505-gd.gif (3538 bytes)

posted: 05.5.2005

ĐẠO ĐỨC CỦA DÊ-SU
Một Khảo Luận Trong
“Ánh Sáng Của Tân Ước”

Trần Chung Ngọc

Vài Lời Nói Đầu.-

Theo tin của đài BBC:   [http://news.bbc.co.uk/1/hi/entertainment/tv_and_radio/4154071.stm ] thì ở Cardiff, Anh Quốc, đã có những cuộc biểu tình phản đối đài BBC vì đài này đã cho trình chiếu chương trình “Jerry Springer – Opera”.  Những người biểu tình phản đối là những tín đồ Ki-tô Giáo, phàn nàn là trong chương trình trên có quá nhiều những lời “chửi thề” (swearing) và những điều xúc phạm đến tôn giáo, dĩ nhiên là Ki-tô Giáo.  Lý do phản đối là trong chương trình có những lời chế giễu God và Dê-su Kờ-rít (mock God and Jesus Christ).  Derek Cartwright, 64 tuổi, ở Đông Luân Đôn nói: “Sự chế giễu Dê-su Kờ-rít và God hạ thấp đạo đức của quốc gia.” [the show’s mockery of Jesus Christ and God lowers the moral tone of the nation].

Một nữ phát ngôn viên của đài nói càng ngày càng có nhiều điện thư (E-mail) và điện thoại gửi đến ủng hộ quyết định của đài đã cho trình chiếu chương trình trên, chương trình này vẫn tiếp tục
trình chiếu trước đám khán giả đông nghẹt ở phía Tây Luân Đôn [in support of the corporation’s decision to screen the show, which continues to run to packed audiences in London’s West End].

Hiệp hội Thế Tục Quốc Gia [The National Secular Society] ủng hộ quyền trình chiếu chương trình của đài và yêu cầu đài BBC đừng có chịu thua “những sự hiếp đáp tôn giáo.” [not to give in to “religious bullies’]  Phó Giám Đốc Terry Sanderson nói: “Sự chống đối có tổ chức này là sự chống đối mới nhất của một loạt những toan tính của tôn giáo (Ki-tô Giáo) muốn kiểm soát những gì chúng ta có thể xem và nói trong quốc gia này.” [This organised attack is the latest of a series of attempts by religious interests to control what we can see or say in this country.]

Đọc mẩu tin trên, tôi có cảm tưởng là đối với những tín đồ Ki-tô Giáo kém hiểu biết và cuồng tín thì bất cứ điều gì nói đến God và Dê-su Kờ-rít mà không đúng như niềm tin của họ hay như những điều mà họ được “giáo hội dạy rằng..”, đều là xúc phạm đến tôn giáo của họ.  Hơn nữa, trong vụ trình chiếu này, họ còn cho rằng đã phạm đến đạo đức của quốc gia, một nền đạo đức có căn bản từ đạo đức của God và Dê-su Kờ-rít.  Họ quên rằng, trong thế giới văn minh tiến bộ ngày nay, tôn giáo, bất kể tôn giáo nào, đều không được đặc quyền miễn nhiễm trước những công cuộc nghiên cứu và phê bình tôn giáo của giới trí thức.

Do đó, tôi nảy ra ý kiến tìm hiểu về đạo đức của Dê-su Kờ-rít [Đạo đức của ông cụ thân sinh ra  Dê-su, alias the Christian God, alias Thượng đế, alias the Jewish God Jehovah, Elohim, or Eli v..v.., thì có đầy trong Cựu Ước và tôi đã trình bày phần nào rồi].  Sau đây là bài khảo luận về đạo đức của Dê-su trong ánh sáng của những điều viết về Dê-su trong Tân Ước.

*

Tuyệt đại đa số tín đồ Ki-tô Giáo thường ca tụng Dê-su như là một nhà đạo đức tuyệt vời, và các điều ông dạy về luân lý, đạo đức rất độc đáo, chưa từng có trên thế gian, vì ông ta là con Thiên Chúa, hay chính ông ta là Thiên Chúa.  Đó là những gì mà các giáo hội Ki-tô đã dùng đủ mọi cách để cấy vào đầu óc tín đồ vì biết rằng các tín đồ không bao giờ đọc Kinh Thánh, hoặc chỉ đọc những đoạn “bề trên” bảo họ đọc.  Ngay cả những người không đồng ý với những thuyết lý của Ki-tô giáo cũng thường dựa vào vài câu lạc lõng trong Tân Ước và coi Dê-su như là một nhà cải cách trong lãnh vực đạo đức.  Tuy nhiên, khi đánh giá đạo đức của Dê-su, có quá nhiều vấn đề trong việc khẳng định những gì mà con người lịch sử Dê-su thực sự giảng dạy.  Tất cả những gì chúng ta biết về Dê-su đều nằm trong Tân ước, do đó muốn tìm hiểu vấn đề đạo đức của Dê-su chúng ta không thể bỏ qua Tân Ước.  Qua những công trình nghiên cứu về nhân vật Dê-su, về Kinh Thánh, về lịch sử Do Thái, về nền văn hóa Trung Đông v..v.. trong vòng 200 năm gần đây của các học giả, chuyên gia về Ki-tô Giáo, chúng ta biết rằng Dê-su trong Tân Ước và Dê-su thực trong lịch sử là hai nhân vật khác nhau.  Nhưng chính Dê-su trong Tân ước là Dê-su mà những tín đồ Ki-tô Giáo tin, cho nên sau đây tôi sẽ luận về đạo đức của Dê-su trong Tân ước.

Đọc Tân ước, chúng ta thấy rõ là những người theo Dê-su lúc đầu, tin vào lời hứa hẹn của Dê-su, trông ngóng ông ta trở lại trong một ngày rất gần, cũng là ngày tận thế, cho nên họ không có lý do gì để viết lại cho hậu thế cuộc đời của Dê-su và những lời giảng dạy về đạo đức của ông ta, nếu có.  Nhưng thời gian qua, ký ức về Dê-su lu mờ, và sự thất vọng lan tràn (vì Dê-su không trở lại), điều trở nên cần thiết để duy trì đức tin là viết ra những câu chuyện về Dê-su, những câu chuyện thuộc loại huyền thoại, và về những tư tưởng mà những người tin theo ông ta trong thời đó cho là độc đáo của Dê-su, vì kiến thức của họ rất giới hạn, không biết đến những tư tưởng đạo đức và triết lý trong các nền văn minh khác, đặc biệt là nền văn minh Á Đông.  Họ cũng còn viết về những quyền năng làm phép lạ của Dê-su để nâng ông ta lên địa vị của một vị thần, hay ít nhất là con của một vị thần của dân tộc Do Thái, có tên là Jehovah hay Elohim, phù hợp với đầu óc của con người cả tin trong một thời đại đầy những chuyện hoang đường mê tín. Tân Ước được viết trong thời đại này, khoảng từ 40 đến 80 năm sau khi Dê-su chết và không hề trở lại như lời ông ta đã hứa hẹn là sẽ trở lại trần khi một số đệ tử của ông ta còn sống.  Đó là tại sao chúng ta có sách Tân Ước trong cuốn Kinh Thánh ngày nay.  Các nhà nghiên cứu Tân Ước đã biết rõ là mỗi Phúc Âm được viết ra theo một mục đích riêng của người viết: Matthew, Mark, Luke, và John.  Nhưng đây không phải là chỗ để bàn về vấn đề này.

