posted: 6.5.2005
TRẦN
XUÂN AN
GIẢI TRIỀU…
CHIA
TÁCH TRIỀU CHÍNH…
Lòng trung sâu
kín, sau ai tỏ? Tổ quốc, dân, vua, đâu trọng khinh? 1)
MỘT BỐI CẢNH LỊCH SỬ HOÀN TOÀN BẾ TẮC. Tứ thơ “chia tách triều
chính” nhưng vẫn “nhất dạng” khởi từ tình huống mà Dụ Cần vương
ghi rõ: “Từ xưa kế sách chống giặc không ngoài ba điều:
đánh, giữ, hòa. Đánh thì chưa có cơ hội [điều kiện thực lực – TXA.
chua thêm (:ct).], giữ thì khó lượng được sức, hòa thì chúng đòi hỏi
không biết chán. Đương lúc sự thế muôn vàn khó khăn như vậy, bất đắc
dĩ phải dùng quyền [quyền biến – ct.]” [1]. Hai mật dụ
Hàm Nghi cùng Tôn Thất Thuyết từ Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị) gửi về
cho Nguyễn Văn Tường (02.6 Ất dậu) và hoàng tộc (07.6 Ất dậu, 1885) cũng
nói đến kế sách quyền biến với nhiệm
vụ “kẻ ở” của ông.
2) SỰ PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ LỊCH SỬ: "TỔ QUỐC,
VUA, DÂN, ĐÂU TRỌNG KHINH?". NỖI
KHỔ TÂM, LÒNG TRUNG NGHĨA CỦA NGUYỄN VĂN TƯỜNG QUA MẬT DỤ HÀM NGHI GỬI
VỀ TỪ TÂN SỞ (CAM LỘ, QUẢNG TRỊ). Tất nhiên, “xã
tắc, quân, dân, thục trọng khinh?”, câu ấy đưa ra một sự chọn lựa với
hành động chính trị cụ thể trong tình huống lịch sử cụ thể, ai là
“kẻ ở”, ai là “người đi”. Chính trong mật
dụ gửi về từ Tân Sở, Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) đã dùng hai từ
ấy với xác quyết: “Nay đại thần Tôn
Thất Thuyết cùng ta quanh quẩn, còn ngươi [:Nguyễn Văn Tường –
ct.] là phụ chính đại thần thì ở lại mà thương đàm; kẻ ở, người đi đều lấy lòng yêu nước lo dân
làm căn bản; trời đất cũng thực chứng giám…” [2]. Mật dụ ấy cùng với Dụ Cần vương được gửi về và phát đi trong một ngày
(02.6 Ất dậu: 13.7.1885). Nguyễn Văn Tường
đã chọn lựa vị trí giáp mặt với kẻ thù một cách trực diện, một vị
trí mà Tôn Thất Thuyết không có khả năng đảm đương. “Kẻ ở”,
cũng là nhiệm vụ bà Từ Dũ giao phó cho ông [3]. Nguyễn Nhược Thị Bích
kể bằng thơ: “Thấy
người trước đón lên đường Gửi
rằng: “Có Nguyễn Văn Tường chực đây” Phán
rằng: “Sự đã dường này Ngươi
tua [:lo; nên – ct.] ở lại, ngõ rày xử phân”
Và ở Dậu Tuất
niên gian phong hỏa kí sự: “Thuyết
– Tường sanh sự sự sanh [?! – ct.] Đem
Hàm Nghi trốn bôn hành Khiêm Lăng
Khéo
làm chước nhiệm [:nhịn? “thành thực”? – ct.] mưu sâu Pháp
quan mắc mớp tưởng đâu thiệt tình” [4]. Cho dù với
cách diễn đạt theo quan điểm thuộc chính kiến nào đi nữa, hai đoạn
thơ trên cũng phản ánh về một sự thật lịch sử! 3)
"LÒNG TRUNG SÂU KÍN, SAU AI TỎ?". “U
trung thùy bạch thiên thu hậu?”. Đó là nỗi băn khoăn của Nguyễn Văn
Tường từ ngày 23.5 Ất dậu (05.7. 1885). 3.a.
ĐẤU TRANH MẶT NỔI VÀ MẶT CHÌM. Qua các tư liệu
lịch sử có tính cùng thời, sau khi đối chiếu, loại trừ, thấy rõ Nguyễn
Văn Tường vẫn công khai đấu tranh với De Courcy, De Champeaux, Silvestre, Nguyễn
Hữu Độ trong hai tháng sau đêm Kinh Đô Quật Khởi (22 – 23.5 Ất dậu,
1885). Hơn thế nữa, ông còn ngầm chỉ đạo phối hợp với phong trào Cần
vương. 3.a.1.
ĐẤU TRANH VỚI THỰC DÂN PHÁP, BỌN Quốc sử quán
triều Nguyễn đã ghi rõ [5], tất nhiên với giọng điệu và cái nhìn của
người chép sử bảo hoàng dưới chế độ phong kiến. Dẫu vậy, qua đó,
hậu thế vẫn thấy Nguyễn Văn Tường khẳng khái, không hề chịu khuất
phục khi đối mặt với kẻ thù đã thắng trận, với bọn tay sai vốn đã
từ lâu bán linh hồn cho quỷ thực dân và tả đạo: “Lấy
quyền tổng đốc Hà – Ninh là Nguyễn Hữu Độ thăng thự Vũ Hiển điện
đại học sĩ, sung Cơ mật viện đại thần, vẫn sung Bắc kì kinh lược
đại sứ. Khi
ấy Hữu Độ đã trở về Hà Nội, đô thống Pháp là Cô-ra-xy [De Courcy –
ct.], khâm sứ là Tham-bô [De Champeaux – ct.] bàn nói: Hiện nay Bắc kì lắm việc, Hữu Độ
ở đấy hiểu nhiều, nên trao cho điện hàm, sung viện chức, và vẫn sung
chức sứ ấy; phàm đốc, phủ, bố, án, ở các tỉnh Bắc kì cho đến các
phủ huyện, nếu nơi nào có khuyết, cho do Nha Kinh lược sứ chọn tâu, chờ
chỉ định đoạt. Nhiếp chính Miên Định, phụ chính Nguyễn Văn Tường
phúc tâu [cho thái hoàng thái hậu Từ Dũ – ct.] việc đó là tạm thời
[TXA. in đậm (:iđ)], nghĩ nên tạm nghe ý
đó mà làm. Văn Tường nhân phụng dụ [của Từ Dũ – ct.] nói: trải bày lý do. Lại nói: do ngươi tuy việc thoả bàn
vụ hợp thời nghi để xứng với lời khen của người mới được.
Vì ý ám chỉ chê Hữu Độ nương tựa vào thế quan Pháp, để được ngôi
cao, mà không phải tự bản ý do mệnh lệnh của Triều đình vậy. (Trước
đây, Nguyễn Văn Tường cùng Tôn Thất Thuyết cho rằng Hữu Độ ở Hà Nội phần nhiều hay nịnh
hót, quan Pháp rất được vui lòng; Cơ mật viện nhiều lần đem việc tâu
lên, chuẩn cho khiển giáng hay triệu về, Hữu Độ đều được quan Pháp
che chở, rất là đáng ghét [iđ.]. Ngày
tháng 7 năm ngoái, khuyên Bùi Hữu Tạo lấy việc xây sinh từ [của Nguyễn
Hữu Độ – ct.] để tâu hặc, vì muốn nhân đó để đẩy Hữu Độ đến
tội. Hữu Độ chứa sự bất bình đã lâu. Gần đây đô thống Pháp từ
Bắc về Sứ quán, tức thì trước mời Văn Tường và Thuyết đến họp.
