posted: 5.5.2005
Trần Chung Ngọc Trong thế giới loài
người, từ xưa tới nay, có cả trăm God khác nhau. [Xin đọc A History of God của Karen Armstrong, hoặc A World Full of Gods của Keith Hopkins, hoặc Mythology: An Illustrated Encyclopedia, Edited
by Richard Cavendish..] Trong bài này, tôi
không nói đến bất cứ God nào khác, thí dụ như Baal (God của dân Do Thái Canaan), Aton (God của
người Ai Cập), Zeus (God của người Hi Lạp), hàng trăm God của người Ấn
Độ, Huitzilopochtli (God của người Aztecs), Cha Quạ Sáng Tạo (Father Raven
The Creator) của dân Eskimo, God Sáng Tạo Ahura Mazda hay Ohrmazd của người
Ba-Tư v...v... Mỗi God như trên, cũng
như khoảng 200 God khác trong môn học tôn giáo tỷ giảo, đều có hàng triệu
người tin và thờ phụng. Và God của
Ki-tô Giáo là một trong những God này. Trong bài này, God mà
tôi luận về “có hay không?” là God của Ki-tô Giáo (Christian God), đúng
hơn là God của người Do Thái (the God of Israel), có tên là Jehovah hay Elohim,
người Việt Nam theo đạo gọi là Thiên Chúa, hay Thượng đế, hay Chúa Trời,
Trời ở trong Kinh Thánh chứ không phải là Trời theo cái hiểu của khoa học. God ở đây là God Cha (God the Father) của
God Con (God the Son = Dê-su), hay chính là God Con, nếu bạn muốn, và cũng là
Con Ma Thánh (Holy Ghost), nếu bạn tin vào cái thuyết điên rồ toán học
(mathematical insanity): “Úm Ba La, Ba Ta Là Một”.
Vậy với câu hỏi: “Có God [của
Ki-tô Giáo] hay không?”, chúng ta có nhiều câu trả lời. Nếu God là God Con (Dê-su Kờ-rít) thì câu
trả lời có thể là: “Có! Nhưng đã chết
và táng xác rồi”, vì theo Giám Mục John Shelby Spong thì trong Kinh Tin
Kính của các Tông Đồ [Apostle Creed] của Ki-tô Giáo chỉ có một câu này:
“Dê-su Ki-tô
chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô, chịu đóng đanh trên cây
thánh giá, chết và táng xác” (Jesus Christ suffered under Pontitus Pilate,
was crucified, dead, and burried) là đúng sự thật.
Nếu God là Con Ma Thánh thì đối với những người tin là có
ma quỷ tất nhiên là có. Còn nếu God
là God Cha, Đấng Sáng Tạo ra vũ trụ và muôn loài trong 6 ngày, cách đây
khoảng từ 6 đến 10 ngàn năm, thì vấn đề có rắc rối hơn, và câu trả
lời nằm trong nội dung của bài khảo luận này. Để chiều ý các tín đồ
Ki-tô Giáo Việt Vấn nạn của người
Ki-tô Giáo là tin vào sự hiện hữu của một God, trong khi không ai có thể
biết được God là cái gì, ở đâu, và chứng minh được sự hiện hữu của
God. Thực ra, God mà người theo đạo
Ki-tô ngày nay tin chỉ là God của riêng người Do Thái mà về sau, khi Ki-tô
Giáo phát triển, nền Thần học Ki-tô Giáo đã biến chế, ngụy tạo kinh
văn, lịch sử v..v.. để diễn giải đó là God của cả nhân loại. Cái lý luận Thần học hoang đường này,
dù đã cố nhồi nhét vào đầu óc con người qua những thủ đoạn cải đạo
lừa dối, vô đạo đức, cưỡng bách bạo tàn như lịch sử Ki-tô Giáo đã
viết rõ, cho tới ngày nay, cũng chỉ được chưa tới một phần ba (1/3) trên
tổng số trên 6 tỷ người trên thế giới, tuyệt đại đa số là những
người thấp kém trong xã hội, ít học hay vô học, tin. Một trong những lý luận thần học của
Ki-tô Giáo là: nếu không ai có thể chứng minh được là “God Không Hiện
Hữu” thì tất nhiên God phải hiện hữu. Câu
trả lời của những người không tin God của Ki-tô Giáo là, tại sao chúng
tôi phải chứng minh là không có God khi mà chúng tôi coi đó chỉ là sản
phẩm tưởng tượng của dân Do Thái? Điều
này thực sự không cần thiết. Nếu
muốn cho chúng tôi tin là có God thì Ki-tô Giáo phải chứng minh cho chúng
tôi thấy là có God. Điều này, trong
2000 năm nay, Ki-tô Giáo đã không làm được, đó chẳng phải là một chứng
minh xác thực nhất hay sao? Đó chẳng
phải là điều biện minh cho sự “Không tin là có God” của chúng tôi là
đúng hay sao? Thật ra, nền thần
học Ki-tô Giáo, với thời gian, đã đưa ra nhiều luận cứ để “chứng
minh” là có God nhưng tất cả những luận cứ thần học này, thí dụ như
Luận Cứ Về Bản Thể (Ontological Argument) của St. Anselm và René Descartes,
Luận Cứ Vũ Trụ hay Nguyên Nhân Đầu Tiên (Cosmological Argument) của Thomas
Aquinas, Luận Cứ Cứu Cánh (Teleological Argument) hay Thiết Kế (Design
Argument) của William Paley, Luận Cứ Đạo Đức (Moral Argument) v..v.., và gần
đây, luận cứ “thiết kế thông minh” (Intelligent Design) dựa vào khoa học
của những tổ chức “Khoa học sáng tạo” (Creation Science) đều đã bị
dứt khoát bác bỏ. Căn bản đức tin
trong Ki-tô Giáo, đúng như lời thú nhận của giáo sư Đỗ Mạnh Tri, một
tín đồ Ca-tô Giáo Rô-ma, trong cuốn “Ngón Tay và Mặt Trăng” là: “Tin là một cách sống chết, không liên
quan gì đến cái biết và hiểu.” Nhưng
đây chính lại là vấn nạn của người Ki-tô Giáo. Tin mà không biết không hiểu thì chẳng
qua chỉ là “mù lòa tin bướng tin càn”, vậy thì tin làm quái gì để
cho ngoại đạo người ta chê cười? Lý
do tại sao Ki-tô Giáo đang suy thoái ở phương trời Âu Mỹ, cái nôi của
Ki-tô Giáo trước đây, vì trong những quốc gia văn minh, tân tiến, sự tiến
bộ trí thức không cho phép con người tiếp tục “mù lòa tin bướng tin càn”
như ông Đỗ Mạnh Tri và những tín đồ Ki-tô mà đầu óc chưa thể theo kịp
sự tiến bộ trí thức của nhân loại. Trong bài này, tôi sẽ không đi vào những
phần lý luận triết lý nặng nề để trả lời câu hỏi “Có “God”
hay không?” hay đưa ra những lập luận
bác bỏ những luận cứ về sự hiện hữu của God của nền thần học
Ki-tô Giáo. Công việc này mất nhiều
thời giờ và không thích hợp với nội dung của một bài đăng trên trang
nhà Giao Điểm. Tuy nhiên, nếu quý độc
giả muốn đi sâu vào vấn đề này, tôi có thể giới thiệu vài cuốn
sách điển hình: -
Cuốn
“A
History of the Warfare of Science with Theology in Christendom”, Prometheus Books, New York, 1993, của Andrew D. White [Đây là một cuốn sách cổ
điển, xuât bản lần đầu năm 1896, dày 900 trang, viết lại lịch sử chống
đối khoa học của Ki-tô Giáo trên những vấn đề Sáng tạo/Tiến hóa,
Trái đất hay Mặt trời là trung tâm vũ trụ, Sự sa ngã của con người đối
với Nhân Chủng Học v..v.. Đại tác phẩm của White cho chúng ta biết những
ảnh hưởng nguy hại của Ki-tô Giáo trên địa hạt giáo dục và tiến bộ
đạo đức (White’s great work has much to teach us about the dangerrous effects of
religious doctrination on education and moral growth)] -
Cuốn
“Science
and Religion: Are They Compatible?”, Prometheus Books, -
Cuốn
“Critiques
of God: Making The Case Against Belief In God”, Prometheus Books, -
Cuốn
“The Case
Against God”, Prometheus Books, -
Cuốn
“But Is
It Science? The Philosophical Question In The
Creation/Evolution Controversy”, Prometheus Books, -
Cuốn
“The
Impossibility of God”, Prometheus Books, -
Cuốn
“The
