605-gd.gif (6961 bytes)

posted: 28.6.2005

XUNG QUANH VẤN ĐỀ
THIÊN CHÚA GIÁO VÀO VIỆT NAM
[Công Giáo Chính Sử, Chương VIII]

Trần Chung Ngọc

     Qua 7 chương trên, chúng ta đã thấy rõ bản chất thực sự của Gia Tô La Mã Giáo.  Chúng ta đã biết sách lược truyền giáo dùng "cường quyền, bạo lực thắng công lý" của tôn giáo này trên hoàn cầu; chúng ta cũng đã biết tư cách, đạo đức,  và thái độ của những giáo sĩ thừa sai đối với các dân tộc kém mở mang về văn minh vật chất; và thực chất những tín đồ tân tòng trong các quốc gia này.   Do đó, chẳng cần phải nghiên cứu sâu xa gì, chúng ta cũng có thể đoán được bản sắc xâm nhập của Gia Tô La Mã Giáo vào Việt Nam ra sao, và tôn giáo này đã mang lại những gì cho dân tộc Việt Nam.  Tôi không nghĩ rằng Việt Nam là một ngoại lệ.  Và như vậy, chúng ta có thể thấy tất cả những sắc thái nhơ nhớp, tàn bạo kể trên khi Gia Tô La Mã Giáo xâm nhập vào Việt Nam, cũng như chúng ta đã thấy những sắc thái này ở mọi nơi khác trên thế giới.

   Trong cuốn Việt Nam Giáo Sử, Linh mục Phan Phát Huồn viết:

   "Giáo hội (Gia Tô La Mã ở) Việt Nam cũng như bất   cứ  giáo hội  (Gia Tô La Mã địa phương) nào, là một giáo hội  xây   đắp  bằng xương máu.  Xương  máu  ấy là lý do của sự sống dồi dào mãnh liệt của giáo hội.."

Linh mục Phan Phát Huồn có ý nói là giáo hội Gia Tô La Mã tại Việt Nam được xây đắp bằng xương máu của những tín đồ sẵn sàng "tử vì đạo".  Nhưng lịch sử đã chứng minh rằng, những tín đồ này không phải là "tử vì đạo" mà bị tàn sát vì phạm tội chống lại nền văn hóa dân tộc, không tôn trọng luật pháp quốc gia, nổi loạn, làm tay sai cho giặc ngoại xâm, phản bội quê hương v...v....  Vậy nếu họ không phải là "tử vì đạo" thì xương máu nào đã xây đắp thành giáo hội?  Qua những tài liệu về lịch sử Gia Tô La Mã Giáo toàn cầu, câu viết trên của Linh Mục Huồn có thể đúng nhưng theo một nghĩa khác, nếu chúng ta hiểu rằng xương máu trên là xương máu của những người ngoại đạo, của những người "dị giáo", những người không có cùng tín ngưỡng với Gia Tô La Mã giáo, những người bỏ mình trong những cuộc Thánh Chiến, trong các Tòa Hình Án xử Dị Giáo, trong những cuộc chiến tranh xâm lược của Thực Dân v...v... mà vai trò chủ chốt của Gia Tô La Mã giáo trong đó đã là những sự kiện lịch sử. 

Riêng ở Việt Nam, chúng ta có thể nói rằng giáo hội Gia Tô tại Việt Nam đã được xây đắp bằng  xương máu của những người Việt Nam yêu nước, những người không chịu từ bỏ truyền thống luân lý, đạo đức gia đình và dân tộc của mình, do đó đã phải hi sinh để bảo vệ, gìn giữ những truyền thống cao  đẹp của đất nước, trước cuộc xâm  lược song hành của thực dân và Gia Tô giáo, và  trước chính sách kỳ thị tôn giáo tàn bạo của Ngô Đình Diệm và tay sai trong 9 năm trời cai trị ở miền Nam, riêng trong thời gian này số người ngoại đạo bị giết hại lên tới trên 300000  người.  Đúng vậy, những núi xương, sông máu của những người ngoại đạo vô tội chết dưới cây "thập giá và lưỡi gươm" đã xây đắp đời sống dồi dào của các giáo hội Gia Tô, và người Gia Tô không có cách nào có thể cất bỏ được những đống xương máu đó trên bờ vai lương tâm của họ, dù Giáo hoàng John Paul II đã dạy con chiên của ông phải ăn năn thống hối về những tội ác Gia Tô La Mã Giáo đã mang đến cho nhân loại, và đã chính thức xưng thú 7 núi tội lỗi của giáo hội Gia-tô toàn cầu đối với nhân loại..

   Đây phải chăng là những lời lộng ngôn của tác giả?  Những bằng chứng trong các chương trên và phần khảo luận sau đây sẽ cho chúng ta thấy rõ những lời phê phán trên hoàn toàn dựa vào tài liệu lịch sử chứ không phải  là tác giả đã đặt điều một cách vô căn cứ, vô trách nhiệm.

   Có lẽ luận án Tiến Sĩ  Quốc Gia về "Giáo Sĩ Thừa Sai Và Chính Sách Thuộc Địa Của Pháp Tại Việt Nam (1857-1914” của Cao Huy Thuần ở Đại Học Paris là nguồn tài liệu phong phú và chính xác nhất về mối liên hệ  giữa Gia Tô La Mã Giáo và  chủ nghĩa thực dân, cùng thực chất vai trò của các  giáo sĩ  thừa sai  Gia Tô cùng con chiên bản địa trong cuộc xâm chiếm Việt Nam của thực dân  Pháp.  Độc giả  nên   tìm đọc thiên khảo cứu này cùng với  hai cuốn  sử  rất  có giá trị  khác, cuốn  Thập  Giá    Lưỡi Gươm của Linh Mục Trần Tam Tĩnh, và cuốn Bước Mở Đầu của sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp ở Việt Nam (1858-1897) của Nguyễn Xuân Thọ,  để thấy rõ những thảm họa do những giáo sĩ này mang tới đất nước Việt Nam. Qua ba tác phẩm này và nhiều tác phầm khác của các sử gia ngoại quốc, chúng ta có thể thấy rõ rằng, đạo Gia Tô La Mã đã mang tới Việt Nam bao bất hạnh xui xẻo chứ không phải là đã gặp bao bất hạnh xui xẻo khi tới Việt Nam như linh mục Kim Định đã viết.  Điều này sẽ được chứng minh trong phần trình bày sau đây.

   Vấn nạn Gia Tô ở Việt Nam là một vấn đề rộng lớn, cần có một công cuộc nghiên cứu nghiêm chỉnh về mọi khía cạnh.  Trong cuốn sách này, tôi chỉ xin luận về hai điểm mà các "sử gia" Gia Tô Việt Nam thường đưa ra:

      1. Các thừa sai Gia Tô tới Việt Nam để rao giảng "tin mừng  Phúc Âm" và "khai sáng dân tộc Việt Nam";

      2.Các triều đình nhà Nguyễn ngu dốt cùng với bọn quan lại Tống Nho thủ cựu cấm đạo và bách hại giáo dân chỉ vì họ theo một đạo mới.