Theo hầu hết các học giả nghiên cứu Kinh Thánh, những câu chuyện trong bốn Phúc Âm viết về Dê-su chỉ xuất hiện trong khoảng từ 40 đến 80 năm sau khi ông ta bị đóng đinh, chết, và táng xác, những điều duy nhất trong Kinh Tin Kính Của Các Tông Đồ đúng với sự thật, theo như nhận định của Giám mục John Shelby Spong.   Những chuyện viết về Dê-su trong bốn Phúc Âm được viết theo ý định của mỗi tác giả cho nên không tránh được những mâu thuẫn, và phần lớn là những huyền thoại, thí dụ như chuyện Dê-su sinh ra từ một nữ trinh (virgin birth), chuyện Dê-su chịu chết để chuộc tội cho nhân loại, chuyện Dê-su sống lại và bay lên trời, vai trò cứu rỗi của Dê-su v..v..., những chuyện mà ngày nay khó có người nào trong giới hiểu biết còn có thể chấp nhận, và ngay chính những bậc lãnh đạo trong Ki-tô Giáo nói chung như Giáo Hoàng John Paul II, Giám mục John Shelby Spong, Mục sư Ernie Bringas, Linh mục James Kavanaugh, và các nhà thần học nổi tiếng trên thế giới như Hans Kung, Uta Ranke-Heinemann v..v.., chưa kể đến tuyệt đại đa số các khoa học gia, cũng không thể chấp nhận.  Không kể các học giả trong môi trường đại học, nhiều nhà thần học trong các giáo hội Ki-tô cũng đã đặt vấn đề trước những chuyện thuộc loại huyền thoại trên, thí dụ như giáo sư thần học Hans Kung, Linh Mục John P. Meier, Giám mục John Shelby Spong, Mục sư Ernie Bringas, Mục sư Harry Wilson v..v.. Nữ Giáo sư thần học Ca-tô Uta Ranke-Heinemann cũng phải coi những chuyện trên là những chuyện trẻ con cần phải dẹp bỏ trong cuốn “Hãy Dẹp Đi Những Chuyện Trẻ Con” (Putting Away Childish Things).  Linh mục  James Kavanaugh và Giám Mục Spong cũng lên tiếng phê bình và cho rằng cần phải dẹp bỏ huyền thoại “cứu rỗi” và vai trò “cứu rỗi” của Dê-su.  [Hai bài đã được đăng trên trang nhà Giao Điểm trước đây]

Như trên đã nói, Dê-su của nền thần học Ki-tô Giáo và con người Dê-su lịch sử là hai nhân vật hoàn toàn khác nhau.  Nhưng chính là Dê-su trong Tân ước chứ không phải là Dê-su lịch sử đã tạo nên ảnh hưởng trên đám tín đồ, và chính là Dê-su trong Tân ước mà người ta cho là một nhà đạo đức vĩ đại.  Do  đó, trong bài này, chúng ta sẽ chấp nhận những gì viết về Dê-su trong Tân ước, và bỏ qua vấn đề có bao nhiêu phần, nếu có, tương hợp giữa Dê-su của Tân ước và Dê-su lịch sử.  Chúng ta sẽ xét những điều chính viết về Dê-su trong những Phúc Âm – đặc biệt là ba Phúc âm Matthew, Mark và Luke vì chúng có cùng một cấu trúc và nội dung giống nhau (synoptic Gospels).

Trước hết, chúng ta hãy điểm qua vài kết quả nghiên cứu của các học giả trong các giáo hội Ki-tô về nhân vật Dê-su và về giáo lý, đạo đức của ông ta.  Sau đó chúng ta sẽ đi vào phần khảo luận dựa trên những điều viết trong Tân ước.

Học giả Ki-tô Russell Shorto đã viết trong cuốn “Sự Thật Trong Phúc Âm” (Gospel Truth), trang 14,  như sau:

“Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đã khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ý là phần lớn những điều chúng ta biết về Dê-su chỉ  là huyền thoại.... Các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Dê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng   – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư.  Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường.”

(Most important, the impact of the scientific perspective is having now that even scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that much of what we know of Jesus is myth... Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger.  So the only ones left in the dark are ordinary Christians.)

Tuyệt đại đa số tín đồ Ki-tô Giáo còn sống trong bóng tối, đây là một sự kiện bất khả phủ bác. Do đó, chúng ta không lấy làm lạ khi thấy, dù rằng chính Giáo hoàng John Paul II của Ca-tô Giáo Rô-ma (Công Giáo) đã lên tiếng chấp nhận thuyết Tiến Hóa, bác bỏ quan niệm của Ki-tô Giáo về thiên đường và địa ngục, và nhiều giới lãnh đạo trong Ki-tô Giáo đã lên tiếng khẳng định là những điều viết về Dê-su trong Tân Ước cũng như những điều các giáo hội Ki-tô giảng dạy về Dê-su chỉ là những huyền thoại, đa số tín đồ Ki-tô vẫn không biết gì đến những sự tiến bộ trí thức này.  Do đó họ vẫn tiếp tục đắm mình trong niềm tin và mơ tưởng những điều mê tín đã quá lỗi thời, như “tội tổ tông”, “con người sinh ra trong tội lỗi”, “hồng ân Thiên Chúa”, ơn “cứu rỗi” của Chúa Dê-su v..v.., lên tiếng quảng cáo cho cái đức tin không cần biết không cần hiểu của họ, với hoang tưởng là có thể kéo những người ngoại đạo vào trong bóng tối đang giam giữ tâm linh của họ.  Hăng say nhất trong sự hoang tưởng này là nhóm Tin Lành Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, Nguyễn Huệ Nhật v..v.., nhưng với trình độ quá kém cỏi của họ mà chúng ta đã thấy rõ qua những bài viết của họ, thực sự họ đang làm công việc của con dã tràng.  Muốn cứu họ ra khỏi bóng tối của vô minh, chúng ta không còn cách nào khác là phải tiếp tục giáo dục họ với hi vọng một ngày nào đó họ có thể theo kịp những kiến thức của thời đại ngày nay.

Về phương diện giáo lý và đạo đức của Dê-su, đối với những người đã đọc kỹ Kinh Thánh và biết đôi chút về các nền văn hóa khác nhau trên thế giới thì khó có ai có thể phủ bác nhận định sau đây của Joseph L. Daleiden, một học giả Ca-tô Rô-ma, trong cuốn The Final Superstition, trg. 174:

"Có rất ít, nếu có, điều sáng tác độc đáo trong giáo pháp mà người ta cho là của Dê-su.  Giống như chính huyền thoại về Dê-su, những quan điểm mà Dê-su diễn đạt chỉ là một mớ hổ lốn những ngụ ngôn và luân lý mà chúng ta có thể thấy trong những đạo cổ xưa của Ai Cập, Babylon, Ba Tư, Hi Lạp, Phật, Khổng, Ấn Độ...   Một điều rõ ràng:  Ki Tô Giáo, một tôn giáo sinh sau đẻ muộn trong lịch sử các tôn giáo, chỉ cóp nhặt  những quan điểm, ý kiến của Do Thái Giáo và các tôn giáo gọi là dân gian.   Trong cuốn Nguồn Gốc Luân Lý Trong các Phúc Âm, Joseph McCabe (Một Linh Mục Ca-tô. TCN) đã trích dẫn những quan điểm luân lý trong Phúc Âm mà người ta cho là của Dê-su song song với những quan điểm luân lý tương đương và y hệt của các tác giả Do Thái và dân gian"

(There is very little, if anything, that is original in the teaching attributed to Jesus.  Like the myth of Jesus itself, the sentiments he expresses are a hodgepodge of aphorisms and moral convictions that can be found in the ancient Egyptian, Babylonian, Persian, Greek, Buddhist, Confucian, Hindu religions...One thing is certain: Christianity, a late-comer in the history of religion, merely plagiarized sentiments from Judaism and the so-called pagan religions.  In his book Sources of Morality in the Gospels, Joseph McCabe quoted the moral views attributed to Jesus in the gospels and in parallel columns gave exact moral equivalents from Jewish and pagan writers.)

Hai nhận định trên, kết quả của những công cuộc nghiên cứu lâu dài về nhân vật Dê-su trong Tân Ước, đã cho chúng ta một cái nhìn tổng quát về con người thực của Dê-su và về những giáo lý chẳng có gì là đặc biệt của ông ta vì chỉ toàn là đi cóp nhặt.  Ngay cả khi chúng ta tin vào những điều viết trong các Phúc Âm chúng ta cũng không thể giải quyết được vấn đề diễn giải Phúc Âm.  Bởi vì, những lời dạy của Dê-su thì lộn xộn (unsystematic), và nhiều điều, đặc biệt là trong các ẩn dụ (metaphor), thì hiển nhiên là tối mù (notoriously obscure) và chẳng có mấy giá trị đạo đức vì không thể áp dụng trong thế giới xưa cũng như nay.  Sự không rõ ràng này đã đưa đến kết quả là có quá nhiều quan niệm khác nhau của các học giả nghiên cứu Kinh Thánh về Dê-su thực sự muốn nói cái gì?  Mặc dù có những diễn giải khác nhau, nhưng hầu như tất cả những nhà thần học Ki-tô Giáo đều đồng thuận ở điểm: Dê-su là ông thầy đạo đức vĩ đại nhất trong lịch sử.  Xét đến sự tràn ngập những bất đồng ý kiến về nội dung giáo lý của Dê-su, sự đồng thanh ca tụng này khiến cho chúng ta không tránh được thắc mắc, nghi ngờ về sự lương thiện trí thức trong vấn đề học thuật của các tác giả Ki-tô.