Thuyết ngờ sợ cho là hẳn Hữu Độ đã có ngầm chỉ thế nào, nên mới
như thế, cho nên sau không chịu đi; bèn gây hận; đến đây [Hữu Độ –
ct.] về kinh, [ y – ct.] lại đến
Sứ quán, rồi về nhà riêng [của Hữu Độ tại Huế – ct.], uỷ đón nhiếp chính Thọ Xuân vương Miên Định
tới bàn với Văn Tường; và [Hữu Độ – ct.] gièm [rằng – iđ. &
ct.] không bàn với Thọ Xuân vương thì đừng đi. Kịp khi Hữu Độ tới Sở
Thương bạc mà Văn Tường ở đó, hai người nói chuyện với nhau, đã hơi
có ý khiếm hòa [:thiếu hoà khí – ct.]; Văn Tường phụng dụ này, lời lẽ
lại có ý chê ngầm theo kiểu bì lí xuân thu [: bề ngoài với lí lẽ
khác nhau như mùa xuân với mùa thu – ct.]. Hữu Độ tiếp dụ, giận lắm, nhân đó càng
thêm để lòng)”. Qua giọng điệu
và cách nhìn không được trong sáng lắm của nhà chép sử triều Nguyễn,
chúng ta gạt đi khía cạnh bị nhuộm màu cá nhân hiềm khích, sẽ thấy
rõ, thực chất, đó là cuộc đấu tranh
về vấn đề bố trí quan chức ở Bắc kì, vấn đề chống bọn tay sai,
cơ hội, Nguyễn Hữu Độ là tiêu biểu. Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Thuyết, trước đó đã “đặc biệt đem câu xem gió chuyển buồm trách Hữu Độ”
[6]. Mà đâu chỉ Nguyễn Hữu Độ! Cùng một giuộc với y, còn có
Nguyễn Trọng Hợp [7], Hoàng Cao Khải,
Nguyễn Huy Lân… [8], và bất ngờ
nhất, còn là Nguyễn Thân (con trai Nguyễn Tấn), lẫn Phan Đình Bình! Thực chất của
vấn đề bố trí nhân sự ấy, xét cho cùng, là vấn đề còn hay mất Bắc
kì. Đó là nội dung của khoản 7 “hòa”ước Patenôtre (1884). Và tại sao lúc đó, kinh đô
đã thất thủ, Nguyễn Văn Tường vẫn không chấp nhận “như quan
Pháp có kiểm được quan Nam nào nên
làm hoán cách, có xin hoán cách ấy, tức làm hoán cách” [9], mà chỉ miễn
cưỡng, xem là tạm thời, còn đòi hỏi
Pháp phải trải bày lí do [10], mặc dù Từ Dũ đã chấp nhận?
Phải chăng Nguyễn Văn Tường đang dựa vào sức quật khởi của phong
trào Cần vương đang dậy lên khắp cả nước, và theo mật dụ Hàm Nghi gửi
về: “cùng y [De Courcy – ct.] giảng rõ về lí thế, cân nhắc về lợi hại,
hết lòng thỏa hiệp [:hiệp bàn thỏa
mãn đôi bên – ct.], phàm những khoản gì bách thiết, phải chung nhau bàn
đổi” [11]? Dẫu trong thế
kẹt lịch sử như vậy, Nguyễn Văn Tường vẫn đấu tranh trực diện với
De Courcy, De Champeaux, Nguyễn Hữu Độ mà ĐNLT.CB., tập 36, tr. 236 – 237 đã
ghi, như đã trình bày ở phần trên. Việc Nguyễn Văn Tường phải kí phụ
ước (30.7.1885) ấy với Silvestre, Nguyễn Hữu Độ, đã được Nguyễn Nhược
Thị Bích miêu tả:
Từ năm 1921,
ngay dưới chế độ thực dân, Trần Trọng Kim đã viết một cách kín đáo: “Trong
khi vua còn đi vắng, thống tướng De Courcy đặt ông Thọ Xuân lên làm
giám quốc, giao binh quyền Binh bộ thượng
thư cho viên khâm sứ De Champeaux, để bãi việc binh lính của ta đi [iđ.],
và gọi quan kinh lược ở Bắc kì là Nguyễn Hữu Độ và quan tổng
đốc Nam Định là Phan Đình Bình về cùng với Nguyễn Văn Tường coi việc
Cơ mật. Vì hai ông ấy ở Bắc kì đã hiểu mọi việc và đã biết theo
chính sách bảo hộ [iđ.], cho nên thống
tướng đem về để thu xếp mọi việc cho chóng xong. Nguyễn Văn Tường
và Nguyễn Hữu Độ không hợp ý nhau [iđ.],
Nguyễn Hữu Độ lại trở ra Bắc kì” [13]. Hợp ý thế
nào được với kẻ bán nước, “đã biết theo chính sách bảo hộ”, thực dân Pháp bảo gì nghe nấy! 3.a.2.
ĐỐI PHÓ VỚI PHE CHỦ "HOÀ" (TỪ DŨ, MIÊN ĐỊNH...) VỚI PHƯƠNG
THỨC "KHÔNG BIẾT GÌ HẾT". Một vấn đề
gay cấn nữa là Nguyễn Văn Tường không chỉ phải đối phó với Pháp và
bọn cơ hội, tay sai, mà còn phải đối phó với phe chủ “hòa”, đứng
đầu là Từ Dũ cùng Miên Định (giám quốc, nhiếp chính). Miên Định là
một người có tư cách hèn hạ đến mức ngửa tay xin tiền khâm sứ
Pháp, đến nỗi Đồng Khánh cũng cho là nhục quốc thể [14]! Đối với thái
hoàng thái hậu Từ Dũ, Nguyễn Văn Tường phải làm ra vẻ bị Tôn Thất
Thuyết lừa dối [15] (2). Ông ở
trong thế kẹt, nên phải vờ như giữa ông và Tôn Thất Thuyết chưa hề bàn
bạc để khởi binh đêm 22 – 23.5 Ất dậu (05.7.1885), mặc dù đấy là cuộc
khởi binh bất đắc dĩ, bị Pháp ép vào thế chẳng đặng đừng:
Biết sẽ có khả
năng bị thất thủ, nhưng đến lúc cũng “đành liều may rủi với trời” [17]. Cuộc Kinh Đô
Quật Khởi chỉ nhằm phát động tổng nổi dậy Cần vương trên toàn quốc
để đấu tranh ngoại giao, chính trị. Nguyễn Văn Tường
giả vờ “không biết gì hết” trong đêm 22 – 23.5 Ất dậu, 1885 [18] để ở lại làm nhiệm vụ đàm
phán của “kẻ ở”, trong khi Tôn Thất
Thuyết là “người đi”. Phương thức
“không biết gì hết” được Aldophe Delvaux cho là: “Ông phụ chánh thứ
nhất (Tường) đã miễn cưỡng hành động
dưới ảnh hưởng ngông cuồng của ông Thuyết, bất chấp mọi lời khẩn
cầu của mẹ vua Tự Đức và ông hoàng Hoài Đức (em vua Thiệu Trị) [thay
Hồng Hưu – ct.] là những người chống lại các sự vận động của phái
yêu nước” [19] (3). Theo Delvaux, ấy là tin tức mật thám của Pháp
trong buổi sáng 04.7.1885 mà De Champeaux nắm được! Thật ra, Nguyễn Văn Tường
đã cho phép và đã thay mặt vua ra lệnh cho Tôn Thất Thuyết chuẩn bị
kháng chiến, lập đạo quân Phấn Nghĩa cho thêm thanh thế (1883 –
05.7.1885), để đấu tranh với Pháp. Ngay trong những giờ phút sắp đến thời
điểm nổ ra cuộc Kinh Đô Quật Khởi, khi Tôn Thất Thuyết “lại nghiêm
sức các quân dinh kiểm soát,
chỉnh đốn những đồ khí giới, Văn Tường với đình thần cho rằng đó
cũng là thanh thế để phòng bị vậy” [20]. Và tất
nhiên, nếu cần, cũng phải lấy tấn công làm phòng thủ. 3.a.3.
VỚI PHƯƠNG THỨC "KHÔNG BIẾT GÌ HẾT", NHẰM PHỐI HỢP BÍ MẬT
NHƯNG CHẶT CHẼ VỚI PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG. Quả vậy, Nguyễn
Văn Tường đã lãnh đạo Cơ mật viện họp bàn rất bí mật. Đã đến lúc
không thể không thực hiện kế hoạch chính Nguyễn Văn Tường cùng Thân Văn
Nhiếp, Nguyễn Quýnh vạch ra, và Nguyễn Văn Tường đã đích thân, tự
nguyện tiến hành bước đầu từ 1864, 1866 [21]. Gần hai mươi năm trước thời khắc
lịch sử này, đó là việc tâu xin mở thượng đạo, đặt cơ sở để khởi
công xây dựng thành lũy Tân Sở, tuy còn dở dang. Khát vọng kháng chiến
còn thể hiện ở bài thơ “Bệnh trung kí
phỏng đồng chí” [22] (4) được viết vào quãng thời gian còn tiễu
phỉ ở phía bắc, khoảng những năm đầu của thập kỉ 70 (thế kỉ XIX).