   Các "sử gia" này không bao giờ nhắc đến những hành động phá  hoại, gây chia rẽ v...v..., của các giáo sĩ thừa sai đối với dân tộc Việt Nam, và cũng không bao giờ nhắc tới những nguyên nhân của sự cấm đạo.

   Đọc những cuốn sử viết về những hành  động   của các giáo sĩ và giáo dân tân tòng ở Việt Nam chúng ta thấy các tác giả thường chia làm hai khuynh hướng:   khuynh hướng của các nhà viết sử thực dân, của các giáo sĩ và tay sai viết theo những quan điểm chủ quan, gian dối, đầy thiên kiến và sai lạc; và khuynh hướng của các sử gia, học giả vô tư, xét đoán sự việc dựa theo những tài liệu hiện hữu, sau khi cân nhắc, phân tích kỹ càng, cặn kẽ những tài liệu này.

   Hai khuynh hướng trên đã được sử gia Mark W. McLeod, Giáo sư đại học,  viết trong phần dẫn nhập của cuốn The Vietnam Response to French Intervention, 1862-1874 như sau:

  "Những tiểu luận sống động về lịch sử của Milton Osborne và  Jean Chesneaux   đã  mô tả  sự phát triển về một truyền thống học thuật Pháp mà đặc tính của nó là "quy-Pháp   và thiên Pháp". Chúng ta có thể xét sự thiên vị này theo những giá trị đã gây cảm hứng và thấm nhập vào sự nghiên cứu lịch sử, sự chú trọng vào những chủ đề chính của tác phẩm, và sự chọn lựa những nguồn tài liệu.  Giá trị của những tác giả Pháp, đặc biệt là những người viết về thế kỷ 19, đều bị ảnh hưởng bởi những thái độ thực dân thịnh hành, tự tôn, về nền văn hóa ưu việt Tây phương, và đi cùng với "nhiệm vụ văn minh hóa" của nước Pháp.  Để ra ngoài những biệt lệ xuất sắc của Charles Maybon và Leopold Cadière, những binh sĩ  Pháp, nhân viên hành chánh thuộc địa, và những giáo sĩ thừa sai,  những người  mở đầu cho cuộc nghiên cứu của Tây phương về lịch sử Việt Nam, thường thường đặt  mình vào trọng tâm của những câu chuyện do chính mình viết ra.

...Cũng như ở trong những quốc gia đã được giải phóng khỏi ách thực dân gần đây, Việt Nam đã làm sống lại việc viết  lịch sử  sau khi   lấy lại được nền độc lập chính trị.  Tuy rằng sự phân chia chính trị sau thời kỳ thuộc địa đã tạo nên hai trường phái nhìn lịch sử đối ngược nhau mà chúng ta có thể gọi một cách thuận tiện là trường phái "Hà Nội" và "Sài Gòn", nhưng những sử gia Việt Nam mới này đều nhất trí bác bỏ những luận điệu "quy Pháp" đã chi phối và còn đang là những đặc tính của hầu hết các tác phẩm viết về sử Việt Nam.

  Những sử gia này đã phát động một sự phân tích vấn đề những giá trị thuộc địa trong những tác phẩm của các tác giả Pháp trong thời xưa,  họ nhấn mạnh vào cách tiếp cận "quy - Á Châu" khi xét về lịch sử Việt Nam, và họ dựa vào sự nghiên cứu những tài liệu bản xứ cũng như của Pháp.  Một vài học giả Pháp và Tây phương đã theo những sử gia Việt Nam trên đường hướng mới này.

... Tác phẩm nghiên cứu này có mục đích sửa lại một phần vấn đề diễn giải lịch sử về một thời kỳ quyết định mà các tác giả Tây phương hiện đại thường không để ý tới. Trọng tâm của cuộc nghiên cứu này là Phản Ứng của Việt Nam Trước Sự Can Thiệp của Pháp trong những năm 1862-1874, nghĩa là, trong thời kỳ mà Pháp thiết lập địa vị của mình ở Nam Kỳ (1862, 1867), rồi tiến đến việc bảo hộ Bắc Kỳ và Trung Kỳ (1873-1874).

Cuộc khảo cứu này phản bác lập trường "quy Pháp và  thiên Pháp" của những thừa sai Pháp, những tác giả và giới chức thực dân, và của những tác giả Tây phương về sau, bằng cách đối chiếu sự diễn giải lịch sử của họ với những bằng chứng trong các tài liệu chính của Việt Nam, hầu hết những tài liệu này đều chưa được các nghiên cứu gia Tây phương sử dụng khi viết về giai đoạn lịch sử Việt Nam này.  Những tác phẩm của hai tác giả Gia Tô Việt Nam - Phan Phát Huồn và Nicole Dominique Le, cũng sẽ được phê bình khi hiển nhiên là họ đã dựa vào nguồn tư liệu của giới thừa sai Pháp, và không cân nhắc tài liệu cẩn thận đến độ lập lại những sai lầm của những tác giả Pháp thời xưa; điều này rõ rệt nhất khi họ thảo luận về cách đối xử của triều đình Huế đối với các tín đồ Gia Tô sau khi ký hiệp ước 1862."

  (Historiographical essays by Milton Osborne and Jean Chesneaux have described the growth of a tradition of French scholarship on Vietnam that is characterized by a "Franco-centric bias".   This bias can be considered in terms of the values that inspire and permeate the historical study, the focus of primary subject of the work, and the selection of source material.  The values of the French authors, especially those who treated the 19th century, were influenced by the prevalent, self-reinforcing colonial attitudes about European cultural superiority and the concomitant "civilizing mission" of France.   Brilliant exceptions such as Charles Maybon and Leopold Cadière aside, the French soldiers, colonial administrators, and missionaries who initiated Western historical investigation of Vietnam generally made themselves the focus of their own histories.

...As in other recently decolonized countries, a renaissance of historical writing followed political independence in Vietnam.  Although Vietnam's extended post-colonial political division produced two antagonistic historical schools, which may conveniently be termed those of "Hanoi" and "Saigon", the new Vietnamese historians are unanimous in rejecting the "Franco-centric bias" that had dominated and still characterizes much French historical writing on Vietnam.  These Vietnamese historians initiated a critical questioning of the colonial values of the early French authors; they emphasized the "Asia-centric" approach to Vietnamese history; and they based their research on indigenous as well as French source.  Some French and other Western scholars have followed the Vietnamese historians in this new orientation.