Niềm tin chung của đại đa số tín đồ Ki-tô là, bất kể Dê-su nói cái gì, ông ta phải là nhà đạo đức vĩ đại nhất vì họ tin rằng, ông ta là “Con của Thượng đế” (Son of God) hay chính là Thượng đế.  Tuy nhiên, hiếm có người nào, kể cả những người Ki-tô Giáo mà sự lương thiện trí thức bắt họ phải dè dặt trong sự phán đoán, khi đọc và đánh giá khách quan các Phúc Âm, lại dám kết luận Dê-su là con người nổi bật về đạo đức.  Đây là một vấn đề lớn đối với những tín đồ Ki-tô vì tin rằng Dê-su là một khuôn mặt thần thánh (divine figure), và một khuôn mặt thần thánh thì phải hoàn hảo trong vấn đề đạo đức.  Tin khác đi là loại bỏ tư cách thần thánh của Dê-su, và có thể bị kết tội là phỉ báng Chúa.

Chúng ta phải nhớ rằng, quyền năng “tuyệt thông” (excommunication) tín đồ của giáo hội Ca-tô Rô-ma, hoặc viễn tượng phải bị đầy đọa xuống hỏa ngục, là những sự đe dọa thường xuyên treo trên đầu những tín đồ Ki-tô, kể cả những người có đầu óc tương đối cởi mở, những người dám nghi ngờ những lời dạy của giáo hội về đạo đức của Dê-su.  Do đó, các tín đồ Ki-tô có thể chấp nhận là cuốn Kinh Thánh chứa nhiều điều sai lầm, và ngay cả chấp nhận Dê-su chỉ là một nhà cải cách xã hội, họ cũng không muốn thừa nhận là Dê-su ủng hộ những nguyên tắc mà, với bất cứ tiêu chuẩn hợp lý nào về phẩm chất đáng kính trọng của con người, cũng phải bị lên án là đáng ghê tởm về phương diện đạo đức (George H. Smith, The Case Against God, p. 313: They are unwilling to admit that Jesus advocated principles which, by any reasonable standard of human decency, must be judged as morally repugnant).  Công khai từ bỏ hoặc lên án những giáo điều của Dê-su – đây là đường ranh giới  mà không một người Ki-tô nào, bảo thủ cũng như tiến bộ, dám bước qua, vì bước qua là tự đặt mình ra khỏi Ki-tô Giáo.  Đây là giới hạn lạc đạo cho ngay cả những người cởi mở nhất trong những người có đầu óc cởi mở.  Chỉ có những người dũng cảm như Charlie Nguyễn, Phạm Hữu Tạo, và biết bao nhiêu người khác đã âm thầm bỏ đạo, mới có thể bước qua đường ranh giới này, và cất bỏ được gánh nặng Thượng đế trên vai, như Mục Sư Harry Wilson đã đề nghị cùng những tín đồ Ki-tô còn đôi chút đầu óc.

Để tránh loại bỏ những giáo lý phi đạo đức của Dê-su, các nhà thần học tiếp tục làm công việc mà họ đã làm qua nhiều thế kỷ: áp dụng xảo thuật diễn giải (interpretation).  Những đoạn bất lợi cho Dê-su được diễn giải lại dưới một khía cạnh khác sao cho có lợi, hoặc quy kết chúng là những nội suy không xác thực, do đó không cần phải quan tâm.  Đây là một trong nhiều thủ đoạn bất lương trí thức của một số nhà thần học vì như vậy là họ đã loại bỏ chọn lọc một chiều những gì trong Tân Ước không đúng với khuôn mặt thần thánh của Dê-su mà họ thường rao giảng. Họ dùng bất cứ phương pháp nào miễn là giúp cho họ diễn giải sao cho phù hợp với những điều mà họ cho là đạo đức của Dê-su; vào giờ phút nào mà họ từ bỏ con đường này họ không còn là những nhà thần học nữa, họ không còn tiếp tục tự coi mình như là một tín đồ Ki-tô.. Sự bất lương trí thức của họ là ở chỗ họ đã biết rõ vấn đề nhưng vẫn tìm đủ mọi cách để lừa bịp đám tín đồ thấp kém, giữ đám tín đồ này trong bóng tối tâm linh, để họ có thể ngự trị trên họ và từ đó thụ hưởng những quyền lợi vật chất của giới chăn chiên.

Vì nhiệm vụ của thần học là phải chấp nhận những gì của Dê-su nói, những nhà thần học Ki-tô Giáo có khuynh hướng đặt những quan niệm đạo đức của chính mình vào trong đạo đức của Dê-su.  Dê-su được dựng lên để nói những gì mà những nhà thần học thấy rằng ông ta phải nói như vậy.  Nhiều nhà thần học thấy rằng khái niệm về sự đầy đọa hỏa ngục vĩnh viễn đáng kinh tởm cho nên, lẽ dĩ nhiên, đối với họ thì Dê-su không bao giờ lại dạy một giáo lý như vậy, tuy rằng trong các Phúc Âm có nhiều chỗ Dê-su đã nói đúng như vậy.  Tương tự, một số nhà thần học đã đặt nhẹ những khía cạnh trần tục khác của Ki-tô Giáo, thế rồi Dê-su trở thành, không phải là một nhà tiên tri mà quan tâm hàng đầu là một đời sống sau sắp sửa tới, như được viết rõ trong Tân ước, mà là một nhà cải cách xã hội, quan tâm đến đời sống hạnh phúc của con người trên trái đất. Walter Kaufmann đã nhận định trong cuốn The Faith of a Heretic, trang 216:

“Hầu hết những nhà thần học đã sắp xếp gian lận Phúc Âm để khắc lên khuôn mặt lý tưởng của mình qua những điều viết trong Tân Ước:  Dê-su của Pierre Van Paassen là một nhà xã hội [thánh tổ của xã hội chủ nghĩa]; Dê-su của Fosdick là một nhà có tư tưởng tự do; đạo đức của Dê-su chính là đạo đức của Reinhold Niebuhr [một nhà thần học Tin Lành].”

(Most Christians  gerrymander  the Gospels and carve an idealized self-portrait out of the texts:  Pierre Van Paassen’s Jesus is a socialist, Fosdick’s is a liberal, while the ethic of Reinhold Niebuhr’s Jesus agrees, not surprisingly, with Niebuhr’s own)

Một thí dụ điển hình về thủ đoạn sắp xếp gian lận thần học này có thể thấy trong cuốn Đạo Đức Ki-tô của Georgia Harkness (Christian Ethics, p.30):

“...Có một câu ở cuối ẩn dụ về những nén bạc (parable of the pounds) ở trong Phúc Âm Luke thường được bỏ sót khi đọc và giảng ẩn dụ này.. Trong Luke 19:27 có câu: “Nhưng đối với những kẻ thù của Ta, những người không muốn Ta ngự trị trên chúng, hãy mang chúng ra đây và giết chúng trước mặt Ta.””

Tại sao chúng ta lại bỏ sót câu này?  Vì nó không giống như là lời của Dê-su.  Nó không giống như là những lời của một người nói trên thập giá, Luke 23:34: “Thưa Cha, hãy tha thứ cho họ vì họ không biết là đã làm gì.”  Dù rằng câu trong Luke 19:27 ở trên có nhiều phần xác thực hơn (phù hợp với nhiều lời khác của Dê-su trong Tân Ước) là câu trong Luke 23:34, chúng ta vẫn tin rằng câu sau này mới chính là của Dê-su nói.”

Đọc Tân ước, chúng ta thấy rõ Dê-su trong đó không cho mình là một nhà đạo đức, và trong suốt hầu hết lịch sử của Ki-tô Giáo, cũng không ai coi ông ta như vậy, mà nhiệm vụ căn bản của Dê-su là rao giảng về sự sắp tới của nước thiên đường (kingdom of heaven), hay nước của Thượng đế (kingdom of God), và giới điều căn bản của ông ta là nếu con người muốn vào nước thiên đường này thì phải hoàn toàn hiến dâng mình cho Thượng đế (devote themselves totally to God). Trong Matthew 4: 17, Dê su khuyến dụ quần chúng Do Thái: “Hãy thống hối, vì Nước Thiên Đường sắp tới”.   Trong thời đại đó, trước tâm cảnh khao khát của người Do Thái đang bị La Mã cai trị khắc nghiệt, những lời này đã khởi sự một phong trào theo Dê-su vì đây là một hi vọng và là một lối thoát của dân Do Thái ra khỏi vòng cơ cực.  Và trong Matthew 22: 37-38, Dê-su nói: “Các ngươi hãy yêu Chúa của các ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết tâm trí.  Đây là lời răn lớn thứ nhất.”

 “Hoàn toàn hiến dâng mình cho Thượng đế” (nghĩa là hoàn toàn tuân phục =i.e., obedience) và sứ mệnh yêu Chúa là giáo điều căn bản của Dê-su.