Existence of God”, The Macmillan Company, Sau đây, tôi sẽ đi vào việc tìm hiểu
Ki-tô Giáo đã dạy tín đồ những gì về God của họ, rồi từ đó phân
tích các chủ đề liên hệ đến các thuộc tính của God mà người Ki-tô
Giáo thường tin, và sau cùng đi đến kết luận là “Có God hay không?”,
nếu có thì chúng ta sẽ phải có thái độ gì đối với God? và nếu
không thì sao? Về God trong Kinh Thánh của Ki-tô
Giáo, Giám mục Tin Lành John Shelby Spong đã cho chúng ta một khẳng định về
thái độ chúng ta cần có đối với God, trong
cuốn Rescuing
The Bible From Fundamentalism, trang 24: “A literal Bible presents me with far
more problems than assets. It offers me a God
I cannot respect, much less worship.” (Tạm
dịch: Cuốn
Thánh Kinh đã làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá
trị. Nó đưa đến cho tôi một God mà
tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng.) Chúng ta hãy tìm hiểu
tại sao một ông Giám mục Tin Lành rất nổi tiếng trên đất Mỹ, tác giả
của nhiều cuốn sách về Ki-tô Giáo được rất nhiều người đọc, đã
được phỏng vấn trên nhiều đài truyền hình cũng như được mời đến
thuyết trình ở một số trường đại học, lại có thể đưa ra một khẳng
định trớ trêu như vậy. Điều này
không khó, nếu chúng ta biết Ki-tô Giáo đã dạy những gì cho đám tín đồ
thấp kém của họ về God của Ki-tô Giáo, và đã đọc kỹ Kinh Thánh để
biết God trong Kinh Thánh của Ki-tô Giáo thực sự là như thế nào. Trước hết, có lẽ
chúng ta cần biết, theo quan niệm của Ki-tô Giáo thì God là ai hay là cái
gì? Trong Ki- tô Giáo, Ca-tô Giáo Rô-ma
(The Roman Catholic Church) có nhiều tín đồ nhất, vào khoảng gần một tỷ
người [đếm theo con số đã rửa tội, không kể số người chết] trong
đó có khoảng 5-7 triệu người Việt Nam. Cho
nên chúng ta hãy bình luận trên God của Ca-tô Giáo Rô-ma, cũng là God chung
của Ki-tô Giáo, Hồi Giáo, và Do-thái Giáo. Theo
sách National Catholic Almanac, 1968, trang
360, của Ca-tô Giáo, chúng ta có một ông God với 23 thuộc tính (23
attributes): “Phép
tắc vô cùng, vĩnh hằng, thánh thiện, bất diệt, bao la mênh mông, không
bao giờ thay đổi, không thể hiểu được, không thể mô tả được, vô tận,
vô hình, công chính, thương yêu, nhân từ, cao nhất, khôn ngoan nhất, toàn
năng, toàn trí, có mặt khắp nơi, nhẫn nại, toàn hảo, cung cấp tinh thần
và vật chất cho con người, tối cao, chân thật” (almighty, eternal, holy, immortal, immense,
immutable, incomprehensible, ineffable, infinite, invisible, just, loving, merciful, most
high, most wise, omnipotent, omniscient, omnipresent, patient, perfect, provident,
supreme, true.) Trong phạm vi bài
này, tôi không thể bàn về cả 23 thuộc tính của God, như vậy quá dài,
vì khi bàn về một thuộc tính nào đó, tôi không thể thiếu phần lý luận,
dựa vào thực tế, lô-gic, lý trí v..v.., và dựa vào ngay chính những điều
viết trong Kinh Thánh của Ki-tô Giáo. Cho nên, tôi chỉ luận trên một số
thuộc tính điển hình mà người Ki-tô Giáo thường tin và rao truyền. Nếu độc giả nào cho rằng, God là để
tin chứ không phải để bàn, thì tốt hơn hết là độc giả đó không
nên đọc bài này, vì độc giả đó không ở trong thời đại của sự tiến
bộ trí thức ngày nay cùng với chúng ta.
Trước hết, trong 23
thuộc tính nêu trên có một thuộc tính rất đặc biệt, đó là incomprehensible,
nghĩa là không thể hiểu được. Giáo
lý của giáo hội Ca-tô Rô-ma cũng còn nhấn mạnh là cả 3 ngôi God đều
không thể hiểu được “God Cha không thể hiểu được, God Con không
thể hiểu được, God Ma Thánh không thể hiểu được” (The Father
incomprehensible, the Son incomprehensible, the Holy Ghost incomprehensible). Dù không
hiểu được, nhưng Ca-tô Giáo Rô-ma đã thản nhiên đưa ra thêm 22 thuộc
tính khác như trên để mô tả God của họ.
Vì trong Ca-tô Giáo Rô- ma, tín đồ chỉ có quyền “quên mình
trong vâng phục”, không có quyền thắc mắc, chỉ có quyền tin, không có
quyền hiểu, nên điều này không thành vấn đề đối với con chiên, giáo
hội dạy sao thì cứ tin làm vậy. Khổ
một nỗi, đối với người ngoại đạo như tôi, xét theo logic thì thuộc
tính incomprehensible đã chứng tỏ rằng 22 thuộc tính kia thuộc loại...phịa theo sự
tưởng tượng của đầu óc con người, và tất cả những gì mà Ki-tô
Giáo nói về God, khẳng định là God thế
này, God thế nọ, ý God thế này, ý God thế nọ, God thương yêu bạn, muốn
bạn thế này thế nọ v..v.. chung qui cũng chỉ là nói chỉ để mà nói, thực
chất những khẳng định trên hoàn toàn vô nghĩa.. Vô nghĩa ở chỗ không
ai thấy được God (invisible), và không ai hiểu được God (incomprehensible),
cho nên những gì nói về God đều là do sự tưởng tượng của con người,
thường là sự tưởng tượng của những người không có mấy đầu óc,
đưa ra để lòe bịp những người ít đầu óc hơn. Mặt khác, Ki-tô
giáo cũng còn dùng từ “không biết được” (unknowable) để chỉ God của
họ. Một God mà không ai biết được
và không ai hiểu được thì có thể rất xấu hoặc rất tốt, rất ác độc
hoặc rất hiền lành v..v.. Hiển nhiên
là God không ra ngoài sự tưởng tượng của đầu óc của con người. Ai muốn nghĩ sao về God thì God như vậy. Một người ngu thì God trong đầu họ cũng
ngu như họ. Một người sáng suốt
thì God trong đầu họ cũng sáng suốt như họ. Tuy nhiên, nếu dựa vào những
điều viết trong Kinh Thánh mà Ki-tô Giáo cho là những lời mạc khải của
God nên không thể sai lầm, thì chúng ta thấy God của Ki-tô Giáo thực sự
không lấy gì làm thông minh cho lắm, có nhiều tính xấu, ghen tuông, độc
ác, tàn nhẫn v..v.., do đó chúng ta đã hiểu là tại sao Giám mục Spong lại cho rằng không thể kính trọng, đừng
nói đến thờ phụng, một God như vậy.
Chỉ một từ incomprehensible đã có thể xóa sạch mọi
thuộc tính mà người ta gán cho God của Ki-tô Giáo. Vậy rõ ràng là 22 thuộc
tính kia của God mà Giáo hội đưa ra là để lừa dối, mê hoặc đám tín
đồ vốn không có nhiều đầu óc để nhận ra thủ đoạn này. Thật vậy,
God không thể hiểu được, nhưng giáo hoàng vẫn tự nhận là đại diện
của God Ki-tô (Vicar of Christ), các linh mục vẫn tự ban cho mình quyền thay
God Con (Cha cũng như Chúa Dê-su) để rửa tội và tha tội cho các tín đồ,
các Mục sư vẫn luôn luôn nói là God muốn thế này, muốn thế nọ v..v.. Nói tóm lại, họ dạy những tín đồ thấp
kém là God không thể hiểu được, nhưng họ lại tự cho là chỉ có họ
là hiểu được God, hay nói đúng hơn, tự cho mình thay quyền God, tuy rằng
đầu óc của họ nhiều khi ít thông minh hơn, kém cỏi hơn chính những
tín đồ của họ. Nhưng vì họ đã
mê hoặc các tín đồ bằng một cái bánh vẽ trên trời, cho nên họ muốn
nói hươu nói vượn gì về God, tín đồ chỉ có việc tin theo, không cần
phải thắc mắc. Đây chính là thủ đoạn của giới giáo sĩ Ki-tô Giáo để
tự tạo quyền lực trên đám tín đồ thấp kém.