...The present study seeks to provide a partial corrective for the problems of historical interpretation resulting from the neglect by modern Western scholars of this decisive period in Vietnamese history.  The focus is the official Vietnamese response to French intervention during the years 1862-1874, that is, the period during which the French established a foothold in Southern Vietnam (1862, 1867) and extended their protectorate over the North and Center (1873-1874).  The study counters   the  "French-centric bias"  of   French  missionaries, colonial officials and authors, and subsequent Western scholars by confronting their interpretation with evidence from primary Vietnamese documentation, most of which has yet to be utilized by Western researchers for a history of this period.  The works of two Vietnamese Catholic authors - Phan Phat Huon and Nicole-Dominique Le - are likewise to be criticized when it is evident that their reliance on the French missionary source and/or their failure to critically evaluate them has led to a reiteration of the errors of the early French authors; this occurs most noticeably when they discuss the question of Hue's treatment of the Catholics after the signing of the 1862 treaty.)

   Cùng một chiều hướng khảo cứu dựa trên những tài liệu chỉ mới xuất hiện sau khi chế độ thực dân ở Việt Nam cáo chung, Tiến sĩ Cao Huy Thuần cũng đã viết trong cuốn Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân tại Việt Nam, bản dịch đầu của luận án tiến sĩ "Giáo Sĩ Thừa Sai Và Chính Sách Thuộc Địa Của Pháp Tại Việt Nam (1857-1914”, trg. 502, như sau:

   "Những người viết sử "thực dân" và những người viết sử của Phái Bộ Truyền Giáo đã cho xuất bản rất nhiều sách về điểm mà họ gọi là "sự đàn áp tôn giáo ở Việt Nam".   Một tác giả Thiên Chúa Giáo Việt Nam cũng đã có viết một tập giáo khoa - được giải thưởng Hàn Lâm Viện Pháp - để dùng cho các học sinh trung học Pháp, trong đó y giải thích cho các độc giả trẻ rằng các Vua Việt Nam, vào thế kỷ thứ 19, đã "đàn áp" các tín đồ đạo cao  quý  của  phương  Tây  như  thế  nào.  Chúng  tôi hi vọng rằng các tài liệu công bố trong thiên khảo cứu này cũng đủ khá hùng hồn để chấm dứt các ngụy tạo đó.  Thật vậy, cái gọi là "đàn áp tôn giáo" đó sự thực chỉ là những biện pháp tự vệ mà mọi nước bị ngọai xâm và nội loạn đe dọa đều bị buộc phải dùng đến nếu không muốn nhận chịu nguy cơ sụp đổ.  Nếu đạo Thiên Chúa Việt Nam bị bài xích, thì việc đó, chính yếu là do các người đại diện cho đạo.  Những người này, bằng những hoạt động tai hại và ý muốn thống trị của họ, rút cục đã làm cho người Việt Nam thấy Chúa Christ là tay sai của xâm lăng thuộc địa và văn hóa".

   Để đánh giá những nhận định như trên của Giáo sư McLeod và của Tiến sĩ Cao Huy Thuần,  chúng ta cần trở lại lịch sử, bắt đầu từ khi các giáo sĩ thừa sai Gia Tô đầu tiên tới Việt Nam và rồi sau đó họ đã làm những gì cho xã hội và đất nước Việt Nam.

8.1.  Vấn đề rao giảng "tin mừng Phúc Âm".

   Có thể nói, những Giáo sĩ  Gia-Tô-Giáo La-Mã đầu tiên đã tới Việt Nam từ giữa thế kỷ thứ 16 (1533), nhưng thường chỉ ở lại một thời gian ngắn và những hoạt động của họ không có gì quan trọng đáng phải để ý.  Những người ngoại quốc tới Việt Nam với tư cách là bạn luôn luôn được người Việt Nam đón tiếp niềm nở và coi như bạn.  Thí dụ, năm 1618, một linh mục dòng Tên người Bồ Đào Nha   tên là Christoforo Borri  cùng với  một   số giáo sĩ khác tới Faifo, gần Đà Nẵng.  Trong một văn kiện được lưu trữ ông đã viết như sau,  tỏ lòng cảm phục tính  tình  hiền hòa và  hiếu   khách của người  Việt Nam ( Helen B. Lamb, Ý Chí Sống Còn Của Việt Nam (Vietnam's Will To Live), trg. 10):

   "Trong khi các dân tộc Đông Phương khác coi người Âu Châu như là đáng ghê tởm và lánh xa khi những người này tới gần họ, thì ở Đàng Trong lại ngược lại.  Họ niềm nở bắt chuyện với chúng tôi.  Họ rất tò mò và hỏi chúng tôi đủ chuyện.  Rất lịch sự và văn minh, họ mời chúng tôi về nhà dùng bữa cùng họ.  Vì sự hiền hòa và thoải mái trong vấn đề giao tiếp này nên chúng tôi có thể nói chuyện với họ, coi họ như là bà con trong nhà vậy, ngay cả trước khi biết rõ họ."

 (Whereas other Oriental peoples hold the Europeans in abomination and flee from them when they come, in Cochinchina it is just the opposite.  The people want to talk to us and are full of curiosity, asking us many questions.  With great courtesy and civility they invite us to their me to dine with them.  Because of this natural grace and customary ease of association, it is possible to communicate with these people as if they were one's own kith and kin.  This is so even before knowing them well.)

   Nhưng rồi sau đó các giáo sĩ thừa sai Gia Tô, vì đã bị đuổi không còn có thể hành nghề xúi dục và gián điệp ở  Nhật  Bản, như chúng ta đã biết, cho nên đã kéo tới Việt Nam, lợi dụng tính hiền hòa và hiếu khách của dân tộc Việt Nam, không phải để rao giảng tin mừng Phúc Âm, vì thật ra, theo nhận định của học giả David Voas, cũng như của Giáo sư Schwartz, người đã từng dạy Thánh Kinh trong 20 năm tại hai đại học lớn ở Hoa Kỳ, trong Phúc Âm không có chân lý mà cũng không có tin mừng, trái lại, các giáo sĩ thừa sai chỉ chỉ mang đến những tin xấu,  những chuyện hoang đường  để đưa con người vào vòng nô lệ tâm linh, mê tín dị đoan, tin vào một cái bánh vẽ huyền hoặc trên trời và trong một đời sau, của một tôn giáo ngoại lai mà lịch sử nhơ nhớp của nó là một sự kiện không ai có thể phủ nhận.

   Trước khi đi vào chi tiết, chúng ta cần nhớ kỹ trong đầu: sách lược truyền giáo của Gia Tô La Mã Giáo là một sách lược chủ trương xóa bỏ mọi nền văn hóa phi Ki-Tô, dùng bạo lực thắng công lý, dùng gian xảo để lừa dối dân gian, dùng bả vật chất và mê tín dị đoan để thu nhặt và giữ tín đồ, dùng những phép lạ ngụy tạo để huyễn hoặc đầu óc con người v...v..., như đã được trình bày trong những chương trên. Sách lược này đã được áp dụng trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam, như sẽ được chứng minh sau đây.