Toàn bộ rao giảng của Dê-su là về một thế giới khác sắp xảy ra.  Ông ta nói với các đệ tử: “Có vài người đứng đây hãy còn sống khi Nước Chúa đến với tất cả quyền năng” (Mark 9:1).  Vì Thượng đế sắp xuống ngự trị trong nước thiên đường của ông ta, những vấn đề trần thế không còn quan trọng: “Bán tất cả những gì các ngươi có và phân phát cho người nghèo, và các người sẽ có kho báu trên thiên đường, và hãy lại đây, theo Ta” (Luke 18: 22).  Albert Schweitzer cho rằng những giáo lý của Dê-su phải được hiểu như là những “đạo đức tạm thời” – một tập hợp những điều răn phải theo trước khi Nước Chúa được thiết lập, mà Dê-su tin rằng sẽ xảy ra trong khi một số đệ tử của ông còn sống.

Như sử gia nổi tiếng Frederick Conybeare viết trong cuốn “Nguồn Gốc Ki-tô Giáo” (The Origins of Christianity, pp. 153-154):

“Phần lớn những giáo lý trong Phúc Âm được viết theo quan điểm là một tai họa lớn có tác dụng hủy bỏ hết những việc trên thế giới thì sắp sửa xảy ra, và sau đó, khi Thượng đế múa cây đũa thần (divine wand), một trạng thái phúc lành mới sẽ xuất hiện, giống như một con phượng hoàng bay lên từ đống tro tàn của chính mình, mới mẻ và bất diệt. Dê-su tự cho mình là tiếng nói báo hiệu (harbinger) cho một hiến pháp thần thánh mới, tức thời được áp đặt bởi quyền năng thần thánh và sự can thiệp của Thiên Chúa trực tiếp vào những chuyện thế gian.  Do đó, điều kiện để theo ông ta là phải từ bỏ cha, mẹ, vợ, con, nhà cửa, và phải bỏ đi ngay cả nhiệm vụ thiêng liêng nhất  cổ xưa – chôn cất cha mình.”

(Much of the teaching of the gospel was uttered in view of an impending catastrophe and liquidation of this world’s affairs, out of which, at a wave of the divine wand, a new and blessed condition was to emerge, just as the phoenix arises, renewed and immortal, out of its own ashes.  Jesus felt himself to be the harbinger of a new and divine constitution...to be suddenly imposed by divine power and interference.  Hence the precepts to follow him; to forsake parents, wife, children, and home; even to neglect the most sacred of all ancient duties – that of burying one’s own father)

Nhiều nhà thần học không chịu chấp nhận quan điểm này – vì chấp nhận có nghĩa là thừa nhận Dê-su đã sai lầm về nước Chúa sắp tới – tuy trong Tân Ước có nhiều bằng chứng cho chúng ta thấy rõ quan điểm này của Dê-su.   Ngoài nhiều đoạn trong Tân ước chỉ rõ là triều đại của Thượng đế đã gần kề, sắp tới, những điều Dê-su dạy đệ tử, hầu hết không gì khác hơn là kèm theo sự hứa hẹn về một phần thưởng của Thượng đế trên thiên đường.  Dê-su dạy: “Hãy khiêm tốn, vì Thượng đế đang bí mật quan sát các ngươi sẽ thưởng các ngươi”; “Hãy tốt với người nghèo và tàn tật, các ngươi sẽ được trả lại vốn trong sự sống lại của những người công chính”.  Ngay cả trong Bài Giảng Trên Núi (The Mount Sermon) mà Ki-tô Giáo thường đề cao quá mức, cũng đầy những phần thưởng của Thượng đế: “Phúc cho những ai tinh thần yếu kém, vì nước trời sẽ thuộc về họ.” [Tinh thần yếu kém đồng nghĩa với ngu đần. TCN] “Phúc cho ai có lòng trong sạch vì họ sẽ được thấy Thương đế.”

Mặt trái của những lời hứa hẹn vô trách nhiệm về một đời sau ở trên thiên đường này, vì không ai có thể kiểm chứng được sau khi đã chết, lẽ dĩ nhiên, trong kế hoạch truyền đạo của Dê-su, và ngày nay cũng nằm trong kế hoạch truyền đạo của những nhà truyền giáo Ki-tô, là đưa ra những lời đe dọa trừng phạt những người nào không nghe và tuân phục ông ta.   Dê-su bảo các đệ tử đi truyền đạo trong xứ Do Thái: “Nếu có ai không chấp nhận những lời rao giảng của các ngươi,, hãy rũ bụi khỏi chân các ngươi khi các ngươi đi ra khỏi cái nhà hay thị trấn đó.  Thật vậy, ta cho các ngươi biết, sự phán xét trong ngày tận thế sẽ nhẹ đối với các thị trấn Sodom và Gomorrah (2 thị trấn bị Bố của Dê-su hủy diệt trong Cựu Ước) hơn là đối với thị trấn đó. (Matthew 10: 14-15).  Đây là những lời đe dọa trừng phạt những nơi nào không tin những điều Dê-su rao giảng hàm ý: “Theo ta thì sống, nghịch ta thì chết”, giống như thái độ của các hôn quân bạo chúa ở bên Tàu khi xưa.

Một yếu tố nổi bật khác trong nhiệm vụ “cứu thế” của Dê-su là lòng hẹp hòi phe phái (narrow sectarianism).  Dê-su không xuống trần để cứu thế giới, mà chỉ để cứu một phần rất nhỏ của thế giới – nghĩa là, dân Do Thái, dân được Bố ông ta chọn.  Dê-su là người Do Thái, và ông ta tự coi như là cứu tinh (savior) của dân Do Thái.  Dê-su tuyên bố: “Đừng cho là ta tới để phá bỏ luật và các nhà tiên tri (trong Cựu Ước); Ta không đến để phá bỏ mà là để hoàn thành chúng (Matthew 5:17)”  Ông ta dặn các đệ tử đi truyền đạo: “Không được đi đâu khác ngoài dân Gentilles, và không được vào thành phố nào của dân Samaritans, mà chỉ đi tới đàn chiên lạc của Israel” (Matthew 10: 5-6). 

Như đã viết rõ trong Tân Ước, nhiệm vụ của Dê-su là cứu dân Do Thái ra khỏi tội lỗi (Matthew 1: 21: for He will save His people from their sins) và chỉ cho dân Do Thái mà thôi (Luke 1: 33:  And He will reign over the house of Jacob for ever).  Câu chuyện sau đây trong Tân Ước  chứng tỏ hơn gì hết lòng hẹp hòi phân biệt chủng tộc và thực chất đạo đức của Dê-su. Chúng ta, nhất là các tín đồ Ki-tô Việt Nam, đặc biệt là nhóm Tin Lành Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, Nguyễn Huệ Nhật, Nguyễn Thanh Vũ, Phan Như Ngọc, Nguyễn Hồng Quang v..v.. hãy đọc và đọc kỹ đoạn sau đây trong Tân Ước,  Matthew 15: 21-28:

"Thế rồi Dê-Su đi tới vùng TyreSidon.  Và có một người đàn bà người Canaan đến từ vùng đó và kêu với Dê-Su "Hãy thương tôi, Chúa ơi, Con của David.   Con gái tôi đang bị quỷ ám nặng."  Nhưng Người không thèm trả lời bà ta một tiếng.  Và các đệ tử của Dê-Su tới và yêu cầu Dê-Su: "Hãy đưổi bà ta đi, vì bà ta cứ kêu cứu cùng chúng ta."  Nhưng Dê-Su trả lời: "Ta được phái xuống đây chỉ để cứu dân Do Thái mà thôi."   Rồi người đàn bà kia tới và thờ phượng Dê-Su và nói: "Chúa ơi, hãy giúp tôi."  Nhưng Người trả lời: "Lấy bánh của con dân Do Thái  mà ném cho mấy con chó nhỏ ăn thì thật là chẳng tốt tí nào."  Và người đàn bà kia nói: "Đúng vậy, Chúa ơi, nhưng dù là những con chó nhỏ thì chúng cũng được ăn những mảnh bánh vụn rơi vãi từ trên bàn của chủ  chúng xuống chứ."  Rồi Dê-Su trả lời: "Ô, Bà Già! Lòng tin của bà thật là lớn lao! Thôi tôi cũng chiều theo ý bà."  Và con gái bà ta hết bị quỷ ám ngay từ gìờ phút đó."

