì bệnh. Có
thuyết cho rằng vua bị Nguyễn Văn Tường giết, lấy lẽ bịnh tình Kiến
Phúc không lấy gì làm nặng, lại chết một cách đột ngột, nên có thể
là Nguyễn Văn Tường đã bỏ thuốc độc vào thang thuốc của vua. Nhưng
vì sao Nguyễn Văn Tường lại ám hại vua Kiến Phúc? Sau đây cũng lại là những
giả thuyết: 1.
Tôn
Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đồng ý giết vua Kiến Phúc, tôn một
vị vua nhỏ tuổi hơn để dễ việc nắm trọn quyền bính. 2.
Hai
vị quyền thần cho rằng hiệp ước Patơnốt, các quan ta đã nhân danh vua
Kiến Phúc để kí kết với Pháp, nếu vua Kiến Phúc không còn nữa thì hiệp
ước sẽ mất hết hiệu lực. 3.
Ban
đêm, Nguyễn Văn Tường tự tiện vào trong cung nên bị vua Kiến Phúc la quở.
Vua đã nói với Tường một câu: “Thầy đừng tưởng gươm nhà Nguyễn
không sắc”. Sau
khi vua Kiến Phúc thăng hà, hoàng thân, đình thần tôn Ưng Lịch lên ngôi, lấy hiệu là Hàm Nghi
[TXA. ing.], lúc ấy mới 12 tuổi. Tôn
vương tức vị là một việc hết sức trọng đại, thế mà viên khâm sứ
Trung kì không được tham khảo ý kiến. Râyna lấy làm tức tối nên phản
đối kịch liệt và không công nhận vua mới. Quan
phụ chánh Nguyễn Văn Tường [TXA. iđ.] bảo cho viên khâm sứ Pháp biết rằng
hiệp ước Việt – Pháp không bao giờ
đề cập đến việc lập vua cần phải có sự thoả thuận của Chính phủ
Pháp [TXA. ing.]. Nước không thể một ngày không vua, nên phải tôn
hoàng tử Ưng Lịch. Râyna
đề nghị tôn Gia Hưng vương, nhưng hai phụ chánh không thuận [TXA. iđ.], lấy
cớ vua Kiến Phúc trước khi mất
có di chiếu chỉ định Ưng Lịch. Viên khâm sứ vẫn một mực phản đối
việc tấn tôn này, cho rằng vua Kiến Phúc chưa đến tuổi trưởng thành,
di chiếu ấy không có giá trị. Tuy
thế, Râyna cũng không biết quyết định thế nào cho phải lẽ nên gửi
điện văn xin chỉ thị ở Pháp. Theo cách triển khai các ý tưởng, giả thuyết,
sự việc ở đoạn văn viết về cái chết của Kiến Phúc và về âm mưu,
quyết tâm tôn lập Gia Hưng vương Hồng Hưu của Râyna (Rheinart), GS. học
giả Bửu Kế đã mặc nhiên cho chúng ta thấy cái lô gich (logic, logique) của
chuỗi sự kiện. Lô gich này đúng với ĐNTL.CB. V [đệ ngũ kỉ] [4], tr. 150
– 151, tr. 176 – 178, (xin xem 2 trích đoạn ở phần phụ lục tư liệu chuẩn
cứ). Chúng tôi đã hơn một lần khẳng định rõ bằng ngôn từ minh xác:
Hồng Hưu ám sát Kiến Phúc theo ý đồ của
thực dân Pháp. Tuy nhiên, rõ ràng ĐNTL.CB. V đã khẳng định Kiến Phúc chết
vì bệnh tái phát (bệnh mới sắp khỏi lại tái phát thường là rất
nguy kịch, dễ dẫn đến tử vong). Thế thì chúng ta căn cứ vào tư liệu
giám định thực nghiệm nào để khăng khăng kết luận?!? Do đó, chúng
tôi chỉ có thể nhất trí với 1 trong 2 điều sau: 1. Kiến Phúc chết
vì bệnh tái phát rất nguy kịch, đúng như ĐNTL.CB. V đã ghi chép. 2. Kiến Phúc bị
đầu độc bởi Hồng Hưu, (Hồng Hưu là kẻ đáng ngờ nhất, theo lô gich
của chuỗi sự kiện trong ĐNTL.CB V [đệ ngũ kỉ], và theo lô gích nói
trên của GS. Bửu Kế), do một loại chất
độc mà các quan ngự y của Thái y viện không thể giám định y khoa
được. Cần lưu ý thêm: đầu độc nhà vua là một việc không đơn giản
