posted: 23.5.2005
BÀI BA : “BÀN THÊM VỀ
"CÁI TÔI" TRONG VĂN HỌC CỔ VIỆT Trần Mạnh Hảo Hiện nay, quan niệm văn học
cổ Việt Nam từ ca dao, tục ngữ qua thơ văn Lý Trần, Lê, Nguyễn cho tới
năm 1932 tất thảy đều phi ngã, đều thiếu vắng "cái tôi" cá
nhân, đã, đang được dạy trong môn văn trên đại học và bậc phổ
thông thông qua các bài giảng của GS. Nguyễn Đ ăng Mạnh, PGS TS Huỳnh Như
Phương, GS.TS. Lê Ngọc Trà…trong sách giáo khoa văn trung học và các giáo
trình văn bậc đại học. Chúng tôi từng viết một bài báo khá dài mang
tên "Có thật nền văn học cổ Việt Thực ra, khi những con người
đầu tiên xuất hiện ý thức, nó đã kinh ngạc ngó vào bản thân mình đồng
thời ngó ra vũ trụ bao la. "Cái tôi" về một phương diện nào đó
đã manh nha xuất hiện . Con người từ thuở sơ khai đã biết suy tư về tồn
tại của mình và thế giới, băn khoăn đi tìm căn nguyên rằng tôi là ai,
tôi đến đây làm gì và tôi đi về đâu ? Do vậy, ngay từ buổi bình minh
của lịch sử, trước khi văn minh Hi Lạp xuất hiện, những cư dân vùng Lưỡng
Hà, cư dân Ai Cập cổ đại đã phần nào có ý thức về "cái
tôi" như là một mảnh vỡ của vũ trụ, một hóa thân của thần linh.
Triết học phương Tây trước và sau Socrate cho đến Descartes nhìn chung là
một nền triết học mang xu thế phóng thể, nghiêng về vũ trụ quan, ưu tiên
hướng ngoại, ít quan tâm đến chiều sâu bản thể con người. Chỉ từ
Descartes, qua triết học thời ánh sáng, con người trong ý niệm phương Tây
mới tìm cách giải phóng mình khỏi sự vong thân triết học, tạo tiền đề
cho "cái tôi" trong văn học xuất hiện cùng việc phá ngục Bastille
và trào lưu giải phóng của dòng văn học lãng mạn. Tuy nhiên, những trường
ca, anh hùng ca vĩ đại của Homère cổ đại, dù núp dưới vỏ bọc thần
thoại, bao giờ cũng là khát vọng vượt qua giới hạn "cái tôi"
để hòa vào cái "ngoài tôi" - cái bản thể vũ trụ. Trong kinh Veda
của Ấn Độ và Kinh Thi của Trung Quốc, "cái tôi" xuất hiện như
một nền tảng của tính nhân bản, của niềm tôn vinh mọi vui buồn sướng
khổ của từng con người và từng tập đoàn người, dù con người kia đôi
khi còn sống chung với thần linh, đặng khẳng định vẻ đẹp, nghị lực,
sức mạnh của con người trên mặt đất. Người Trung Hoa cổ đại đã đẩy
"cái tôi" lên ngang hàng trời đất trong một thế chân vạc :
Thiên - Địa-Nhân. Các nhà triết học cổ đại hàng đầu Trung Hoa từ Lão
Tử, Khổng Tử, Dương Chu, Mặc Tử, Mạnh Tử, Trang Tử qua Hán nho, Tống
nho... đều hết sức quan tâm đến điều cốt lõi của triết học là Tha
và Ngã, Ngã và Thiên, Ngã và Địa. Ở phương Tây, sau khi đế
quốc La Mã để gần ba trăm năm cấm đạo Thiên Chúa giáo, cuối cùng vua
Conxtantin đã trở lại đạo và biến đạo này thành quốc giáo. Từ đó,
hình thành nền thần học của các giáo phụ coi "triết học là đầy tớ của thần học",
với hai cây trụ cột là Augustin và Thomas D' aquin. Triết học kinh viện
nhà thờ dần dà phủ nhận "cái tôi", một biểu trưng của tính
nhân bản thời đại hoàng kim Hy-La để tôn vinh Thiên Chúa, coi con người
- "cái tôi" đồng nghĩa với tội lỗi như một câu châm ngôn trong
kinh "Tin Kính " : "Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng".