   Trong những giáo sĩ thừa sai có tên tuổi trong lịch sử Gia Tô Giáo ở Việt Nam,   trước  hết  chúng  ta  phải  kể Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ).  Ở đây, tôi sẽ không bàn tới vấn đề Rhodes có phải là người sáng lập ra chữ Quốc Ngữ hay không.  Vấn đề này nay đã được giải quyết dứt khoát qua những tác phẩm như: "Ki-Tô Giáo: Từ Thực Chất Đến Huyền Thoại", Nhiều Tác Giả, Văn Hóa, 1996; "A. De Rhodes: Người Đầu Tiên Vận Động Pháp Chiếm Việt Nam Và Chữ Quốc Ngữ", Nhiều Tác Giả, Giao Điểm 1998; "Gián Điệp Alexandre de Rhodes và Chữ Quốc Ngữ", Chu Văn Trình, Văn Sử Địa, 1996.

   Tuy nhiên, để độc giả có một khái niệm về chữ Quốc Ngữ mà giáo sĩ Rhodes dùng để viết cuốn "Phép Giảng 8 Ngày...", tôi xin trích nguyên văn một đoạn như sau:

"Ngày thứ nhít.  Ta cầu cừ đức Chúa blời giúp fưc cho ta biét tó tuầng đạo Chúa là nhuầng nào vì bậy ta phải hay ở thế nầy chẳng có ai fòú lâu; vì chưng ké đến bảy tám mươi tuếi chảng có nhiềo.  Vì bậy ta nên tìm đàng nào cho ta được fòú lâu, thật là viẹc người cuên tử, khác phép thế gian nầy, dù mà làm cho người được phú quí; fâũ le chẳng làm được cho ta ngày fau... (Diễn Đàn số 8, 1992, Hoài Văn). " 

   Đó là chữ Quốc Ngữ của Alexandre de Rhodes, người được các tín  đồ Gia Tô Việt Nam tôn vinh là có công với nền văn hóa Việt Nam.

  Chúng ta biết rằng,  trong cuốn "Phép Giảng 8 Ngày...", giáo sĩ  Rhodes đã  mạ lỵ cả ba tôn giáo lớn  ở Việt Nam là Phật Giáo, Khổng Giáo, và Lão Giáo.  Ông gọi đức Phật và đức Khổng Phu Tử bằng những danh từ thiếu văn hóa, phản ánh tư cách của một con người vô giáo dục, vô đạo đức tôn giáo, và cuồng tín.  Ngoài những hoạt động truyền giáo "thiếu văn hóa" để xâm lăng văn hóa như trên, và sự "đóng góp" cho nền văn hóa Việt Nam bằng một tác phẩm truyền đạo hạ cấp như cuốn "Phép Giảng 8 Ngày...", và một cuốn tự điển Việt-Bồ-La Tinh mà xuất xứ thuộc loại bất minh, Rhodes đã làm những gì cho dân tộc Việt Nam?  Sau đây là vài tài liệu về những hoạt động của ông khi ông xâm nhập hợp pháp cũng như bất hợp pháp vào đất nước Việt Nam.  Rhodes bị trục xuất khỏi Việt Nam năm 1630, trở lại Việt Nam bất hợp pháp năm 1640, và rồi lại bị trục xuất năm 1645.

   Trong cuốn Vietnam's Will To Live, trg. 11, Helen B. Lamb viết như sau:

   "Cha Alexandre de Rhodes, một thừa sai dòng Tên khác, cũng đã đã để lại cho hậu thế một bản ghi chép lời tường thuật về những kinh nghiệm của ông ở miền Bắc (người Tây phương gọi là Bắc Kỳ) cũng như ở Nam Kỳ trong thế kỷ 17.  Là người có đầu óc thực tế, những ấn tượng tốt của ông về Việt Nam không phải là sự duyên dáng của người dân Việt mà là về những cái khác. Ông lấy làm kinh ngạc trước mức độ buôn bán trong những thị trấn ở Việt Nam, và giải thích như sau: "Họ rất giầu vì đất đai màu mỡ.   Có 24 con sông chảy qua khắp nơi,   rất  thuận tiện  cho việc  di  chuyển  bằng đường thuỷ đi tới nhiều nơi, rất dề dàng cho việc buôn bán."

   (Father Alexandre de Rhodes, another Jesuit missionary, has also left a record for posterity; his account tells of his experiences in the North (called Tonkin by Westerners) as well as in Cochinchina in the 17th century.  Being of a seemingly practical turn of mind, he was impressed by other things than the grace of the people.   He was amazed by the amount of trade carried on in Vietnamese towns, and gave the following explanations: "They are very rich because the land there is fertile.  It is watered by twenty-four rivers, which are marvellously convenient for traveling by water to all places in the country, and this serves to facilitate trade and travel.)

   Trong cuốn Catholic Imperialism Against The Asiatic Continent, trg. 352, Avro Manhattan đã viết về những hoạt động gián điệp của giáo sĩ Đắc Lộ như sau:

   "Cha Alexandre de Rhodes, một giáo sĩ dòng Tên, tới Đông Dương vào năm 1610, và chỉ 10 năm sau ông đã có thể gửi về một phúc trình mô tả chính xác những khả năng của Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Những giáo sĩ thừa sai dòng Tên được tuyển mộ ngay và phái sang Việt Nam để giúp Alexandre de Rhodes trong hai nhiệm vu: cải đạo người dân ở hai miền vào tín ngưỡng Gia Tô và thăm dò những tiềm lực thương mại của các miền này cho vương quốc Pháp.  Những sứ mạng này, theo quan điểm của La Mã và Ba Lê (Paris), không thể tách rời nhau được vì chúng là những bước đầu quan trọng nhất dẫn tới sự xâm chiếm chính trị vá quân sự những xứ này."  

  (Père Alexandre de Rhodes, a Jesuit, arrived in Indochina about 1610, and only a decade later he was able to send a very accurate description of the possibilities of Annam and Tonkin.   French Jesuits were promptly recruited and were sent to help him in his double work of converting those nations to the Catholic faith and of exploring the commercial potentialities of these regions for the French crown.  These tasks, in the eyes of both Rome and Paris, could not separated, being the two most important stepping-stones which would lead eventually to the political and military occupation of these countries.)

   Cao Huy Thuần đã trích dẫn một tài liệu như sau trong cuốn Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam..., trg. 48, vạch rõ ý đồ thực dân của Rhodes:  

   "Tôi tin rằng nước Pháp," ông (Rhodes) viết, " vì là nước ngoan đạo nhất trên thế giới nên sẽ cung cấp cho tôi nhiều binh lính để đi chinh phục toàn thể phương Đông, ở đó tôi sẽ kiếm ra cách để có những giám mục vốn là những Cha và Thầy của chúng ta trong những giáo hội đó.  Tôi rời La Mã ngày 11 thàng 9, 1652 với ý định đó. "

  (J'ai cru que  la France,  écrivait  il,  étant le plus pieux royaume du monde, me fournirait plusieurs soldats qui aillent à la conquête de tout l'Orient, que j'y trouverais moyen d'avoir des évêques qui fussent nos Pères et nos Maitres en ces Églises.  Je suis sorti de Rome à ce dessein, le 11 Septembre 1652.)