Và vào năm 1883, kế hoạch đó lại được tiến hành một cách vữõng chắc
với quy mô lớn [23]. Trong thời điểm
cụ thể vào đầu tháng 7.1885 này, Tôn Thất Thuyết cũng như Nguyễn Văn
Tường, cả hai cùng “nhất dạng”, nhất trí với sự tổng hợp phương
thức: vừa kháng chiến vũ trang (đánh), vừa “không biết gì” (đàm), phương thức ông
đã từng đấu tranh thắng lợi vào cuối năm 1873, đầu năm 1874. Thắng
lợi ấy, ngay cả “Quốc triều chính biên toát yếu” [24] lẫn “Việt “Vua
bảo […] Viêm và Thuyết mùa đông năm ngoái [21.12.1873 –
ct.] giết được đầu sỏ giặc, làm mất khí thế của chúng, Nguyễn Văn Tường nhân đấy dễ làm
việc; Văn Tường nói: Tuy có trở ngại một chút, nhưng thực giúp được
nhiều. Đấy là lời bình tâm không khoe công. Viêm và Thuyết nên [được
– ct.] phong tước, giả lại chức quan” [26]. Đó là lúc thu
hồi lại bốn tỉnh Bắc kì, sau khi hạ sát Françis Garnier trong sự tức tối
điên cuồng của Jean Dupuis, Puginier, Rheinart và bọn “dữu dân” trong
giáo dân (như tên ngụy tổng đốc Trương, vốn là thợ rèn theo “tả đạo”
chẳng hạn) [27]. Phương thức đó,
mười năm sau (1883) vẫn còn hiệu quả, với cái chết của Henry Rivière, cũng
do quân Lưu Vĩnh Phúc trực tiếp hạ sát, dưới sự chỉ đạo của Hoàng
Tá Viêm, tại Hà Nội. Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Thuyết lại tiến hành một lần nữa, dữ dội và quyết liệt hơn,
ngay tại kinh đô Huế, 1885. Dẫu thất bại,
Nguyễn Văn Tường, sau 05.7.1885, vẫn tiếp tục đấu tranh. Bởi thế và lực
so với 1873, 1874 đã ngặt nghèo hơn, Nguyễn Văn Tường không còn ở tâm
thế ung dung như mười hai năm trước, mà đang vô cùng khổ tâm. De Courcy
không bị hạ sát!
Mang Cá và Tòa Khâm không bị triệt tiêu như mong muốn! De Courcy và De
Champeaux lại đang nhân danh Triều đình để thao túng! Do đó, phong
trào Cần vương vũ trang đã bùng lên khắp nước! Quốc kế “chia
tách triều chính” nhưng vẫn “nhất dạng”, phối hợp bí mật nhưng rất
chặt chẽ, là một sáng tạo rất táo bạo, trong điều kiện thế và lực
lúc bấy giờ! Qua việc trích
dẫn những tư liệu của Puginier, theo giáo sư Nguyễn Văn Kiệm [28], chúng ta thấy rõ sự thật lịch sử,
với sự miêu tả của chính đối phương, về nỗ lực của Nguyễn Văn
Tường: “Vua Hàm Nghi đi theo Thuyết còn
phụ chính Tường ở lại, vẫn giữ nguyên chức tước, và sau một thời
gian trá hàng, lại tiếp tục có những hành động đối kháng. Chính theo lệnh
của y mà khoảng 30.000 giáo dân đã bị hại chỉ trong vòng 2 tháng và hơn
1.000 người khác cũng chịu chung số phận do các quan lại thi hành mệnh lệnh
trên…”. Delvaux, trong
bài viết ở sách đã dẫn [29], cũng
miêu tả cảnh “sát tả đạo” trước và sau 05.7.1885, đặc biệt là sau
ngày lịch sử bi hùng ấy, tại Bình Định, Quảng Trị, Nghệ An. Trần Trọng
Kim, trong “Việt nam sử lược” [30],
cũng ghi rõ: “Tôn Thất Thuyết […]
làm hịch Cần vương truyền đi khắp nơi […]. Sách Tây chép rằng […] dân bên đạo phải tám ông
cố và hơn hai vạn người bị giết”. Đối phương đã
kết án Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết là “tàn nhẫn”, “hiếu
sát”! Sự “tàn nhẫn”, “hiếu sát” (hai từ này về sau cũng bị Trần
Trọng Kim xuyên tạc!), theo cách nói của các gián điệp thực dân trong lốt
áo “tả đạo”, vốn đã khởi động từ lúc Pháp đánh chiếm Thuận An
(Huế, 1883). Bởi “tả đạo” cũng chẳng khác gì những năm trước đó,
ở Đà Nẵng, ở Gia Định, và ở Hải Dương, Ninh Bình… (6): “Ngoài
thời Tây tặc lưới giăng Trong
thời tả đạo chạy quanh bốn bề” [31]…
cho
nên, không thể khác được, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, hai người
thiết kế chiến lược và chiến thuật cho công cuộc kháng chiến chống
Pháp bấy giờ, với tư cách là hai người lãnh đạo cao nhất Cơ mật viện
lúc ấy, đã phải kiên quyết. Sự kiên quyết đó, Aldophe Delvaux đã viết
lại theo giọng điệu thực dân ra vẻ khách quan của y:
“Triều
đình thấy nguy cơ mất độc lập, đã bàn bạc ngầm các phương kế để
chận đứng sự lấn chiếm của Pháp. […] Tôn Thất Thuyết, […] Nguyễn
Văn Tường đã lôi kéo Hội đồng Cơ mật thoả thuận hai vấn đề quyết
định như sau: Ra một mật lệnh cho các sĩ phu định rõ ngày tàn sát cùng
lúc tất cả giáo dân trong toàn quốc [! sic! – ct.]. Sau khi loại kẻ tiếp
tay cho quân xâm lược sẽ chuyển Triều đình và Chính phủ đến một pháo
đài kiên cố, và đến các vùng hiểm trở bất khả xâm phạm. Đó chính
là Cam Lộ hay đúng hơn là Tân Sở, và đó là trung tâm liên kết lực lượng
ái quốc, là nơi Triều đình sẽ tạm dừng chân. Các chuẩn bị kì quặc
để hình thành do những kỉ niệm quá khứ [của Nguyễn Văn Tường với vùng
đất Cam Lộ – ct.], thảm hại thay, lại đã được thực hiện một phần
lớn” [32]. Cũng về thời
điểm 1883, theo Jabouille, phụ trách Tổ chức công vụ Pháp, công sứ Pháp
tại Quảng Trị: “Các
người chống Pháp nói rằng: “Những người Thiên Chúa [giáo – ct.]