Bởi vậy cho nên nhà Đại Văn Hào Pháp Voltaire đã nhận định
rất chính xác như sau: “Lời của
God là lời của các linh mục; sự vinh quang của God là sự hãnh diện của
các linh mục; ý của God là ý của các linh mục; xúc phạm God là xúc phạm
các linh mục; tin vào God là tin vào mọi điều linh mục bảo chúng ta tin”
(The word of God is the word of the priests; the glory of god is the pride of the priests;
the will of god is the will of the priests; to offend god is to offend the priests; to
believe in god is to believe in all that the priests tell us.) Chẳng vậy mà một giám mục Việt Giáo dân, phần lớn
là kém hiểu biết, cho nên không thấy được sự mâu thuẫn trong giáo lý
của Ki-tô Giáo, không nhận ra được thủ đoạn của giới giáo sĩ, kết
quả là tuyệt đối tuân phục nghe theo các “bề trên”, tin rằng muốn
hiệp thông với Chúa thì phải qua trung gian là giới giáo sĩ, và nghe lời
họ để gây nên nhiều tội ác đối với nhân loại như lịch sử Ki-tô
Giáo đã chứng minh. Trong cuộc Thánh
Chiến đầu tiên, để khích động sự cuồng tín của giáo dân, Giáo
hoàng đã đưa ra khẩu hiệu đó là “Ý Chúa” (God’s Will), đồng thời
cướp quyền Chúa, ban lệnh toàn xá cho những thập ác quân nghe lời ông
ta đi giết người ngoại đạo. Không
ai đặt vấn đề là nếu Chúa không thể hiểu được (incomprehensible) thì
ai là người biết được “Ý Chúa”? Chỉ
có Chúa mới biết được “ý Chúa” hoặc phải là bậc thần thông quảng
đại như Tề Thiên Đại Thánh, vượt trội hơn Chúa, mới có thể biết
được Ý Chúa. Đó là cái hại của sự
thiếu hiểu biết và mê tín. Ngày nay,
Ki-tô Giáo không còn phát động Thánh Chiến được nữa, nhưng không phải
vì vậy mà sự thiếu hiểu biết và mê tín trong đám tín đồ thấp kém
đã suy giảm. Thật vậy, chúng ta hãy
xét đến 7 “bí tích” của Ca-tô Giáo Rô-ma.
Trong lễ tiết của các “bí tích” như “phong chức linh mục”,
“rửa tội”, “thêm sức” v..v.., các giám mục hay linh mục đã đóng
vai God, thực hiện phép lạ như gọi con Ma Thánh (Holy Ghost), cũng là God
Cha, cũng là God Con (theo thuyết Ba Ngôi Nhất Thể), không biết đang ở đâu,
bên Tàu hay bên Ta, xuống ngự trên đám tín đồ thấp kém, mê tín, cả
tin, qua hành động đặt tay lên đầu của “nạn nhân”. Tôi thực tình không hiểu nổi tại sao
trong thời đại này mà đầu óc con người còn có thể tin vào những chuyện
hoang đường phi lý đầy tính cách mê tín như vậy. Tôi thấy thật là tội
nghiệp cho những người bị kéo vào vòng nhồi sọ, mê tín của Ki-tô
Giáo mà không tự biết, vẫn tưởng mình ở trong một “hội thánh”, độc
quyền nắm trong tay chân lý của người đời.
Lẽ dĩ nhiên, ai cũng có quyền tin vào một cái gì đó, dù là
tin một cách sai lầm. Nhưng nếu mang cái
niềm tin sai lầm này truyền rao để “Phúc Âm hóa thế giới” mà thực
chất chỉ là kéo con người vào vòng nô lệ tâm linh và gây hại cho xã hội
loài người thì đó lại là vấn đề khác. “Phúc Âm” đã trở thành
“Họa Âm” đối với người ngoại đạo..
Người ngoại đạo có quyền tìm hiểu sự thật và chống lại
những thủ đoạn “Phúc Âm hóa” của Ki-tô giáo. Đây không phải là vấn đề vi phạm tự
do tín ngưỡng mà chỉ là thái độ lương thiện trí thức trong vấn đề
học thuật (scholarship), hiển nhiên là một quyền căn bản của con người. Người trong đạo có quyền nói là họ chỉ
cần đức tin. Còn người ngoại đạo
chúng tôi cũng có quyền nói là chúng tôi không tin. Điều khác biệt là chúng tôi có những
lý lẽ để không tin. Còn quý vị tin
là tin chứ không cần đến lý lẽ. Chúng ta đã biết, tất
cả các thuộc tính của God mà Ki-tô Giáo đưa ra đều là do sự tưởng
tượng của con người. Nhưng có lẽ
chúng ta cũng nên tìm hiểu là họ đã tưởng tượng như thế nào, có hợp
lý không, và có nhất quán không. Chúng ta có thể thấy ngay, có hai thuộc
tính của God hoàn toàn mâu thuẫn nhau: invisible
(vô hình = nghĩa là không ai có thể nhìn thấy) và omnipresent, nghĩa là có mặt khắp nơi
(being present everywhere). [Có một câu chuyện về một “sơ” [các “sơ”
thường tự nhận là “hôn thê của Chúa” (bride of Christ)], rất tin ở
thuộc tính “omnipresent” mà giáo hội dạy nên luôn luôn tắm với quần
áo, sợ rằng để Chúa nhìn thấy cái của nợ của mình thì mang tội với
Chúa]. Thuộc tính “có mặt khắp nơi”
này của Chúa có nghĩa là Chúa có mặt ở Hiroshima ngay chỗ quả bom nguyên
tử nổ; có trong người Hitler vì Hitler là một tín đồ Ca-tô, chắc chắn
đã được rửa tội, được một linh mục hay giám mục gì đó đặt tay
trên đầu và truyền lệnh cho Thánh Linh, alias Chúa, xuống ngự trong người;
có trong Satan, chứa đầy Satan; và lẽ dĩ nhiên, có trong tôi khi tôi đang
viết những câu này. Vậy quý vị nào
mở miệng mạ lỵ tôi vì tôi viết những bài thuộc loại này là quý vị
cũng đã mạ lỵ luôn cả Chúa ở trong tôi, theo niềm tin của quý vị, chứ
không phải là niềm tin của tôi. Vì
Chúa ở trong tôi là một điều bất hạnh đối với tôi chứ không phải
là điều vinh hạnh. Các tín đồ Ki-tô
giáo đã tin vào một God vô hình nhưng lại có mặt khắp nơi Vậy thực chất niềm tin của họ là tin
vào cái vô hình nhưng lại có mặt khắp nơi và không thể hiểu nổi
(invisible, omnipresent and incomprehensible). Kiểu
tin này, chúng ta thường gọi là “mù lòa tin bướng tin càn”, kiểu tin
đặc thù của Ki-tô Giáo.. Nhưng chúng
ta cũng không nên quên rằng, trong Kinh Thánh, God không phải là vô hình, mà
có hình bằng xương bằng thịt, đã nói chuyện với Adam và Eve, Abraham,
Isaac, Jacob, Moses v..v... God còn ra lệnh
cho các binh sĩ trong trại, mỗi khi đi đại tiện phải chôn phân cho kỹ
[Phục Truyền 23: 12-14], vì God không muốn nhìn thấy thứ này khi đi dạo
trong trại [có thể là sợ giẫm phải. God không thể tưởng tượng được
là ngày nay, hầu hết trong các đô thị ở các xứ văn minh tiến bộ trong
đó có Việt Bây giờ chúng ta
hãy điểm qua vài thuộc tính điển hình của God mà các tín đồ Ki-tô
Giáo thường tin và ca tụng, và đối chiếu với những hành động của
God trong Kinh Thánh cũng như đối chiếu với thực tại xem những thuộc tính
đó có ý nghĩa gì trong thời đại ngày nay.
Làm công việc này, trước hết chúng ta cần ghi nhớ là God có
một thuộc tính là “không bao giờ thay đổi”
(immutable), nghĩa là trước sau như một, ngày xưa vậy thì ngày nay cũng vậy. Những hành động ngày nay của God chỉ là
lập lại những hành động của God trước đây.
