posted: 05.5.2005
Trần
Chung Ngọc Vài
Lời Nói Đầu.-
Theo tin của đài BBC: [http://news.bbc.co.uk/1/hi/entertainment/tv_and_radio/4154071.stm
] thì ở Một nữ phát ngôn viên của đài nói
càng ngày càng có nhiều điện thư (E-mail) và điện thoại gửi đến ủng
hộ quyết định của đài đã cho trình chiếu chương trình trên, chương
trình này vẫn tiếp tục Hiệp hội Thế Tục Quốc Gia [The
National Secular Society] ủng hộ quyền trình chiếu chương trình của đài
và yêu cầu đài BBC đừng có chịu thua “những sự hiếp đáp tôn giáo.”
[not to give in to “religious bullies’] Phó
Giám Đốc Terry Sanderson nói: “Sự chống đối có tổ chức này là sự chống
đối mới nhất của một loạt những toan
tính của tôn giáo (Ki-tô Giáo) muốn kiểm soát những gì chúng ta có thể
xem và nói trong quốc gia này.” [This organised attack is the latest of a
series of attempts by religious interests to control what we can see or say in this
country.] Đọc mẩu tin trên, tôi có cảm tưởng
là đối với những tín đồ Ki-tô Giáo kém hiểu biết và cuồng tín thì
bất cứ điều gì nói đến God và Dê-su Kờ-rít mà không đúng như niềm
tin của họ hay như những điều mà họ được “giáo hội dạy rằng..”,
đều là xúc phạm đến tôn giáo của họ. Hơn
nữa, trong vụ trình chiếu này, họ còn cho rằng đã phạm đến đạo đức
của quốc gia, một nền đạo đức có căn bản từ đạo đức của God và
Dê-su Kờ-rít. Họ quên rằng, trong thế
giới văn minh tiến bộ ngày nay, tôn giáo, bất kể tôn giáo nào, đều không
được đặc quyền miễn nhiễm trước những công cuộc nghiên cứu và
phê bình tôn giáo của giới trí thức. Do đó, tôi nảy ra ý kiến tìm hiểu
về đạo đức của Dê-su Kờ-rít [Đạo đức của ông cụ thân sinh ra Dê-su, alias the Christian God, alias Thượng đế,
alias the Jewish God Jehovah, Elohim, or Eli v..v.., thì có đầy trong Cựu Ước và
tôi đã trình bày phần nào rồi]. Sau
đây là bài khảo luận về đạo đức của Dê-su trong ánh sáng của những
điều viết về Dê-su trong Tân Ước. * Tuyệt đại đa số tín đồ Ki-tô
Giáo thường ca tụng Dê-su như là một nhà đạo đức tuyệt vời, và các
điều ông dạy về luân lý, đạo đức rất độc đáo, chưa từng có
trên thế gian, vì ông ta là con Thiên Chúa, hay chính ông ta là Thiên Chúa. Đó là những gì mà các giáo hội Ki-tô đã
dùng đủ mọi cách để cấy vào đầu óc tín đồ vì biết rằng các tín
đồ không bao giờ đọc Kinh Thánh, hoặc chỉ đọc những đoạn “bề trên”
bảo họ đọc. Ngay cả những người
không đồng ý với những thuyết lý của Ki-tô giáo cũng thường dựa vào
vài câu lạc lõng trong Tân Ước và coi Dê-su như là một nhà cải cách
trong lãnh vực đạo đức. Tuy nhiên,
khi đánh giá đạo đức của Dê-su, có quá nhiều vấn đề trong việc khẳng
định những gì mà con người lịch sử Dê-su thực sự giảng dạy. Tất cả những gì chúng ta biết về Dê-su
đều nằm trong Tân ước, do đó muốn tìm hiểu vấn đề đạo đức của
Dê-su chúng ta không thể bỏ qua Tân Ước. Qua
những công trình nghiên cứu về nhân vật Dê-su, về Kinh Thánh, về lịch
sử Do Thái, về nền văn hóa Trung Đông v..v.. trong vòng 200 năm gần đây của
các học giả, chuyên gia về Ki-tô Giáo, chúng ta biết rằng Dê-su trong Tân
Ước và Dê-su thực trong lịch sử là hai nhân vật khác nhau. Nhưng chính Dê-su trong Tân ước là Dê-su
mà những tín đồ Ki-tô Giáo tin, cho nên sau đây tôi sẽ luận về đạo
đức của Dê-su trong Tân ước. Đọc Tân ước, chúng ta thấy rõ là
những người theo Dê-su lúc đầu, tin vào lời hứa hẹn của Dê-su, trông
ngóng ông ta trở lại trong một ngày rất gần, cũng là ngày tận thế, cho
nên họ không có lý do gì để viết lại cho hậu thế cuộc đời của Dê-su
và những lời giảng dạy về đạo đức của ông ta, nếu có. Nhưng thời gian qua, ký ức về Dê-su lu mờ,
và sự thất vọng lan tràn (vì Dê-su không trở lại), điều trở nên cần
thiết để duy trì đức tin là viết ra những câu chuyện về Dê-su, những
câu chuyện thuộc loại huyền thoại, và về những tư tưởng mà những người
tin theo ông ta trong thời đó cho là độc đáo của Dê-su, vì kiến thức của
họ rất giới hạn, không biết đến những tư tưởng đạo đức và triết
lý trong các nền văn minh khác, đặc biệt là nền văn minh Á Đông. Họ cũng còn viết về những quyền năng làm
phép lạ của Dê-su để nâng ông ta lên địa vị của một vị thần, hay
ít nhất là con của một vị thần của dân tộc Do Thái, có tên là Jehovah
hay Elohim, phù hợp với đầu óc của con người cả tin trong một thời đại
đầy những chuyện hoang đường mê tín. Tân Ước được viết trong thời
đại này, khoảng từ 40 đến 80 năm sau khi Dê-su chết và không hề trở lại
như lời ông ta đã hứa hẹn là sẽ trở lại trần khi một số đệ tử
của ông ta còn sống. Đó là tại sao
chúng ta có sách Tân Ước trong cuốn Kinh Thánh ngày nay. Các nhà nghiên cứu Tân Ước đã biết rõ
là mỗi Phúc Âm được viết ra theo một mục đích riêng của người viết:
Matthew, Mark, Luke, và John. Nhưng đây
không phải là chỗ để bàn về vấn đề này. Theo hầu hết các học giả nghiên cứu
Kinh Thánh, những câu chuyện trong bốn Phúc Âm viết về Dê-su chỉ xuất
hiện trong khoảng từ 40 đến 80 năm sau khi ông ta bị đóng đinh,
chết, và táng xác, những điều duy nhất trong Kinh Tin Kính Của Các
Tông Đồ đúng với sự thật, theo như nhận định của Giám mục John
Shelby Spong. Những chuyện viết về
Dê-su trong bốn Phúc Âm được viết theo ý định của mỗi tác giả cho
nên không tránh được những mâu thuẫn, và phần lớn là những huyền thoại,
thí dụ như chuyện Dê-su sinh ra từ một nữ trinh (virgin birth), chuyện
Dê-su chịu chết để chuộc tội cho nhân loại, chuyện Dê-su sống lại
và bay lên trời, vai trò cứu rỗi của Dê-su v..v..., những chuyện mà ngày
nay khó có người nào trong giới hiểu biết còn có thể chấp nhận, và
ngay chính những bậc lãnh đạo trong Ki-tô Giáo nói chung như Giáo Hoàng
John Paul II, Giám mục John Shelby Spong, Mục sư Ernie Bringas, Linh mục James
Kavanaugh, và các nhà thần học nổi tiếng trên thế giới như Hans Kung, Uta
Ranke-Heinemann v..v.., chưa kể đến tuyệt đại đa số các khoa học gia, cũng
không thể chấp nhận. Không kể các học
giả trong môi trường đại học, nhiều nhà thần học trong các giáo hội
Ki-tô cũng đã đặt vấn đề trước những chuyện thuộc loại huyền thoại
trên, thí dụ như giáo sư thần học Hans Kung, Linh Mục John P. Meier, Giám mục
John Shelby Spong, Mục sư Ernie Bringas, Mục sư Harry Wilson v..v.. Nữ Giáo sư
thần học Ca-tô Uta Ranke-Heinemann cũng phải coi những chuyện trên là những
chuyện trẻ con cần phải dẹp bỏ trong cuốn “Hãy Dẹp