(When Jesus went out from there and departed to the region of Tyre and Sidon.  And behold, a woman of Canaan came from that region and cried out to Him, saying, "Have mercy on me, O Lord, Son of David!  My daughter is severely demon-possessed."  But He answered not a word.  And His disciples came and urged Him, saying, "Send her away, for she cries out after us.".  But He answered and said, "I was not sent except to the lost sheep of the House of Israel."   Then she came and worshipped Him saying, "Lord, Help me!"    But He answered and said, " It is not good to take the children's bread and throw it to the little dogs."  And she said, "True, Lord, yet even the little dogs eat the crumbs which fall from their masters' table."  Then Jesus answered and said to her, "O woman, great is your faith! Let it be to you as you desire."   And her daughter was healed from that very hour.)

Tôi xin để cho các độc giả tùy ý nhận định về tư cách, đạo đức và lòng vị tha của Dê-Su trong câu chuyện trên.  Để giúp cho các tín đồ Ki-tô đôi chút suy tư về câu chuyện trên, sau đây là hai nhận định của hai học giả.

Tiến Sĩ   Madalyn O'Hair bình luận như sau:

Trừ khi anh là người Do Thái, chẳng ai muốn anh trong tôn giáo này.  Đối với người nào thực sự "thực tâm cảm thấy Dê-Su là đấng cứu thế của họ" tôi xin giới thiệu một nhà phân-tâm học. (Unless you are a Jew, you are not wanted in this religion.  For someone who really "truly feels in his heart that Jesus is his Savior" I would recommend a psychiatrist.)

Và, Frederick Heese Eaton bình luận như sau trong cuốn  Scandalous Saints, trang 214:

Dê-Su thường nhắc nhở đệ tử là phải thương yêu nhau, và thương yêu ngay cả kẻ thù (John 13:35; Matthew 5:44)  Nhưng khi một người đàn bà không phải là người Do Thái tới nhờ Dê-Su chữa lành bệnh cho con gái, thì Dê-Su lại bảo bà ta rằng, "Không thể lấy bánh của con dân Do Thái vứt cho chó ăn." (Matthew 15:26)  Nói một cách khác, ông nói, "Người phi Do Thái là đồ chó.  Tại sao ta lại phải làm bất cứ gì cho ngươi?"  Anh cảm thấy thế nào khi Dê-su gọi anh là chó?  Gọi người phi Do-Thái là đồ chó không phải là sự biểu thị của lòng thương yêu.  Dê-Su thật là hỗn hào, kiêu căng và tự phụ khi gọi người đàn bà kia là chó.  Vậy trong vấn đề  thực hành, Thánh Dê-Su chẳng có chút gì là Thánh cả.  Những sự kiện cho thấy Dê-Su thực sự ghét những người phi Do-Thái.

 Thánh Phao-Lồ (Paul) viết, theo lời mặc khải của Thiên Chúa, "Dê-Su luôn luôn như vậy, ngày hôm qua, ngày hôm nay và cho tới mãi mãi, không bao giờ thay đổi." (Hebrew 13:8)  Vậy nếu quý vị dự định lên Thiên Đường ở cùng Dê-su đầy tình thương, và quý vị  không phải là người Do Thái, tốt hơn là quý vị nên nghĩ lại đi thì vừa.

(Frederick Heese Eaton, Scandalous Saints, p. 214:  Jesus repeatedly admonished his disciples to love one another, and even to love their enemies. (John 13:35; Matthew 5:44)  Yet when a non-Jewish woman begged him to heal her daughter, Jesus told her, "It is not fit to take the children (of Israel's) bread and to cast it to dogs." (Matthew 15:26)  In other words he said, "You non-Jews are dogs.  Why should I do anything for you?"  How would you like to have Jesus call you a dog?  Calling people dog who were not Jews is hardly an expression of love.  Jesus was insolent, arrogant and conceited in calling this woman a dog.  So in actual practice, Jesus the Saint was not so saintly after all.   The facts show that Jesus actually hated those who were not Jews.

Saint Paul writes, allegedly under inspiration of God, "Jesus Christ the same yesterday, and today, and for ever." (Hebrew 13:8)  So if you were planning to go to heaven to be with the loving Jesus, and you are not a Jew, you had better think it over again.)

Hiển nhiên là, Người Việt Nam tuyệt đối không phải là người Do Thái.  Nhưng đến bao giờ thì các tín đồ Ki-tô Việt Nam mới chịu nghĩ lại để có thể thoát ra khỏi những điều mơ tưởng hão huyền về một ơn “cứu rỗi” của Dê-su cho mình khi mình không phải là người Do Thái.   Có người Việt Nam nào muốn tự hạ mình xuống thân phận của một con chó như người đàn bà xứ Canaan, một điều kiện để được Dê-su cứu chữa lành bệnh, khoan nói đến chuyện “cứu rỗi” phần hồn??

Nhưng dù những tín đồ Ki-tô Việt Nam có tình nguyện tự hạ mình xuống thân phận giống như người đàn bà xứ Canaan với hi vọng được hưởng ơn “cứu rỗi” của Chúa dê-su, thì trên thực tế, hi vọng này chỉ là một ảo vọng.  Tại sao?  Vì theo niềm tin Ki-tô Giáo thì Kinh Thánh, gồm hai phần Cựu Ước và Tân Ước, là Lời Đức Chúa Trời, vì được viết ra bởi sự linh cảm của Ðức Chúa Trời.  Đã là lời của Đức Chúa Trời thì không thể sai lầm.

Đọc Tân Ước, chúng ta thấy đoạn sau đây trong Khải Huyền 7: “Tôi lại thấy một thiên sứ khác đến từ phương Đông, cầm con dấu (seal) của Thượng đế hằng sống.  Thiên sứ này lớn tiếng kêu gọi bốn thiên sứ đã được Thương đế ban quyền cho làm hại đất và biển (who had been given power to harm the land and the sea): Đừng làm hại đất, biển và cây cối cho đến khi chúng ta đóng dấu ấn lên trán của những tôi tớ Chúa.  Rồi tôi nghe thấy số người được đóng dấu ấn trên trán, tất cả là 144000 (một trăm bốn mươi bốn ngàn) thuộc 12 bộ lạc của Israel, mỗi bộ lạc là 12000 người.”  Sách Khải Huyền ở cuối Tân ước là những Lời của Chúa báo trước những gì sẽ phải xảy ra trong ngày Tận Thế.

Những người được đóng dấu ấn của Thương đế trên trán là những người được Chúa chọn để cho lên thiên đường của Chúa, vì Kinh Thánh viết rõ “Nhiều người được kêu gọi nhưng chỉ có ít người được chọn” và Chúa cũng đã phán, Matthew 7: 21-23: “Không phải người nào gọi Ta là Chúa cũng được vào nước Trời... Trong ngày phán xét sẽ có nhiều người kêu nài: “Thưa Chúa, chúng tôi đã giới thiệu Chúa cho nhiều người, đã dùng danh Chúa để đuổi quỷ và làm nhiều phép lạ [như một linh mục mít ở Úc làm cho tượng bà Mary chảy dầu].  Nhưng ta sẽ đáp: “Ta không hề biết các ngươi! Hãy cút đi cho khuất mắt ta, vì các ngươi chỉ làm việc gian ác” [Có vẻ như các nhà truyền giáo hăng say đi truyền đạo cũng như các tín đồ Ki-tô cuồng tín cỡ Lê Anh Huy cố gắng dụ người khác vào đạo chưa bao giờ đọc đến câu này]

Lời Chúa phán như trên thì không thể sai lầm, và sự kiện rõ ràng là, đến ngày tận thế, Chúa chỉ chọn 144000 người trong 12 bộ lạc Do Thái, không thấy Chúa nói đến các bộ lạc tín đồ ở Bùi Chu, Phát Diệm hay Hố Nai, Gia Kiệm, hay Bolsa, San Jose, Houston, hay bất cứ ở đâu.  Dân Do Thái là dân được Chúa Cha chọn (chosen people) nhưng Chúa cũng chỉ chọn có 144000 người mà thôi.  Vậy các tín đồ Ki-tô Việt Nam có bao nhiêu hi vọng được Chúa “cứu rỗi” trước hay trong ngày tận thế?  Đánh một canh bạc mà xác suất thắng là số không (0), không hiểu sao các tín đồ Ki-tô Việt Nam hay phi-Do-Thái vẫn húc đầu vào canh bạc này thật là một điều khó hiểu đối với tôi.

Cho nên tôi thật tội nghiệp cho những người không phải là dân Do Thái mà cứ sống trong ảo vọng, mơ tưởng rằng sẽ được Dê-Su cứu rỗi và cho mình sống đời đời trên Thiên Đường bên cạnh Thiên Chúa với thân phận tôi tớ hầu hạ Chúa. Trong trang nhà mucsu.net của Tin Lành Việt Nam ở Mỹ, có một bài viết về "Hãy Học làm đầy tớ hầu hạ Chúa" với tất cả sự hân hoan và hãnh diện của người có đầu óc của một đầy tớ.