Bởi vậy, thiên tai, bão lụt, động đất, cuồng phong v..v.., gây
nên thiệt hại nhân mạng và vật chất trên thế gian đều không được các
hãng bảo hiểm ở Mỹ bảo hiểm, vì họ coi đó là hành động của God
(Acts of God) nên God phải chịu trách nhiệm, ai muốn kiện thì cứ đi mà kiện
God. Các nhà bảo hiểm khôn lắm, họ biết rằng kiểu đi kiện God là kiểu
“con kiến mà kiện củ khoai” thì bao giờ có kết quả? Cả các nhà thờ cũng không được bảo hiểm
những “Acts of God”. Nhớ khi xưa, sét
của God cứ nhè nóc nhà thờ đang thờ God mà đánh, vì cây thập giá trên
nóc nhà thờ bằng kim loại luôn luôn vươn cao để đón chờ sét của God
đánh. Cho đến khi Benjamin Franklin
khám phá ra cái cột thu lôi thì quyền năng sấm sét của God bị vô hiệu
hóa, được tự động truyền từ cây thập giá chui xuống yên nghỉ dưới
đất. Ngày nay, mỗi khi God nổi cơn sấm
sét, chó mèo còn cúp tai chạy, chứ con người thì thản nhiên ngồi chơi
sơi nước. Trong số 23 thuộc tính của God, tôi
muốn luận trên vài thuộc tính như toàn năng, toàn trí, công chính, nhân từ,
và nhất là “lòng thương yêu” của God đối với nhân loại (A loving
God). Vì những thuộc tính này liên hệ với nhau trong phần lý luận nên
tôi để chung chúng trong phần phân tích sau đây. Trước hết là thuộc
tính “toàn năng” (omnipotent). Thế nào là “toàn năng”? Toàn năng có nghĩa “toàn là xạo” vì
ở trên cõi đời này, chẳng có gì có thể gọi là “toàn năng”. Tại sao? Vì toàn năng có nghĩa là làm gì cũng được,
không có một chướng ngại nào không thể vượt qua, không có khó khăn nào
không thể thực hiện, và nhất là không cần dùng đến phương tiện để
thực hiện, chỉ cần có ý muốn là đủ.
Theo sách Sáng Thế Ký trong Kinh Thánh của Ki-tô Giáo thì God “sáng
tạo” (sic) ra vũ trụ muôn loài bằng những lời phán. Thí dụ, Thượng đế chỉ cần phán: “Có
ánh sáng nè”, lập tức có ánh sáng v..v.. Nghĩa
là God muốn cái gì thì tức khắc cái đó có liền. Phải dùng đến bất cứ một phương tiện
nào để thực hiện bất cứ điều gì, thí dụ như dùng phương tiện tàn
nhẫn, hi sinh con một của mình để chuộc tội cho con người, hoặc dùng
đến những tên truyền đạo ngu đần để kéo người khác vào vòng mù
quáng tin God v..v.. đương nhiên đã loại bỏ thuộc tính toàn năng của
God. Suy rộng ra, chúng ta không thể
nói là God có bất cứ “hành động” nào, vì hành động đòi hỏi phải
dùng đến phương tiện để đạt tới mục đích. Lại nữa, cũng không thể nói là God có mục
đích, vì điều này uẩn hàm God có những điều chưa thực hiện được. Tất cả những điều trên đã chứng minh
không thể nào có một God “toàn năng”. Mặt khác, thuộc
tính “toàn năng” của Thượng đế không thể phù hợp với thực tế
mà chúng ta thường thấy hàng ngày. Đó
là sự hiện hữu của những sự “xấu” (evil) về vật chất cũng như về
đạo đức trong thế giới của chúng ta mà các tín đồ Ki-tô Giáo tin rằng
chính God của họ đã “sáng tạo” ra. [Trong
tiếng Anh, người ta thường dùng hai từ đối nghịch nhau là “good” và
“evil”. Good là tốt, tôi dịch “evil”
là những sự “xấu”, nhưng chúng ta nên hiểu từ này theo nghĩa rộng,
bao gồm mọi sự xấu, ác, hiện tượng thiên nhiên, hay bất cứ điều gì
đưa đến những tác hại về vật chất cũng như tinh thần cho các sinh vật
trong đó có con người. TCN] Đây là một vấn nạn nhức nhối của
Ki-tô Giáo mà không nhà thần học nào, không một lý luận nào, có thể giải
thích ổn thỏa vấn nạn này mà không vấp phải những mâu thuẫn tự tại. Không phải là ngày nay chúng ta mới
thấy sự mâu thuẫn trong những thuộc tính “toàn Năng”, “toàn trí”
và “nhân từ” của Thượng đế [T-đ]. Mà
cách đây khoảng 23 thế kỷ, triết gia Epicurus đã đặt vấn đề như sau:
Và ngày nay, Linh mục
dòng Tên G.H. Joyce cũng đã đặt vấn đề trong cuốn Principles of Natural Theology như sau: Sự hiện hữu của những sự “xấu”
trong thế giới muôn đời cũng vẫn là vấn nạn lớn nhất trong những vấn
nạn mà đầu óc con người gặp phải khi suy tư về Thượng đế và sự
liên hệ của ông ta đối với thế giới. Nếu thật sự là ông ta “toàn thiện” và
“toàn năng”, làm sao lại có những sự “xấu” ở chỗ nào trên cái
thế giới mà ông ta đã tạo ra? Khi
nào thì những sự “xấu” tới? Tại
sao chúng có mặt ở đây? Nếu
ông ta “toàn thiện”, tại sao ông ta để cho chúng xảy ra? Nếu “toàn năng” tại sao ông ta không giải
thoát chúng ta khỏi những sự “xấu”? Trong
cấp vật chất cũng như tinh thần, có vẻ như sự sáng tạo đã thất bại
trầm trọng khiến chúng ta khó có thể hiểu được là làm sao mà tất cả
là từ Thượng đế mà ra? (Peter A. Angeles, p. 204: The
existence of evil in the world must at all times be the greatest of all problems which the
mind encounters when it reflects on God and His relation to the world. If He is, indeed, all-good and all-powerful, how
has evil any place in the world which He has made? Whence
came it? Why is it here? If He is all-good why did He allow it to arise? If all-powerful why does He not deliver us from the
burden? Alike in the physical and moral order
creation seems so grievously marred that we find it hard to understand how it can derive
in its entirely from God?) Những thắc mắc
trí thức trên chứng tỏ một Thượng đế mà người Ki-tô Giáo thường
tin không thể hiện hữu, vì thực tế và những thuộc tính của Thượng
đế có tính loại trừ lẫn nhau (mutual
exclusive), nghĩa là, có cái này thì không thể có cái kia. Nhưng có lẽ chúng
ta cần khai triển vấn đề thực tế để có thể thấy rằng những thắc
mắc trên rất chính đáng. Vậy thực
tế là như thế nào? Đối với những
người có cái “gen” của Thượng đế cho nên dễ bị nghiện đạo thì
có lẽ không bao giờ họ quan tâm đến thực tế.