   Câu văn trên phân biệt rõ ràng lính chiến, binh lính (soldats) với các giám mục (évêques) thế mà vẫn có người cho rằng "soldats" chỉ các thừa sai.   Ngoài ra, nếu đã dùng các thừa sai để đi chinh phục toàn thể phương Đông thì thừa sai đã có sẵn đó rồi, việc gì phải nói là "tôi sẽ kiếm ra cách để có các giám mục thừa sai"?  Dịch "soldat" là thừa sai một cách gượng gạo như trên để chạy tội cho một tên giáo sĩ chủ mưu xâm chiếm Việt Nam bằng võ lực mà cũng có người viết ra được thì chúng ta phải hiểu cái di sản Đắc Lộ đã để lại cho một số người dân Việt Nam nó tệ hại như thế nào..

   Và Yoshiharu Tsuboi viết trong cuốn  Catholicism et Sociétés Asiatiques, trg. 136, về "nghệ thuật" phóng đại sự việc để lừa dối chính quyền Pháp cũng như Tòa Thánh Vatican của Rhodes như sau:

   "Vào khoảng 1650, Alexandre de Rhodes tuyên bố  rằng, người Việt Nam cải đạo theo Gia Tô giáo với nhịp độ 15000 một năm, con số mà khoảng hai mươi năm sau,   những thừa sai Pháp cho rằng đã phóng đại, vì họ chỉ  thấy  có độ 60000   thay vì 200000  tín đồ  Ki Tô như các giáo sĩ dòng Tên đã tuyên bố."

   (Alexandre de Rhodes annonce, vers 1650, que les Vietnamiens se convertissent au rythme de 15000 par an, chiffre que, quelque vingt années plus tard, les missionaires francais jugeront exagéré, ne comptant quant à eux qu'environ 60 000 chrétiens au lieu de 200 000 annoncés par les jésuites.

   Qua bốn tài liệu vừa trích dẫn ở trên, chúng ta có thể rút tỉa những gì?

   Thứ nhất, Alexandre de Rhodes đến Việt nam để làm công việc của một gián điệp: nghiên cứu tình hình chính trị, kinh tế, địa thế, dân tình v...v... của Việt Nam để hoạch định kế hoạch xâm chiếm Việt Nam bằng võ lực và sau đó dùng bạo lực để truyền bá đạo.

   Thứ nhì, Rhodes, tối mắt bởi đất đai màu mỡ, tài nguyên phong phú của Việt Nam,   là giáo sĩ Gia Tô đầu tiên tích cực vận động chính phủ Pháp đánh chiếm Việt Nam bằng hai cách: gợi lòng tham của Pháp và báo cáo sai sự thực, phóng đại về tình hình cải đạo của dân chúng Việt Nam.

   Thứ ba,   với một đầu óc cuồng tín của những sản phẩm xuất thân từ cái lò đào tạo dòng Tên, Rhodes đã xuyên tạc sự thật, cũng có thể là ngu đần không biết đến sự thật, nên đã viết cuốn Phép Giảng 8 Ngày.... trong đó ông mạ lỵ cả ba tôn giáo lớn ở Việt Nam là Phật Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo, cũng như mạ lỵ những truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam.

   Rhodes đã thành công trong ý định xâm chiếm Việt Nam bằng võ lực của mình, nhưng thành công nhất là Rhodes đã để lại cho giáo dân Việt Nam một nền đạo lý mà giáo sư sử Nguyễn Mạnh Quang, trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư, 1954-1963, (1998), gọi là nền đạo lý Thiên La - Đắc Lộ.  Nền đạo lý Thiên (Chúa Giáo) La (Mã) - Đắc Lộ này, theo định nghĩa của Giáo sư Quang, là "sự tổng hợp của sách lược truyền đạo tàn bạo, cường quyền thắng công lý, của giáo hội Công giáo và sự cuồng tín, gian manh, xuyên tạc, cùng cách dùng ngôn từ hạ cấp của giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes)."

   Thật là khó hiểu, một giáo sĩ ngoại quốc thuộc loại cuồng tín, đạo đức kém cỏi, đã hai lần bị trục xuất khỏi Việt Nam vì những hành động gián điệp, phá hoại, mạ lỵ tôn giáo và nền văn hóa Việt Nam như vậy mà ngày nay vẫn còn những người có đầu mà không có óc muốn tôn vinh ông, dựng bia đá tượng đồng thờ phụng, đặt tên ông trên đường phố cùng hàng với tên của các danh nhân lịch sử Việt Nam, những anh hùng liệt sĩ Việt Nam đã bỏ mình vì nước.  Với một tâm cảnh cuồng tín, vọng ngoại, nô lệ như vậy, thử hỏi những người này làm sao có thể tạo một chỗ đứng trong lòng đại khối dân tộc?

   Nối nghiệp Alexandre de Rhodes là hai Giám mục Francois  Pallu  và Lambert  de  la  Motte,  được  Giáo hoàng bổ nhiệm  cai quản hai địa phận truyền giáo đàng ngoài và đàng trong tại Việt Nam, năm 1658.  Theo tài liệu trong cuốn Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân tại Việt Nam của Cao Huy Thuần và cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm của Linh mục Trần Tam Tĩnh thì hai Giám mục Pallu và Lambert đã quan tâm nhiều đến việc thành lập các công ty buôn bán, ngụy trang giáo sĩ dưới dạng lái buôn,  để xúc tiến việc rao giảng "tin mừng Phúc Âm" qua "tham vọng và óc xâm lăng của các nhà truyền giáo muốn bành trướng, xây dựng các hãng buôn khắp nơi, nhất là ở Bắc Kỳ để thiết lập các phái bộ truyền giáo của họ"; Cao Huy Thuần, Sđd., trg. 49.)

   Trong cuốn Việt Nam: Một Lịch Sử Chính Trị (Vietnam: A Political History), Joseph Buttinger viết:

   "Đặc biệt, Francois Pallu, một thừa sai, là một tên chủ mưu chính trị đã đi quá những huấn thị trao cho hắn.  Người ta có thể gọi hắn là người sáng chế ra thủ đoạn thực dân tạo chính sách ở Paris bằng phương pháp "đặt chính quyền Pháp trước sự đã rồi."

   (Francois Pallu, a missionary, in particular was a political schemer who went far beyond his instructions.  He might be called the inventor of the colonial practice of shaping policy in Paris by the method of "fait accompli".)

   Xét lịch sử, chúng ta có thể nói, Gia Tô La Mã Giáo chỉ phát triển mạnh ở Việt Nam từ khi Giám Mục Bá Đa Lộc giúp Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn, và sau đó, các giáo sĩ thừa sai Pháp thuyết phục thực dân Pháp đánh chiếm Việt Nam.  Sau đây, tôi sẽ trình bày phần nào chi tiết vai trò của các Giáo sĩ thừa sai xâm nhập Việt Nam để truyền đạo, thường được các giáo sĩ và đám nô lệ bản địa cho rằng để rao giảng "tin mừng Phúc Âm" cùng khai sáng, văn minh hóa dân tộc Việt Nam, kể từ Giám mục Bá Đa Lộc trở về sau.

