posted: 5.5.2005
TRẦN
XUÂN AN
LỜI
THƯA ĐẦU SÁCH
Việc
xuất bản bản dịch “Việt Nam vong quốc sử” của Phan Bội Châu (thực
ra là của Lương Khải Siêu) vào năm 1982 và lại tái bản vào thời điểm
2001, cách đây một năm, trong tình trạng không phê phán triệt để một cách
khoa học vài trang đảo ngược sự thật lịch sử về Nguyễn Văn Tường
ở tác phẩm ấy, là cả một thách đố công luận, biểu lộ một thái độ
phi học thuật đáng kinh ngạc. Đấy là chưa kể đến những soạn phẩm,
bài báo khác, được mệnh danh là nghiên cứu sử học nhưng thực chất là
phi sử học! Do
đó, chúng tôi xem những khía cạnh của vấn đề trong cuốn sách này là hết
sức cần thiết phải đặt ra, và phải đặt ra một cách trực tiếp, chỉ rõ đích danh. Đồng thời,
từ đó, cũng xin mạn phép vượt lên luận đề cụ thể đã nêu để
ít nhiều đề cập đến một vài khía cạnh có tính chất lí luận sử học: 1.
Xác định tư liệu (phân loại, thẩm định tư liệu bằng khoa học – kĩ
thuật thực nghiệm; khảo chứng tư liệu; khai thác, sử dụng tư liệu có
độ xác tín cao…). 2.
Tiêu chí phản ánh và nhận định sử học (quan điểm, lập trường; đạo
lí dân tộc, công lí nhân loại). 3.
Đối chiếu sử học (sử học các nước, các tổ chức có liên quan trong
giai đoạn: Pháp, Tây Ban Nha, Vatican [Rome], Hội Truyền giáo hải ngoại
Paris, Tunisie, Maroc, Angérie, Trung Hoa, Thái Lan, Lào, Anh, Đức, Nga…, được
xuất bản từ đó đến nay); đối chiếu tư liệu gốc đã được giám định
thực nghiệm. 4.
Các thể loại sử học và giá trị thuyết phục về tính khoa học của mỗi thể loại. 5.
Đối thoại và phản biện sử học. 6.
Sự lợi dụng sử học vào mục đích tuyên truyền chính trị nhất thời, và đạo đức, lương tâm nhà chép sử,
nghiên cứu sử, sáng tác hư cấu về đề tài lịch sử… Thật
ra, những khía cạnh ấy, chúng tôi chạm phải trong quá trình nghiên cứu về
Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) và giai đoạn đầu (1858 – 1885) của cuộc
kháng chiến 131 năm (1858 – 1989). Đó là cuộc chiến tranh lâu dài, bền bỉ,
tuy mỗi giai đoạn có sự khác nhau về sắc thái, nhưng bản chất là nhất
quán: chống chủ nghĩa thực dân Phương Tây, trực tiếp là thực dân
Pháp, Tây Ban Nha, Hội Truyền giáo hải ngoại Paris, chống chủ nghĩa bành
trướng Đại Hán, chủ nghĩa phát xít Nhật, và chống chủ nghĩa thực dân
mới, trực diện là đế quốc Mỹ. Vấn
đề Phan Bội Châu với tác phẩm “Việt Nam vong quốc sử” (được viết và đăng báo, xuất bản thành
sách bởi Lương Khải Siêu, một người bảo
hoàng, Đại Hán chủ nghĩa hạng nặng) cũng phải đặt trong bối cảnh
xung đột chính kiến; biểu hiện cụ thể ở trường hợp này là sự