Để giúp các tín đồ Ki-tô Việt Nam suy nghĩ thêm về Chúa của mình, sau đây là vài câu chuyện khác trong Tân ước, hi vọng có  thể  giúp chúng ta hiểu rõ con người của Dê-su hơn. 

Chúng ta đã biết chuyện Dê-su nguyền rủa cây sung cho nó chết héo queo chỉ vì nó không ra trái lúc trái mùa để cho Dê-su ăn khi đói bụng.  Ngài có tài làm phép lạ biến nước thành rượu, biến vài ổ bánh mì đủ cho 5000 người ăn, nhưng sáng ra Ngài lại đói và hi vọng ăn được vài trái sung lúc trái mùa.  Khi đến gần cây sung, không thấy cây ra trái để cho Ngài ăn cho đỡ đói, Ngài bèn nguyền rủa cây sung, và cây sung chết héo queo ngay lập tức.

Một chuyện khác trong Tân Ước,  Matthew 8: 28 - 34, có  thể cho chúng ta thấy rõ tâm địa độc ác, tàn nhẫn của Dê-su,  được tóm tắt như sau:

Có hai người bị quỷ ám gặp Chúa Dê-su và quỷ trong hai người đó van nài Chúa Dê-su đuổi chúng ra và cho nhập vào một bày heo.  Chúa phán "đi ra", chúng liền nhập vào bầy heo và cả bầy heo (độ 2000 con, theo Mark 5: 13) rông tuốt xuống sông chết đuối hết.  Trẻ con chăn heo chạy về làng kể chuyện lại cho dân làng nghe, cả làng kéo ra khỏi làng gặp Chúa Dê-su và...van nài (có nghĩa là đuổi) Ngài hãy đi ra khỏi vùng đất của họ.

Chúng ta hãy tự hỏi, 2000 con heo có tội tình gì mà Chúa Dê-su "lòng lành vô cùng" của các tín đồ Ki Tô Giáo lại phù phép làm cho 2 con quỷ nhập vào cả đàn, rồi bắt chúng nhào xuống sông chết đuối hết?  Như vậy có phải là Dê-su là người không có lòng nhân, vô cớ tự nhiên đang tâm giết cả một đàn heo vô tội một cách tàn nhẫn.  Mà đàn heo cũng lại là những sản phẩm của chính Chúa Cha “sáng tạo” ra, vì theo niềm tin Ki Tô thì mọi thứ trên đời này đều là do Chúa Cha tạo ra cả.    Bởi vậy dân làng mới coi Dê-su như là một tên phù thủy, một kẻ đáng chê trách, đã vô cớ hủy đi một nguồn lợi của dân làng, làm cho họ tự nhiên mất đi cả một đàn heo tới 2000 con, cho nên họ kéo ra ngoài làng,  chặn đuổi  Dê-su  đi nơi khác, không  dám  để cho Giê-su vào làng. 

Tân Uớc có đầy những chuyện chứng tỏ nhân cách và đạo đức thấp kém của Dê-su như trên, nhưng trên khắp thế giới, các tín đồ vẫn được dạy là "Chúa toàn hảo",  "Tình Yêu của Chúa" bao trùm thế gian v..v.. nên phải "Kính Chúa" và hãy hãnh diện làm "tôi tớ hầu hạ Chúa", "thờ phụng Chúa".   Nhưng Giám Mục John Shelby Spong thì lại nghĩ khác, vì sự lương thiện trí thức không cho phép ông ta tin nhảm nhí.  Do đó, ông đã viết:

Chúng ta có thấy hấp dẫn đối với một Chúa phải giết cả một bày heo để đuổi một con quỷ ra khỏi thân người hay không?  Chúng ta có nên khâm phục và kính trọng người mà chúng ta gọi là Chúa đã nguyền rủa một cây sung khi nó không ra trái lúc trái mùa không?...

Cuốn Thánh Kinh đã làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị.  Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa  mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng.

(John Shelby Spong, Rescuing The Bible From Fundamentalism, pp. 21,24:  Are we drawn to a Lord who would destroy a herd of pigs in order to exorcise a demon?  Are we impressed when the one we call Lord curses a fig tree because it did not bear fruit out of season?...

A literal Bible presents me with far more problems than assets.  It offers me a God I cannot respect, much less worship.)

Từ những câu chuyện trong Tân Ước như trên, và không phải chỉ có thế, có thể nói được chăng là Dê-su là một nhân vật vượt bực về vấn đề đạo đức?

Nhưng tại sao các tín đồ Ki-tô vẫn coi Dê-su như là Chúa của họ, đầy lòng thương yêu, nhân từ và vượt bậc về đạo đức?  Đó là do xảo thuật diễn giải Kinh Thánh của các giáo hội Ki-tô, và sách lược rất thành công của giáo hội trong việc tẩy não và uốn nắn đầu óc tín đồ mà tuyệt đại đa số là những người đầu óc yếu kém và thấp kém, không hề tự mình đọc lấy và suy tư về những điều viết trong Kinh Thánh.  Xảo thuật của các bậc lãnh đạo Ki-tô Giáo là không bao giờ mang những đoạn như trên   ra giảng cho các tín đồ và khuyên các tín đồ chỉ cần tin theo những lời giảng của các bề trên.  Đã một thời Giáo hội Ca-tô Rô-ma cấm tín đồ tự mình đọc Kinh Thánh, vi phạm có thể bị xử tội chết, và ở bên Anh đã có trường hợp tín đồ bị xử chết vì tự đọc Kinh Thánh, và ngày nay giáo hội cũng không khuyến khích tín đồ tự mình đọc Kinh Thánh.  Cho nên Giáo hội đã phát minh ra những Kinh Bổn mà nội dung là những điều Giáo hội muốn nhồi nhét vào đầu các tín đồ vốn không có nhiều chỗ chứa.

Sau đây chúng ta hãy thử điểm qua vài điều mà các nhà giảng đạo thường trích dẫn từ Kinh Thánh ra để lừa bịp đầu óc tín đồ.  Giáo hội thường quảng cáo cho cái mà họ gọi là Luật Vàng (Golden Rule) trong Tân Ước, một luật quý như vàng và rất độc đáo của Dê-su, Luke 6: 31: "Hãy làm cho người khác điều các con muốn người ta làm cho mình".  Nhưng phân tích kỹ vấn đề thì Luật Vàng mà các nhà giảng đạo cho là sáng tác độc đáo về luân lý đạo đức của Dê-su lại chứng tỏ rằng họ thuộc loại kém hiểu biết.  Vì đây không phải là một luật do Dê-su sáng tác.  Chúng ta  biết rằng, hơn 500 năm trước khi Dê-su sinh ra đời thì Đức Khổng Tử cũng đã nói luật trên nhưng dưới một dạng khác: "Những điều mà mình không muốn người ta làm cho mình thì đừng có làm cho người khác" (Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân).  Và trong kinh Talmud của Do Thái, Hillel, một người Pharisee sống trong thời đại trước Dê-su lâu cũng có nói, (Sabbath 31: "Cái gì mà mình không thích thì đừng có làm cho người khác" (What thou does not like, do thou not to thy neighbor). 

Do đó, Luật Vàng mà các tín đồ  Ki Tô thường cho là của Dê-su, thật ra chỉ là cóp nhặt tư tưởng đã có từ trước trong dân gian và thay đổi câu văn từ tiêu cực (negative) sang tích cực (positive).   Nhưng sự cóp nhặt và biến đổi này đáng lẽ phải hay hơn, trái lại lại làm cho ý nghĩa của Luật kém hơn.   Thật vậy, điều mà mình muốn người khác làm cho mình chưa chắc đã là những điều đúng, lành thiện v..v.. mà có thể bắt nguồn từ tham dục, hay si ngốc của mình.  Và cũng chưa chắc đó là những điều mà người khác cần đến, hoặc muốn mình làm cho họ.  Phân tích câu này, William Floyd cho rằng đó chỉ là một cách xử thế thuộc loại "có đi có lại mới toại lòng nhau" của người xưa (the desirability of reprocity of the ancients) chứ không phải là một tiêu chuẩn đạo đức có tính cách phổ quát.  Trái lại, luật của Đức Khổng Tử, giống luật của Hillel,  có tính cách luân lý rộng lớn, khuyên ngăn chúng ta không nên làm cho người khác những điều họ có thể không muốn, vì chính mình cũng không muốn những điều này.  Đây là một cách xử thế khôn ngoan, tránh gây bất hòa, vì "đừng làm" ngụ ý thận trọng, trong khi "hãy làm" thường có tính cách áp đặt hay cưỡng bách.