phản bội Tổ quốc để làm lợi cho nước Pháp. Chúng ta chỉ hòa bình khi nào người Pháp
không có sự ủng hộ trong nước…”” […]. “Việc đánh lấy Thuận
An, và buộc chấp nhận đô hộ làm cho ông phụ chính Tường tức giận tột
độ; nhưng ông Tường âm thầm, cẩn thận đè nén sự tức giận để dùng
nó vào một dịp thuận lợi” [33]. Và sự thể,
theo Puginier viết về thời gian hai tháng sau ngày Kinh Đô Quật Khởi (22 –
23.5 Ất dậu, 1885), như đã trích dẫn, chắc chắn chỉ vì tình huống lịch
sử bắt buộc, bởi, giáo dân thời bấy giờ, nói như Đoàn Trưng từ trước 1866:
Quả thật, đến
1885, sự nội ứng của “tả đạo” Thiên Chúa giáo đã quá công khai! Sách “Compendium…”
của Raviê (Ravier), có đoạn viết: “Bấy giờ mới nổi cơn bão táp rất dữ dội
quá sức; từ khi nước Nam có đạo chẳng hề bao giờ bổn đạo phải cực
khốn cực nạn bằng bấy giờ; vì trước kia, khi cấm đạo, chỉ có quan
quân đi bắt bớ mà thôi, còn dân ngoại thì chẳng lo việc ấy, lại cũng
thương kẻ bị bắt bớ. Còn lần này quan và dân ngoại đều đồng tâm
hiệp lực mà quyết tận diệt kẻ có đạo” [34]. Và theo Delvaux: “…
Các quan chức không muốn dính líu vào, sợ có sự không may về sau [cách
diễn đạt của Delvaux – ct.], nên để việc đó cho các sĩ phu đảm nhận,
còn riêng họ vẫn ở trong bóng tối. Trong
các tỉnh, trong khi các sĩ phu chuẩn bị chiến đấu, thì các vị quan lớn
lo trấn an các công chức của chính quyền bảo hộ cũng như các vị linh mục
và giáo dân. Khi mọi việc chuẩn bị đã xong xuôi rồi, các sĩ phu tiến
chiếm thành trì của các tỉnh, và các quan tỉnh thì nhanh tay giao nạp các
thành trì ấy, sau một vài sự phản kháng qua loa; và như thế là những cuộc
cắt cổ [!sic! – ct.] bắt
đầu” [35]. Các quan ở tỉnh
thì như thế, còn Nguyễn Văn Tường? Nguyễn Văn Tường cũng không thể
khác hơn: “Tướng
De Courcy lấy tin tức [ở – ct.] ông Tường, ông này đều bảo đảm rằng
sự trật tự an ninh đang hình thành khắp nơi. [Trong khi đó
– ct.], các tin tức báo động dồn dập từ miền nam [tả kì – ct.] được
gửi đến. Tướng Prudhomme muốn biết tường tận tình hình thật sự các việc, đã được
ông De Courcy chấp thuận và cho phép đến các nơi ấy. Ông đi cùng ông De
Champeaux trên chiếc tàu “Le Lutin” và đến Quy Nhơn ngày 18.8 [1885
– ct.], và ông đã mục kích toàn là máu lửa” [!sic ! – TXA. ct.] [36] (xem thêm chú thích (10)). Lại theo
Jabouille: “Một
vài nhà truyền giáo trong tỉnh và một vài ông quan cho biết rằng năm
1885, nhất là vào tháng 9, tỉnh Quảng Trị đã là hiện trường của một
cuộc tiêu diệt có phương pháp, được tiên liệu, có tổ chức, để loại
trừ các người theo đạo Chúa, gây ra bởi đảng của Văn thân, có sự
ủng hộ tinh thần của ít nhất là hai
quan phụ chính…” [37]. Các “nhà
truyền giáo” đó chính là Aldophe Delvaux, Henry de Pirey – những kẻ đã ra
vẻ khách quan, thực chất lại thù hận sâu sắc Nguyễn Văn Tường, người
đã bị chính phủ Pháp “đày cho chết”!
Gạt đi những xuyên tạc, bóp méo, bịa ra cái gọi là ý nghĩ quần
chúng để bôi nhọ của các tên thực dân, tả đạo trong các bài viết của
chúng với mục đích trả thù, phục hận, sẽ thấy sự thật lịch sử đã
diễn ra. Sự thật lịch
sử ấy đã diễn ra, bởi lẽ, Triều đình Huế với lực lượng vũ trang
khắp các tỉnh đang bị suy yếu, nhưng thật sự lực lượng quân sự của
Pháp cũng không lớn, nên vấn đề do tình thế đặt ra là cần phải tiêu
diệt bọn “dữu dân” nội phản, nhằm cô lập bọn thực dân Pháp, biến
chúng lâm vào tình cảnh như “cua gãy càng”, mặc dù chúng chiếm được
kinh thành Huế, thậm chí chúng đặt được ách “bảo hộ” lên cổ của
dân tộc ta! [38] (6). Và bởi lẽ,
quan trọng, quyết định hơn, ấy là không còn cách nào khác, trong điểm
đỉnh tột độ của mâu thuẫn đối kháng, giữa lực lượng dân tộc,
yêu nước với bọn thực dân Pháp mà hậu thuẫn của chúng là “tả đạo”.
Đó là biện pháp chẳng đặng đừng
trước sự lấn hiếp của thực dân và “dữu dân”, để củng cố lại
chính quyền nhằm làm hậu phương cho phong trào Cần vương, chống Pháp bằng
vũ trang và bằng thương thuyết. Biện pháp bạo lực quyết liệt ấy, xuất
phát từ tình thế: không còn hậu phương, hậu thuẫn nước ngoài nào
khác! Chúng tôi nhấn mạnh: không còn hậu phương, hậu thuẫn nước ngoài nào khác! (7). Vả lại, đâu chỉ bởi
mệnh lệnh của Nguyễn Văn Tường phối hợp với Dụ Cần vương của
Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết, trong cuộc nổi dậy toàn quốc này, mà còn do chính sức mạnh quật khởi hoàn toàn tự
giác của nhân dân! Chúng tôi đã
đối chiếu với “Đại Như thế, chỉ
có thể là: vì tình huống lịch sử, Nguyễn Văn Tường không thể bày tỏ
cho mọi người biết, chính ông cùng Tôn Thất Thuyết đã chuẩn bị, rồi
cùng tiến hành cuộc Kinh Đô Quật Khởi, lại phối hợp liên lạc thường
xuyên với phong trào Cần vương cũng theo cách vừa tiến công vũ trang (kẻ
đánh), vừa “không biết gì” (người
đàm), cho đến ngày Nguyễn Văn Tường bị đày đi Côn Đảo; và uy
tín Nguyễn Văn Tường quá lớn, chúng đày ông tít tận Tahiti, gần nam
châu Mỹ, sau nhiều thủ đoạn li gián Nguyễn Văn Tường với Tôn Thất
Thuyết (như vụ đốt nhà Nguyễn Văn Tường chẳng hạn)! Việc Nguyễn
Văn Tường bị lưu đày, lại theo Delvaux, ngoại vụ Paris tại Việt Nam,
trong bài viết ở sách đã dẫn [41]:
“Một sự mâu thuẫn sâu xa chia rẽ tướng
De Courcy và ông De Champeaux, nhất là đối với vấn đề ông phụ chánh Tường.
Vị tướng thì quả quyết là ông Tường luôn luôn liên lạc với ông Thuyết
và [trước đó – ct.] lại nhúng tay vào mọi cuộc âm mưu lật đổ, và
đem xuống tàu đày đi Côn Đảo ngày 6.9 [1885 – ct.]… […] lại
chuyển đến Tất nhiên,
Delvaux vẫn cài vào bài viết, ngay cả ở đoạn văn trên những câu chứa
đựng sự mị dân, sự thất thiệt, chẳng hạn như sự “độ lượng”
của chúng, thời điểm Nguyễn Văn Tường chết (xem thêm chú thích (15)). Chúng tôi cũng
không trích dẫn để nhằm nêu lên sự mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù,
cách đối xử đối với Nguyễn Văn Tường, theo quan điểm thực dân
riêng của mỗi tên đầu sỏ giặc. Điều đáng lưu ý, chúng “quả quyết
là ông Tường luôn luôn liên lạc với
ông Thuyết”, “ảnh hưởng của ông Tường là rất lớn” [42]. Điều này
khớp với “Đại Nam thực lục, chính biên”: hai mật dụ Hàm Nghi
gửi về, và chắc hẳn có những tập tâu đối của Nguyễn Văn Tường gửi
lên chiến khu Tân Sở. Việc án sát Quảng Trị Tôn Thất Nam được ủy
nhiệm lên Tân Sở họp với Tôn Thất Thuyết cũng đã được ghi nhận rõ
[43]. Phương thức
“không biết gì”, khác với lần thành công cuối năm 1873 bước sang
1874, là lần này (1885) không có đoạn kết chiến thắng, nên Nguyễn Văn
Tường không được dịp cùng Tôn Thất Thuyết bày tỏ trước Tam Cung và
đình thần cùng nhân dân. Tuy nhiên, Quốc sử quán triều Nguyễn biết rõ
điều đó. Chi tiết
Dụ Cần vương và mật dụ gửi Nguyễn Văn Tường từ Tân Sở (Cam Lộ,
Quảng Trị) được viết một ngày, phát đi và gửi về một lúc (02.6 Ất
dậu, 1885) đã làm sáng tỏ. Và bản án chung thẩm cáo thị của hai
tên De Courcy, De Champeaux, vô hình trung, làm sáng tỏ như một xác quyết của
“lân sử” (tín sử). Chúng tôi sau
khi nghiên cứu trọn đệ tứ, đệ ngũ, đệ lục kỉ (tập 27 – tập
38) của “Đại Nam thực lục, chính
biên”, lưu ý đến “bản án” về Nguyễn Văn Tường, đã hơn một
trăm năm trước được Quốc sử quán cẩn thận ghi chép lại, thấy rằng
bản án của thực dân đối với Nguyễn Văn Tường , “kẻ thù không đội trời chung” của chúng, vô
hình trung mà hiển nhiên, là bản án đẹp nhất, rực rỡ nhất,
chưa từng có trong giai đoạn đầu chống Pháp của dân tộc ta, một giai
đoạn lịch sử bi hùng nhất với một nhân vật bi hùng nhất: Nguyễn Văn
Tường! Tất nhiên, phương
thức “không biết gì” cũng đã gây ra quá nhiều ngộ nhận và dễ bị
xuyên tạc. Sóng đôi với ông, người cùng thực hiện kế hoạch kháng chiến
với ông (mặc dù Tôn Thất Thuyết trước
tháng 11 âl., 1881, hầu như không biết gì về Tân Sở, hệ thống sơn phòng
và thượng đạo Bình Định – Nghệ An), Tôn Thất Thuyết nhận tất
cả hào quang bi tráng. Nói thế, thực ra, Tôn Thất Thuyết cũng bị xuyên tạc,
bôi nhọ, nhưng kẻ thù khó lòng xuyên tạc, bôi nhọ hơn, và hậu thế cũng
dễ thanh minh hơn, bởi Tôn Thất Thuyết là hình ảnh của người kháng chiến
trong điều kiện bế tắc chung của các nước Á, Phi, Mỹ la tinh thuở bấy
giờ! Trong khi đó, người ta dễ đánh đồng hoặc nhầm lẫn Nguyễn Văn
Tường với cánh chủ “hòa”, đầu hàng! (Xem thêm chú thích (13)). Phương thức
tổng hợp, “không biết gì” (kẻ ở, đấu tranh bằng thương thuyết) và
chiến đấu vũ trang (người đi, đấu tranh bằng quân sự), Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Thuyết đã hợp lực tiến hành, trong lần Kinh Đô Quật Khởi
(05.7.1885), dẫu sao, cũng đã sáng tỏ *. 3.b.