xuyên tạc, bôi nhọ, đảo ngược bản chất nhân vật lịch sử vì mục
đích tuyên truyền cho chủ nghĩa bảo hoàng, Đại Hán, cho một bộ phận
giáo dân Thiên Chúa giáo, và vô hình trung, cho thực dân Pháp, cho những kẻ
bán nước cầu yên hoặc cầu “vinh” như Dục Đức, Hiệp Hoà, Hồng Hưu,
Đồng Khánh, Nguyễn Hữu Độ…, ở giai đoạn lịch sử ấy. Trong Việt
Nam vong quốc sử, việc tác giả không chỉ gián tiếp bênh vực Dục Đức,
thậm chí, lại không một lời phê phán Hiệp Hoà, Hồng Hưu, Đồng Khánh,
Nguyễn Hữu Độ, Trương Vĩnh Ký, Đinh Văn Điền… là cả một sự đảo
ngược sự thật lịch sử hết sức trắng trợn! Ngoài
ra, chúng tôi còn mạn phép đối thoại với GS. Trần Văn Giàu, và bình
chú “tuỳ bút – khảo luận về lịch sử” của GS. Bửu Kế ở một
vài điểm không thể không đối thoại và bình chú được, trong tinh thần
dân chủ, chống thái độ học phiệt, thói tật “định kiến
sai lầm” trong học thuật (điều mà hai GS., một người còn sống và đang tiếp tục nghiên cứu, một
người đã quá cố, hẳn rất vui lòng). Tinh thần đả phá những sai lầm
nguy hại trong sử học, cụ thể là gián tiếp đả phá Phan Bội Châu (thực
ra là Lương Khải Siêu) với một vài
trang Việt Nam vong quốc sử vốn đảo ngược sự thật lịch sử
về Nguyễn Văn Tường, tinh thần đả phá
đó của hai GS. là điều bản thân chúng tôi đã và đang học tập, đối
thoại, bình chú, bởi khoa học là một cuộc chạy đua tiếp sức. Nói
cách khác, trên con đường tiếp cận sự thật lịch sử, vốn có lắm gai
góc, mây mù, chướng ngại cản chân, che mắt, mỗi người, mỗi thế hệ
có trách nhiệm nối bước nhau phát quang, dọn dẹp. Xin được bày tỏ sự
tin tưởng: Nhà nghiên cứu khoa học đích
thực chính là nhà dân chủ, dân chủ thật sự và cụ thể. Trong
cuốn sách này, chúng tôi còn trích dẫn khá nhiều các
trích đoạn từ tư liệu chuẩn cứ là Đại Tất
nhiên chúng tôi vẫn cho rằng sự đối chiếu sử học, nhất là đối chiếu tư liệu gốc (đúng nghĩa của thuật
ngữ này) là phương pháp tốt nhất để rút ra kết luận. Đối chiếu
sử học Pháp, gồm cả sử học Hội Truyền giáo hải ngoại Paris, với sử
học Trung Hoa, và dĩ nhiên, với sử học Việt Nam, viết về giai đoạn
1858 – 1885, nhất là đối chiếu tư liệu gốc của 3 nước và của Thiên
Chúa giáo trong giai đoạn ấy, là phương thức nghiên cứu, nhận định có
hiệu quả chính xác nhất. Và để có kết luận cuối cùng thật sự khoa
học, nghiêm túc, vẫn rất cần tổ chức các hội nghị khoa học lịch sử
với những tham luận (có thể chỉ gửi đến) của các nhà nghiên cứu sử,
Việt, Pháp, Tây Ban Nha, Vatican, Trung Hoa, Nhật Bản …, của các sử gia
các nước khác trên thế giới chuyên nghiên cứu về mảng đề tài này.