Con người sinh ra đã mắc tội tổ tông truyền. Nó bị coi là vong thân,
là kẻ bị nguyền rủa, kẻ bị kết án, luôn lấy sự sám hối ăn năn tội
làm lẽ sống, lúc nào cũng bị phán xét, bị ra tòa khi sống và cả khi chết.
Dưới bóng giáo đường và bóng lâu đài của các lãnh chúa, châu Âu dường
đánh mất bản thân mình, như quên đi thời văn minh nhân bản Hi-La cổ đại, chìm đắm trong sợ
hãi địa ngục, hóa thành bầy chiên được chăn dắt dưới ánh lửa hỏa
thiêu của những tòa án dị giáo man rợ. Đó là bóng đêm thời trung cổ
(moyen-âge) thời kỳ thiếu vắng tự do tư tưởng kéo dài từ năm 395 sau công
nguyên, năm đế quốc La Mã sụp đổ đến năm 1453, năm quân Thổ Nhĩ Kỳ
chiếm thành Nhờ phong trào văn nghệ Phục
hưng (Re-naissance) thế kỷ thứ XV-XVI, châu Âu ngơ ngác bừng tỉnh khỏi
bóng đêm trung cổ, quay về tìm lại tinh thần nhân văn Hy-La, ý thức được
việc cần phải giải phóng mình ra khỏi bầy đàn, vươn lên khát vọng tự
do cá nhân, thoát khỏi sự đàn áp tôn giáo. "Cái tôi" có cơ được
thể hiện trong văn học dưới những hình thức khác nhau với thuở ban đầu
nao nức của Dante, Shakespeare, Cervantes, Rabelais... Nhưng rồi chủ nghĩa cổ
điển xuất hiện với văn chương cung đình, với những ước lệ, quy tắc
khắt khe nghiêng về luân lý, thuyết giảng khô khan, duy lý, thiếu tình cảm
cá nhân, xa lánh dần tinh thần khai phóng rạo rực thời phục hưng. Do vậy,
nền văn học cổ điển phương Tây là một nền văn học mang tính phi
ngã. Chỉ khi chủ nghĩa lãng mạn xuất hiện cùng với Cách Mạng Pháp, văn
học phương Tây mới trở về với chủ thể "cái tôi" một cách
đích thực. Rất tiếc, một số nhà lý luận nghiên cứu phê bình văn học
Việt Nam coi phương Tây là trung tâm, lấy thước đo phương Tây để đo đạc
dòng văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945. Họ coi dòng văn học này tương
ứng với chủ nghĩa lãng mạn xuất hiện bên phương Tây thế kỷ XVIII, rồi
cho nền văn học trước thơ mới và Tự lực văn đoàn thảy đều mang nội hàm
của chủ nghĩa cổ điển phương Tây (!) Thậm chí họ còn dồn ngót nghìn
năm văn học ông cha vào cái rọ của phương thức văn học trung cổ
phương Tây, để gán bừa cho chúng nhãn hiệu phi ngã, thiếu vắng
"cái tôi" cá nhân. Rồi áp đặt quan niệm chưa chuẩn này vào việc
giảng dạy văn học, vào nghiên cứu sinh văn học và các công trình khác.
Trong quan niệm về văn học cổ, các nhà nghiên cứu lý luận Trung Quốc,
Ấn Độ, Nhật Bản về cơ bản, hầu như không "phi ngã hóa" văn
học ông cha xưa của họ như quan niệm của ta hiện nay. "Cái tôi" trong quan
niệm triết học và mỹ học của người phương Đông hầu như khác hẳn
với "cái tôi" phương Tây. Người phương Tây tuyệt đối hóa
"cái tôi", phân biệt "cái tôi-cá nhân" và "cái tôi-
xã hội". Họ quan niệm rằng "con người phổ quát - ta" hoàn
toàn chưa phải là "con người cá nhân - tôi". Thậm chí sau này trường
phái triết học hiện sinh còn tuyệt đối hóa cái tôi cá nhân tới mức
không bao giờ chấp nhận cái ngoài tôi với những định đề kỳ lạ rằng,
tự do của tôi là nô lệ kẻ khác và ngược lại, hoặc "địa ngục
là tha nhân". Nó chỉ chấp nhận Ngã mà chống lại Tha. Quan niệm về
"cái tôi" phương Đông khác hẳn vì nó hài hòa giữa Ngã và Tha,
tôi vừa tồn tại trong tôi, vừa ở trong cái ngoài tôi và ngược lại.