   Trước hết, chúng ta hãy xét đến bản chất của Giám mục Bá Đa Lộc qua vài tài liệu sau đây:

1.  Helen B. Lamb, Ibid., trg. 63:

       "Bá đa Lộc biết rõ rằng người mà hắn bao che giúp đỡ (Nguyễn Ánh) không được sự ủng hộ của dân chúng.  Năm 1791 Giám mục viết: "Hiện nay hắn (Nguyễn Ánh) đã chồng chất trên dân tộc hắn gánh nặng thuế má và cưỡng bức lao động, và có vẻ như đám dân nghèo khổ quá đau khổ bởi đói kém này mong muốn sự tiến tới của nhà Tây Sơn.

   Giám mục đã góp những gì cho cuộc chiến thắng sau cùng của Nguyễn Ánh?  Ông ta là một chiến thuật gia giỏi với một kiến thức sâu rộng về binh bị và một tinh thần kiên trì, và ông ta đã xin được tiền của các thương gia Viễn Đông để cung cấp cho Nguyễn Ánh những tàu chiến, vũ khí, và vài trăm lính đánh thuê Tây phương, hầu hết là dân Pháp."

    (Pigneau   de  Béhaine  became  acutely  aware that his protégé did not really command Vietnamese support.  In 1791 the Bishop wrote: "He (Nguyen Anh) has overwhelmed his people at this moment with taxes and forced labors, and the poor people are so tormented by famine that they desire, it seems, the arrival of the Tay Son."

   What did the Bishop contribute to the final victory of Nguyen Anh?  He was a good strategist with an extensive knowledge of the military arts and an indomitable spirit, and he raised money from Far Eastern traders to provide Nguyen Anh with ships, arms, and a few hundred European mercenaries, mostly French.)

2.   Harry Hass & Nguyen Bao Cong trong Vietnam: The Other Conflict, trg. 3:

   "Năm 1787 Giám mục thừa sai (Bá Đa Lộc), nhân danh Nguyễn Ánh, ký một hiệp ước ở Versailles, theo đó Pháp hứa sẽ dùng những lợi thế thương mại để giúp (Nguyễn Ánh).  Khi những lời hứa của triều đình Pháp chỉ là những lời hứa suông, Giám mục Bá Đa Lộc đã vận dộng những thương gia Pháp ở Mauritius và Pondicherry giúp đủ tiền để ông thành lập một đoàn quân lính đánh thuê nhỏ.  Những tên lính đánh thuê và cố vấn này đã giúp Nguyễn Ánh rất nhiều trong việc đánh bại nhà Tây Sơn.

   Một tác giả người Anh đã gọi cái xí nghiệp này là "bộ truyền  giáo quân sự  Tây phương  đầu tiên,  chỉ  huy bởi một Giám mục Gia Tô."

  ..Cũng cần phải nói thêm rằng một loại trợ giúp quân sự khác của các nhà truyền giáo cho các phe đánh nhau ở Việt Nam là: súng ống và nghệ thuật chế tạo cùng sử dụng chúng."

   (In 1787 the missionary Bishop (Behaine) signed a treaty in Versailles on behalf of his client (Nguyen Anh), which promised aid from the commercial advantages for France.  When the Court's favor proved to be empty promises, Bishop Pigneau de Béhaine obtained help from French merchants at Mauritius and Pondicherry, enabling him to raise a small mercenary army.  Mercenaries and advisers were of great help to Prince Nguyen Anh in defeating his adversary.

   A British author called his enterprise the first Western military mission, commanded by a Catholic Bishop...

   ...Something has to be said here about another sort of military aid which was provided by Missionaries to warring Vietnamese dynasties: guns and the art of using and making them.)

3.   Hal Dareff trong The Story of Vietnam, trg. 28:

  "Điều đặc biệt là vị hoàng tử 16 tuổi, Nguyễn Ánh, đang chạy trốn nhà Tây Sơn và được Giám mục Gia Tô Bá Đa Lộc che trở, cung cấp cho chỗ ăn chỗ ở.   Kể từ khi Giám mục có hành động ban ơn huệ này, đời sống của vị hoàng tử trẻ tuổi đã thay đổi và có một ý nghĩa mới.  Đứng về một   phe trong  một cuộc nổi loạn  là một hành động chính trị, và Bá Đa Lộc hiểu rõ như vậy. Ông đã chọn đứng về phe Nguyễn Ánh và bây giờ ông phải tiếp tục dù thắng hay bại.  Có một khía cạnh cá nhân trong quyết định của Bá Đa Lộc, vì Giám mục,  một người với nhiều tham vọng, có những kế hoạch riêng để chinh phục môt vương quốc.   Suốt 20 năm còn lại của cuộc đời, ông đã theo đuổi hai mục tiêu chính: giúp cho Nguyễn Ánh lên làm vua, và chiếm Nam Kỳ cho nước Pháp.

   Những thành quả của Bá Đa Lộc thật là đáng kể, nhưng ông đã thất bại trong mưu đồ thực hiện hai điều mà ông mong muốn nhất: thiết lập một vương quốc cho Pháp và làm cho Nguyễn Ánh cải đạo theo Ki Tô Giáo, do đó Nam kỳ sẽ đặt dưới quyền cai trị của một ông Vua theo đạo Gia Tô.

.. Thật là khôi hài khi chúng ta thấy rằng, dưới những triều Nguyễn xây dựng bởi Nguyễn Ánh khi ông thực sự lên làm Vua, những tín đồ Gia Tô lại bị bạo hành dữ dội như chưa bao giờ từng bị như vậy."

  (...The one exception was the 16-year old Prince Nguyen Anh, who in that same year fled the avenging Tay Son and found sanctuary with the Catholic Bishop Pigneau de Béhaine.  Pigneau took the young prince in and gave his shelter.  From the very moment he performed this act of mercy, the life of the youthful prelate changed and took on new meaning.  To take sides in a revolt is a political act, and Pigneau understood this very well.  He had made his choices now he  would  have  to stand  or fall by it.  There was a personal side as well to Pigneau de Béhaine's decision, for the Bishop, a man of large ambition, had plans for his own for conquest an empire.  The remaining 20 years of his life would be spent in pursuit of two main goals - to make his young prince an emperor and to win Cochinchina for France.

...Pigneau's accomplishments had indeed been noteworthy, but he had failed at two things he wanted most to achieve - to carve out an empire for France and to convert Nguyen Anh to Christianity so that Cochinchina would be ruled by its first Catholic emperor.

   It is therefore ironic to note that under the dynasty founded by Nguyen Anh when he did become emperor, Catholics were more violently persecuted than they had ever been before.)