Đi Những Chuyện Trẻ Con” (Putting
Away Childish Things). Linh mục James
Kavanaugh và Giám Mục Spong cũng lên tiếng phê bình và cho rằng cần phải
dẹp bỏ huyền thoại “cứu rỗi” và vai trò “cứu rỗi” của Dê-su. [Hai bài đã được đăng trên trang nhà
Giao Điểm trước đây] Như trên đã nói, Dê-su của nền thần
học Ki-tô Giáo và con người Dê-su lịch sử là hai nhân vật hoàn toàn
khác nhau. Nhưng chính là Dê-su trong
Tân ước chứ không phải là Dê-su lịch sử đã tạo nên ảnh hưởng trên
đám tín đồ, và chính là Dê-su trong Tân ước mà người ta cho là một
nhà đạo đức vĩ đại. Do đó, trong bài này, chúng ta sẽ chấp nhận
những gì viết về Dê-su trong Tân ước, và bỏ qua vấn đề có bao nhiêu
phần, nếu có, tương hợp giữa Dê-su của Tân ước và Dê-su lịch sử. Chúng ta sẽ xét những điều chính viết về
Dê-su trong những Phúc Âm – đặc biệt là ba Phúc âm Matthew, Mark và Luke
vì chúng có cùng một cấu trúc và nội dung giống nhau (synoptic Gospels). Trước hết, chúng ta hãy điểm qua vài kết quả
nghiên cứu của các học giả trong các giáo hội Ki-tô về nhân vật Dê-su
và về giáo lý, đạo đức của ông ta. Sau
đó chúng ta sẽ đi vào phần khảo luận dựa trên những điều viết trong
Tân ước. Học giả Ki-tô Russell Shorto đã viết trong cuốn “Sự Thật
Trong Phúc Âm” (Gospel Truth), trang 14, như
sau: “Điều quan trọng nhất là, tác động của quan
điểm khoa học ngày nay đã khiến cho các học giả, ngay cả những người
được giáo hội Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ý
là phần lớn những điều chúng ta biết về Dê-su chỉ là huyền thoại.... Các học giả đã biết
rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Dê-su chẳng gì khác hơn là
một người thường sống với một ảo tưởng
– họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và
mục sư. Nhưng những vị này vẫn giữ
kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động
dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối
là những tín đồ Ki Tô bình thường.” (Most important, the impact of the scientific perspective is
having now that even scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that
much of what we know of Jesus is myth... Scholars have known the truth – that Jesus was
nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations
of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a
backlash of anger. So the only ones left in
the dark are ordinary Christians.) Tuyệt đại đa số tín đồ Ki-tô
Giáo còn sống trong bóng tối, đây là một sự kiện bất khả phủ bác.
Do đó, chúng ta không lấy làm lạ khi thấy, dù rằng chính Giáo hoàng John
Paul II của Ca-tô Giáo Rô-ma (Công Giáo) đã lên tiếng chấp nhận thuyết
Tiến Hóa, bác bỏ quan niệm của Ki-tô Giáo về thiên đường và địa ngục,
và nhiều giới lãnh đạo trong Ki-tô Giáo đã lên tiếng khẳng định là
những điều viết về Dê-su trong Tân Ước cũng như những điều các giáo
hội Ki-tô giảng dạy về Dê-su chỉ là những huyền thoại, đa số tín đồ
Ki-tô vẫn không biết gì đến những sự tiến bộ trí thức này. Do đó họ vẫn tiếp tục đắm mình trong
niềm tin và mơ tưởng những điều mê tín đã quá lỗi thời, như “tội
tổ tông”, “con người sinh ra trong tội lỗi”, “hồng ân Thiên Chúa”,
ơn “cứu rỗi” của Chúa Dê-su v..v.., lên tiếng quảng cáo cho cái đức
tin không cần biết không cần hiểu của họ, với hoang tưởng là có thể
kéo những người ngoại đạo vào trong bóng tối đang giam giữ tâm linh của
họ. Hăng say nhất trong sự hoang tưởng
này là nhóm Tin Lành Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, Nguyễn Huệ Nhật v..v..,
nhưng với trình độ quá kém cỏi của họ mà chúng ta đã thấy rõ qua những
bài viết của họ, thực sự họ đang làm công việc của con dã tràng. Muốn cứu họ ra khỏi bóng tối của vô
minh, chúng ta không còn cách nào khác là phải tiếp tục giáo dục họ với
hi vọng một ngày nào đó họ có thể theo kịp những kiến thức của thời
đại ngày nay. Về phương diện giáo lý và đạo đức
của Dê-su, đối với những người đã đọc kỹ Kinh Thánh và biết đôi
chút về các nền văn hóa khác nhau trên thế giới thì khó có ai có thể
phủ bác nhận định sau đây của Joseph L. Daleiden, một học giả Ca-tô
Rô-ma, trong cuốn The Final Superstition,
trg. 174: "Có rất ít,
nếu có, điều sáng tác độc đáo trong giáo pháp mà người ta cho là của
Dê-su. Giống như chính huyền thoại về Dê-su, những
quan điểm mà Dê-su diễn đạt chỉ là một mớ hổ lốn những ngụ ngôn
và luân lý mà chúng ta có thể thấy trong những đạo cổ xưa của Ai Cập,
(There is very little, if anything, that is
original in the teaching attributed to Jesus. Like
the myth of Jesus itself, the sentiments he expresses are a hodgepodge of aphorisms and
moral convictions that can be found in the ancient Egyptian, Babylonian, Persian, Greek,
Buddhist, Confucian, Hindu religions...One thing is certain: Christianity, a late-comer in
the history of religion, merely plagiarized sentiments from Judaism and the so-called
pagan religions. In his book Sources of Morality in the Gospels, Joseph McCabe
quoted the moral views attributed to Jesus in the gospels and in parallel columns gave
exact moral equivalents from Jewish and pagan writers.) Hai nhận định trên, kết quả của
những công cuộc nghiên cứu lâu dài về nhân vật Dê-su trong Tân Ước, đã
cho chúng ta một cái nhìn tổng quát về con người thực của Dê-su và về
những giáo lý chẳng có gì là đặc biệt của ông ta vì chỉ toàn là đi
cóp nhặt. Ngay cả khi chúng ta tin vào
những điều viết trong các Phúc Âm chúng ta cũng không thể giải quyết
được vấn đề diễn giải Phúc Âm. Bởi
vì, những lời dạy của Dê-su thì lộn xộn (unsystematic), và nhiều điều,
đặc biệt là trong các ẩn dụ (metaphor), thì hiển nhiên là tối mù
(notoriously obscure) và chẳng có mấy giá trị đạo đức vì không thể áp
dụng trong thế giới xưa cũng như nay. Sự
không rõ ràng này đã đưa đến kết quả là có quá nhiều quan niệm khác
nhau của các học giả nghiên cứu Kinh Thánh về Dê-su thực sự muốn nói
cái gì? Mặc dù có những diễn giải
khác nhau, nhưng hầu như tất cả những nhà thần học Ki-tô Giáo đều đồng
thuận ở điểm: Dê-su là ông thầy đạo đức vĩ đại nhất trong lịch sử. Xét đến sự tràn ngập những bất đồng
ý kiến về nội dung giáo lý của Dê-su, sự đồng thanh ca tụng này khiến
cho chúng ta không tránh được thắc mắc, nghi ngờ về sự lương thiện trí
thức trong vấn đề học thuật của các tác giả Ki-tô. Niềm tin chung của đại đa số tín