Trong thời đoạn bùng nổ thông tin và thuận lợi về phương tiện đi lại
hiện nay, đó không phải là một yêu cầu học thuật không tưởng. Tuy vậy,
như thế vẫn hơi xa vời! Thiết thực nhất là thảo luận trên diễn đàn
báo chí, ở hội nghị khoa học tuy gọn nhẹ, vẫn có chất lượng, như đã
tổ chức thực hiện trước đây. Tiếc rằng, hội nghị về đề tài “Nhóm
chủ chiến Triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường”
chưa đi đến kết luận dứt khoát ở điểm này, điểm nọ, nhất là còn tránh né một
vài trang đảo ngược sự thật lịch sử trong Việt Nam vong quốc sử. Tất
cả các tham luận chỉ gián tiếp đả phá
Phan Bội Châu (thực ra là Lương Khải Siêu) ở khía cạnh đảo ngược sự
thật lịch sử về Nguyễn Văn Tường. Do vậy, nên vấn đề vẫn ngang nhiên
“tồn đọng”! Dẫu
sao, vẫn không thể cứ để những vấn nạn cứ “tồn đọng” trong không
khí trì trệ mãi như thế được. Xin hỏi: Vấn nạn lịch sử ấy, xét tự
sâu xa, là bởi ai, nước nào, tôn giáo nào? Trách nhiệm học thuật này
thuộc về ai? Nhà yêu nước Phan Bội Châu có trách nhiệm gì không? Nhà
yêu nước đâu phải là không sai lầm! Vì mục đích tuyên truyền nên bất
kể thủ đoạn!?! Chẳng lẽ đổ hết trách nhiệm cho Lương Khải Siêu? Hoặc
giả, chỉ nên xem một vài trang đảo ngược sự thật lịch sử trong Việt
Chúng
tôi cũng tự biết: Nhận định một nhân vật lịch sử trong
một giai đoạn lịch sử nhất định, sẽ phiến diện biết bao, nếu không
khảo sát toàn bộ hành trạng của nhân vật ấy và các mối liên quan với
các nhân vật khác trong bối cảnh chung và cụ thể. Lẽ
ra, ít nhất cũng phải khảo luận về các khía cạnh nổi bật khác của
Nguyễn Văn Tường, chứ không chỉ tập trung chú ý vào giai đoạn 1883 –
1885 (và cả những tháng ngày từ lúc bị lưu đày cho đến trước 04 giờ
30, sáng sớm 30.7.1886, phút ông trút hơi thở cuối cùng tại hòn đảo tù
đày Tahiti). Nói cụ thể hơn, lẽ ra phải lưu ý thêm các khía cạnh: 1.
Nguyễn Văn Tường và tình cảm gắn bó với các nhân tộc ít người ở
miền núi Quảng Trị… 2.
Nguyễn Văn Tường với chủ trương đoàn kết lương – giáo trên nền tảng đạo lí Việt Nam (gồm cả
“sách lược thoả hiệp tạm thời” trong vụ xung đột lương –
giáo [khởi nghĩa Văn thân] tại Nghệ – Tĩnh, 1874, đúng như tinh thần
trong sách lược của Lê-nin [V.I. Lénine] về sau, ở Nga, khi chính quyền
xô-viết của Lê-nin kí hiệp ước Brest – Litovsk ngày 13.5.1918 với chính
phủ phát xít Đức: “Thoả hiệp với kẻ thù [phát xít Đức,
1918] mà có lợi cho cách mạng, chúng ta vẫn sẵn sàng thoả hiệp”) *. 3.
Nguyễn Văn Tường với vấn đề bình đẳng trong việc khai hoang, cấp phát,
canh tác và nghĩa vụ đóng thuế ruộng đất. 4.
Nguyễn Văn Tường trong 5 năm tiễu phỉ ở phía Bắc. 5.
Nguyễn Văn Tường với quan điểm chính trị đức trị, nhân trị đi đôi với việc tăng cường quân đội. 6.
Nguyễn Văn Tường với lĩnh vực ngoại giao trước âm mưu tiến hành xâm
lược của Pháp, lực lượng tả đạo trong Thiên Chúa giáo, và sự bành trướng Đại Hán, ở
nửa cuối thế kỉ XIX. 7.
Nguyễn Văn Tường với ý thức canh tân Đất nước. 8.