Họ chỉ cần biết một điều: “yêu Thượng đế hết lòng hết
sức” như Kinh Thánh dạy, và chờ đợi để nuốt cho riêng mình những cọng
ân huệ của Thượng đế, bất kể là tổ tiên, ông bà, cha mẹ, anh chị
em, vợ chồng, con cái mình, có thể vì không tin nên bị Thượng đế đày
đọa hỏa ngục vĩnh viễn.. Nhưng đối
với những người có đôi chút đầu óc thì thực tế đã làm cho họ
không tránh khỏi những thắc mắc suy tư về thế giới mà chúng ta đang sống
trong đó. Theo luận điệu thần
học của Ki-tô Giáo thì Thượng đế đã sáng tạo ra vũ trụ và muôn
loài, trong đó đặc biệt là con người đã được Thượng đế tạo nên
theo hình ảnh của Thượng đế và giống như Thượng đế, vì vậy chúng
ta phải tôn thờ, yêu hết lòng hết sức Thượng đế, đấng đã sáng tạo
ra chúng ta. Chúng ta hãy thử phân tích
một số vấn đề để xem chúng ta nên tin theo Ki-tô Giáo để mà hết
lòng hết sức thương yêu Thượng đế như thế nào? Thượng đế sáng tạo
ra chúng ta, rồi lại hành hạ chúng ta đủ điều. Vì sự lầm lỗi, thực ra là sự sáng suốt,
của một người (Adam) mà Thượng đế đã trả thù cả nhân loại. Ai bảo đây là công lý xin lên tiếng. Công lý của Thượng đế đã bị công lý
của người đời loại bỏ trong hầu hết các xã hội ngày nay. Rồi Thượng đế lại muốn cứu chúng ta
ra khỏi cái tội không hề có trên thế gian: tội tổ tông. Rồi nữa,
hoàn thành công việc sáng tạo trong 6 ngày, Thượng đế rất hài lòng và
tự khen là tất cả mọi thứ tạo ra đều rất là tốt đẹp, tuyệt hảo
(very good).. Ngày thứ bảy, Thượng đế nghỉ, và ra luật “Đứa nào
không nghỉ ngày thứ bảy giống như ta thì sẽ phải xử tội chết.”. Nhưng rồi Thượng đế lại thấy những sản
phẩm “sáng tạo” ưng ý nhất của mình là con người theo hình ảnh
mình, giống như mình, không phải là rất tốt (very good) mà là rất xấu
(very bad), nên Thượng đế đã tạo ra Hồng Thủy để giết tất cả mọi
người trừ gia đình của một tên say rượu (Noah) vì loài người xấu xa,
và giận cá chém thớt, giết luôn tất cả nhiều triệu chủng loại sinh vật,
chỉ chừa lại mỗi thứ 1 cặp, những sinh vật không có đắc tội gì với
Thượng đế và do chính Thượng đế “sáng tạo” ra. Có thể nói được
chăng là Thượng đế rất mực nhân từ, quá thương yêu thế gian như các
nhà truyền giáo thường rao giảng cho đám tín đồ đầu óc thuộc loại của
con chiên, người ta bảo sao nghe đó? Chính
mình đã thất bại trong sự “sáng tạo” của mình, nhưng lại đi trừng
phạt những thứ do chính mình sáng tạo ra, công lý ở chỗ nào đây. Thượng đế của Ki-tô Giáo chưa học được
câu: “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” của Đông phương. Chúng ta hãy bỏ qua
những luật của Thượng đế mà ngày nay chẳng có ai tuân hành, kể cả
những người Ki-tô Giáo, nhất là luật nghỉ ngày thứ Bảy, mà chỉ nhìn vào những vật sáng tạo của Thượng
đế. Chúng ta thấy gì? Hãy bỏ qua vũ trụ rộng lớn khoảng 15 tỷ
năm ánh sáng mà nhiều khoa học gia đã tìm hiểu, chỉ nhìn vào trái đất
mà chúng ta đang sống trên đó, chúng ta có thể đánh giá một cách khá
chính xác những thứ mà Thượng đế cho là rất tốt đẹp, nhất là loài
người, được Thượng đế tin là sẽ tái tạo đạo đức sau cơn Hồng
Thủy. Trước hết, trên
trái đất có những sa mạc nóng như thiêu đốt, những miền băng giá lạnh
buốt, những rừng rú đầy chướng khí, những vùng sình lầy đầy cá sấu
v..v.. mà không có ai có thể sống một cách tự nhiên, thoải mái trong các
vùng đó. Rồi thì có những con ác
thú, rắn rết, bọ cạp, ruồi muỗi, và hàng triệu loại sâu bọ khác
nhau. Mục đích sáng tạo ra một thế
giới như vậy để làm gì, hiển nhiên không phải là để giúp con người
mà là hại con người. Thứ đến, thiên tai
đầy rẫy: cháy rừng, núi lửa, động đất, bão tố, cuồng phong, hạn
hán, lụt lội, nạn đói v..v.. Rồi thì biết bao chứng bệnh hiểm nghèo
điển hình là bệnh hủi, ung thư, AIDS v..v.. và sau cùng, có những đứa bé
sinh ra là quái thai, mù, điếc, bị những khuyết tật, dị tật bẩm sinh
v..v.. Tất cả những sự “xấu” như
trên đã tàn phá không ít đời sống của con người, tác phẩm ưng ý nhất
của Thượng đế. Có nhà thần học
Ki-tô nào, chuyên nghiệp cũng như mới tập sự, có thể giảng cho tôi hiểu
có cái gì đáng giá trong những sản phẩm sáng tạo của một “Thượng
đế quá thương yêu thế gian..” như trên, và những thứ đó có ích gì
cho nhân loại? Hay đó là những “kế
hoạch mầu nhiệm” của Thượng đế mà đầu óc con người không thể
nào hiểu nổi, theo như luận điệu lừa dối của giới truyền đạo trước
đám tín đồ đầu óc thấp kém? Thượng đế của Ki-tô Giáo, nếu có,
tuyệt đối không phải là “quá thương yêu thế gian” như những nhà
truyền đạo tập sự quảng cáo, mà thực chất chỉ là một kẻ rất
thích thú trong cuồng bạo (sadist), thích thú trước những sự bạo tàn, giết
chóc do chính mình “sáng tạo” ra. Đọc
kỹ Kinh Thánh, nhất là Cựu Ước, chúng ta thấy rõ điều này. Trên đây chỉ là những
sự “xấu” về vật chất mà Thượng đế đã “sáng tạo” ra để phục
vụ con người, vì Ngài đã “quá thương yêu thế gian”, theo như niềm
tin của những người có đầu mà không có óc.
Bây giờ, chúng ta hãy xét đến những sự “xấu” thuộc lãnh
vực tinh thần, tâm linh của loài người. Vì
con người được tạo ra theo hình ảnh của Thượng đế và giống như
Thượng đế cho nên chúng ta thấy trong loài người tất cả những “đức
tính” của Thượng đế như: ích kỷ, tham, sân, si, ganh ghét, ghen tuông,
hèn nhát, độc ác, lừa bịp, xảo quyệt. Sau khi phải dùng đến phương
tiện đất sét để tạo nên Adam theo hình ảnh mình và giống như mình, Thượng
đế xoa tay tự khen “very good”. Nhưng
“very good” như thế nào? Tác phẩm
đầu tay của Thượng đế là Adam và Eve. Ngay
thế hệ đầu, Cain và Abel đều là con của Adam và Eve, nhưng vì sự bất
công, thiên vị của Thượng đế [Thượng đế thích phần thịt mỡ có
nhiều chất béo và cholesterol của Abel dâng, và chê phần rau trái của
Cain], Cain đã giết ngay người em ruột của mình, sau đó loạn luân với mẹ
Eve để sinh con đẻ cái. Cain chính là
hình ảnh của Thượng đế, giống như Thượng đế, như mục đích tạo
ra loài người của Thượng đế. Vậy
thì tốt đẹp ở cái chỗ nào? Ai bảo
tốt đẹp ở chỗ nào? Xin lên tiếng. Thượng đế là bậc
toàn năng, theo niềm tin của những người không hiểu toàn năng là gì,
không có cách gì khác để tạo ra loài người hay sao? Thí dụ, chỉ cần phán một câu là có một
cặp vợ chồng da đen, một cặp lờ lờ gần giống như Dê-su ở miền
Trung Đông, một cặp da trắng v..v.. thì có phải tránh được vấn đề loạn
luân hay không? [Các khoa học gia ngày
nay đã khám phá ra rằng màu da của con người biến thiên từ trắng đến
đen thành 36 màu khác nhau] Nhưng Thượng đế lại thích cái trò loạn luân
vì trong Kinh Thánh, những lời mạc khải của Thượng đế nên không thể
sai lầm, không thiếu gì những chuyện loạn luân: anh lấy em, anh hiếp em,
em ngủ với chị dâu, bố chồng ngủ với con dâu v..v. Ngoài ra, Kinh Thánh viết rõ: Thượng đế
là Thượng đế của chiến tranh, nên con người đã tạo ra không biết bao
nhiêu là cuộc chiến tranh với tất cả những hành động độc ác, khủng
khiếp đi kèm với chiến tranh. Thử
nghĩ xem, con người, tác phẩm ưng ý nhất của Thượng đế theo niềm tin
của những tôi tớ của Thượng đế, có hơn gì loài vật không? Đã đành rằng con người là dạng tiến
hóa cao nhất trong các sinh vật, có lý trí, có óc phân biệt phải trái, nhưng
con người đã làm những gì cho đồng loại?
Loài vật cắn xé nhau, mạnh hiếp yếu, cá lớn nuốt cá bé,
nhưng chúng chưa hề tra tấn đồng loại, chưa hề phát minh ra những dụng
cụ tra tấn vô cùng khủng khiếp như của Ki-tô Giáo trong thời Trung Cổ
để tra tấn những người mà họ cho là lạc đạo, chưa từng phát minh ra
bom nguyên tử để với một quả bom có thể làm chết cả trăm ngàn người. Cái ác của con người thật không có gì
sánh nổi. Mà phần lớn những phát
minh này là từ những con cái Chúa, từ những xã hội văn minh tiến bộ tự
nhận là dân Chúa. Từ sự phân tích
vài điều trên, tôi thấy con người không có một lý do nào để yêu thương
hết lòng hết sức một Thượng đế như vậy, nếu thực sự là có một
Thượng đế. Một Thượng đế như vậy
cần phải lên án và loại bỏ ra khỏi đấu óc con người, để cho đầu
óc con người không bị ô nhiễm bởi những điều độc ác, phi nhân, phi
lý trí. Khi Dê-su bị đóng đinh trên
thập giá, ông ta đã xin Thượng đế tha thứ cho những người đang hành
hình ông ta: “Cha hãy tha thứ cho họ vì họ
không biết là họ đang làm gì”, nhưng một học giả Ki-tô đã đưa
ra một nhận định sâu sắc: “Nếu cái
tên Ki-tô (Dê-su) không biết gì về siêu hình học này mà có chút kiến thức
nào về luật nhân quả, thì lời cầu nguyện của hắn phải đọc ngược
lại - Con người, hãy tha thứ cho Thượng đế, vì hắn đã không biết là
mình làm những gì...Nhưng con người có thể tha thứ cho sự độc ác của
Thượng đế không? ” [Lloyd M. Graham, Deceptions
& Myths of the Bible, p.425: Had this metaphysically ignorant Christ possessed
any knowledge of Causation, his prayer would read in reverse- Man, forgive God, for he knows not what he does..