đồ Ki-tô là, bất kể Dê-su nói cái gì, ông ta phải là nhà đạo đức
vĩ đại nhất vì họ tin rằng, ông ta là “Con của Thượng đế” (Son of
God) hay chính là Thượng đế. Tuy
nhiên, hiếm có người nào, kể cả những người Ki-tô Giáo mà sự lương
thiện trí thức bắt họ phải dè dặt trong sự phán đoán, khi đọc và đánh
giá khách quan các Phúc Âm, lại dám kết luận Dê-su là con người nổi bật
về đạo đức. Đây là một vấn đề
lớn đối với những tín đồ Ki-tô vì tin rằng Dê-su là một khuôn mặt
thần thánh (divine figure), và một khuôn mặt thần thánh thì phải hoàn hảo
trong vấn đề đạo đức. Tin khác đi
là loại bỏ tư cách thần thánh của Dê-su, và có thể bị kết tội là
phỉ báng Chúa. Chúng ta phải nhớ rằng, quyền năng
“tuyệt thông” (excommunication) tín đồ của giáo hội Ca-tô Rô-ma, hoặc
viễn tượng phải bị đầy đọa xuống hỏa ngục, là những sự đe dọa
thường xuyên treo trên đầu những tín đồ Ki-tô, kể cả những người có
đầu óc tương đối cởi mở, những người dám nghi ngờ những lời dạy
của giáo hội về đạo đức của Dê-su. Do
đó, các tín đồ Ki-tô có thể chấp nhận là cuốn Kinh Thánh chứa nhiều
điều sai lầm, và ngay cả chấp nhận Dê-su chỉ là một nhà cải cách xã
hội, họ cũng không muốn thừa nhận là
Dê-su ủng hộ những nguyên tắc mà, với bất cứ tiêu chuẩn hợp lý nào
về phẩm chất đáng kính trọng của con người, cũng phải bị lên án là
đáng ghê tởm về phương diện đạo đức (George H. Smith, The Case Against God, p. 313: They are unwilling
to admit that Jesus advocated principles which, by any reasonable standard of human
decency, must be judged as morally repugnant). Công
khai từ bỏ hoặc lên án những giáo điều của Dê-su – đây là đường
ranh giới mà không một người Ki-tô
nào, bảo thủ cũng như tiến bộ, dám bước qua, vì bước qua là tự đặt
mình ra khỏi Ki-tô Giáo. Đây là giới
hạn lạc đạo cho ngay cả những người cởi mở nhất trong những người
có đầu óc cởi mở. Chỉ có những
người dũng cảm như Charlie Nguyễn, Phạm Hữu Tạo, và biết bao nhiêu người
khác đã âm thầm bỏ đạo, mới có thể bước qua đường ranh giới này,
và cất bỏ được gánh nặng Thượng đế trên vai, như Mục Sư Harry
Wilson đã đề nghị cùng những tín đồ Ki-tô còn đôi chút đầu óc. Để tránh loại bỏ những giáo lý
phi đạo đức của Dê-su, các nhà thần học tiếp tục làm công việc mà
họ đã làm qua nhiều thế kỷ: áp dụng xảo thuật diễn giải
(interpretation). Những đoạn bất lợi
cho Dê-su được diễn giải lại dưới một khía cạnh khác sao cho có lợi,
hoặc quy kết chúng là những nội suy không xác thực, do đó không cần phải
quan tâm. Đây là một trong nhiều thủ
đoạn bất lương trí thức của một số nhà thần học vì như vậy là họ
đã loại bỏ chọn lọc một chiều những gì trong Tân Ước không đúng với
khuôn mặt thần thánh của Dê-su mà họ thường rao giảng. Họ dùng bất cứ
phương pháp nào miễn là giúp cho họ diễn giải sao cho phù hợp với những
điều mà họ cho là đạo đức của Dê-su; vào giờ phút nào mà họ từ bỏ
con đường này họ không còn là những nhà thần học nữa, họ không còn
tiếp tục tự coi mình như là một tín đồ Ki-tô.. Sự bất lương trí thức
của họ là ở chỗ họ đã biết rõ vấn đề nhưng vẫn tìm đủ mọi cách
để lừa bịp đám tín đồ thấp kém, giữ đám tín đồ này trong bóng tối
tâm linh, để họ có thể ngự trị trên họ và từ đó thụ hưởng những
quyền lợi vật chất của giới chăn chiên. Vì nhiệm vụ của thần học là phải
chấp nhận những gì của Dê-su nói, những nhà thần học Ki-tô Giáo có
khuynh hướng đặt những quan niệm đạo đức của chính mình vào trong đạo
đức của Dê-su. Dê-su được dựng lên
để nói những gì mà những nhà thần học thấy rằng ông ta phải nói như
vậy. Nhiều nhà thần học thấy rằng
khái niệm về sự đầy đọa hỏa ngục vĩnh viễn đáng kinh tởm cho nên,
lẽ dĩ nhiên, đối với họ thì Dê-su không bao giờ lại dạy một giáo
lý như vậy, tuy rằng trong các Phúc Âm có nhiều chỗ Dê-su đã nói đúng
như vậy. Tương tự, một số nhà thần
học đã đặt nhẹ những khía cạnh trần tục khác của Ki-tô Giáo, thế
rồi Dê-su trở thành, không phải là một nhà tiên tri mà quan tâm hàng đầu
là một đời sống sau sắp sửa tới, như được viết rõ trong Tân ước,
mà là một nhà cải cách xã hội, quan tâm đến đời sống hạnh phúc của
con người trên trái đất. Walter Kaufmann đã nhận định trong cuốn The Faith of a Heretic, trang 216: “Hầu
hết những nhà thần học đã sắp xếp gian lận Phúc Âm để khắc lên
khuôn mặt lý tưởng của mình qua những điều viết trong Tân Ước: Dê-su của Pierre Van Paassen là một nhà xã
hội [thánh tổ của xã
hội chủ nghĩa]; Dê-su của Fosdick là một
nhà có tư tưởng tự do; đạo đức của Dê-su chính là đạo đức của
Reinhold Niebuhr [một nhà thần học Tin Lành].” (Most Christians gerrymander the
Gospels and carve an idealized self-portrait out of the texts: Pierre Van Paassen’s Jesus is a socialist,
Fosdick’s is a liberal, while the ethic of Reinhold Niebuhr’s Jesus agrees, not
surprisingly, with Niebuhr’s own) Một thí dụ điển hình về thủ đoạn
sắp xếp gian lận thần học này có thể thấy trong cuốn Đạo Đức Ki-tô của Georgia Harkness
(Christian Ethics, p.30): “...Có
một câu ở cuối ẩn dụ về những nén bạc (parable of the pounds) ở trong
Phúc Âm Luke thường được bỏ sót khi đọc và giảng ẩn dụ này.. Trong
Luke 19:27 có câu: “Nhưng đối
với những kẻ thù của Ta, những người không muốn Ta ngự trị trên
chúng, hãy mang chúng ra đây và giết chúng trước mặt Ta.”” Tại
sao chúng ta lại bỏ sót câu này? Vì
nó không giống như là lời của Dê-su. Nó
không giống như là những lời của một người nói trên thập giá, Luke
23:34: “Thưa Cha, hãy
tha thứ cho họ vì họ không biết là đã làm gì.” Dù rằng
câu trong Luke 19:27 ở trên có nhiều phần
xác thực hơn (phù hợp với nhiều lời khác của Dê-su trong Tân Ước) là
câu trong Luke 23:34, chúng ta vẫn tin rằng câu sau này mới chính là của
Dê-su nói.” Đọc Tân ước, chúng ta thấy rõ
Dê-su trong đó không cho mình là một nhà đạo đức, và trong suốt hầu hết
lịch sử của Ki-tô Giáo, cũng không ai coi ông ta như vậy, mà nhiệm vụ căn bản của Dê-su là rao giảng
về sự sắp tới của nước thiên đường (kingdom of heaven), hay nước của Thượng đế (kingdom of
God), và giới điều căn bản của ông ta
là nếu con người muốn vào nước thiên đường này thì phải hoàn toàn
hiến dâng mình cho Thượng đế (devote themselves totally to God). Trong
Matthew 4: 17, Dê su khuyến dụ quần chúng Do Thái: “Hãy thống
hối, vì Nước Thiên Đường sắp tới”.