Nguyễn Văn Tường với vấn đề tài chính. 9.
Nguyễn Văn Tường với văn chính luận và thơ ca. Và
nhiều khía cạnh khác nữa… Đồng
thời, hành trạng Nguyễn Văn Tường hẳn phải được nghiên cứu trong
các mâu thuẫn chủ yếu của bối cảnh Việt 1.
Chủ nghĩa yêu nước, ý thức không có gì quý hơn độc lập, tự do, quyết
tâm bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc mâu thuẫn với chủ nghĩa thực dân
Phương Tây, chủ yếu là thực dân Pháp, mà 2 bộ phận cấu thành của chủ
nghĩa thực dân Pháp là đội quân xâm lược và công cụ nô dịch Thiên
Chúa giáo. Từ mâu thuẫn này, đã nẩy sinh một mâu thuẫn lớn, rất gay gắt:
mâu thuẫn lương – giáo. Chính Trần Trọng Kim, trong Việt 2.
Mâu thuẫn lâu đời giữa chủ nghĩa bành trướng Đại Hán với ý thức
“nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu, núi sông
bờ cõi đã chia, phong tục Bắc – 3.
Mâu thuẫn Đàng Ngoài – Đàng Trong do hậu quả của khoảng 200 năm Trịnh
– Nguyễn phân tranh, biểu hiện ở thực trạng máu xương: ngọn cờ đã
bị lịch sử vượt qua là “hoài Lê” xung đột
với ngọn cờ “phù Nguyễn”. 4.
Mâu thuẫn giữa khuynh hướng canh tân và thủ cựu. 5.
Mâu thuẫn giữa các khuynh hướng chủ hoà, đầu hàng và chủ chiến. Các
mâu thuẫn này đan bện vào nhau, giằng xé lẫn nhau, khi đấu dịu, khi dữ
dội, và chằng chịt, rối rắm nhưng cũng khá rạch ròi, tuỳ lúc, tuỳ việc.
Trong năm mâu thuẫn nửa sau thế kỉ XIX ấy, mâu thuẫn 1 có tính chất
toàn châu Á, toàn thế giới vẫn là cơ bản nhất, do đó gay gắt nhất,
quyết liệt nhất. Tuy
nhiên, ở cuốn sách mỏng này, chúng tôi chỉ dám giới hạn vấn đề như
đã thưa trước ở trên, chỉ chú tâm vào mỗi một nhân vật tiêu biểu
nhất: Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), mặc dù ở Việt Nam vong quốc sử,
Phan Bội Châu (thực ra là do Lương Khải
Siêu viết) đâu chỉ đảo ngược sự thật lịch sử về Nguyễn
Văn Tường mà thôi! Điều
cuối trong lời thưa đầu sách này, chúng tôi xin trình bày
rõ: Lịch sử là chuyện quá khứ. Có lắm người vẫn muốn gác lại tất
thảy các chuyện quá khứ hơn 150 năm qua,
kể cả vấn đề Nguyễn Văn Tường, bởi họ cho rằng: Lúc này,
đang trong thời đoạn mở cửa, đổi mới, xác lập quan hệ quốc tế đa
phương, hữu nghị và hợp tác với cả các thế lực cựu thù, hãy để lãng
quên của thời gian xoa dịu vết thương của cháu chắt giáo dân Thiên
Chúa giáo đã trót lầm lạc thuở đó, và đồng thời xoa dịu nỗi đau khác
về chất của hậu duệ bao người yêu nước, bình Tây sát tả, có liên
quan đến giai đoạn lịch sử ấy… Nhưng có người không muốn tiếp tục
bị làm nạn nhân của sự lừa bịp, nên quyết tâm làm rõ sự thật lịch
sử trong cuộc chiến tranh dài dằng dặc [lẽ ra đã chấm dứt ở con số
117 năm (1858 – 1975), nhưng trong thực tế còn bị kéo dài thêm 14 năm sau
(1858 – 1989)!]. Họ muốn làm rõ sự thật của cuộc chiến tranh 131 năm