NHIỆM VỤ LỊCH SỬ VỚI LẬP TRƯỜNG KIÊN ĐỊNH, THÁI ĐỘ CHÍNH TRỊ
"NHẤT DẠNG". SỰ
NGỘ NHẬN, XUYÊN TẠC. THỰC
DÂN PHÁP THAO TÚNG TRONG SỰ NHÂN DANH TRIỀU ĐÌNH. NỖI
KHỔ TÂM CỦA NGUYỄN VĂN TƯỜNG. Trong hai tháng
sau ngày Kinh Đô Quật Khởi và bị thất thủ, từ 05.7 đến 06.9.1885, các
nhà sử học thường quy hết trách nhiệm cho Nguyễn Văn Tường. Cần thấy
rõ, trong hai tháng ngắn ngủi ấy, Nguyễn Văn Tường hết bị quản thúc bởi
lính Pháp, đại uý Schmitz [44], lại
bị chi phối bởi De Courcy, Caspar, trực tiếp là De Champeaux, phó công sứ
Hamelin. De Champeaux trở thành thượng thư Bộ Binh, Cơ mật viện đại thần
của Triều đình Huế! Về cái án tử
hình của Đặng Hữu Phổ (con trai của phò mã Cát, đồng hương với Nguyễn
Luận), Quốc sử quán triều Nguyễn [45]
đã ghi rõ nội dung: Đặng Hữu Phổ chống việc phủ Thừa Thiên sức cho
huyện Quảng Điền tăng cường quân số. Như thế, vô hình trung Đặng Hữu
Phổ đã tiếp tay cho Pháp trong việc Pháp yêu cầu Triều đình không được
tái vũ trang [46]. Về phía Pháp, dẫu
vậy Pháp vẫn xem Đặng Hữu Phổ nổi loạn! Và chính Đặng Huy Xán, chú
ruột của Đặng Hữu Phổ, đã lừa bắt ông, đem nộp cho giặc (theo một
số tư liệu và Đặng phả)! Vụ Lê Trung Đình cũng như thế, nhưng ở dạng
cụ thể khác. Lê Trung Đình lại tôn phù Tuy Lí vương [47], một nhà thơ chủ “hòa”, câu kết
với Pháp thời Hiệp Hòa, bị đày vào Quảng Ngãi! Do việc tôn phù này,
người ta tưởng Lê Trung Đình là kẻ cơ hội! Đúng như một câu trong sắc
dụ của Từ Dũ lâu nay vốn do Nguyễn Nhược thị Bích
viết thay: “Ba tháng bỡ ngỡ, bốn biển ầm vang” [48]! Đặng Hữu Phổ, Lê Trung Đình
yêu nước, chống Pháp, nhưng lại quờ quạng, thiếu sáng suốt. Sự
chỉ đạo của Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường cũng chưa sâu sát, cụ
thể từng “bước đi”. Khởi nghĩa hưởng ứng dụ Cần vương là đúng,
nhưng chống Triều đình lúc Nguyễn Văn Tường còn giữ vị thế hay tôn
phù Tuy Lí vương là sai (mặc dù Miên Trinh từ chối)! Bởi lẽ, Nguyễn Văn
Tường vẫn “nhất dạng” với Tôn Thất Thuyết trong nhiệm vụ “kẻ
ở”, “người đi”. Vả lại, quyết án Đặng Hữu Phổ là do triều nghị,
Triều đình lại có cả De Champeaux ở vị trí trọng thần, chủ chốt, quyết
định! Từ Dũ, Miên Định chuẩn y! Còn Lê Trung Đình lại do chính các tỉnh
thần và Nguyễn Thân hội bàn, chém trước, báo cáo sau [49]! Do đó, không thể quy hết mọi việc
Pháp nhân danh Triều đình để đổ cả cho Nguyễn Văn Tường! Ngoài hai vụ việc
trên, trước sức ép của Pháp, Nguyễn Văn Tường còn phải tự giằng xé
và bị ngộ nhận bởi vài nỗi đau lòng khác. Với
chính trị, chúng ta phải thông cảm, thậm chí có những việc rất khổ
tâm, cũng phải vờ chấp nhận để qua mắt giặc Pháp và phe chủ “hòa”,
chẳng hạn như cùng Trương Quang Đản bốn lần viết
thư cho Hồ [Văn] Hiển đưa Hàm Nghi – linh hồn của cuộc kháng chiến –
về lại Huế trong khi Pháp vẫn tiếp tục lấn hiếp [50] [(9) và xem thêm chú thích (11)]. Thật
lòng, Nguyễn Văn Tường cũng như Trương Quang Đản chỉ muốn rước vua Hàm
Nghi về sau khi cuộc đánh phối hợp với đàm đã đạt được mục tiêu
có giới hạn với sự nhượng bộ của Pháp, như Tôn Thất Thuyết đã
nói với Phạm Hữu Dụng: “phải nên đoàn kết [thoả
hiệp tạm thời – ct.] với quân Pháp; [Pháp – ct.] không lại lấn áp như
trước, thì mới đón xe vua về” [51], đồng thời theo hai mật
dụ vua Hàm Nghi (cùng Tôn Thất Thuyết) gửi về từ Tân Sở cho Nguyễn Văn
Tường và hoàng tộc. Nhưng cũng cần
thấy rõ, sắc dụ về việc truy bắt Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn,
treo giải cho ai bắt được, chém được, chính Đồng Khánh về sau cũng xác
nhận là do Từ Dũ ban hành (tất nhiên Từ Dũ cũng đành phải theo yêu cầu
của Pháp!) [52]. Hơn nữa, sử học
phải phân tách rõ “hư chiêu” và “thực chiêu”! Tất nhiên đó chỉ là hư dụ, chứ
không phải thực dụ (thực dụ trong tình huống này phần lớn phải
là mật dụ). Tuy vậy, chúng
ta cũng cần ghi nhớ, vào cuối tháng 8, đầu tháng chín 1885, còn có một số
sắc dụ khác của Tam Cung (đứng đầu là Từ Dũ) với lời lẽ của những
bản cáo trạng về sự câu kết giữa thực dân cố đạo, giáo dân với
thực dân viễn chinh Pháp, đồng thời khẳng định “thù ghét [giặc Pháp – ct.], ai bảo là không nên.
Không gì bằng cuộc nghĩa cử đêm 22 tháng 5 năm nay [04 – 05.7.1885 – ct.]…” [53].