(thăm bệnh, bắt mạch, bốc thuốc, sắc thuốc, nâng chén cho vua uống thuốc,
ngay cả việc cơm ăn, nước uống, nơi ở, giường nằm của vua, đều có
cơ chế giám sát với người chuyên môn giám sát từng li từng tí). Hơn nữa, cái gọi là
giả thuyết thì vô cùng, ai đơm đặt gì chả được! Theo phương pháp
khoa học, cái gọi là giả thuyết đòi hỏi
phải được chứng minh, và phải chứng minh bằng các dữ liệu cụ thể, đã được giám
định thực nghiệm (tang chứng, vật chứng, nhân chứng). Viết sử,
nghiên cứu sử, hoặc sáng tác tiểu thuyết, tùy bút lịch sử, làm sao
dám chép lại, đưa ra những giả thuyết
không một chút bằng cớ, thậm chí có giả thuyết ngây ngô như vậy! Nếu
đã đưa ra giả thuyết thì phải chứng minh ngay, tiếp theo ngay vào đoạn
văn chép lại giả thuyết ấy, bằng không là đã can tội hình sự,
cho dù vô tình hay hữu ý: tội gieo nghi án cho người khác. Kẻ thù chẳng mong gì hơn là lợi dụng
được tật cả tin, khía cạnh tâm lí trong một xã hội có mâu thuẫn giai
cấp mặc dù thống nhất ý chí chống ngoại xâm và thói đời “tiếng lành
đồn gần” nhưng “tiếng dữ đồn xa”, để gieo được nghi án về người
chúng căm hận! Đó là chưa kể đến thủ đoạn “câu khách” của
các cây bút thuộc loại “ngồi lê đôi mách” với các chuyện thâm cung
bí sử, thời nào cũng bị thêu dệt. Chúng tôi xin phép được nhấn mạnh:
Bất kì thời nào người đời cũng háo hức, thèm khát trong việc thêu dệt,
nghe ngóng, hóng hớt, đồn đãi các loại bí sử. Và kẻ thù đã lợi dụng
triệt để loại tâm địa thuộc dạng thói đời rất phi chính trị, rất
thế sự này. Chúng tôi xin được mạn
phép học giả Bửu Kế để “đọc và bình chú” tác phẩm tuỳ bút –
khảo luận lịch sử này của ông, bởi lẽ, bài viết thiếu những cước
chú cụ thể cần thiết để tiện tra cứu, và nhất là để bảo chứng
cho các chi tiết lịch sử được ghi lại, hoặc được phân tích, bình luận.
Vâng, xin mạn phép gọi là “tuỳ bút – khảo luận lịch sử”, mặc dù
GS. là chuyên gia về chữ Hán, dịch giả Pháp văn, với bảng liệt kê
sách báo tham khảo thật có sức nặng [5]*. Chánh
phủ Pháp không muốn sinh chuyện lôi thôi, nên đánh điện văn phúc đáp,
ra lệnh cho tướng Milô đưa ngay một trung đoàn đến Huế, vào kinh thành
tấn phong vua Hàm Nghi. Đại
tá Gheriê (Guerrier), tham mưu trưởng của Milô, nhận lãnh sứ mệnh này,
đem theo 600 binh sĩ và 2 pháo đội. Lúc
Gheriê đến nơi thì cửa thành đóng kín, không vào được. Nhưng bên trong
không có vẻ chuẩn bị để kháng cự. Quan
phụ chánh Nguyễn Văn Tường [TXA. iđ.] không chịu bảo quân lính mở cửa,
thoái thác rằng bản hiệp ước Việt – Pháp cần thương thuyết lại và
quân Pháp không có quyền vào đóng trong hoàng thành. Đại
tá Gheriê đáp lại: Hiệp ước Patơnôt bao giờ cũng có hiệu lực, và hẹn
trong 12 tiếng đồng hồ nếu bên ta không nhượng bộ thì bắn đại bác
vào Đại nội. Ngày
15.8.1884, vào lúc 03 giờ chiều, sắp hết hạn đã ấn định trong tối hậu
thư, Nguyễn Văn Tường và mấy quan Cơ mật thân hành qua Tòa Khâm sứ báo
cho Râyna và tướng Gheriê biết là Chánh phủ ta thuận theo các điều khoản
trong hiệp ước và xin phép lập vua Hàm Nghi. Bản
xin phép viết bằng chữ Nôm, Râyna không thuận, buộc phải dùng chữ Hán.