But, can man forgive God for his cruelty?] Sau khi loại bỏ Thượng
đế ra khỏi đầu óc thì chúng ta còn lại gì?
Đó là một đầu óc lành mạnh, có khả năng suy tư, và từ đó
có thể giải thích về sự hiện hữu của những sự xấu trên thế giới. Đó là chẳng có Thượng đế nào sáng tạo
ra vũ trụ muôn loài, mà tất cả đều phù hợp với thuyết Tiến Hóa. Thuyết Tiến Hóa có thể gói trọn trong một
thuyết mà Phật Giáo đã đưa ra cách đây trên 2500 năm: thuyết Duyên Sinh
hay Duyên Khởi. Đủ duyên thì thành
mà hết duyên thì diệt. Chữ duyên
trong Phật Giáo có nghĩa rất rộng, gồm tất cả những yếu tố tạo thành,
yếu tố vật chất cũng như tinh thần, thể hiện dưới thiên hình vạn trạng.
Con cóc được sinh ra vì nó có đủ duyên để tạo thành con cóc. [Gần đây. nền thần học theo cung cách Á
Châu cố gắng đánh đồng Chúa Trời của Ki Tô Giáo với ông Trời của
người Việt Có một câu của
Giáo sư Trịnh Xuân Thuận viết trong cuốn
“L'Infini Dans La Paume de la Main” có thể giúp chúng ta hiểu phần nào
chỗ đứng của chúng ta trong vũ trụ: "Tiến
hóa từ những cát bụi của những ngôi sao, chúng ta chia sẻ cùng một lịch
sử vũ trụ với những con sư tử trong những vùng hoang mạc và những
bông hoa tỏa mùi thơm" (Poussières d'étoiles, nous partageons la même
histoire cosmique avec les lions des savanes et les fleurs de lavande). Cho nên, chúng ta có thể dữ như con sư tử
cũng như hiền hòa, đẹp đẽ như những bông hoa.
Chỉ có điều, vì chúng ta là dạng cao nhất trong các sinh vật,
nên nhiều khi chúng ta có thể dữ hơn sư tử nếu chúng ta không thấy được
nguyên lý tương tức (interbeing), hay tương nhập (inter-penetration), hay duyên
khởi (dependent origination) trong Phật Giáo, và do đó, không biết xử dụng
đầu óc của chúng ta cho đúng. Thứ đến là thuộc
tính “toàn trí” (omniscient) của Thượng đế, nghĩa là cái gì cũng biết,
quá khứ, hiện tại, vị lai đều biết cả. Toàn trí hàm ý có một kiến
thức không giới hạn. Trước hết, hai thuộc
tính “toàn trí” và “toàn năng” có tính loại trừ lẫn nhau, có cái
này thì không thể có cái kia. Nếu God
biết trước tương lai sẽ phải xảy ra thế nào thì God không thể thay đổi
tương lai, như vậy khả năng cũa God bị giới hạn, God không thể toàn năng. Ngược lại, nếu God có thể thay đổi
tương lai, God đã không biết trước tương lai, God không thể toàn trí.. Nhưng hiển nhiên là, đọc Kinh Thánh,
chúng ta thấy rằng God không biết gì về quá khứ, hiện tại và vị lai. Trong Kinh Thánh có rất nhiều điều sai lầm
về thần học cũng như khoa học. Đây
là điều không ai có thể phủ nhận. Ngay
trong tác phẩm “sáng tạo” của God cũng có nhiều điều bất toàn trước
kiến thức thông thường của con người hiện đại. Trong quá khứ, để
biện hộ cho sự hiện hữu của những sự “xấu” trên thế gian, Ki-tô
Giáo đã đưa ra nhiều luận điệu thần học để biện minh cho God của họ. Một trong những luận điệu này mà ngày
nay có vài tân tòng Tin Lành vẫn dùng là: “God không muốn con người là
những người máy (robots) mà phải có tự do hành động theo ý muốn hay ý
chí tự do (free will). Con người có khả năng và có tự do chọn giữa tốt
và xấu, đúng và sai. Cho nên những sự xấu ác do con người gây ra là
trách nhiệm của con người, không phải của Thượng đế. Vậy sự hiện hữu của những sự “xấu”
không có gì là đối nghịch với thuộc tính toàn thiện của Thượng đế.” Cũng như các luận điệu thần học khác
để biện minh cho sự hiện hữu của Thượng đế, đây chỉ là một luận
điệu cãi quanh cãi quẩn và chỉ có thể làm cho đám người thấp kém tiếp
tục tin vào Thượng đế của Ki-tô Giáo. Thật vậy, Ki-tô
Giáo muốn chúng ta tin vào một Thượng đế đã tạo ra loài người, tất
nhiên là với ý định là mọi người phải sống tốt và tuân phục Thượng
đế. Nhưng con người, vì có ý chí tự
do nên lại coi thường ý muốn của Thượng đế và mang những sự xấu đến
cho đồng loại. Nhưng bảo rằng con
người, vì có ý chí tự do, nên có thể chống ý muốn của Thượng đế
là một luận điệu thần học không đứng vững nếu không muốn nói là
hoàn toàn vô nghĩa, vì Thượng đế là
một Thượng đế toàn năng, nghĩa là làm gì cũng được, không có một chướng
ngại nào không thể vượt qua, không có khó khăn nào không thể thực hiện,
và nhất là không cần dùng đến phương tiện để thực hiện, chỉ cần
có ý muốn là đủ. Như vậy, chúng ta
không có kết luận nào khác là sự hiện hữu của những sự xấu trên thế
gian nằm trong ý định của Thượng đế, nghĩa là Thượng đế muốn thế. Nếu Thượng đế muốn một thế giới không
có những sự xấu thì không có gì có thể ngăn cản Thượng đế thực hiện
điều này. Mặt khác, thuyết ý chí tự
do (free will) không thể có tính cách thuyết phục vì những lý lẽ sau đây. Thứ nhất, sự xấu
không chỉ xảy ra trong xã hội loài người, mà còn xảy ra trong thiên
nhiên, trong xã hội các loài vật. Vậy,
tự do ý chí nào sinh ra ung thư, bệnh dịch, động đất v..v.. là điều không
một nhà thần học nào có thể giải đáp để biện minh cho thuyết “Tự
do ý chí” của Ki-tô Giáo. Thứ nhì, tại sao
God lại sáng tạo ra loài người với tự do ý chí khi, vì thuộc tính toàn
trí của God, God đã biết trước là con người sẽ phạm tội nếu có cơ
hội, thí dụ như những kẻ giết người, những linh mục loạn dâm, những
cuộc chém giết nhau vì lý do tôn giáo trong đó có vô số những kẻ vô tội
bị chết oan v..v... Thứ ba, nếu có cái
gọi là ý chí tự do thì con người có cái đó khi nào? Hiển nhiên một bào thai trong bụng mẹ
không thể có ý chí tự do, một đứa trẻ sơ sinh không thể có ý chí tự
do, một người mới sinh ra đã bị khuyết tật về tinh thần không thể
có ý chí tự do. Vậy khi nào thì con
người được Thượng đế ban cho ý chí tự do?
Khi lên ba, lên bảy, hay 18 tuổi. Một đứa trẻ, muốn làm những
điều mà bố mẹ thường ngăn cấm, vậy nó có thể xử dụng được ý
chí tự do của nó không? Một người
đã trưởng thành cũng không thể tự do làm theo ý mình mà phải theo những
quy luật trong xã hội đã được mọi người đồng ý, vậy ý chí tự do
của Thượng đế ban cho sẽ được xử dụng như thế nào. Hay ý chí tự do của Thượng đế ban cho
chỉ có khi già như tổng thống Reagan đã bị bệnh mất trí nhớ? Thực tế là, những
hành động và cách xử sự của con người tùy thuộc rất nhiều yếu tố:
di truyền, giáo dục, ảnh hưởng của môi trường xung quanh, chế độ dinh
dưỡng v..v.. Chỉ cần bị nhiễm một
loại siêu vi trùng nào đó là con người có thể thay đổi tác phong, suy
nghĩ của chính mình, và như vậy đã vô hiệu hóa cái ý chí tự do mà Thượng
đế đã ban cho. Một virus có thể cướp
quyền Thượng đế, mạnh hơn Thượng đế.