Trong tình huống kinh đô thất thủ, cực kì khó khăn, thất thế ấy,
các sắc dụ tố cáo công khai giặc Pháp và tả đạo đó đã chứng tỏ một
tinh thần đề kháng, bất khuất ở mức độ nhất định. Phải chăng chính
Nguyễn Văn Tường đã tác động rõ rệt vào các sắc dụ khá đanh thép
này? Chính bản án cáo thị của hai đầu sỏ giặc (De Courcy, De Champeaux)
trong vài ngày sau đó sẽ làm sáng tỏ. Ngoài ra, những
gì Nguyễn Văn Tường làm được cho việc tái củng cố vương quyền nhà
Nguyễn từ triều đình cho đến huyện xã, cho phong trào Cần vương là những
chỉ đạo vừa thành văn, vừa khẩu lệnh, vừa công khai, vừa bán công
khai, trong những lúc thoát khỏi đôi mắt cú vọ của bọn De Champeaux, bọn
chủ “hòa” (thực chất là đầu hàng) (9), (10)… Với chức năng,
nhiệm vụ lịch sử vừa thoả hiệp vừa đấu tranh của mình, Nguyễn Văn
Tường đã bị bọn thực dân cố đạo căm hận, báng bổ: “Puginier,
giám mục ở Bắc kì, và Camelbeck, giám mục ở Quy Nhơn, đã mở một chiến
dịch điên cuồng tấn công chống Nguyễn
Văn Tường mà theo họ là kẻ thù lớn nhất của người Pháp và đồng
thời cũng là người An Nam điêu toa nhất [(!?!) nói với
Pháp thế này, lại làm thế khác – ct.] mà người ta có thể gặp… Sự hợp tác của ông ta và De
Courcy là một mưu mô [của
ông ta – ct.] nhằm đánh lừa người Pháp” [54]. Trong một mật
dụ từ Tân Sở gửi về cho hoàng tộc (07.6 Ất dậu [18.7.1885]), sau khi hiểu
rõ những gì Nguyễn Văn Tường đã tiến hành ở Huế, Hàm Nghi (và Tôn Thất
Thuyết) đã viết: “Nay
đã có phụ chính huân thần Nguyễn khanh [tức Nguyễn Văn Tường –
ct.] ở lại giảng nói, che chở nhiều việc, hơi được yên ổn; huân
thần tâm sự như thế, cáng đáng như thế, thực là đau khổ quá chừng. Nhân vật nước
ta, những người trung nghĩa từ xưa, tưởng
không hơn được. Trẫm cũng dụ cho đại thần ấy hết lòng bàn tính
công việc, tâu chờ quyết định” [55]. Đó là mật dụ
gửi cho hoàng tộc, Hàm Nghi (cùng Tôn Thất Thuyết) đã viết về Nguyễn Văn
Tường như vậy. Và, đúng ra, mọi sách lược (xây dựng thành luỹ Tân Sở
cùng những phương án kháng chiến, đánh – đàm, với nhiều mức độ khác
nhau, tuỳ tình hình… ) đều do Nguyễn Văn Tường góp phần vạch ra, từ
năm 1866 [56], Hàm Nghi (và Tôn Thất
Thuyết) chỉ nhắc lại ba phương án thích hợp. Điều đáng lưu ý trong mật
dụ này là Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết đã rất thấu hiểu và chia sẻ nỗi
khổ tâm xé ruột của Nguyễn Văn Tường trong nhiệm vụ lịch sử với
vai trò đàm phán đã được phân công, từ sau ngày Kinh Đô Quật Khởi và
bị thất thủ. Nỗi khổ tâm
xé ruột của Nguyễn Văn Tường còn phải kéo dài đến hơn một tháng rưỡi
sau, tính từ ngày vua Hàm Nghi gửi mật dụ về Huế, 07.6 Ất dậu
(18.7.1885)! Cũng cần phải
khẳng định: Những nỗi đau lòng của Nguyễn Văn Tường là do phải thực
hiện nhiệm vụ được giao phó của vua Hàm Nghi và của nhóm chủ chiến
triều đình Huế, hay nói đúng hơn, nhiệm vụ ấy là do vận mệnh lịch sử
của đất nước ấn định cho Nguyễn Văn Tường: “Y
[Cô-ra-xy (De Courcy) – ct.] thấy ta càng khuất, y càng ngày càng lấn, khiến
Triều đình không còn mặt mũi nào, vạn bất đắc dĩ mà ta mới phải
làm cái kế bỏ thành đi ra ngoài. Nay đại thần Tôn Thất Thuyết cùng ta cùng quanh quẩn,
còn ngươi [Nguyễn
Văn Tường – ct.] là phụ chính đại thần thì ở lại mà thương đàm; kẻ
ở người đi đều lấy lòng yêu nước lo dân làm căn bản. Trời đất thực
cũng chứng giám. Ngươi nên khéo
thể tấm thịnh tình của tiên hoàng đối với nước láng giềng rất có
thuỷ chung và cùng y giảng rõ về lý thế, cân nhắc về lợi hại, hết
lòng thoả hiệp [:hiệp bàn thỏa mãn đôi bên, không phải “thỏa
hiệp vô nguyên tắc” – ct.], phàm những khoản gì bách thiết, chung nhau bàn đổi, cốt khiến
cho hai nước như anh em, vinh nhục cùng quan hệ, vui lo cùng chung nhau mười
phần chân thành, không còn dùng đến uy thuật. Lúc này ta mệnh cho hồi
loan, trên để phụng dưỡng ba cung, dưới để yên lòng thần dân, khanh
[Nguyễn Văn Tường – ct.] cùng với Tôn
Thất Thuyết trung trinh chói lọi, muôn thuở cùng sáng, những phường nịnh
tử gian phu, đều phải lặn hình giấu bóng. Nếu
không như thế thì các miếu xã lăng tẩm và các vương công không kịp đi
theo ấy thì hết thảy uỷ cho khanh [Nguyễn Văn Tường
– ct.]. Ta duy có chọn đất lánh ở, sợ trời vui trời, rường cột cương thường, cả nước cùng thế,
không đâu không phải là Triều đình và không phải là tôi con vậy. Trẫm
quyết không cùng với họ tranh được thua vậy. Tình
thế ví lại không thôi, trẫm nguyện phái thêm cán viên,
lấy đường đi khắp các nơi, nghiêm sắc cho Ninh Bình trở về phía bắc,
bao nhiêu quan tỉnh, phủ, huyện đều để ấn lại mà đi, người nào như có trung
nghĩa, tài lược, không kể quan hay dân, đều cho được tiện nghi làm việc
[nhân dân, sĩ phu khởi nghĩa, kháng chiến quyết liệt – ct.], cốt
không phụ tấm lòng tốt của triều đình
dưỡng dục, tác thành, yên được bóng thiêng liêng ở trời của liệt
thánh, và đáp phó được nguyện vọng
[khởi nghĩa chống Pháp – ct.] tha thiết của thần dân trong nước. Khanh
[Nguyễn Văn Tường – ct.] nên nghĩ cho kỹ nhé, có muốn nên tâu đối,
thì gởi theo đường trạm chờ xét cũng
chẳng hại gì” [57]. Đó
là các phương án tuỳ theo mức độ bức hiếp của thực dân Pháp và tả
đạo. Nói rõ hơn, trong tình huống ấy, có ba phương án: Một
là, nếu Pháp và tả đạo tuân thủ “hoà” ước 1874, hay ít ra, “hoà”
ước 1884, không tăng cường sự lấn hiếp, nhà vua và Tôn Thất Thuyết sẽ
về lại Huế. Hai
là, nếu Pháp và tả đạo xé bỏ “hoà” ước 1884, vẫn tăng cường
sự lấn hiếp ở mức độ có thể chấp nhận được, nhà vua và Tôn Thất
Thuyết sẽ ở lại Tân Sở nhưng không đẩy mạnh sự phát động phong trào
Cần vương bằng vũ trang, và giao phó kinh thành Huế cùng sự an nguy của
hoàng tộc cho Nguyễn Văn Tường. Ba
là, nếu Pháp và tả đạo quyết xé bỏ “hoà” ước 1884, quyết
tăng cường sự lấn hiếp đến mức không còn chút chủ quyền nào để có thể mưu
tính cho đại cục về sau, nhà vua và Tôn Thất Thuyết sẽ phát động
mạnh mẽ và rộng khắp phong trào kháng chiến Cần vương, kể cả Bắc kì
vốn đã bị “bảo hộ”. Ở
mật dụ tiếp theo, vua Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) vẫn tin tưởng Nguyễn
Văn Tường đàm phán với mục tiêu “vụ [:nhằm – ct.] được như thường”
(ít ra là như “hoà” ước 1884): “…
Phàm việc gì cùng với Nguyễn khanh [Nguyễn Văn Tường –
ct.] châm chước thoả đáng, cốt không trái với cương thường của trời đất.