Trong câu chuyện, viên khâm sứ có ý dọa ngầm rằng: Ông ta có thể đưa
hai quan phụ chánh Đại
tá Gheriê muốn hòa giải, nên ôn tồn bảo với các quan ta là ngày hôm
sau, ông sẽ sang tấn phong vua Hàm Nghi. Thấy
bên ta nhượng bộ, Gheriê chờ cho Nguyễn Văn Tường đi rồi, liền đem quân
về Mang Cá, kéo cờ Pháp lên, đóng quân để chận nơi hiểm yếu của quân
ta. Chúng
ta không khỏi ngạc nhiên, khi thấy Nhà Cầm quyền Pháp cũng như viên khâm
sứ ép buộc vua Việt Nam phải nhận lễ tấn phong của người Pháp, một
điều mà trong hiệp ước không bao giờ nói đến. Khoản 5 của hiệp ước
ngày 06.6.1884 chỉ nói rằng: “Viên khâm sứ đại diện Chánh phủ Pháp,
chủ tọa các liên lạc ngoại giao điều hành công cuộc bảo hộ nhưng không
can thiệp vào nội trị tại các tỉnh đã ấn định ở khoản 3 (tức là
các tỉnh từ biên giới Nam Việt [lục tỉnh Nam kì – TXA. ct.] đến địa
giới tỉnh Ninh Bình). Viên khâm sứ sẽ ở trong kinh thành Huế cùng với
các đoàn tuỳ tùng quân sự, có quyền lấy tư cách riêng để yết kiến
vua Việt Với
đầu óc thực dân, người Pháp chỉ [nghĩ – TXA. ct.] rằng trước kia, thần
phục Trung Hoa, vua Việt Nam phải thọ phong [bởi – TXA. ct.] vua Trung Hoa,
nay chịu bảo hộ của Pháp, thì phải nhận lễ tuyên phong của Pháp. Có
như thế họ mới xen vào nội tình của Việt Ngày
17.8.1884, vào lúc 09 giờ sáng, đại tá Gheriê, khâm sứ Râyna, thuyền trưởng
chiếc tàu Tát (Tarn) đem 25 sĩ quan và 160 binh sĩ vào Đại nội để làm lễ
tấn phong. Gheriê, Râyna và viên thuyền trưởng đi cửa giữa, không mang
theo vũ khí, 60 binh lính và sĩ quan đi cửa hai bên, còn những kẻ khác đứng
chực ở ngoài. Vào đến điện Thái Hoà, Gheriê đăït lên cái bàn trước
ngai vàng huy chương bắc đẩu bội tinh. Lễ
xong, khi đoàn người ra về, đến Ngọ môn thì cửa giữa đã đóng lại,
phải đi cửa hai bên để ra ngoài. Như
trên đã thấy, theo hiệp ước Patơnôt thì viên khâm sứ Trung kì được
coi như là quan thượng thơ Ngoại giao của Việt Một
điện văn gửi từ Pháp hôm 30.8.1884 cử Lơme (Lemaire), tổng lãnh sự Thượng
Hải, giữ chức khâm sứ Trung kì, và yêu cầu đến nhiệm sở gấp. Không
chịu thừa nhận chế độ bảo hộ vừa kí kết, Nguyễn Văn Tường và
Tôn Thất Thuyết, bên ngoài giả vờ tử tế,
nhưng lại cho đặt súng chung quanh hoàng thành và khu kinh thành [TXA. ing.