   Qua những tài liệu vừa trích dẫn, chúng ta không thể không tự hỏi: Cái thứ Giám mục Gia Tô như Bá Đa Lộc ở trên là thứ Giám mục gì vậy?  Bá Đa Lộc là một Giám mục, nhưng bản chất của ông, cũng như của nhiều giáo sĩ thừa sai khác, là một tên lính đánh thuê chuyên nghiệp (professional mercenary).  Ông biết Nguyễn Ánh không được lòng dân, và đám dân nghèo đang chịu đựng những cảnh bất công trong xã hội, nhưng ông lại gây quỹ, tuyển mộ lính đánh thuê để giúp Nguyễn Ánh, đi ngược lại lòng dân.   Vậy ông đến Việt Nam để "giải thoát" người nghèo,  như các "sử gia" Gia Tô  thường ca tụng, hay là mưu đồ dựng lên một vị Vua theo Gia Tô Giáo để dễ dàng việc truyền đạo, dù vị vua đó không được lòng dân?

   Sau Giám mục Bá Đa Lộc là những Linh mục, Giám mục tới Việt Nam với mục đích rõ rệt là phá hủy nền văn hóa Việt Nam, và vận động chính phủ Pháp xâm chiếm Việt Nam, biến Việt Nam thành thuộc địa của Pháp.  Trong số này chúng ta phải kể đến những Giám mục Huc, Retord, Pellerin, Gauthier, Puginier v..v.. Tất cả đều có những hoạt động gián điệp với sự tiếp tay của một số không nhỏ tín đồ Gia Tô bản xứ.  Hiện nay, những sử liệu về hoạt động gián điệp và gian ác thế tục của họ không thiếu.  Sau đây tôi chỉ đưa ra vài tài liệu để cho chúng ta thấy bộ mặt thật của những người đi rao giảng "tin mừng Phúc Âm" .

   Trong cuốn Vietnam's Will to Live, trg. 79, Helen B. Lamb viết châm biếm như sau:

   "Những công tác của những giáo sĩ như là Cha Retord gồm có thu thập tin tức về vùng bờ biển, sông ngòi, và  sự phòng vệ Huế.  Ngoài  việc là một nguồn tin tức chủ yếu cho hải quân Pháp, những giáo sĩ còn làm những xách-động viên, nhân danh 450,000 giáo dân mà họ tuyên nạp vào giữa thế kỷ thứ 19, sẵn sàng đưa một quốc gia 10 triệu người vào vòng chết chóc và tàn phá toàn diện - lẽ dĩ nhiên là để cứu quốc gia này."

 (The labors of such missionaries as Father Retord had included intelligence on coastal areas, rivers, and the defense of Hue.  Besides being a vital source of information for the French navy, the missionaries played the role of outside agitators who, in the name of 450,000 Vietnamese converts they claimed by the mid-19th century, were willing to plunge a country of 10 million people into wholesale death and destruction - in order, of course, to save it.)

    Trong cuốn Việt Nam Pháp Thuộc Sử,  Giáo sư Phan Khoang viết:

   "Những người đề xướng cuộc chinh phục nước Nam là mấy sĩ quan hải quân của hạm đội Pháp ở biển Trung Quốc..nhưng hoạt động hăng hái hơn cả để làm cho chính phủ Pháp quyết định là các giáo sĩ, nhứt là giáo sĩ  Huc, Giám mục Retord, Giáo sĩ Libois và Giám Mục Pellerin..

  Vậy thì, những lời hoa mỹ như "rao giảng tin mừng Phúc Âm", "văn minh hóa" dân tộc mọi rợ Việt Nam v...v... của các giáo sĩ thừa sai chẳng qua chỉ là những lời tuyên truyền giả dối để che đậy thực chất nhơ bẩn, đồi bại của những kẻ cuồng tín mà lịch sử đã chứng minh rằng, một tay cầm cuốn Thánh Kinh, còn tay kia cầm gươm giáo hoặc súng ống để "thuyết phục" những người đần độn , thường thuộc giai cấp cùng đinh, đầu óc mù mịt, tin theo những điều hoang đường nhất trong những điều hoang đường, như những nhà nghiên cứu tôn giáo đã chứng minh.

   Sau đây, tôi sẽ đi vào vấn đề cấm đạo và bách hại giáo dân mà các giáo sĩ  thừa sai    những  "tôi tớ hèn mọn" của họ thường xuyên tạc, phóng đại để thuyết phục chính phủ Pháp xâm chiếm Việt Nam.

8.2. Vấn Đề Cấm Đạo và Bách Hại Giáo Dân.

   Không ai có thể phủ nhận sự kiện lịch sử là ở Việt Nam có hiện tượng cấm đạo và bách hại những người theo đạo Gia Tô, từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh cho tới hết triều Tự Đức, khi mà Pháp đã dùng vũ lực hoàn tất việc xâm chiếm Việt Nam.

   Luận cứ của các giáo sĩ thừa sai Gia Tô và những tay sai bản địa là: sở dĩ có những cuộc bách hại giáo dân là vì, từ Vua tới quan cho tới hàng sĩ phu và dân thường ở Việt Nam đều thuộc loại ngu dốt, không chịu chấp nhận "tin mừng Phúc Âm", nghĩa là chấp nhận làm tôi tớ hèn mọn cho Chúa Giê-su, một người Do Thái đã khẳng định rằng: "Ta được sai đến đây để cứu giúp đàn chiên đi lạc của nhà Israel (nghĩa là dân Do Thái) mà thôi - chứ không phải để lo cho người nước ngoài" (Mã-Thi 15: 24, Thánh Kinh, Cựu Ước và Tân Ước, Nguồn Sống, 1994),  nhưng thực ra chỉ làm tôi tớ hèn mọn cho Tòa Thánh Vatican, cho Giáo  hoàng và các Giám mục,  Linh mục, những kẻ tiếm vị Chúa trên trần, tự cho mình những thần quyền hoang đường phi lý như đại diện của Chúa trên trần, thay Chúa để tha tội cho con chiên... trong khi lịch sử đã chứng minh trong số những Giáo hoàng, Giám mục, Linh mục này không thiếu gì những kẻ sát nhân, vô luân, vô đạo đức, trí tuệ đần độn,  tư cách hèn hạ v...v...  Luận cứ này phản ánh những tâm cảnh cuồng tín, trí tuệ kém cỏi, kiến thức hẹp hòi, xuyên tạc sự thật và không có gì xa sự thật hơn.

   Chúng ta đã biết, trong phần nói về "phép lạ" La Vang, việc cấm đạo dưới thời Tây Sơn không phải vì lý do tôn giáo.  Trước khi đi sâu vào vấn đề cấm đạo với nhiều chi tiết đầy đủ hơn, tôi muốn đưa ra dây hai nhận định điển hình.