Nên được nền bình trị lâu dài của quốc gia, ngõ hầu để được tiếng thơm muôn đời,
thế là lành lắm, tốt lắm. Trời đất dài lâu, gặp nhau có hẹn. Nước
nhà suy thịnh, gặp hội đổi thay, càng nên trân trọng di dưỡng, để yên
tấm lòng xa của người tuổi trẻ. Còn ra sẽ uỷ cho Nguyễn khanh [Nguyễn Văn Tường – ct.] sẽ vì
ý thân điều đình cho thoả đáng, vụ được như
thường. Phàm người họ ta, cần tin lời ta nhé, thế thì ta mới yên lòng…” [58]. Thế
và lực nước ta bấy giờ là không thể đương đầu với Pháp, tả đạo
cùng liên minh các nước thực dân của chúng (Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nga …),
trong một bối cảnh chung ở Á, Phi, Mỹ la tinh là hoàn toàn bế tắc, nhất
là khi thế trận toạ sơn quan song hổ đấu
(chiến tranh Pháp – Hoa, 1883 – 1884) đã hoàn toàn thất bại về
phía Trung Hoa. Bởi vậy, cho nên, sắc dụ của vua Hàm Nghi (và Tôn Thất
Thuyết) từ Tân Sở gửi về với khí thế và mục tiêu đấu tranh đành
phải hạn chế như thế. Phải nhìn nhận mục tiêu đề ra không thể vượt
quá khả năng của hiện thực lịch sử, mà phải chờ thời cơ trong nỗ lực
tạo ra thời cơ (gồm thế và lực mới) – “gặp hội đổi thay”! Với
quan điểm lịch sử – cụ thể, mọi nhận định đều phải đúng mức. Nếu không thấy
rõ mục tiêu có hạn chế với phương thức quân sự – ngoại giao vừa
đánh vừa đàm (Tôn Thất Thuyết – Nguyễn Văn Tường phối hợp),
phương thức đàm phán vừa thoả hiệp vừa đấu
tranh (Nguyễn Văn Tường đảm nhiệm), không phân tách rõ “hư chiêu”
và “thực chiêu”, với các phương án trên, sẽ không hiểu được thời
đoạn lịch sử hai tháng sau cuộc Kinh Đô Quật Khởi và bị thất thủ
(05.7 – 06.9.1885, Ất dậu)! Trong đó, sự phối hợp nhiệm vụ lịch sử
có tính quyết định nhất vẫn là: Tôn Thất Thuyết (“đường núi vạn trùng lo kiệu biếc”) – Nguyễn Văn Tường
(“lòng tôi một dạng giữ sân son”) . 3.c.
THÁI ĐỘ CHÍNH TRỊ "NHẤT DẠNG" VỚI LẬP TRƯỜNG KIÊN ĐỊNH CHỐNG
PHÁP, KHÔNG CHẤP NHẬN "BẢO HỘ" CỦA NGUYỄN VĂN TƯỜNG QUA CÁC BẢN
KẾT ÁN CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ NGỤY TRIỀU ĐỒNG KHÁNH. Đại
Nam thực lục, chính biên, từ tập 36 trở về trước, dù ở trong xiềng xích
ý hệ bảo hoàng, vẫn thể hiện được tinh thần chống Pháp, lập trường
yêu nước. Quốc sử quán đã ghi rõ [59]
: “Đô
thống Đại Pháp là Cô-ra-xy [De Courcy – ct.] bắt thái phó, Cần Chánh điện
đại học sĩ, lãnh Lại bộ thượng thư, kiêm sung Cơ mật viện đại thần,
Kì Vĩ quận công, là Nguyễn Văn Tường xuống tàu thủy chạy đi Gia Định. Cứ
theo lời cáo thị của khâm sứ Tham-bô [De Champeaux – ct.] nói: Văn
Tường từng đã chống cự nước ấy [nước Pháp –
ct.] thực đã nhiều năm. Từ khi cùng Tôn Thất Thuyết sung làm phụ
chánh, chỉn [:vốn; vẫn – ct.] lại đổng suất quan quân nổi dậy công
kích quan binh nước ấy [nước Pháp
– ct.]; và Văn Tường do đô thống ấy xin [chính phủ Pháp – ct.] cho hai
tháng [nhằm để – ct.] lo liệu việc nước cùng Bắc kì cùng được
lặng yên vô sự; [kì thực – ct.] đến
ngày 27 tháng ấy hết hạn, mà các tỉnh tả kì về phía nam (9), (10), có
nhiều nơi nổi quân chém giết dân giáo. Đến đây đô thống ấy định
án, ưng [:nên; phải – ct.] kết tội lưu. Hôm
ấy chở đem Văn Tường đến cửa biển Thuận An. Buổi chiều Nguyễn Hữu
Độ, Phan Đình Bình đi tàu thủy Pháp cũng về đến cửa biển ấy. (Thuyền
Pháp chở Văn Tường đến Gia Định, sau chở gồm cả Phạm Thận Duật, Lê
Đính đem về nước ấy [thuộc địa Đó là bản kết
án của thực dân Pháp [60]! Bản kết án
cáo thị ấy đã làm bùng lên một cuộc “sát tả” dữ dội tại Quảng
Trị từ ngày 06.9.1885 (28.7 âl., Ất dậu) [61]! Và đây là quốc
thư của tên vua tay sai, bù nhìn Đồng Khánh, có chi tiết vu vạ, đổ tội
không đúng sự thật, có chi tiết khẳng định đúng (đối chiếu với ngôn
ngữ tường minh ở
ĐNTL.CB., cuối tập 35 và trọn tập 36, sđd.). Lời lẽ ấy – giọng
lưỡi của y: “Quyền
thần là Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết […].Ngày 23 tháng 5 năm nay,
kinh thành thất thủ, xe tiên đế dời đi, hai người ấy thực là căn nguyên
của tai vạ […]” [62] (9). Đình thần,
nói theo cách nói của Trần Trọng Kim, “nhiều người đã biết theo
chính sách bảo hộ cho nên mọi việc trong Triều đều được yên ổn” [63]. Đình
thần ấy cùng Tôn nhân phủ kết án (!): “Tôn
nhân phủ và đình thần dâng sớ tâu bày tội trạng của Nguyễn Văn Tường
và Tôn Thất Thuyết, xin tước hết quan tước và tịch thu gia sản; tham
tri Trương Văn Đễ đã quá cố, và chưởng vệ Trần Xuân Soạn, đều là
bè đảng làm loạn, cũng tước cả quan chức. Trong bọn ấy, thì Tôn Thất
Thuyết, Trần Xuân Soạn, xin do quan địa phương xét bắt bằng được và
chém ngay, để tỏ rõ hiến pháp trong nước. Vua nghe theo” [64] (9), (11). Lời dụ và
cáo thị của Đồng Khánh và khâm sứ Pháp cùng các khâm sai của Triều đình,
trong chiến dịch triệt hạ uy tín nhóm chủ chiến (in ra, niêm yết khắp nơi): “Tóm
lại, là do tự Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết lộng quyền […]. Hai
quyền thần ấy lần này đón lập, nhiều việc man muội [! – ct.], trước
thì lợi về dễ khống chế, sau chỉ mưu cho bản thân [! – ct.]; bỗng dưng
gây hấn [! – ct.], nghiêng đổ tôn xã, bắt hiếp vua chạy đi; Nguyễn
Văn Tường liền quỷ quyệt [?mưu trí! –
ct.] đem thân quay về thú tội [! – ct.] với quan đô thống Đại Pháp, rồi đã bị tội lưu, Lê
Thuyết [bị đổi họ – ct.] thì sống một cách tạm bợ trong rừng. May
mà nước Đại Pháp có lòng nhân thứ [! – ct.], giúp ta chấn hưng [! –
ct.] được nước đã mất [! – ct.], nối lại được thế đã đứt, nước
nhà đó mới còn [! – ct.]” [65]
(9). Đúng là giọng
lưỡi hèn hạ, đánh giá ngược một cách trắng trợn tất cả! “Duy
trẫm tin là các sĩ phu, thực tình là nhận nhầm, chứ không có lòng làm