& iđ.]. Đại tá Pécnô (Pernot) lại báo
cáo chuyện đó với tướng Brie đờ Lislơ (Brière de L’Isle). Các võ quan
Pháp mới bàn bạc với nhau tổ chức những cuộc tập trận và cả ngày lẫn
đêm kéo quân đi chung quanh thành để diễu võ giương oai. Triều
đình Huế phản kháng với viên khâm sứ, cho rằng những cuộc diễu hành
và tập trận ấy đã làm náo động nhân tâm ở kinh đô Huế [TXA. ing.]. Sau
cùng hai bên thoả thuận: quân đội Pháp dẹp hẳn cái lối khiêu khích hăm
doạ ấy, còn bên ta thì cất hết những khẩu súng, nhất là những khẩu
đang há họng chĩa sang Toà Khâm sứ. Tuy
đại bác đã triệt hạ, nhưng Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết [TXA. iđ.]
vẫn cho vận tải súng ống, lương thực ra Tân Sở [TXA. ing.], gửi mật thư [TXA. iđ.]
cho các quan ở Bắc Hà yêu cầu thu thuế, thu thóc về kinh đô để
phòng ngự chiến tranh. Ta lại
gửi mua ở Hương Cảng 6.000 thước xích sắt hạng lớn, với mục đích
giăng ngang ở các cửa bể, cửa sông, khiến những lúc có chiến tranh,
tàu Pháp không tiến vào kinh kì được. Cuối tháng 3, lúc hàng về, một
chiếc tàu cắm cờ Đức bị pháo hạm của Pháp chận bắt, cho rằng những
dây xích ấy có mục đích quân sự. Các
quan Thương bạc phản đối kịch liệt, lấy cớ rằng các đội long thuyền
và hai tuần dương hạm cỡ nhỏ của Việt Một
sĩ quan Pháp bị một người trong hoàng tộc chế nhạo. Y nổi cáu đánh một
bạt tai. Viên khâm sứ đã trừng phạt sĩ quan đó để lấy lòng người
Việt. Nhưng
đến việc thứ hai thì Mấy
người thủy thủ của chiếc tàu Lion (Lionne) đậu tại cửa Thuận An bị
mất cắp, viên võ quan chỉ huy chiếc tàu ấy là Hennít (Hennique) vào trong
làng lùng bắt viên lí trưởng rồi dùng roi để đánh. Chánh
phủ ta phản kháng với viên khâm sứ, Thấy
rõ sự chống đối giữa các nhà cai trị và quân sự Pháp ở Việt Nam,
Triều đình Huế mới thảo một giác thư nhờ Lơme gởi thẳng cho Chánh phủ
Pháp, gồm mấy khoản, đại khái: 1.
Hiệp
ước Patơnốt chưa được phê chuẩn mà 2.000 hay 3.000 lính Pháp đã chiếm
đóng Mang Cá. Khoản 5
của hiệp ước này cần phải sửa đổi, nghĩa là đồn binh của viên
khâm sứ phải đóng ở ngoài thành [TXA.
ing. & iđ.] để khỏi phạm đến uy quyền của vương triều và cũng để
khỏi làm cho dân chúng sợ hãi. 2.
Nhiều
viên công sứ ở Bắc kì đã xử tử, xử phạt trượng, phạt xuy (đánh bằng
gậy và roi), phạt tiền các quan tỉnh hoặc phủ, huyện [TXA. ing. & iđ.]. 3.
Các
tàu Pháp kiểm soát quá chặt chẽ các ghe thuyền của Việt 4.
Vì
dùng cường quyền để áp bức [TXA. iđ.], Triều đình Huế
phải huỷ ấn phong vương của vua Trung Quốc. Bạc của cái ấn ấy trị
giá 240 đồng Mễ Tây Cơ. Lẽ ra phải gởi trả lại cho Bắùc Kinh, chứ
không nên đem phân chia cho các sĩ quan tham dự trong buổi lễ hôm ấy. 5.