Nhưng sự tiến bộ trí thức của con người đã mang lại nhiều
kết quả để vô hiệu hóa những tác dụng độc hại của nhiều loại
virus, song song với sự vô hiệu hóa những tác động độc hại của Thượng
đế, nếu ta tin rằng Thượng đế là đấng sáng tạo ra vũ trụ muôn
loài như Ki-tô Giáo thường dạy. Vậy
trên thực tế, con người đã vượt quyền của Thượng đế và trong rất
nhiều trường hợp, Thượng đế đã tỏ ra bất lực Sau cùng là quan niệm “a loving God”
của Ki-tô Giáo. Người Ki-tô thường
ưa thích trích dẫn câu John 3: 16: “Thiên
Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những
ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.”
để “chứng minh” lòng thương yêu của God đối với nhân loại. Nhưng ngày nay, người ta biết rằng nhân
loại đã có mặt trên trái đất nhiều triệu năm trong khi Dê-su mới sinh
ra đời cách đây khoảng 2000 năm. Do
đó câu trên trở nên vô nghĩa một cách lố bịch, vì chỉ có những người
tin Dê-su mới không bị luận phạt, một luận điệu thần học ngớ ngẩn,
ngu dốt của những người không hề biết gì về nhân chủng học. Tuy nhiên, chúng ta hãy thử đọc Kinh Thánh
của Ki-tô Giáo để xem xem God đã “quá thương yêu thế gian” như thế nào. Chúng ta hãy kể sơ
sơ vài điều trong vô số những hành động của God như được viết trong
Kinh Thánh: -
God đòi hỏi
và chấp nhận giết người để tế Thiên Chúa (Leviticus 27; Judges 11; 2 Samuel 21). -
God giết đứa
con đầu lòng trong mọi gia đình Ai Cập (Exodus 12) -
God chấp nhận
nô lệ (Exodus 21; Leviticus 25) -
God chấp nhận
việc bán con gái làm nô lệ (Exodus 21) -
God ra lệnh giết
các phù thủy và những kẻ lạc đạo (Exodus 22) -
God xử chết những
người vi phạm ngày lễ Sabbath (không nghỉ làm việc ngày thứ Bảy)
(Exodus 31) -
God giết 70000
người trong một dịch hạch do chính God tạo ra (2 Samuel 24) -
God cho 2 con gấu
cắn nát 42 đứa trẻ vì chúng chế diễu nhà tiên tri Elisha (2 Kings 2) -
God tạo ra hồng
thủy giết chết mọi người và mọi sinh vật, chỉ chừa lại gia đình
tên say rượu Noah và giống vật mỗi thứ một cặp, vì Chúa thấy loài người,
do chính Chúa “sáng tạo” ra theo hình ảnh của God và giống như God, tội
lỗi (Genesis 6) [Dưới con mắt cận thị của God thì con người
sa ngã, mang tội với God, do đó God tạo ra Hồng Thủy để giết hại hầu
hết loài người. Nhưng thử hỏi, tại sao God lại giết tất cả mọi sinh
vật hoàn toàn vô tội, gồm có nhiều triệu chủng loại khác nhau, khi
chúng do chính God “sáng tạo” ra và không hề làm điều gì trái với ý
của God?] -
God ra lệnh giết
vợ con, anh em nếu họ theo tôn giáo khác (Deuteronomy 13) -
God xử chết những
đứa trẻ nào không cắt miếng da đầu dương vật (Genesis 17) Trên đây chỉ là
vài trường hợp điển hình chứng tỏ “lòng thương yêu” của God đối
với những sinh vật do chính God “sáng tạo” ra.
Trong Kinh Thánh còn vô số trường hợp khác God đã hoặc đích
thân ra tay, hoặc ra lệnh thực thi những cuộc tàn sát hàng loạt (mass
destruction). Quý độc giả nên tin rằng, tôi có thể liệt
kê ít nhất là năm trăm (500) hành động tương tự của God Cha (Jehovah) và
God Con (Dê-su) trong Kinh Thánh, chưa kể đến những hành động khủng khiếp
mà hai God này sẽ làm trong ngày tận thế [Xin đọc bài “Ngày Tận Thế Của Ki-tô Giáo” trên
trang nhà Giao Điểm] Một câu hỏi được
đặt ra là: Thượng đế là bậc toàn
năng, toàn trí v..v..., vậy Ngài có cả triệu phương cách khác nhau để tạo
ra một thế giới tốt đẹp hơn để chúng ta sống trên đó. Tại sao Ngài lại chọn để tạo ra một
thế giới vô nhân tính (thiên tai), tàn nhẫn (bệnh tật), độc hại (chiến
tranh), đầy những sự “xấu” v..v..? Có
phải rằng thực tế đã chứng minh rằng không thể nào có một Thượng
đế toàn năng hay toàn trí? Và nếu
có một Thượng đế đã tạo ra một thế giới như vậy thì chúng ta cần
phải lên án, không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng. Người Ki-tô Giáo
tin rằng Thượng đế của họ là bậc toàn năng, nhưng nhiều học giả đã
chứng tỏ Thượng đế của Ki-tô Giáo có ba sắc thái đặc thù trong thế
giới của chúng ta ngày nay: Thứ nhất là “không
công bằng” (unfair). Nhìn ra thế giới
chúng ta đang sống trên đó, chúng ta thấy tất cả những sự bất công
trên thế gian, không chỉ bất công với người ngoại đạo mà còn bất
công với chính những tín đồ Ki-tô Giáo ở khắp nơi trên thế giới, sự
bất công của Thượng đế, nếu có một Thượng đế toàn năng, thật là
quá rõ rệt. Thứ nhì, Thượng đế
thường xuyên ẩn náu, không bao giờ dám thò mặt ra (hidden). Thứ ba, Thượng đế
thường xuyên câm nín, không bao giờ thốt ra lời nào (silent). Nhưng tôi không muốn
khai triển, luận bàn về ba sắc thái đặc thù này của Thượng đế vì
bài sẽ trở thành quá dài. Đối với
những người có đôi chút đầu óc, thực tế cho thấy ba sắc thái trên
là điều hiển nhiên mà không cần phải nói rõ thêm. Sau phần phân tích
ở trên, chúng ta phải kết luận ra sao để trả lời câu hỏi: “Có God
Hay Không?” Đối với những tín đồ
Ki-tô Giáo, tất nhiên là có God. Nhưng
nếu chúng ta hỏi God là cái gì, ở đâu, và có những bằng chứng gì có
thể chứng minh sự hiện hữu của God, thì có lẽ không ai có thể trả lời
được, vì God chỉ có ở trong đầu họ. Tiến
sĩ Madalyn O’Hair, chủ tịch hội những người không tin God ở Mỹ, có
đưa ra một nhận định: “Thật ra, đây là những gì mà người
Ki-tô Giáo làm: chẳng thờ phụng cái gì cả.
Một vật không ai nhìn thấy, không ai biết, không ai nghe thấy,
không đáp ứng được gì (những lời cầu nguyện) mà các người gọi là
Thượng đế và cầu khẩn hàng ngày mà không hề có một đáp ứng nào. Chẳng có cái gì cả - nhưng các người thờ
phụng cái đó. Chẳng có gì nghe được
các người – nhưng các người vẫn nói lên những tiếng nói truyền
thông với cái đó. Chẳng có gì đáp
ứng – nhưng các người vẫn nghe thấy một thông điệp nào đó trong hư
không. Chẳng có gì đã từng xảy ra
– nhưng các người vẫn lý luận rằng có một cái gì đó xảy ra ở đâu
đó, có thể ở trong trái tim của con người.