Con người chỉ thực sự là con người, là hiện hữu tôi nếu tôi đặt tôi
bên cạnh tha nhân, nếu tôi đặt tôi trong những mối quan hệ sống còn với
kẻ khác và với môi trường thiên nhiên như Marx nói : "Con người là tổng hòa các mối quan hệ
xã hội". Người phương Đông không bao giờ tách cá nhân ra khỏi
gia đình, xã hội, thậm chí không bao giờ tách cá nhân con người ra khỏi
trời đất trong mối tương quan : thiên, địa, nhân. Cho nên "cái
tôi" của phương Đông là một "cái tôi kép", vừa là tôi, vừa
là ta, vừa là "tôi cá nhân", vừa là "tôi xã hội", không
phải là "cái tôi" đơn lẻ, cái tôi tuyệt đối phi xã hội, phi
quan hệ như phương Tây quan niệm. Chính vì những lẽ trên,
nên văn học phương Đông từ khởi thuỷ đã là nền văn học đầy tính
bản ngã vì nó là nền văn học sinh ra từ con người, vì con người. Mệnh
đề "Văn dĩ tải đạo" của Khổng Tử cần phải hiểu thông
thoáng hơn, đa ngữ nghĩa hơn, chứ "Đạo" đây không chỉ là đạo
lý mà còn bao hàm cả Chân Thiện Mỹ. Chúng tôi xin lấy vài ba thí dụ
trong ca dao Việt Nam như : "Chàng ơi phụ
thiếp làm chi / Thiếp là cơm nguô褐đỡ khi đói lòng",
thì nhân vật "thiếp" kia không chỉ là một "con người phổ
quát" mà còn là một " con người cá nhân", con người cụ thể đầy thân phận với đủ "cái
tôi" tự ý thức. Hai câu ca dao khác : "Chính chuyên chết cũng ra ma / Lẳng lơ chết
cũng đem ra ngoài đồng" hoặc "Lẳng
lơ chết cũng không mòn / Chính chuyên cũng chẳng sơn son mà thờ" là
những câu ca dao phản kháng, đòi giải phóng, đòi quyền sống, quyền tự
do yêu đương, quyền tự do tìm lạc thú, quyền làm người của phụ nữ
trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ . Thơ ca bác học Việt Nam khởi
từ Lý-Trần qua Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đoàn Thị
Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao
Bá Quát tới Tú Xương, Nguyễn Khuyến... bị ai đó dùng nội hàm văn học
trung đại phương Tây để phi ngã hóa. Khi Dương Không Lộ thời Lý viết
bài thơ tứ tuyệt "Ngôn hoài" là viết trong cảm hứng tuyệt vời
bản ngã, đẩy cái tôi cá nhân lên chót vót đỉnh thiền với hai câu thơ
cuối hay đến kinh ngạc như sau : "Hữu
thì trực thượng cô phong đỉnh / Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư "
(Gặp dịp ta sẽ trèo thẳng lên ngọn núi cô độc cao ngất / Hét lên một
tiếng hét dài làm lạnh toát cả càn khôn). Qua bài thơ thần diệu của Không
Lộ thiền sư, chúng ta biết thêm rằng tiền nhân đã không chỉ lặn vào
sâu thẳm nội tâm bản thể mình để đi tìm "cái tôi", mà còn hướng
ra thái hư, thám hiểm vô biên để tìm kiếm bản ngã ngoài mình nữa. Thơ chữ Hán và nhất là
"Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trãi quả là đại kiệt tác trong văn
học Việt
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com