Viện
Cơ mật đòi các thứ thuế nha phiến, thuế mỏ và các thứ thuế khác. [Về
thuế nha phiến, đây là chi tiết lịch sử – cụ thể, hậu quả của thủ
đoạn ngược ngạo bóc lột “chiến phí” của thực dân Pháp hồi 1862…;
là thứ thuế một đi không trở lại! – TXA. ct.] Khoản
2 trong bức giác thư đã tố cáo những hành vi tàn nhẫn của các viên
công sứ Bắc kì hồi đó. Chính Râyna cũng đã xác nhận là việc có thật.
Nhiều quan phủ, huyện bị bắt cóc hay bị giết. Hà Văn Quan, tổng đốc
Hải Dương, bị đày ra Côn Đảo vì tội chống Pháp. Các
sĩ quan Pháp rất tức tối khi thấy kẻ đại diện cho nước Pháp tại Huế
cũng đồng ý với ta điểm đó. Trong
khi ấy, Nguyễn Văn Tường gởi thông tư cho các quan ngoài Bắc, ngăn cấm
không cho giúp đỡ người Pháp trong việc mộ lính và phu khuân vác, vì cho
rằng Brie đờ Lislơ tuyển lính pháo
thủ 2 đại đội là trái với hiệp ước [TXA. iđ.]. Những
sự chống đối của hai quan phụ chánh, nhất là Tôn Thất Thuyết, đã
làm cho Chính phủ Pháp bất bình. Phơrâyxinê (Freycinet), bộ trưởng Bộ
Ngoại giao Pháp, gởi giấy cho khâm sứ tại Huế yêu cầu tìm cách trừng
phạt Tôn Thất Thuyết, không cho ở địa vị ấy nữa và bắt đày đi một
nơi khác. Cũng
như Philát, Lơme không được thượng cấp tin cậy, vì tỏ ra ôn hoà với
Triều đình Việt, lại không hết lòng bảo vệ chế độ thuộc địa, không
tìm cách lấn áp quyền hành của dân bị trị. Vì thế nên ngày 12.4, thượng
thư Bộ Binh Pháp bổ nhậm Ruxen đờ Cuốcxy (Roussel de Courcy) sang Việt Trong
cuộc tranh chấp giữa quân sự và hành chánh, ta thấy quân sự đã thắng
thế. Nam kì bị tách rời và coi như là thuộc địa của Pháp, ta chỉ còn
lại Trung và Bắc. Trước kia, Lơme, một viên chức hành chánh đại diện
cho Pháp để giao thiệp với Triều đình Huế, quyền hành lớn hơn các
khâm sứ và các quan binh ở Bắc. Nay Pháp lại đưa sang một tướng lãnh
mà Lơme có bổn phận phải phục tùng. Như thế viên khâm sứ Huế, không
còn là vị đại diện của Chánh phủ Pháp nữa, mà chỉ đại diện cho
tướng Cuốcxy mà thôi. Tướng
Cuốcxy chủ trương bình định Bắc kì trước, kiếm cách ngăn cản để
Triều đình Huế không thể nào thúc giục dân chúng Bắc Việt nổi lên
được nữa, rồi uy hiếp Trung Việt sau. Tướng
Cuốcxy đến Bắc kì vào hôm 31.5.1885, liền cho chiếc tàu Pluyviê (Pluvier)
vào Huế đón Lơme
bất bình về việc Chánh phủ Pháp đặt tướng Cuốcxy làm thống đốc quân
vụ kiêm tổng thống toàn quyền, khiến ông mất hết quyền bính, nên sau
khi gặp tuớng Cuốcxy ở Hà Nội và trình bày công việc xong, ông liền
bàn giao, xin từ chức và không trở lại Huế nữa. Sămpô
được cử giữ chức khâm sứ, đại diện cho Cuốcxy ở Huế. Tướng
Cuốcxy được chính phủ Pháp giao phó quyền hành hết sức rộng rãi.
Ngoài việc thống lĩnh tất cả binh quyền ở Trung và Bắc, ông còn nắm cả
quyền chính trị của cả 2 xứ. Chính
sách của Pháp bấy giờ là sau khi chiếm Ngày
26.6.1885, từ Hà Nội tướng Cuốcxy gởi điện văn về cho Thượng thư bộ
binh Pháp: “Tôi mang trong lòng những nỗi căm hờn đối với các
vị phụ chánh. Tôi sẽ hành động thận trọng nhưng cương quyết. Đánh điện về Huế
cho biết, nêu Bộ chống lại việc dùng võ lực” [TXA. ing. & iđ.]. Không
ngờ Bộ Chiến tranh không chấp thuận việc gây chiến với Triều đình Huế.