Trong thời đại đó, trước tâm cảnh khao khát của người Do
Thái đang bị La Mã cai trị khắc nghiệt, những lời này đã khởi sự một
phong trào theo Dê-su vì đây là một hi vọng và là một lối thoát của
dân Do Thái ra khỏi vòng cơ cực. Và
trong Matthew 22: 37-38, Dê-su nói: “Các ngươi
hãy yêu Chúa của các ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết tâm trí. Đây là lời răn lớn thứ nhất.” “Hoàn toàn hiến dâng mình cho Thượng đế”
(nghĩa là hoàn toàn tuân phục =i.e., obedience) và sứ mệnh yêu Chúa là giáo điều căn bản
của Dê-su. Toàn
bộ rao giảng của Dê-su là về một thế giới khác sắp xảy ra. Ông
ta nói với các đệ tử: “Có vài người
đứng đây hãy còn sống khi Nước Chúa đến với tất cả quyền năng”
(Mark 9:1). Vì Thượng đế sắp xuống
ngự trị trong nước thiên đường của ông ta, những vấn đề trần thế
không còn quan trọng: “Bán tất cả những
gì các ngươi có và phân phát cho người nghèo, và các người sẽ có kho
báu trên thiên đường, và hãy lại đây, theo Ta” (Luke 18: 22). Albert Schweitzer cho rằng những giáo lý của
Dê-su phải được hiểu như là những “đạo
đức tạm thời” – một tập hợp những điều răn phải theo trước
khi Nước Chúa được thiết lập, mà Dê-su tin rằng sẽ xảy ra trong khi một
số đệ tử của ông còn sống. Như sử gia nổi tiếng Frederick
Conybeare viết trong cuốn “Nguồn Gốc Ki-tô
Giáo” (The Origins of Christianity, pp. 153-154): “Phần
lớn những giáo lý trong Phúc Âm được viết theo quan điểm là một tai họa
lớn có tác dụng hủy bỏ hết những việc trên thế giới thì sắp sửa
xảy ra, và sau đó, khi Thượng đế múa cây đũa thần (divine wand), một trạng thái phúc lành mới sẽ
xuất hiện, giống như một con phượng hoàng bay lên từ đống tro tàn của
chính mình, mới mẻ và bất diệt. Dê-su tự cho mình là tiếng nói báo hiệu
(harbinger) cho một hiến pháp thần thánh mới, tức thời được áp đặt bởi
quyền năng thần thánh và sự can thiệp của Thiên Chúa trực tiếp vào những
chuyện thế gian. Do đó, điều kiện
để theo ông ta là phải từ bỏ cha, mẹ, vợ, con, nhà cửa, và phải bỏ
đi ngay cả nhiệm vụ thiêng liêng nhất cổ
xưa – chôn cất cha mình.” (Much of the teaching of
the gospel was uttered in view of an impending catastrophe and liquidation of this world’s
affairs, out of which, at a wave of the divine wand, a new and blessed condition was to
emerge, just as the phoenix arises, renewed and immortal, out of its own ashes. Jesus felt himself to be the harbinger of a new and
divine constitution...to be suddenly imposed by divine power and interference. Hence the precepts to follow him; to forsake
parents, wife, children, and home; even to neglect the most sacred of all ancient duties
– that of burying one’s own father) Nhiều nhà thần học không chịu chấp
nhận quan điểm này – vì chấp nhận có nghĩa là thừa nhận Dê-su đã
sai lầm về nước Chúa sắp tới – tuy trong Tân Ước có nhiều bằng chứng
cho chúng ta thấy rõ quan điểm này của Dê-su.
Ngoài nhiều đoạn trong Tân ước chỉ rõ là triều đại của
Thượng đế đã gần kề, sắp tới, những điều Dê-su dạy đệ tử, hầu
hết không gì khác hơn là kèm theo sự hứa hẹn về một phần thưởng của
Thượng đế trên thiên đường. Dê-su
dạy: “Hãy khiêm tốn, vì Thượng đế
đang bí mật quan sát các ngươi sẽ thưởng các ngươi”; “Hãy tốt với người nghèo và tàn tật,
các ngươi sẽ được trả lại vốn trong sự sống lại của những người
công chính”. Ngay cả trong Bài Giảng
Trên Núi (The Mount Sermon) mà Ki-tô Giáo thường đề cao quá mức, cũng đầy
những phần thưởng của Thượng đế: “Phúc
cho những ai tinh thần yếu kém, vì nước trời sẽ thuộc về họ.”
[Tinh thần yếu kém đồng nghĩa với ngu đần. TCN] “Phúc cho ai có lòng trong sạch vì họ sẽ
được thấy Thương đế.” Mặt trái của những lời hứa hẹn
vô trách nhiệm về một đời sau ở trên thiên đường này, vì không ai
có thể kiểm chứng được sau khi đã chết, lẽ dĩ nhiên, trong kế hoạch
truyền đạo của Dê-su, và ngày nay cũng nằm trong kế hoạch truyền đạo
của những nhà truyền giáo Ki-tô, là đưa ra những lời đe dọa trừng phạt
những người nào không nghe và tuân phục ông ta.
Dê-su bảo các đệ tử đi truyền đạo trong xứ Do Thái: “Nếu có ai không chấp nhận những lời
rao giảng của các ngươi,, hãy rũ bụi khỏi chân các ngươi khi các ngươi
đi ra khỏi cái nhà hay thị trấn đó. Thật
vậy, ta cho các ngươi biết, sự phán xét trong ngày tận thế sẽ nhẹ đối
với các thị trấn Sodom và Gomorrah (2 thị trấn bị Bố của Dê-su hủy
diệt trong Cựu Ước) hơn là đối với thị
trấn đó. (Matthew 10: 14-15). Đây
là những lời đe dọa trừng phạt những nơi nào không tin những điều Dê-su
rao giảng hàm ý: “Theo ta thì sống, nghịch ta thì chết”, giống như thái
độ của các hôn quân bạo chúa ở bên Tàu khi xưa. Một yếu tố nổi bật khác trong nhiệm
vụ “cứu thế” của Dê-su là lòng hẹp hòi phe phái (narrow sectarianism). Dê-su
không xuống trần để cứu thế giới, mà chỉ để cứu một phần rất
nhỏ của thế giới – nghĩa là, dân Do Thái, dân được Bố ông ta chọn. Dê-su là người Do Thái, và ông ta tự coi
như là cứu tinh (savior) của dân Do Thái. Dê-su
tuyên bố: “Đừng
cho là ta tới để phá bỏ luật và các nhà tiên tri (trong Cựu Ước); Ta không đến
để phá bỏ mà là để hoàn thành chúng (Matthew 5:17)” Ông ta dặn các đệ tử đi truyền đạo: “Không được
đi đâu khác ngoài dân Gentilles, và không được vào thành phố nào của
dân Samaritans, mà chỉ đi tới đàn chiên lạc của Israel” (Matthew
10: 5-6). Như đã viết rõ trong Tân Ước, nhiệm
vụ của Dê-su là cứu dân Do Thái ra khỏi tội lỗi (Matthew 1: 21: for He
will save His people from their sins) và chỉ
cho dân Do Thái mà thôi (Luke 1: 33: And He will reign over the house of Jacob for ever). Câu chuyện sau đây trong Tân Ước chứng tỏ hơn gì hết lòng hẹp hòi phân
biệt chủng tộc và thực chất đạo đức của Dê-su. Chúng ta, nhất là
các tín đồ Ki-tô Việt Nam, đặc biệt là nhóm Tin Lành Lê Anh Huy, Huỳnh
Thiên Hồng, Nguyễn Huệ Nhật, Nguyễn Thanh Vũ, Phan Như Ngọc, Nguyễn Hồng
Quang v..v.. hãy đọc và đọc kỹ đoạn
sau đây trong Tân Ước, Matthew 15:
21-28: "Thế
rồi Dê-Su đi tới vùng (When Jesus went out from there and
departed to the region of Tôi xin để cho các độc giả tùy
ý nhận định về tư cách, đạo đức và lòng vị tha của Dê-Su trong câu
chuyện trên. Để giúp cho các tín đồ
Ki-tô đôi chút suy tư về câu chuyện trên, sau đây là hai nhận định của
hai học giả. Tiến Sĩ
Madalyn O'Hair bình luận như sau: Trừ khi anh là người Do Thái, chẳng ai muốn
anh trong tôn giáo này. Đối với người
nào thực sự "thực tâm cảm thấy Dê-Su là đấng cứu thế của họ"
tôi xin giới thiệu một nhà phân-tâm học. (Unless you are a Jew, you
are not wanted in this religion. For someone
who really "truly feels in his heart that Jesus is his Savior" I would recommend
a psychiatrist.) Và, Frederick Heese Eaton bình luận
như sau trong cuốn Scandalous Saints, trang 214: Dê-Su
thường nhắc nhở đệ tử là phải thương yêu nhau, và thương yêu ngay cả
kẻ thù (John 13:35; Matthew 5:44) Nhưng
khi một người đàn bà không phải là người Do Thái tới nhờ Dê-Su chữa
lành bệnh cho con gái, thì Dê-Su lại bảo bà ta rằng, "Không thể lấy
bánh của con dân Do Thái vứt cho chó ăn." (Matthew 15:26) Nói một
cách khác, ông nói, "Người phi Do
Thái là đồ chó. Tại sao ta lại phải
làm bất cứ gì cho ngươi?" Anh cảm thấy thế nào khi Dê-su gọi anh là
chó? Gọi người phi Do-Thái là đồ chó không phải
là sự biểu thị của lòng thương yêu. Dê-Su
thật là hỗn hào, kiêu căng và tự phụ khi gọi người đàn bà kia là
chó. Vậy trong vấn đề thực hành, Thánh Dê-Su chẳng có chút gì
là Thánh cả. Những sự kiện cho thấy Dê-Su thực sự
ghét những người phi Do-Thái. Thánh Phao-Lồ (Paul) viết, theo lời mặc khải
của Thiên Chúa, "Dê-Su luôn luôn như
vậy, ngày hôm qua, ngày hôm nay và cho tới mãi mãi, không bao giờ thay đổi."