Đọc Tân ước, chúng ta thấy rõ là Dê-su không hề đưa ra những tiêu chuẩn về cách hành xử của con người đặt trên căn bản là những hành xử này sẽ góp phần cho hạnh phúc và an sinh của con người.  Ông ta phát ra những lệnh lạc, quy luật, và bao giờ cũng kèm theo sự đối nghịch thô bạo giữa thiên đường và hỏa ngục, đặc biệt là phần thưởng của Thượng đế được định đoạt bởi sự tuân phục Thượng đế tốt như thế nào.  Vấn đề thật là rõ ràng, cốt tủy giáo lý của Dê-su, nếu có thể gọi là giáo lý, là: “Hứa hẹn và đe dọa”.

Đi sâu thêm vào vấn đề đạo đức của Dê-su, có lẽ cái ảo tưởng lớn nhất của các tín đồ về những lời dạy về đạo đức của Dê-su là cho rằng chúng thật là đặc biệt khác thường và độc đáo do chính Dê-su sáng tác ra.  Không có gì xa sự thật hơn.  Các học giả nghiên cứu Kinh Thánh đã ghi nhận: “Từng điểm một, không có một điểm nào trong giáo lý của Dê-su mà không có trong Cựu Ước hay là trong những giáo điều của các ông thầy tu Do Thái trước khi Dê-su sinh ra đời.”  Những quan điểm mà người ta cho là về đạo đức của Dê-su đã có sẵn trong Cựu Ước, rất quen thuộc trong các trường phái Do Thái, và cho mọi người Pharisees, trước thời Dê-su lâu, và cũng rất quen thuộc trong tất cả các nền văn hóa trên trái đất như Ai Cập, Babylone, Ba Tư, Hi Lạp, Ấn Độ và Đông phương, đúng như học giả Ca-tô Joseph L. Daleiden đã nhận định ở trên..  Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, chính Dê-su cũng không cho đó là những điều đặc thù của mình sáng tạo ra.

Thật vậy, chúng ta hãy lấy vài thí dụ chứng minh.  Trong Matthew 22: 39, Dê-su dạy lời răn lớn thứ hai [Lời răn lớn thứ nhất là phải yêu Thượng đế hết linh hồn, hết sức v..v..]: “Hãy yêu những người lân cận như chính mình” (You shall love your neighbor as yourself).  Các tín đồ Ki-tô thường coi đây là lời dạy độc đáo của Dê-su và dựa vào câu này, họ luôn luôn đề cao Ki-tô Giáo là tôn giáo của tình yêu, Chúa Dê-su là Chúa của tình yêu.  Bất hạnh thay cho họ, chúng ta thấy những lời y hệt trên trong Cựu Ước, Levitius 19: 18: “Các ngươi hãy yêu những người lân cận như chính mình” (You shall love your neighbor as yourself).

Trong những trường hợp mà Dê-su có vẻ như là một nhà cải cách những luật cũ của Do Thái và đưa ra những luật mới, nhưng thực ra là ông ta đã hiểu sai nội dung của luật.  Trong  Matthew 5: 21-22, Dê-su phán: “Các ngươi đã nghe luật cho người xưa là “Không được giết người, người nào giết người sẽ bị phán xét”, nhưng ta bảo các ngươi: hễ người nào giận anh em mình vô cớ (without a cause) thì sẽ bị phán xét.”.  Cấm nổi giận không phải là mới lạ trong truyền thống Do Thái.  Chúng ta thấy cùng một ý tưởng trong Levitius 19: 17: “Không được thù ghét người anh em”.  Nhưng ở đây, Dê-su nói một câu ngớ ngẩn: “giận vô cớ” (whoever is angry with his brother without a cause).  Ở trên đời này có ai đi giận một người khác vô cớ, nhất là người đó lại là anh em mình?  câu phán trên chứng tỏ Dê-su bạ đâu nói đấy, nói mà không suy nghĩ, khoan nói đến chuyện quay lưỡi bảy vòng trước khi nói.

Một thí dụ khác là, trong Matthew 5: 27-28, Dê-su dạy các đệ tử: “Các ngươi đã được dạy: “không được phạm tội tà dâm, nhưng ta bảo các người: “Người nào nhìn một người đàn bà mà nổi lòng ham muốn thì đã phạm tội tà dâm trong tâm rồi.””  Đây có phải là một tư tưởng mới lạ không?  Không hẳn vậy, trong Cựu ước, Exodus 20: 17: “Không được tham muốn chiếm hữu vợ người” (You shall not covet your neighbor’s wife); và trong Proverbs 6: 25, “Không được ham muốn sắc đẹp của người đàn bà trong tâm” (Do not lust after her beauty in your heart).  Trong Kinh Talmud của Do Thái, Berachot 24:1, cũng có câu: “Người nào chỉ nhìn ngón tay út của một người đàn bà đã mang tội lỗi trong tâm rồi” (Whosoever regardeth even the little finger of a woman hath already sinned in his heart).

Vài thí dụ trên và nhiều thí dụ tương tự khác mà chúng ta có thể rút ra từ Tân Ước đã chứng tỏ rằng Dê-su không đi ra ngoài truyền thống Do Thái, điều mà các tác giả Phúc Âm muốn chúng ta phải tin là Dê-su có những giáo lý đặc biệt, khác với truyền thống Do Thái.  Các giới lãnh đạo Ki-tô Giáo, qua bao thế kỷ, đã giữ độc quyền đọc và diễn giải Kinh Thánh, cũng đã luôn luôn và tiếp tục cho đến ngày nay, rao giảng trước đám tín đồ thấp kém, những giáo lý mà họ bảo là đặc biệt, độc đáo của Dê-su sáng tác ra.  Chẳng có lẽ họ lại không đọc Kinh Thánh và không biết đến sự mâu thuẫn sơ đẳng giữa lời rao giảng của họ và sự thật nằm trong Kinh Thánh?  Tôi cho rằng họ đã thiếu lương thiện trí thức, cố tìm cách giam hãm đầu óc tín đồ trong niềm tin vào một Dê-su đặc biệt.

Sự thật là trong Tân ước, Dê-su không tự coi mình là một nhà cải cách đạo đức, vì những giới điều của ông ta đưa ra không có gì là đặc biệt, độc đáo.  Dê-su ở trong Tân ước được mô tả như là một nhà tiên tri thần thánh và một người làm phép lạ, không phải là một triết gia.  Dê-su được coi là đặc biệt trong thời đó, không phải là nội dung những điều ông ta dạy về đạo đức, mà là những điều ông ta tự nhận là Chúa Con, mang một nhiệm vụ thần thánh (divine mission) mà Cha ông ta đã giao phó cho ông ta, những điều rất hấp dẫn đối với dân chúng Do Thái thời đó.  Bởi vậy, sau Bài Giảng Trên Núi, đám đông lấy làm ngạc nhiên và phân vân: “Tại sao ông ta lại giảng như một người có đủ quyền hành chứ không phải là một ông thầy giảng về tôn giáo?” (Matthew 7: 29: For He taught them as one having authority, and not as their scribes).

Dê-su tự cho mình như là một khuôn mặt thần thánh và dạy những điều răn với quyền năng của Thượng đế: “Ta không phải theo ý Ta mà là ý của đấng đã sai ta...làm nhiệm vụ mà Cha Ta đã giao phó cho Ta để hoàn thành, những công việc mà Ta đang làm, với sự chứng nhận của Cha Ta đã gửi Ta xuống đây.” (John 5: 30,36).  Dê-su không bị kết tội vì những điều răn của ông ta mà vì ông ta tự nhận là đấng cứu tinh, điều đã gây nên sự thù nghịch giữa ông ta và giáo quyền Do Thái, đại diện bởi những người Pharisees.