loạn; Triều đình đã đem đầu mối họa loạn, là tự Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Thuyết gây ra, nói rõ ràng với quan Đại Pháp, đã tin không ngờ,
để cho Triều đình ta phải xử trí ngay, cho lương giáo đều được yên
ổn” [66] (9). Cũng như cách
thổi phồng, bịp bợm, hàm hồ của các tên thực dân, gián điệp đội lốt
tôn giáo, khái niệm, con số “dân giáo” của Đồng Khánh, Hector và các
khâm sai cũng thế. Chúng muốn biến cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược,
bảo vệ văn hóa dân tộc thành cuộc chiến tranh tôn giáo, còn cuộc xâm lược
của thực dân Pháp thành “thánh chiến”, “thập tự chinh” (bấy giờ nhân dân, sĩ phu gọi thập
giá là thập ác), nhằm kích động giáo dân ởø “mẫu quốc”,
kích động cả Tòa thánh La Mã (Rome)! Thực ra, Nguyễn
Văn Tường, Tôn Thất Thuyết cùng phối hợp mệnh lệnh, trong tình huống
buộc lòng phải đề ra kế sách “chia
tách triều chính” (đánh và đàm), chỉ nhằm vào thực dân Pháp, bọn
lính lê dương (légionaire étrangère), bọn cố đạo làm gián điệp cho Pháp,
bọn Việt gian, trong đó có một bộ phận không ít là “dữu dân” đích
thực. Sự kiện đó,
ngay cả trước khi Nguyễn Văn Tường bị lưu đày, Từ Dũ đã hiểu ra,
và bằng ngôn ngữ tường minh, đã chỉ rõ nguyên nhân đồng thời đánh
giá đúng, ít ra là ở hai điểm sau đây: “Từ
điều ước tái định [Dupré, 1874? Patenôtre, 1884? – ct.] đã được phân
minh, khiến nước Pháp trước tự bại hoà gây biến, thì phàm ai ở đất
vua, cũng đều thù ghét [giặc Pháp – ct.], ai bảo
là không nên. Không gì bằng cuộc nghĩa cử đêm 22 tháng 5 năm nay…” [67], gồm
cả hiện thực Cần vương, kháng chiến, máu lửa sau đó… Tuy thế, cáo thị
niêm yết của triều Đồng Khánh và Hector cùng các khâm sai cố nhiên vẫn
là luận điệu với cách đánh giá ngược theo tiêu chí gọi
giặc bằng ngài, gọi người yêu nước bằng nghịch, nghĩa cử quật khởi là làm loạn: “Nay
Lê Thuyết, trốn tránh ở rừng gập ghềnh, một thân tuy nhỏ, mà coi đất
trời như còn hẹp; Nguyễn Văn Tường thì đã bị đi đày; tức là trời
trừ kẻ tật ác […]. Không ngờ bọn ngươi [tức là các sĩ phu, nhân
dân – ct.] theo ý làm liều, […] kháng cự mệnh lệnh Triều đình, cam tâm hết lòng trung với
kẻ thù [tức là Hàm Nghi, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, nhưng
theo mạch văn, thì chỉ nhắm đến hai phụ chính – ct.], từ Hải Vân trở vào nam, không chỗ nào là không loạn [khởi
nghĩa – ct.], rất đáng quái lạ; sao không xem châu Hoan, châu Diễn, Quảng
Bình, Quảng Trị, mượn tiếng là xướng nghĩa, cần vương, đều đem thân
bón cho đồng cỏ, mười nhà thì chín nhà hết sạch; còn những kẻ lọt
lưới, thì bị mưa độc, khí núi…” [68]. Những cứ liệu
trên, nhất là lòng trung thành của sĩ phu và nhân dân trong phong trào Cần vương đối với
Nguyễn Văn Tường, đã khẳng quyết không hề có Dụ Cần vương số
2 bao giờ [69]! Đúng như nhận
định của De Champeaux, uy tín, tầm ảnh hưởng của Nguyễn Văn Tường, Tôn
Thất Thuyết và nhóm chủ chiến là rất lớn. Thảo nào chúng tìm cách li
gián, khích tướng, mưu toan lợi dụng, và vì không lợi dụng được, chúng
lại bôi nhọ đến thế, thậm chí còn bịa tạc ra cái được gọi là “Dụ
Cần vương số 2”! Đối với chúng
ta, hai bản kết án chung thẩm của De Courcy, De Champeaux, của Đồng
Khánh, Triều đình tay sai, bù nhìn, chính là lời tổng kết trọn vẹn những
cuộc đời đấu tranh kiên cường mà
linh hoạt, của Nguyễn Văn Tường và của nhóm chủ chiến trong sự nghiệp
chung của bao sĩ phu, của nhân dân chống thực dân Pháp xâm lược, gồm
cả hai tháng và sau đó, từ sau ngày Kinh Đô Quật Khởi (22 – 23. 5 Ất dậu,
1885). 3.d.
QUÁ TRÌNH ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁP NHẤT QUÁN, LIÊN TỤC CỦA NGUYỄN VĂN TƯỜNG
NGAY TRONG NHỮNG NGÀY THÁNG BỊ LƯU ĐÀY Ở CÔN ĐẢO, TAHITI, QUA BÀI VIẾT CỦA
H. LE MARCHANT DE TRIGON. Cũng rõ ràng
Nguyễn Văn Tường, suốt cả quãng đời đấu tranh với thực dân Pháp, từ
đầu đến lúc trút hơi thở cuối cùng ở “Than
ôi, ngay ngày hôm sau [tức là ngày kế tiếp ngày 29.8.1875 –
chúng tôi căn cứ vào bài viết để chua rõ (:TXA. ct.)], những thủ đoạn phá rối có hệ thống của
Nguyễn Văn Tường (12) kéo dài cho
đến ngày chiếm cảng Thuận An [8.1883 – ct.], và còn về sau này,
cho đến khi đày kẻ thù không đội trời
chung của chúng ta, và trong thời gian [bị lưu đày – ct.] đó, [Nguyễn
Văn Tường – ct.] chẳng chịu hiểu biết gì cũng chẳng chịu
quên gì”. Kẻ thù đã viết
như thế về Nguyễn Văn Tường (Kì Vĩ bá), gọi quá trình đấu tranh chống
Pháp trên mặt trận chính trị, ngoại giao của ông một cách khiếm nhã như
vậy: “những thủ đoạn phá rối có hệ
thống”! Thực ra, đó là một quá trình đấu tranh cam go đầy mưu
trí, liên tục, nhất quán, kiên định, bền bỉ suốt mấy chục năm trời
làm quan. Và quả thật, ông là “kẻ thù
không đội trời chung” của thực dân Pháp cho đến lúc bị đày, bị
chết. Làm sao chúng mua chuộc được ông, khiến ông bùi tai quên đi mối
căm thù giặc Pháp canh cánh trong lòng và nỗi đau đáu tìm cách cứu nước,
cứu dân, quét sạch bọn chúng, ngay trong thời gian bị đày, ngay trong phút
cuối cùng của đời mình, ngày 30.7.1886! Đó chính là cơ
sở lịch sử của điều Nguyễn Văn Tường muốn gửi lại nghìn sau trong
bốn chữ: “nhất dạng” và “u trung”:
Bốn chữ “nhất
dạng”, “u trung” đã được bảo chứng bằng sự thật lịch sử! 4)
SỰ DỰNG ĐỨNG CHUYỆN BỊA, XUYÊN TẠC SỰ THỰC LỊCH SỬ, NHẰM MỤC ĐÍCH
TRIỆT HẠ UY TÍN CỦA NGUYỄN VĂN TƯỜNG VÀ NHÓM CHỦ CHIẾN, ĐÓ LÀ THỦ
ĐOẠN TUYÊN TRUYỀN CỦA THỰC DÂN PHÁP, BỌN TẢ ĐẠO TRONG THIÊN CHÚA
GIÁO. PHÊ
PHÁN CÁC TƯ LIỆU: LẬP TRƯỜNG, QUAN ĐIỂM ĐÁNH GIÁ; LƯỢNG THÔNG TIN. KẾT LU |