Tuy vậy, tướng Cuốcxy vẫn quyết hành động theo ý của mình bằng cách
tạo ra cơ hội để đưa đến việc dùng bạo lực [TXA. ing.]. Tướng
Cuốcxy ban bố lệnh giới nghiêm, đem ra Huế 800 lính Ả Rập do tiểu đoàn
trưởng Métdingê (Metzinger) chỉ huy và 154 khinh binh. Sămpô
báo tin cho Triều đình Huế biết để chuẩn bị việc nghinh tiếp. Cuốcxy
muốn đến Huế một cách oai vệ để mọi người thấy rõ uy quyền của
mình và cũng để hăm doạ hai quan phụ chánh [TXA. iđ.]. Ngày
19-5 năm Ất Dậu (1-7-1885), tướng Cuốcxy đến Thuận An. Bên phía người
Pháp có Sămpô và mấy viên văn võ quan, bên ta hai vị đại thần đi đón
và có quân lính dàn hầu. Các
cửa thành đều treo cờ và khi tàu cập bến ta bắn 19 phát súng để chào
mừng. Về
đến Tòa Khâm, Cuốcxy mật nghị với Sămpô và các tướng lãnh định
mưu bắt Tôn Thất Thuyết. Mưu đó rất giản dị, giống kiểu Tôn Quyền
mời Quan Vân Trường sang phó hội và chặn bắt. Nhưng cơ mưu ấy bị những
người bồi bếp trong Toà Khâm tiết lộ ra ngoài. Với
hành động ngang trái này, tướng Cuốcxy dựa vào ý kiến của Phơrâyxinê,
bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp. Phơrâyxinê đã từng gởi điện văn cho
viên khâm sứ Huế, khuyến cáo nên trừng phạt Tôn Thất Thuyết, không những
bãi chức mà còn đổi đi xa. Lúc
tướng Cuốcxy đến Huế, mang theo binh lực, Triều đình Huế không khỏi
lo ngại. Tôn
Thất Thuyết vội đến dinh Nguyễn Văn Tường để bàn bạc. Tường
nói: “Quan
lớn là kim chi ngọc diệp, lẽ tất nhiên là phải hết lòng hết sức tôn
phù xã tắc. Còn tôi, mặc dù là kẻ bách tính, nhưng cũng biết vị quốc
vong thân. Nhưng quan lớn không nghĩ rằng: Nếu gây việc can qua, biết
đâu chúng ta sẽ không thất trận? Gia Định thành trì kiên cố, vẫn
không chống nổi đại bác của giặc Tây. Vừa rồi thất thủ Thuận An,
nhân tâm xao xuyến, vàng bạc tiêu tan. Nếu đánh nhau, thánh thượng không
khỏi kinh tâm, quân lính sợ không hết lòng chiến đấu. Hay là chúng ta thử
đem tiền bạc, đất đai mà nhượng cho bọn chúng? Nhưng nếu quan lớn tin
chắc rằng quân ta có thể đuổi được giặc, đem lại cảnh thái bình
thì tuỳ quan lớn định liệu, tôi không dám bàn đến”. Nghe
Nguyễn Văn Tường đưa ra những luận cứ ấy, tuy đúng với tình trạng
hiện thời, nhưng lúc bấy giờ bầu nhiệt huyết của Thuyết đang hăng, lại
bị dồn vào thế bí, biết rằng các tướng lãnh cao cấp Pháp hiện đang
cố kiếm cách hãm hại mình. Vả lại, [trước – TXA. ct.] chính sách tàm
thực tham lam của Pháp, dầu ta có đối xử ôn hoà cũng không sao thành
công được. Vì thế Tôn Thất Thuyết đã bất bình đáp lại: “Ăn
cơm vua, phải trả nợ nước, huống chi cầm binh quyền trong tay, nếu để
giặc Sau
cuộc đàm luận, hai quan phụ chánh chia tay, nhưng trong lòng đã bắt đầu
thiếu sự đồng tâm nhất trí. Tướng
De Cuốcxy đưa giấy mời các hoàng thân, các quan Cơ mật sang dự tiệc tại
Toà Khâm sứ để bàn việc triều yết vua Hàm Nghi cùng đệ trình quốc thơ.