Dê-su không cho phép ai nghi ngờ, chất vấn về giáo lý của ông ta.  Tất cả những lời rao giảng của ông ta đều là những khẳng định độc đoán, con người chỉ có thể chọn một trong hai con đường: hoặc chấp nhận, hoặc bác bỏ coi như không có gì đáng phải để ý.  Các tín đồ Ki-tô thường chọn con đường thứ nhất, tôi và hơn hai phần ba nhân loại đã chọn con đường thứ hai.  Tại sao tuyệt đại đa số dân chúng trên thế giới lại chọn con đường thứ hai?  Bởi vì, giáo điều chính của Dê-su là phải hoàn toàn hiến dâng (devote) cho Cha ông ta và cho chính ông ta.  Khi Dê-su nói hiến dâng có nghĩa là ông ta muốn con người phải hoàn toàn tuân phục luật lệ của hai cha con ông ta, và phải theo đúng khuôn phép của ông ta.  Khi Dê-su bảo nhóm người theo ông ta “tin”, ông ta muốn nói là họ phải hoàn toàn vâng lời.  Khi Dê-su ca tụng người nào có “đức tin” (faith) có nghĩa là người đó phải chấp nhận bất cứ điều nào mà Dê-su phán, bất kể là lời phán đó thuộc loại vô đạo đức.  Thí dụ, khi ông coi người đàn bà xứ Canaan đến xin chữa bệnh cho con là chó thì người đàn bà đó phải chấp nhận thân phận chó nhỏ của mình thì mới được ông ta khen như sau: “Ô người đàn bà kia, đức tin của người thật là vĩ đại” (Matthew 15: 28: Then Jesus said to her, “O woman, great is you faith”)

Khi mà con người phải tuyệt đối vâng lời Dê-su, vào đúng khuôn phép của ông ta, như Ki-tô Giáo thường dạy tín đồ, và tín đồ rất hãnh diện được làm tôi tớ hầu việc Chúa mà không thắc mắc, thì đời sống của con người sẽ như thế nào?  Điều hiển nhiên là phải hi sinh khả năng tìm hiểu sự thật, hi sinh chân lý.  Tìm hiểu sự thật đòi hỏi đầu óc con người không bị hạn chế trong quyền tự do thắc mắc, đặt nghi vấn, khảo sát bằng chứng, phân tích và phê bình những quan điểm chống đối nhau, và chỉ chấp nhận là đúng khi đã được chứng minh, bất kể là kết luận đạt tới có phù hợp với tôn giáo của mình hay không.  Và đây chính là điều răn dạy của Đức Phật trong Kinh Kalama.

Điều rõ ràng là trong giáo lý Ki-tô Giáo, quyền năng nằm trong Kinh Thánh và trong sự diễn giải Kinh Thánh của các chức sắc trong giáo hội.  Phân tích, phê bình không tương hợp với niềm tin, và có nghi vấn trước các niềm tin mà “giáo hội dạy rằng...” bị coi là tội lỗi, hoặc sai lầm về đạo đức, hoặc phỉ báng Chúa, hoặc lạc đạo.  Giam hãm đầu óc con người vào những gì mà con người được phép tin, Ki-tô Giáo đã tự đặt mình vào vị thế kẻ thù của chân lý, của lý trí, khả năng của con người để đạt tới chân lý.

Bất kể Ki-tô Giáo là cái gì khác, Ki-tô Giáo cũng không thể biện minh cho cái giáo lý hạ đẳng của mình: bắt buộc con người phải tin là chân lý những niềm tin tôn giáo mà họ không thể hiểu được hay không chứng minh được.   Chẳng vậy mà ông Đỗ Mạnh Tri, một trí thức Ca-tô, đã viết trong cuốn “Ngón Tay và Mặt Trăng”: “Tin là một cách sống chết, không cần biết không cần  hiểu.”  Nhưng chính những niềm tin tôn giáo không cần biết không cần hiểu này, đồng nghĩa với “mù lòa tin bướng tin càn”, đã được viện ra để biện minh cho những hành động tác hại đối với nhân loại như Thánh Chiến, Tòa Án Xử Dị Giáo, Săn lùng phù thủy, tra tấn và thiêu sống những người lạc đạo, và tàn sát những người ngoại đạo khi có thể v..v.., 7 núi tội lỗi mà Vatican đã cáo thú trước thế giới, tất cả đều nhân danh đức tin Ki-tô Giáo.

Theo Dê-su thì, Matthew 18:3: “trừ khi các người trở thành như những đứa trẻ, các ngươi không bao giờ vào được nước thiên đường”.  Hiển nhiên là những đứa trẻ, với đầu óc chưa kịp mở mang, chưa hiểu biết nhiều, thì rất dễ tin những gì người lớn dạy nó.  Nước thiên đường của Dê-su chỉ dành cho những người ngu, đầu óc chưa mở mang, chưa trưởng thành, cả tin như những đứa trẻ.  Các giáo hội Ki-tô đã lợi dụng tối đa câu này của Dê-su để đưa những đứa trẻ vào khuôn phép của giáo hội và những niềm tin mà giáo hội muốn chúng phải tin.  Họ lôi chúng đi rửa tội trong khi chúng chưa hiểu rửa tội là cái gì và tại sao lại phải rửa tội, tội gì mà chúng đã gây ra?  Từ đó, họ dùng mọi cách để tẩy não, nhồi sọ chúng bằng những chuyện hoang đường, huyễn hoặc, mê tín đã lỗi thời, cho nên khi lớn lên chúng khó mà có thể dứt bỏ được những gì đã thường xuyên cấy vào đầu óc chúng từ khi còn nhỏ.  Tệ nhất là các bậc cha mẹ, vì tin vào một cái bánh vẽ trên trời, đã tiếp tay các giới chức trong giáo hội làm ô nhiễm, hủy hoại đầu óc của con cái mình.

Có một câu chuyện như sau.  Một thổ dân da đỏ trên đất Mỹ đã già đầu tóc bạc phơ, khi nghe một nhà truyền giáo Ki-tô thực dân mang Kinh Thánh ra giảng để kéo ông ta vào đạo, đã nói: “Ông cho rằng với tuổi tác của tôi như thế này, tôi có thể tin được những chuyện hoang đường như vậy sao?  Nhưng tôi có mấy đứa con.  Đừng có nói với mấy đứa lớn mà chúng cười vào mũi cho.  Nhưng tôi còn đứa con út, còn nhỏ dại.  Ông muốn nói gì nó cũng tin hết và khi nó đã tin rồi thì nó sẽ rất khó mà bỏ được được những điều nó đã tin”.   Câu chuyện không nói là người thổ dân kia có bị thiêu sống hay không, vì câu chuyện xảy ra trong thời đại mà các nhà truyền giáo Ki-tô da trắng thường nâng cuốn Kinh Thánh trước mặt người thổ dân bị thiêu sống vì không chịu theo đạo, lẽ dĩ nhiên là để cứu vớt linh hồn người thổ dân đó, với quan niệm là ngọn lửa thường không nóng bằng và ít làm đau khổ hơn là ngọn lửa vĩnh hằng của Chúa dưới hỏa ngục.

Tín đồ Ki-tô Giáo có thể cho rằng Ki-tô Giáo đã mang lại cho họ một hi vọng và hạnh phúc trong một đời sau, nhưng thực ra, cái mà Ki-tô Giáo mang lại cho họ chỉ là một hứa hẹn khiến cho họ không biết gì hợn là mù lòa bước những bước chân chập chững trên trái đất này.  Cách đây ngót 2000 năm, Chúa Dê-su cũng đã hứa hẹn với những người theo ông ta về một thiên đường sắp tới, và ngày nay Ki-tô Giáo cũng tiếp tục hứa hẹn với các tín đồ một đời sống đời đời trên một thiên đường giả tưởng mà chính Giáo hoàng John Paul II cũng đã lên tiếng phủ nhận.

Để kết thúc và tóm tắt về thực chất giáo lý và đạo đức của Dê-su, tôi cho rằng đoạn sau đây của George Smith, Ibid., trang 319, khá thích hợp:

“Nếu chúng ta không kể đến những gì Dê-su nói về chính ông ta thì .. hay nhất là Dê-su trở thành một ông thầy giảng tầm thường, có những niềm tin sai lầm về hầu hết mọi điều, kể cả về chính ông ta; và tệ nhất là ông ta trở thành một tên kiêu căng lừa đảo.”

(If we ignore what Jesus said about himself then, at best, he becomes a mediocre preacher who held mistaken beliefs about practically everything, including himself; and, at worst, he becomes a pretentious fraud)

Đọc kỹ Tân Ước, chúng ta thấy nhận định của George Smith không sai và có thể chứng minh rất dễ dàng.  Tuy nhiên, rất có thể có người chê trách tôi một cách vu vơ là đọc Kinh Thánh mà không hiểu, hay diễn giải sai lầm Kinh Thánh.  Phải hiểu ra sao, và phải diễn giải Kinh Thánh như thế nào cho đúng, xin họ hãy trình bày rõ ràng cho tôi biết, tôi xin cám ơn.  Nếu không, tôi sẽ tiếp tục diễn giải Kinh Thánh theo cái hiểu của tôi, với đầy đủ tài liệu, dựa theo cái hiểu của vô số các học giả khác trong phương trời Âu Mỹ.

 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com