(Hebrew 13:8) Vậy nếu quý vị dự định lên Thiên Đường
ở cùng
Dê-su đầy tình thương, và quý vị không phải là người Do Thái, tốt hơn là
quý vị nên nghĩ lại đi thì vừa. (Frederick Heese Eaton, Scandalous Saints, p. 214: Jesus repeatedly admonished his disciples to love
one another, and even to love their enemies. (John 13:35; Matthew 5:44) Yet when a non-Jewish woman begged him to heal her
daughter, Jesus told her, "It is not fit to take the children (of Hiển nhiên là, Người Việt Nhưng dù những tín đồ Ki-tô Việt Đọc Tân Ước, chúng ta thấy đoạn
sau đây trong Khải Huyền 7: “Tôi lại thấy một thiên sứ khác đến từ
phương Đông, cầm con dấu (seal) của Thượng đế hằng sống. Thiên sứ này lớn tiếng kêu gọi bốn thiên sứ đã được Thương đế ban
quyền cho làm hại đất và biển (who had been given power to harm the land
and the sea): Đừng làm hại đất, biển và cây cối cho đến khi chúng ta đóng
dấu ấn lên trán của những tôi tớ Chúa. Rồi
tôi nghe thấy số người được đóng dấu ấn trên trán, tất cả là 144000 (một trăm bốn mươi bốn
ngàn) thuộc 12 bộ lạc của Israel, mỗi bộ lạc là 12000 người.” Sách Khải Huyền ở cuối Tân ước
là những Lời của Chúa báo trước những gì sẽ phải xảy ra trong ngày Tận
Thế. Những người được đóng dấu
ấn của Thương đế trên trán là những người được Chúa chọn để cho
lên thiên đường của Chúa, vì Kinh Thánh viết rõ “Nhiều người
được kêu gọi nhưng chỉ có ít người được chọn” và Chúa cũng
đã phán, Matthew 7: 21-23: “Không phải người nào gọi Ta là Chúa cũng
được vào nước Trời... Trong ngày phán xét sẽ có nhiều người kêu
nài: “Thưa Chúa, chúng tôi đã giới thiệu Chúa cho nhiều người, đã
dùng danh Chúa để đuổi quỷ và làm nhiều phép lạ [như một linh mục
mít ở Úc làm cho tượng bà Mary chảy dầu]. Nhưng ta sẽ đáp: “Ta không hề biết các
ngươi! Hãy cút đi cho khuất mắt ta, vì các ngươi chỉ làm việc gian ác”
[Có vẻ như các nhà truyền giáo hăng say đi truyền đạo cũng như các
tín đồ Ki-tô cuồng tín cỡ Lê Anh Huy cố gắng dụ người khác vào đạo
chưa bao giờ đọc đến câu này] Lời Chúa phán như trên thì không
thể sai lầm, và sự kiện rõ ràng là, đến ngày tận thế, Chúa chỉ chọn
144000 người trong 12 bộ lạc Do Thái, không thấy Chúa nói đến các bộ lạc
tín đồ ở Bùi Chu, Phát Diệm hay Hố Nai, Gia Kiệm, hay Bolsa, San Jose,
Houston, hay bất cứ ở đâu. Dân Do
Thái là dân được Chúa Cha chọn (chosen people) nhưng Chúa cũng chỉ chọn có
144000 người mà thôi. Vậy các tín đồ
Ki-tô Việt Cho nên tôi thật tội nghiệp cho
những người không phải là dân Do Thái mà cứ sống trong ảo vọng, mơ
tưởng rằng sẽ được Dê-Su cứu rỗi và cho mình sống đời đời trên
Thiên Đường bên cạnh Thiên Chúa với thân phận tôi tớ hầu hạ Chúa.
Trong trang nhà mucsu.net của Tin Lành Việt Nam ở Mỹ, có một bài viết về
"Hãy Học làm đầy tớ hầu hạ Chúa"
với tất cả sự hân hoan và hãnh diện của người có đầu óc của một
đầy tớ. Để giúp các tín đồ Ki-tô Việt Chúng ta đã biết chuyện Dê-su nguyền
rủa cây sung cho nó chết héo queo chỉ vì nó không ra trái lúc trái mùa để
cho Dê-su ăn khi đói bụng. Ngài có
tài làm phép lạ biến nước thành rượu, biến vài ổ bánh mì đủ cho
5000 người ăn, nhưng sáng ra Ngài lại đói và hi vọng ăn được vài trái
sung lúc trái mùa. Khi đến gần cây
sung, không thấy cây ra trái để cho Ngài ăn cho đỡ đói, Ngài bèn nguyền
rủa cây sung, và cây sung chết héo queo ngay lập tức. Một chuyện khác trong Tân Ước, Matthew 8: 28 - 34, có thể cho chúng ta thấy rõ tâm địa độc
ác, tàn nhẫn của Dê-su, được tóm tắt
như sau: Có
hai người bị quỷ ám gặp Chúa Dê-su và quỷ trong hai người đó van nài
Chúa Dê-su đuổi chúng ra và cho nhập vào một bày heo. Chúa phán "đi ra", chúng liền nhập
vào bầy heo và cả bầy heo (độ 2000 con, theo Mark 5: 13) rông tuốt xuống sông chết đuối hết. Trẻ con chăn heo chạy về làng kể chuyện
lại cho dân làng nghe, cả làng kéo ra khỏi làng gặp Chúa Dê-su và...van
nài (có nghĩa là đuổi) Ngài hãy đi ra
khỏi vùng đất của họ. Chúng ta hãy tự hỏi, 2000 con heo
có tội tình gì mà Chúa Dê-su "lòng lành vô cùng" của các tín đồ
Ki Tô Giáo lại phù phép làm cho 2 con quỷ nhập vào cả đàn, rồi bắt
chúng nhào xuống sông chết đuối hết? Như
vậy có phải là Dê-su là người không có lòng nhân, vô cớ tự nhiên
đang tâm giết cả một đàn heo vô tội một cách tàn nhẫn. Mà đàn heo cũng lại là những sản phẩm
của chính Chúa Cha “sáng tạo” ra, vì theo niềm tin Ki Tô thì mọi thứ
trên đời này đều là do Chúa Cha tạo ra cả.