ấy để dấn bước vào tương lai, cho dù sự thật lịch sử đối với họ
đau thương, nhục nhã đến thế nào đi nữa. Lại có người muốn đảo
ngược tất thảy sự thật lịch sử thuộc giai đoạn nửa sau thế kỉ
XIX ấy để giành chính nghĩa về phía mình, hoặc ít ra cũng biện minh một
cách giả trá cho tôn giáo mình trót tin theo, hay cho một mưu toan phục hồi
chế độ phong kiến mà nền tảng tư tưởng của nó là chủ nghĩa bảo hoàng
ngu trung ****. Và, có người kiên quyết phê phán nhà Nguyễn với tất cả
quan lại của nó bất chấp lương tâm, thây mặc oan khốc, mặc dù họ thừa
biết nhà Nguyễn chỉ thực sự là bù nhìn, tay sai cho giặc Pháp từ sau
ngày Nguyễn Văn Tường bị lưu đày, 06.9.1885. Phải
chăng quả thật chúng ta không biết sự gác lại vấn đề lịch sử “thập
giá và lưỡi gươm” vốn là một ý đồ thực dân, là nguyên nhân làm
kéo dài cuộc chiến tranh lẽ ra không dài đến 117 năm hoặc 131 năm, cụ
thể là có lắm nạn nhân cầm súng cho kẻ thù liên minh với bọn tả đạo
trong Thiên Chúa giáo, vì bị bưng bít, xuyên tạc, đảo ngược sự thật lịch
sử (đề cao Trần Lục, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trường Tộ, Đồng Khánh;
bôi nhọ Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết…), hoặc ít ra cũng bị “phơn
phớt”, “lướt qua”, không dám xoáy sâu vào thực chất của vấn đề
bình Tây sát tả? Đâu
phải tất cả các sử gia đích thực ở các nước cựu thù muốn bị cưỡng
bức ngòi bút, cam tâm bán rẻ sự nghiệp nghiên cứu cho đồng tiền mua
chuộc? Đâu phải sử gia nào cũng là “sử nô”? Đâu phải nhà sử nào
cũng “vấn mục đích, bất vấn thủ đoạn”, viết
sử nhưng không cần đến tư liệu!? Đâu phải không có sử kí về các sử gia? Sử gia cũng được bình
công và bị luận tội! Đâu
phải nhân dân các nước ấy muốn mãi bị lừa dối, như đã từng đổ máu
cho sự lừa dối đó? Không,
chúng tôi tin rằng, nhà nghiên cứu khoa học đích thực nào, dù ở nơi đâu,
cũng đặt lương tâm và trí tuệ lên bài viết, cuốn sách của mình; nhân
dân ở bất kì nơi đâu trên hành tinh này cũng thừa thiện chí và lòng
trung thực để nhìn thẳng vào sự thật lịch sử, khi sự thật lịch sử
được bóc đi tấm màn giả trá. Khoa
học lịch sử là đền đài, bia đá, biển đồng ghi công. Khoa
học lịch sử là pháp đình, là toà án nghiêm minh xét xử. Khoa
học lịch sử là sự suy ngẫm của trí tuệ và thao thức của lương tri. Cánh
cửa của Đất nước, của tương lai vẫn mở rộng… Và
ở những dòng cuối Lời thưa đầu sách này, xin lại nhấn mạnh một điều,
theo bản thân chúng tôi, là rất quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử,
ấy là sự thật lịch sử (gồm nhân vật và sự kiện…) như thế nào,
phải được nhận thức, viết ra như thế ấy; không thể vì một lí do
gì để bóp méo sự thật lịch sử nhằm phục vụ cho mục đích trước mắt,