Đây là một canh bạc kỳ dị mà các người chơi.” (In fact, this is what
the Christian does: worships nothing. An
unseen, unknown, unhearing, unresponding entity which you call god is supplicated by you
daily with no response. Nothing is there –
but you worship it. Nothing hears you – but
you address communication to it. Nothing
responds – but you hear some message in the void. Nothing
ever happens – but you rationalize that “something” occur somewhere, perhaps in one’s
heart. It is an incredible game that you
play.) Thật ra, những người
Ki-tô không chỉ thờ phụng một ông Thượng đế không ai nhìn thấy, không ai biết, không ai
nghe thấy, không đáp ứng được gì, mà còn thờ phụng một ông Thượng
đế đã có những hành động khủng khiếp đối với nhân loại, những
hành động mà trong thế giới văn minh tiến bộ ngày nay không ai có thể
chấp nhận. Để thay cho phần kết
luận, tôi xin trích dẫn một vài đoạn của Robert G. Ingersoll, nhà tư tưởng
tự do vĩ đại nhất trong lịch sử nước Mỹ mà cho tới ngày nay, chưa có
ai sánh kịp. “Những thiên chúa thì có ích gì
cho con người? Không phải là câu trả lời khi cho
rằng có một thiên chúa nào đó tạo nên thế giới, lập ra một số luật,
rồi quay đi làm việc khác, để cho những con cái của mình yếu ớt, ngu dốt
và không được giúp đỡ, vật lộn với đời sống. Không phải là một giải pháp khi tuyên bố
rằng cái ông thiên chúa này sẽ mang hạnh phúc đến cho một số ít, hoặc
ngay cả cho tất cả những thuộc hạ của ông ta. trong một thế giới nào
khác... Thế giới có đầy những sự bất
toàn. Phải chăng là một thiên chúa vô
cùng thông thái, thánh thiện và toàn năng, có ý định sản xuất ra con
người, lại bắt đầu từ những dạng sống thấp nhất; với những cơ
thể sinh vật đơn giản nhất mà người ta có thể tưởng tượng được,
và rồi trong những thời kỳ lâu dài không thể đo được, tiến triển chậm
đến nỗi không thể nhận ra được, từ lúc ban đầu thô thiển cho đến
khi tiến hóa thành con người? [Tác giả đã mô tả phần nào nguồn
gốc của con người theo quá trình tiến hóa. TCN] Phải chăng vô số những thời đại
đã bị phí phạm để sản xuất ra những dạng sống nguy hiểm, sau đó lại
bỏ đi? [Tác giả muốn
nói nhiều chủng loại sinh vật đã được sinh ra rồi lại bị tiêu diệt,
biến mất trên thế gian, dựa trên những sự kiện trong môn cổ sinh vật
học. TCN] Có thể nào sự thông minh của con
người thấy được chút ít khôn ngoan nào (của Thiên chúa) trong việc phủ đầy trái đất với những
con vật gớm ghiếc, chỉ sống trên sự đau đớn và những cảm xúc đau
đớn của những con vật khác? Ai là
người có thể ghi ơn lòng nhân từ (của Thiên chúa) đã dựng lên một thế giới mà súc vật ăn
thịt lẫn nhau (có con người trong này),
mỗi một cái miệng là một lò sát sinh, mỗi một dạ dầy là một nấm mồ? Có thể thấy được chăng sự thông minh
và lòng thương yêu vô cùng (của Thiên chúa) trong sự tàn sát ở khắp nơi và không bao giờ
chấm dứt? Chúng ta nghĩ thế nào về một người
cha, muốn ban cho con cái mình một nông trại, nhưng trước khi trao quyền sở
hữu nông trại cho chúng, ông ta đã trồng trên đó hàng ngàn loại cây độc
địa; chất trong đó những con thú dữ tợn, những loài bò sát độc hại;
đặt một số sình lầy ở bên để nuôi dưỡng bệnh sốt rét; xếp đặt
vật chất sao cho thỉnh thoảng đất lại mở ra để nuốt chửng một số
con cái thân yêu của ông ta; và ngoài ra, còn lập lên những núi lửa gần
bên để bất cứ lúc nào cũng có thể làm con cái của ông ta ngập trong
những dòng sông lửa? Giả thứ ông
cha này đã bỏ mặc không nói cho các con mình biết là loại cây nào độc;
là những rắn rết thì độc địa; không nói gì về động đất, giữ núi
lửa là một điều bí mật; chúng ta phải gọi ông ta là một thiên thần
hay là một tên ác ôn? Và đấy chính là những gì mà
Thiên chúa(của Ki-tô
giáo) đã làm. Và chúng ta được kêu gọi để thờ
phụng (và hết lòng, hết
sức, hết linh hồn thương yêu. CTN) một
Thiên chúa như vậy; phải quỳ xuống để mà ca tụng ông ta là tốt, là
nhân từ, là công chính, là đầy lòng thương yêu. Chúng ta được đòi hỏi là phải dập tắt
tình cảm cao quý của chúng ta, phải trà đạp dưới chân tất cả những
điều ngọt ngào từ ái trong tim của chúng ta.
Vì chúng ta từ chối không tự phủ nhận – từ chối không trở
thành những người nói láo – chúng ta bị tố cáo, ghét bỏ, vu khống,
và khai trừ trong đời sống này, và cũng cùng cái ông Thiên chúa này đe dọa
sẽ hành hạ chúng ta trong ngọn lửa vĩnh hằng lúc chết để cho ông ta
hung hăng vồ lấy những linh hồn của chúng ta. Cứ để cho họ (những người Ki-tô) ghét, cứ để cho Thiên chúa đe dọa – Chúng
ta sẽ giáo dục họ, và chúng ta sẽ khinh miệt và coi thường bất chấp
Thiên chúa. Khi mà con người còn thờ phụng một
tên bạo chúa ở trên trời thì trên trái đất này chẳng còn mấy tự do. Chúng ta không muốn được tha thứ,
nhưng chúng ta muốn những người Ki-tô Giáo phải xử sự làm sao để chúng
ta không phải tha thứ cho họ. [Ki-tô Giáo, Ca-tô cũng như Tin Lành,
đều đã xưng thú tội lỗi đối với nhân loại và xin được tha thứ.
TCN] Những nhà thần học đã chết
không biết gì hơn những nhà thần học còn đang sống. Không có gì cần phải nói thêm nữa. Về thế giới
này chúng ta chỉ biết chút ít. – về thế giới khác, chúng
ta không biết gì hết. Ông cha (Ki-tô) chúng ta lý luận bằng
những hình cụ tra tấn. Họ tin vào
lô-gic của những ngọn lửa và lưỡi gươm.
Họ ghét lý trí. Họ khinh
khi tư tưởng – Họ sợ tự do. Sống cho Thượng đế đã làm cho thế
giới ngập đầy máu lửa. Có một lối
sống khác. Hãy sống cho con người,
cho thế giới này. Hãy phát triển trí
óc và văn minh hóa tấm lòng. Hãy khẳng
định những điều kiện của hạnh phúc và rồi sống theo đó. Hãy làm tất cả những gì có thể làm
được để triệt hạ sự ngu si, nghèo khổ và tội ác. Hãy cố làm hết sức để phục vụ nhu cầu
chính đáng của thân xác, để thỏa mãn cái đói của trí óc, để khẳng
định những bí mật của thiên nhiên. Hãy để cho các thiên chúa lo cho
nhau. Chúng ta hãy sống cho con người. Chúng ta hãy nhớ rằng những người tìm
kiếm sự thật thiên nhiên chưa từng bạo hành đồng loại. Những nhà thiên văn học và hóa học chưa
từng rèn những xiềng xích, xây những ngục tù tăm tối. Những nhà địa chất học chưa từng phát
minh ra những hình chụ tra tấn. Những
triết gia chưa từng chứng minh sự thật về những lý thuyết của mình bằng
cách thiêu sống con người. [Chúng ta nên nhớ: Bạo hành đồng loại,
rèn xiềng xích, xây ngục tù tăm tối, phát minh hình cụ tra tấn, thiêu sống
con người... tất cả đều là những sản phẩm đặc thù của Ki-tô Giáo
trong lịch sử các tôn giáo nhân loại. TCN] Những người vĩ đại không theo đạo, những
tư tưởng gia, [là những người] đã sống
cho phúc lợi của con người.” (Joseph Lewis, Ingersoll: The Magnificient, pp. 151-153: Of what use have the gods been to man? It is no answer to say
that some god created the world, established certain laws, and then turned his attention
to other matters, leaving his children weak, ignorant and unaided, to fight the battle of
life alone. It is no solution to declare that
in some other world this god will render a few, or even all, his subjects happy... The world is filled with
imperfections... Would an infinite wise,
good and powerful god, intending to produce man, commence with the lowest possible forms
of life; with the simplest organisms that can be imagined, and during immeasurable periods
of time, slowly and almost imperceptibly improve upon the rude beginning, until man was
evolved? Would countless ages
thus be wasted in the production of awkward forms, afterwards abandoned? Can the intelligence of
man discover the least wisdom in covering the earth with crawling, creeping horrors, that
live upon the agonies and pangs of others? Who can appreciate the
mercy of so making the world that all animals devour animals; so that every mouth is a
slaughter-house, and every stomach a tomb? Is it possible to
discover infinite intelligence and love in universal and eternal carnage? What would we think of a
father, who should give a farm to his children, and before giving them possession sholud
plant upon it thousands of deadly srubs and vines; should stock it with ferocious beasts,
and poisonous reptiles; should take pains to put a few swamps in the neiborhood to breed
malaria; should so arrange matters, that the ground would occasionally open and swallow a
few of his darlings, and besides all this, should establish a few volcanoes in the
immediate vicinity, that might at any moment overwhelm his children with rivers of fire? Suppose that this father neglected to tell his
children which of the plants were deadly; that the reptiles were poisonous; failed to say
anything about the earthquakes, and kep the volcano business a profound secret; would we
pronounce him angel or fiend? |