Bởi vậy dân làng mới coi Dê-su như là một tên phù thủy,
một kẻ đáng chê trách, đã vô cớ hủy đi một nguồn lợi của dân
làng, làm cho họ tự nhiên mất đi cả một đàn heo tới 2000 con, cho nên họ
kéo ra ngoài làng, chặn đuổi Dê-su đi
nơi khác, không dám để cho Giê-su vào làng. Tân Uớc có đầy những chuyện chứng
tỏ nhân cách và đạo đức thấp kém của Dê-su như trên, nhưng trên khắp
thế giới, các tín đồ vẫn được dạy là "Chúa toàn hảo", "Tình Yêu của Chúa" bao trùm thế
gian v..v.. nên phải "Kính Chúa" và hãy hãnh diện làm "tôi tớ
hầu hạ Chúa", "thờ phụng Chúa".
Nhưng Giám Mục John Shelby Spong thì lại nghĩ khác, vì sự lương
thiện trí thức không cho phép ông ta tin nhảm nhí. Do đó, ông đã viết: Chúng ta có thấy
hấp dẫn đối với một Chúa phải giết cả một bày heo để đuổi một
con quỷ ra khỏi thân người hay không? Chúng
ta có nên khâm phục và kính trọng người mà chúng ta gọi là Chúa đã
nguyền rủa một cây sung khi nó không ra trái lúc trái mùa không?... Cuốn Thánh Kinh đã
làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị. Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa mà tôi không thể kính trọng, đừng nói
đến thờ phụng. (John Shelby Spong, Rescuing The Bible From Fundamentalism, pp.
21,24: Are we drawn to a Lord who would
destroy a herd of pigs in order to exorcise a demon? Are
we impressed when the one we call Lord curses a fig tree because it did not bear fruit out
of season?... A literal Bible presents me with far more
problems than assets. It offers me a God I
cannot respect, much less worship.) Từ những câu chuyện trong Tân Ước
như trên, và không phải chỉ có thế, có thể nói được chăng là Dê-su
là một nhân vật vượt bực về vấn đề đạo đức? Nhưng tại sao các tín đồ Ki-tô vẫn
coi Dê-su như là Chúa của họ, đầy lòng thương yêu, nhân từ và vượt bậc
về đạo đức? Đó là do xảo thuật
diễn giải Kinh Thánh của các giáo hội Ki-tô, và sách lược rất thành
công của giáo hội trong việc tẩy não và uốn nắn đầu óc tín đồ mà
tuyệt đại đa số là những người đầu óc yếu kém và thấp kém, không
hề tự mình đọc lấy và suy tư về những điều viết trong Kinh Thánh. Xảo thuật của các bậc lãnh đạo Ki-tô
Giáo là không bao giờ mang những đoạn như trên
ra giảng cho các tín đồ và khuyên các tín đồ chỉ cần tin
theo những lời giảng của các bề trên. Đã
một thời Giáo hội Ca-tô Rô-ma cấm tín đồ tự mình đọc Kinh Thánh, vi
phạm có thể bị xử tội chết, và ở bên Anh đã có trường hợp tín đồ
bị xử chết vì tự đọc Kinh Thánh, và ngày nay giáo hội cũng không khuyến
khích tín đồ tự mình đọc Kinh Thánh. Cho
nên Giáo hội đã phát minh ra những Kinh Bổn mà nội dung là những điều
Giáo hội muốn nhồi nhét vào đầu các tín đồ vốn không có nhiều chỗ
chứa. Sau đây chúng ta hãy thử điểm
qua vài điều mà các nhà giảng đạo thường trích dẫn từ Kinh Thánh ra
để lừa bịp đầu óc tín đồ. Giáo
hội thường quảng cáo cho cái mà họ gọi là Luật Vàng (Golden Rule) trong
Tân Ước, một luật quý như vàng và rất độc đáo của Dê-su, Luke 6: 31:
"Hãy làm cho người khác điều các con
muốn người ta làm cho mình". Nhưng
phân tích kỹ vấn đề thì Luật Vàng mà các nhà giảng đạo cho là sáng
tác độc đáo về luân lý đạo đức của Dê-su lại chứng tỏ rằng họ
thuộc loại kém hiểu biết. Vì đây
không phải là một luật do Dê-su sáng tác. Chúng
ta biết rằng, hơn 500 năm trước khi Dê-su
sinh ra đời thì Đức Khổng Tử cũng đã nói luật trên nhưng dưới một
dạng khác: "Những điều mà mình không
muốn người ta làm cho mình thì đừng có làm cho người khác" (Kỷ
sở bất dục, vật thi ư nhân). Và
trong kinh Talmud của Do Thái, Hillel, một người Pharisee sống trong thời đại
trước Dê-su lâu cũng có nói, (Sabbath 31: "Cái
gì mà mình không thích thì đừng có làm cho người khác" (What thou
does not like, do thou not to thy neighbor). Do đó, Luật Vàng mà các tín đồ Ki Tô thường cho là của Dê-su, thật ra chỉ
là cóp nhặt tư tưởng đã có từ trước trong dân gian và thay đổi câu văn
từ tiêu cực (negative) sang tích cực (positive).
Nhưng sự cóp nhặt và biến đổi này đáng lẽ phải hay hơn,
trái lại lại làm cho ý nghĩa của Luật kém hơn.