cho dù mục đích ấy là cao quý đến đâu. Hậu thế chúng ta có thể rút
ra nhiều bài học bổ ích từ sự thật lịch sử Tổ quốc thuộc các giai
đoạn, và cả từ lịch sử nước ngoài, hà tất phải bóp méo, thậm chí
bịa đặt thêm, với sự nhân danh này nọ. Khuynh hướng bá đạo, thực dụng
chủ nghĩa (“cứu cánh biện minh cho phương tiện” – Machiavel) trong sử
học cần phải phê phán triệt để. Tôi
muốn nói thêm: Ngay cả việc hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử cũng phải
có nguyên tắc của nó, phải được khoa học lịch sử bảo chứng. Chúng
tôi chỉ mong sử học phải là khoa học lịch sử đích thực, và người
Việt Nam hãy là người Việt Nam đích thực, với lịch sử chân thực của
dân tộc, gồm nhiều nhân tộc, trên Tổ quốc mình, với tầm nhìn mở rộng
ra lịch sử thế giới… Do đó, chúng tôi mạnh dạn xuất bản cuốn sách
này. Lời
thưa đầu sách này, ở một phần nào đó, xin được xem là những dòng
khai đề. Nếu chỉ đặt vấn đề rồi dừng lại ở đây, hẳn chỉ thêm ngộ nhận. Xin vui lòng đọc thêm
các trang kế tiếp. Kính
mong được chỉ dạy, góp ý, phê bình, mách bảo tư liệu. TP. HCM., tháng
4, Nhâm Ngọ, năm thứ 2 công
nguyên Hoà Bình (tháng 5. HB.2).
TRẦN
XUÂN AN CƯỚC CHÚ bài LỜI THƯA ĐẦU SÁCH: * Xin
xem: Ban Tuyên huấn Trung ương, Vụ Huấn học, Lịch sử thế giới,
Nxb. Sách Giáo khoa
Mác – Lê-nin, 1975, tr. 80 – 82, 94. ** Nxb.
Tân Việt, b. 1964, tr. 343. *** Trong
tinh thần đoàn kết dân tộc nhưng vẫn bảo đảm tính khách quan sử học, với ý thức
tôn trọng sự thật lịch sử, chúng tôi đã khu biệt rõ đối tượng cần
phê phán thường được gọi là bộ phận “tả đạo” trong Thiên Chúa
giáo. Đó là một số giáo hoàng La Mã (tại Về
Thiên Chúa giáo ở Việt Nam, nhận định của các giáo sư như Trần Văn Giàu,
Cao Huy Thuần, Yoshiharu Tsuboi, linh mục viện sĩ Trần Tam Tỉnh, Nguyễn Văn
Kiệm… đã rất xác đáng ở các cuốn sách đã xuất bản. Đặêc biệt,
chính phủ Pháp đã công bố tư liệu gốc
của Pháp qua hai công trình của Cao Huy Thuần (1969), Y. Tsuboi (1982) với
sự trợ giúp tư liệu của một số nhà sử học Pháp. Giáo
hoàng Jean-Paul II cũng đã bày tỏ sự thống hối chung trong buổi lễ ngày
12.3.2000 vừa qua… Xin giới
thuyết rõ nội dung cụ thể – lịch sử của từ “tả đạo” như vậy. Vui lòng
xem thêm: chú thích (8) ở cuối bài “Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc Kinh Đô Quật
Khởi (05.7.1885)”. **** Thể
chế chính trị quân chủ phong kiến nói chung là cực kì phi lí: một dòng họ hoàng gia lại
chiếm hữu cả vương quốc và thần dân như thể là tài sản và nô bộc!
Chính thể quân chủ lập hiến nói chung chỉ là hình thái giao thoa, quá độ
từ chủ nghĩa quân chủ phong kiến sang chủ nghĩa dân chủ tư sản. Chính
thể sở hữu kiểu địa chủ ấy đã quá lỗi thời. Ở Việt TXA. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com