Trong số quan khách đến dự, người ta thấy vắng bóng quan đệ nhị phụ
chánh. Vừa
nhập tiệc, Cuốcxy liền nâng cốc, cầu chúc hai nước được thịnh vượng,
đoạn nói tiếp: “Nếu
qúy quốc muốn được yên ổn thì trong vòng 3 ngày phải nạp chiến phí
cho chúng tôi là 20.000 thoi vàng, 200.000 thoi bạc và 200.000 quan tiền. Chúng
tôi vui mừng thấy các ngài đến đây đông đủ. Nhưng sao quan phụ chánh
Tôn Thất thuyết lại vắng mặt? Hay là quan phụ chánh ở nhà để sửa soạn
đánh chúng tôi?”. Một
vị đại thần tìm cách nói đỡ: “Dạ, quan phụ chánh của chúng tôi bị
bệnh nên không sang được”. Cuốcxy
lên cao giọng trịch thượng: “Nếu bị bệnh cũng phải võng đến. Thế
nào chúng tôi cũng cho người đến nhà để bắt!”. Các
quan nghe nói thảy đều ngao ngán. Còn cuộc bàn bạc việc triều yết vua
Hàm Nghi thì không mang đến kết quả nào cả. Cơ mật viện yêu cầu: Lúc
vào Đại nội, chỉ có tướng Cuốcxy đi cửa giữa, các quan theo hầu đều
đi cửa hai bên, không mang theo vũ khí.
Lúc lên điện Thái Hoà, bước vào ngang hàng cột thứ nhì, phải dừng lại,
đưa quốc thư cho một viên đại thần dâng lên vua. Tướng
Cuốcxy bác bỏ những lời đề nghị ấy, buộc vua Việt Cuộc
bàn bạc chưa xong thì tướng Cuốcxy yêu cầu hoãn lại, đợi lúc nào Tôn
Thất Thuyết bình phục sẽ hay. Về
phần Nguyễn Văn Tường thì ông đã phản kháng với tướng Cuốc xy là
binh sĩ Pháp ăn mặc lôi thôi, hay phá phách, nên yêu cầu cấm chỉ không
cho họ vào Thành Nội nữa [TXA.
ing.]. Tiệc
tan ra về, Nguyễn Văn Tường liền đi ngay đến Bộ Binh, gặp Tôn Thất
Thuyết, đem tự sự thuật lại, và nói: “Đến
nước này, chúng ta không sao chịu nổi, thôi đành liều may rủi với trời”
[TXA. iđ.]. Tôn
Thất thuyết cũng giận run lên, bảo với Tường rằng: “Binh
lính của chúng ta đều đã sẵn sàng, chỉ cần hành động gấp để bọn
chúng không kịp trở tay. Ngoài Bắc chúng đã chiếm cứ Tuyên Quang, Cao Bằng,
Thái Nguyên, nay đến cửa Thuận. Nếu ta bó tay ngồi nhìn giặc Hai
quan phụ chánh mật đàm mọi việc ổn thoả, chỉ chờ cơ hội là thực
hiện [TXA. iđ.]. @ Cuộc
bang giao Việt – Pháp đi lần đến chỗ sụp đổ. Về phía Việt Công
cuộc sửa soạn nằm trong vòng quân cơ bí mật. Tuy thế, giám mục Cátpa vẫn
biết được và tin báo cho tướng Cuốcxy hay. Cuốcxy tự phụ ở binh sĩ,
ở súng ống của mình nên xem thường, không buồn lưu ý. Vì thế cuộc khởi
nghĩa của ta đã gây cho Pháp ít nhiều thiệt hại. Thái
độ khiêu khích của Cuốcxy đã biểu lộ một cách rõ rệt. Các tặng phẩm
của vua và đình thần đem qua biếu, Cuốcxy từ chối trả lại. @ |