Thật vậy, điều mà mình muốn người khác làm cho mình chưa
chắc đã là những điều đúng, lành thiện v..v.. mà có thể bắt nguồn từ
tham dục, hay si ngốc của mình. Và cũng
chưa chắc đó là những điều mà người khác cần đến, hoặc muốn mình
làm cho họ. Phân tích câu này, William
Floyd cho rằng đó chỉ là một cách xử thế thuộc loại "có đi có lại mới toại lòng nhau"
của người xưa (the desirability of reprocity of the ancients) chứ không phải
là một tiêu chuẩn đạo đức có tính cách phổ quát. Trái lại, luật của Đức Khổng Tử, giống
luật của Hillel, có tính cách luân lý
rộng lớn, khuyên ngăn chúng ta không nên làm cho người khác những điều
họ có thể không muốn, vì chính mình cũng không muốn những điều này. Đây là một cách xử thế khôn ngoan,
tránh gây bất hòa, vì "đừng làm" ngụ ý thận trọng, trong khi
"hãy làm" thường có tính cách áp đặt hay cưỡng bách. Đọc Tân ước, chúng ta thấy rõ là
Dê-su không hề đưa ra những tiêu chuẩn về cách hành xử của con người
đặt trên căn bản là những hành xử này sẽ góp phần cho hạnh phúc và
an sinh của con người. Ông ta phát ra
những lệnh lạc, quy luật, và bao giờ cũng kèm theo sự đối nghịch thô
bạo giữa thiên đường và hỏa ngục, đặc biệt là phần thưởng của
Thượng đế được định đoạt bởi sự tuân phục Thượng đế tốt
như thế nào. Vấn đề thật là rõ
ràng, cốt tủy giáo lý của Dê-su, nếu có thể gọi là giáo lý, là: “Hứa
hẹn và đe dọa”. Đi sâu thêm vào vấn đề đạo đức
của Dê-su, có lẽ cái ảo tưởng lớn nhất của các tín đồ về những
lời dạy về đạo đức của Dê-su là cho rằng chúng thật là đặc biệt
khác thường và độc đáo do chính Dê-su sáng tác ra. Không có gì xa sự thật hơn. Các học giả nghiên cứu Kinh Thánh đã ghi
nhận: “Từng
điểm một, không có một điểm nào trong giáo lý của Dê-su mà không có
trong Cựu Ước hay là trong những giáo điều của các ông thầy tu Do Thái
trước khi Dê-su sinh ra đời.” Những
quan điểm mà người ta cho là về đạo đức của Dê-su đã có sẵn trong
Cựu Ước, rất quen thuộc trong các trường phái Do Thái, và cho mọi người
Pharisees, trước thời Dê-su lâu, và cũng rất quen thuộc trong tất cả các
nền văn hóa trên trái đất như Ai Cập, Babylone, Ba Tư, Hi Lạp, Ấn Độ và
Đông phương, đúng như học giả Ca-tô Joseph L. Daleiden đã nhận định ở
trên.. Hơn nữa, trong nhiều trường hợp,
chính Dê-su cũng không cho đó là những điều đặc thù của mình sáng tạo
ra. Thật vậy, chúng ta hãy lấy vài thí
dụ chứng minh. Trong Matthew 22: 39,
Dê-su dạy lời răn lớn thứ hai [Lời răn lớn thứ nhất là phải yêu Thượng
đế hết linh hồn, hết sức v..v..]: “Hãy
yêu những người lân cận như chính mình” (You shall love your neighbor as
yourself). Các tín đồ Ki-tô thường
coi đây là lời dạy độc đáo của Dê-su và dựa vào câu này, họ luôn
luôn đề cao Ki-tô Giáo là tôn giáo của tình yêu, Chúa Dê-su là Chúa của
tình yêu. Bất hạnh thay cho họ, chúng
ta thấy những lời y hệt trên trong Cựu Ước, Levitius 19: 18: “Các ngươi hãy yêu những người lân cận
như chính mình” (You shall love your neighbor as yourself). Trong những trường hợp mà Dê-su có
vẻ như là một nhà cải cách những luật cũ của Do Thái và đưa ra những
luật mới, nhưng thực ra là ông ta đã hiểu sai nội dung của luật. Trong Matthew
5: 21-22, Dê-su phán: “Các ngươi đã nghe luật cho người xưa là “Không
được giết người, người nào giết người sẽ bị phán xét”, nhưng ta
bảo các ngươi: hễ người nào giận anh em mình vô cớ (without a cause) thì
sẽ bị phán xét.”. Cấm nổi giận
không phải là mới lạ trong truyền thống Do Thái. Chúng ta thấy cùng một ý tưởng trong
Levitius 19: 17: “Không được thù ghét người anh em”. Nhưng ở đây, Dê-su nói một câu ngớ ngẩn:
“giận vô cớ” (whoever is angry with his brother without a cause). Ở trên đời này có ai đi giận một người
khác vô cớ, nhất là người đó lại là anh em mình? câu phán trên chứng tỏ Dê-su bạ đâu
nói đấy, nói mà không suy nghĩ, khoan nói đến chuyện quay lưỡi bảy vòng
trước khi nói. Một thí dụ khác là, trong Matthew 5:
27-28, Dê-su dạy các đệ tử: “Các ngươi đã được dạy: “không được
phạm tội tà dâm, nhưng ta bảo các người: “Người nào nhìn một người
đàn bà mà nổi lòng ham muốn thì đã phạm tội tà dâm trong tâm rồi.”” Đây có phải là một tư tưởng mới lạ
không? Không hẳn vậy, trong Cựu ước,
Exodus 20: 17: “Không được tham muốn chiếm hữu vợ người” (You shall
not covet your neighbor’s wife); và trong Proverbs 6: 25, “Không được ham muốn
sắc đẹp của người đàn bà trong tâm” (Do not lust after her beauty in your
heart). Trong Kinh Talmud của Do Thái,
Berachot 24:1, cũng có câu: “Người nào chỉ nhìn ngón tay út của một người
đàn bà đã mang tội lỗi trong tâm rồi” (Whosoever regardeth even the little
finger of a woman hath already sinned in his heart). Vài thí dụ trên và nhiều thí dụ tương
tự khác mà chúng ta có thể rút ra từ Tân Ước đã chứng tỏ rằng
Dê-su không đi ra ngoài truyền thống Do Thái, điều mà các tác giả Phúc
Âm muốn chúng ta phải tin là Dê-su có những giáo lý đặc biệt, khác với
truyền thống Do Thái. Các giới lãnh
đạo Ki-tô Giáo, qua bao thế kỷ, đã giữ độc quyền đọc và diễn giải
Kinh Thánh, cũng đã luôn luôn và tiếp tục cho đến ngày nay, rao giảng trước
đám tín đồ thấp kém, những giáo lý mà họ bảo là đặc biệt, độc
đáo của Dê-su sáng tác ra. Chẳng có
lẽ họ lại không đọc Kinh Thánh và không biết đến sự mâu thuẫn sơ
đẳng giữa lời rao giảng của họ và sự thật nằm trong Kinh Thánh? Tôi cho rằng họ đã thiếu lương thiện
trí thức, cố tìm cách giam hãm đầu óc tín đồ trong niềm tin vào một
Dê-su đặc biệt. Sự thật là trong Tân ước, Dê-su
không tự coi mình là một nhà cải cách đạo đức, vì những giới điều
của ông ta đưa ra không có gì là đặc biệt, độc đáo. Dê-su ở trong Tân ước được mô tả như
là một nhà tiên tri thần thánh và một người làm phép lạ, không phải
là một triết gia. Dê-su được coi là
đặc biệt trong thời đó, không phải là nội dung những điều ông ta dạy
về đạo đức, mà là những điều ông ta tự nhận là Chúa Con, mang một
nhiệm vụ thần thánh (divine mission) mà Cha ông ta đã giao phó cho ông ta, những
điều rất hấp dẫn đối với dân chúng Do Thái thời đó. Bởi vậy, sau Bài Giảng Trên Núi, đám đông
lấy làm ngạc nhiên và phân vân: “Tại sao ông ta lại giảng như một
người có đủ quyền hành chứ không phải là một ông thầy giảng về
tôn giáo?” (Matthew 7: 29: For He taught them as one having authority, and not as
their scribes). Dê-su tự cho mình như là một khuôn mặt
thần thánh và dạy những điều răn với quyền năng của Thượng đế:
“Ta không phải theo ý Ta mà là ý của đấng đã sai ta...làm nhiệm vụ
mà Cha Ta đã giao phó cho Ta để hoàn thành, những công việc mà Ta đang làm,
với sự chứng nhận của Cha Ta đã gửi Ta xuống đây.” (John 5: 30,36). Dê-su không bị kết tội vì những điều
răn của ông ta mà vì ông ta tự nhận là đấng cứu tinh, điều đã gây
nên sự thù nghịch giữa ông ta và giáo quyền Do Thái, đại diện bởi những
người Pharisees. Dê-su không cho phép ai nghi ngờ, chất
vấn về giáo lý của ông ta. Tất cả
những lời rao giảng của ông ta đều là những khẳng định độc đoán,
con người chỉ có thể chọn một trong hai con đường: hoặc chấp nhận,
hoặc bác bỏ coi như không có gì đáng phải để ý. Các tín đồ Ki-tô thường chọn con đường
thứ nhất, tôi và hơn hai phần ba nhân loại đã chọn con đường thứ
hai. Tại sao tuyệt đại đa số dân
chúng trên thế giới lại chọn con đường thứ hai? Bởi vì, giáo điều chính của Dê-su là phải
hoàn toàn hiến dâng (devote) cho Cha ông ta và cho chính ông ta. Khi Dê-su nói hiến dâng có nghĩa là ông ta
muốn con người phải hoàn toàn tuân phục luật lệ của hai cha con ông ta,
và phải theo đúng khuôn phép của ông ta. Khi
Dê-su bảo nhóm người theo ông ta “tin”, ông ta muốn nói là họ phải
hoàn toàn vâng lời. Khi Dê-su ca tụng
người nào có “đức tin” (faith) có nghĩa là người đó phải chấp nhận
bất cứ điều nào mà Dê-su phán, bất kể là lời phán đó thuộc loại
vô đạo đức. Thí dụ, khi ông coi người
đàn bà xứ Canaan đến xin chữa bệnh cho con là chó thì người đàn bà đó
phải chấp nhận thân phận chó nhỏ của mình thì mới được ông ta khen
như sau: “Ô người đàn bà kia, đức tin của người thật là vĩ đại”
(Matthew 15: 28: Then Jesus said to her, “O woman, great is you faith”) Khi mà con người phải tuyệt đối vâng
lời Dê-su, vào đúng khuôn phép của ông ta, như Ki-tô Giáo thường dạy tín
đồ, và tín đồ rất hãnh diện được làm tôi tớ hầu việc Chúa mà
không thắc mắc, thì đời sống của con người sẽ như thế nào? Điều hiển nhiên là phải hi sinh khả năng
tìm hiểu sự thật, hi sinh chân lý. Tìm
hiểu sự thật đòi hỏi đầu óc con người không bị hạn chế trong quyền
tự do thắc mắc, đặt nghi vấn, khảo sát bằng chứng, phân tích và phê
bình những quan điểm chống đối nhau, và chỉ chấp nhận là đúng khi đã
được chứng minh, bất kể là kết luận đạt tới có phù hợp với tôn
giáo của mình hay không. Và đây chính
là điều răn dạy của Đức Phật trong Kinh Kalama. Điều rõ ràng là trong giáo lý Ki-tô
Giáo, quyền năng nằm trong Kinh Thánh và trong sự diễn giải Kinh Thánh của
các chức sắc trong giáo hội. Phân
tích, phê bình không tương hợp với niềm tin, và có nghi vấn trước các
niềm tin mà “giáo hội dạy rằng...” bị coi là tội lỗi, hoặc sai lầm
về đạo đức, hoặc phỉ báng Chúa, hoặc lạc đạo. Giam hãm đầu óc con người vào những gì
mà con người được phép tin, Ki-tô Giáo đã tự đặt mình vào vị thế kẻ
thù của chân lý, của lý trí, khả năng của con người để đạt tới chân
lý. Bất kể Ki-tô Giáo là cái gì khác,
Ki-tô Giáo cũng không thể biện minh cho cái giáo lý hạ đẳng của mình: bắt
buộc con người phải tin là chân lý những niềm tin tôn giáo mà họ không
thể hiểu được hay không chứng minh được.
Chẳng vậy mà ông Đỗ Mạnh Tri, một trí thức Ca-tô, đã viết
trong cuốn “Ngón Tay và Mặt Trăng”: “Tin là một cách sống chết,
không cần biết không cần hiểu.” Nhưng chính những niềm tin tôn giáo không
cần biết không cần hiểu này, đồng nghĩa với “mù lòa tin bướng tin càn”,
đã được viện ra để biện minh cho những hành động tác hại đối với
nhân loại như Thánh Chiến, Tòa Án Xử Dị Giáo, Săn lùng phù thủy, tra tấn
và thiêu sống những người lạc đạo, và tàn sát những người ngoại đạo
khi có thể v..v.., 7 núi tội lỗi mà Theo Dê-su thì, Matthew 18:3: “trừ khi các người trở thành như những đứa
trẻ, các ngươi không bao giờ vào được nước thiên đường”. Hiển nhiên là những đứa trẻ, với đầu
óc chưa kịp mở mang, chưa hiểu biết nhiều, thì rất dễ tin những gì người
lớn dạy nó. Nước thiên đường của
Dê-su chỉ dành cho những người ngu, đầu óc chưa mở mang, chưa trưởng
thành, cả tin như những đứa trẻ. Các
giáo hội Ki-tô đã lợi dụng tối đa câu này của Dê-su để đưa những
đứa trẻ vào khuôn phép của giáo hội và những niềm tin mà giáo hội muốn
chúng phải tin. Họ lôi chúng đi rửa
tội trong khi chúng chưa hiểu rửa tội là cái gì và tại sao lại phải rửa
tội, tội gì mà chúng đã gây ra? Từ
đó, họ dùng mọi cách để tẩy não, nhồi sọ chúng bằng những chuyện
hoang đường, huyễn hoặc, mê tín đã lỗi thời, cho nên khi lớn lên
chúng khó mà có thể dứt bỏ được những gì đã thường xuyên cấy vào
đầu óc chúng từ khi còn nhỏ. Tệ nhất
là các bậc cha mẹ, vì tin vào một cái bánh vẽ trên trời, đã tiếp tay
các giới chức trong giáo hội làm ô nhiễm, hủy hoại đầu óc của con
cái mình. Có một câu chuyện như sau. Một thổ dân da đỏ trên đất Mỹ đã
già đầu tóc bạc phơ, khi nghe một nhà truyền giáo Ki-tô thực dân mang
Kinh Thánh ra giảng để kéo ông ta vào đạo, đã nói: “Ông cho rằng với tuổi tác của tôi như thế
này, tôi có thể tin được những chuyện hoang đường như vậy sao? Nhưng tôi có mấy đứa con. Đừng có nói với mấy đứa lớn mà
chúng cười vào mũi cho. Nhưng tôi còn
đứa con út, còn nhỏ dại. Ông muốn
nói gì nó cũng tin hết và khi nó đã tin rồi thì nó sẽ rất khó mà bỏ
được được những điều nó đã tin”.
Câu chuyện không nói là người thổ dân kia có bị thiêu sống
hay không, vì câu chuyện xảy ra trong thời đại mà các nhà truyền giáo
Ki-tô da trắng thường nâng cuốn Kinh Thánh trước mặt người thổ dân bị
thiêu sống vì không chịu theo đạo, lẽ dĩ nhiên là để cứu vớt linh hồn
người thổ dân đó, với quan niệm là ngọn lửa thường không nóng bằng
và ít làm đau khổ hơn là ngọn lửa vĩnh hằng của Chúa dưới hỏa ngục. Tín đồ Ki-tô Giáo có thể cho rằng
Ki-tô Giáo đã mang lại cho họ một hi vọng và hạnh phúc trong một đời
sau, nhưng thực ra, cái mà Ki-tô Giáo mang lại cho họ chỉ là một hứa hẹn
khiến cho họ không biết gì hợn là mù lòa bước những bước chân chập
chững trên trái đất này. Cách đây
ngót 2000 năm, Chúa Dê-su cũng đã hứa hẹn với những người theo ông ta về
một thiên đường sắp tới, và ngày nay Ki-tô Giáo cũng tiếp tục hứa hẹn
với các tín đồ một đời sống đời đời trên một thiên đường giả
tưởng mà chính Giáo hoàng John Paul II cũng đã lên tiếng phủ nhận. Để kết thúc và tóm tắt về thực
chất giáo lý và đạo đức của Dê-su, tôi cho rằng đoạn sau đây của
George Smith, Ibid., trang 319, khá thích hợp: “Nếu chúng ta không kể đến những
gì Dê-su nói về chính ông ta thì .. hay nhất là Dê-su trở thành một ông
thầy giảng tầm thường, có những niềm tin sai lầm về hầu hết mọi
điều, kể cả về chính ông ta; và tệ nhất là ông ta trở thành một
tên kiêu căng lừa đảo.” (If we ignore what Jesus said about himself
then, at best, he becomes a mediocre preacher who held mistaken beliefs about practically
everything, including himself; and, at worst, he becomes a pretentious fraud) Đọc kỹ Tân Ước, chúng ta thấy nhận
định của George Smith không sai và có thể chứng minh rất dễ dàng. Tuy nhiên, rất có thể có người chê
trách tôi một cách vu vơ là đọc Kinh Thánh mà không hiểu, hay diễn giải
sai lầm Kinh Thánh. Phải hiểu ra sao,
và phải diễn giải Kinh Thánh như thế nào cho đúng, xin họ hãy trình bày
rõ ràng cho tôi biết, tôi xin cám ơn. Nếu
không, tôi sẽ tiếp tục diễn giải Kinh Thánh theo cái hiểu của tôi, với
đầy đủ tài liệu, dựa theo cái hiểu của vô số các học giả khác
trong phương trời Âu Mỹ. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com