  Ông Lý Chánh Trung, một nhà trí thức Gia Tô, trong cuốn Tôn Giáo và Dân Tộc nhận định rằng:

"Tuy nhiên lịch sử đã cho thấy rằng từ khi Giáo hội (La Mã) đã trở thành quốc giáo thì cây gươm tinh thần của Thánh Phao-Lồ đã luôn luôn bị cám dỗ để biến thành cây gươm thép thực sự.  Kể từ dạo ấy, mỗi khi hoàn cảnh cho phép, giáo hội đã không ngần ngại để dùng thế lực tiêu diệt các tôn giáo khác, đập phá các đền thờ "Tà Thần", đốt sách vở ngoại đạo, và đốt luôn bọn người bị xem là "lạc đạo" nếu không chịu sửa sai.

...Ngày nay mọi người đều đồng ý rằng việc cấm đạo dưới các Vua  triều Nguyễn   là một  hành động bất nhân và sai lầm.  Nhưng nếu chúng ta tự đặt mình vào địa vị các vị Vua ấy, và cái khung cảnh tâm lý thời đó, thì có lẽ chúng ta khó có thể làm khác hơn"  (Ông Lý Chánh Trung đã không xét đến những khung cảnh xã hội, chính trị đã tạo ra cái khung cảnh tâm lý đó. So với những hành động cấm đạo, diệt đạo rất quyết liệt và tàn nhẫn của Nhật Bản thì sự cấm đạo ở Việt Nam không thể gọi là bất nhân hay sai lầm.  Đó là biện pháp cực chẳng đã để đối phó với những kẻ phản bội quốc gia và rất là nhân nhượng vì các triều Nguyễn luôn luôn chủ trương giáo dục trước khi dùng đến bạo hành như những tài liệu trong một phần sau chứng tỏ.  TCN)

   Và, Tiến sĩ Cao Huy Thuần cũng viết trong cuốn Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân tại Việt Nam, trg. 502, như sau:

  "... cái gọi là "đàn áp tôn giáo" đó sự thực chỉ là những biện pháp tự vệ mà mọi nước bị ngọai xâm và nội loạn đe dọa đều bị buộc phải dùng đến nếu không muốn nhận chịu nguy cơ sụp đổ.  Nếu đạo Thiên Chúa Việt Nam bị bài xích, thì việc đó, chính yếu là do các người đại diện cho đạo.  Những người này, bằng những hoạt động tai hại và ý muốn thống trị của họ, rút cục đã làm cho người Việt Nam thấy Chúa Christ là tay sai của xâm lăng thuộc địa và văn hóa".

   Nhận định của ông Lý Chánh Trung cho chúng ta biết sách lược truyền đạo man rợ của Gia Tô La Mã Giáo, và nhận định của Tiến sĩ Cao Huy Thuần cho chúng ta thấy những biện pháp tự vệ của Việt Nam trước sách lược truyền đạo trên.  Xét theo bối cảnh lịch sử thế giới trong những thế kỷ 16-19 thì chúng ta phải nói rằng, căn bản căm phẫn của các giáo sĩ thừa sai ngoại quốc và tay sai bản địa về việc  cấm đạo    bách hại  giáo dân ở  Việt Nam thật là yếu ớt một cách lố bịch: "Vì chính trong những khoảng thời gian này, Gia Tô Giáo đang tàn sát những tín đồ Tin Lành ở Netherlands, tra tấn hàng ngàn dân Huguenots ở Pháp, và Văn Phòng Thánh Vấn (Holy Office of the Inquisition = Cơ Quan Chỉ Đạo các Tòa Hình Án xử dị giáo) còn đang bận thiêu sống những kẻ dị giáo từ Granada tới Goa." (Dennis Bloodworth)

   Như vậy, căn bản căm phẫn của họ thực ra là đặt trên cái lý lẽ đầy bất công và man rợ của kẻ mạnh, mạnh vì gươm giáo, súng ống, chứ không phải mạnh về tinh thần hay đạo đức: là con Chúa thì có quyền đi tra tấn, tàn sát, thiêu sống người ngoại đạo vì họ không có cùng một niềm tin như các con Chúa, còn người ngoại đạo thì không có quyền đụng tới con Chúa ngay cả khi những con Chúa này thuộc loại phản quốc.

   Sau đây chúng ta hãy thử phân tích vấn đề cấm đạo và bách hại giáo dân ở Việt Nam qua một số tài liệu.  Một trong những tài liệu có tính cách tổng hợp về sự du nhập của Gia Tô Giáo vào Việt Nam là của Helen B. Lamb, trong cuốn Vietnam's Will to Live.  Sau đây là vài đoạn trong đó, xin độc giả để ý đến những lời văn châm biếm rất ý nhị của tác giả..

   "Những sự giao tiếp giữa Pháp và Việt Nam từ thế kỷ 17 trở đi đều theo một mô thức cổ điển xâm nhập Á Châu của Tây phương.  Mới đầu là các thừa sai và con buôn.  Rồi các nhà ngoại giao đến can thiệp,  nhân  danh cả hai, và cuối cùng,  quân  lính tiến vào,   áp đặt sự  thống trị  của  ngoại quốc - lẽ dĩ nhiên là để làm tốt cho dân bản xứ.

   Động cơ chính để một nước đi chiếm thuộc địa và những vùng ảnh hưởng là sự chiếm hữu một cái gì đó, quyền lực, uy tín, của cải, hay những thứ cưỡng đoạt được...Trong trường hợp nước Pháp, họ đặt nặng vấn đề tôn giáo.  Là những người cầm đuốc soi sáng cho những người khác về chủ thuyết Gia Tô, người Pháp đã lao mình vào một cuộc Thánh chiến để mang tới cho dân Việt Nam món quà vô giá, cơ hội để sống đời đời, bất tử.

   Chỉ khi nước Pháp trở thành thế tục hơn trong thế kỷ 19, họ mới đặt nặng chiêu bài "nhiệm vụ văn minh hóa" - trong những quốc gia mà niềm tự hào  về nền văn minh cổ của họ rất là chính đáng.

...Dù các con buôn bị đối đãi lạnh nhạt đến đâu thì các thừa sai Tây phương còn bị nghi ngờ hơn nữa.  Sau năm 1645, khi Alexandre de Rhodes bị bắt cầm tù và rồi bị trục xuất, theo những con buôn người Anh tới giao thương ở Việt Nam thì các thừa sai phải ngụy trang dưới dạng con buôn.

...Một triết gia Đông phương hiện đại, khi giải thích về sự đối kháng của Á Châu đối với những nhà rao bán Phúc Âm Ki Tô Giáo (truyền giáo), đã nhấn mạnh đến thái độ kiêu căng điển hình của thừa sai Ki Tô như sau:

   "Cái óc Tây phương của các ông thường quá bị ám ảnh bởi ý tưởng chinh phục và chiếm hữu, cái thói quen dụ người khác vào đạo đã ăn sâu trong đầu óc các ông cũng là một hình thức chinh phục và  chiếm hữu...  Rao giảng về giáo thuyết của các ông chẳng phải là một sự hi sinh, mà là đắm mình trong một sự xa xỉ nguy hiểm hơn mọi xa xỉ vật chất rất nhiều.  Nó nuôi dưỡng trong tâm các ông một ảo tưởng là các ông đang làm bổn phận - rằng các ông khôn ngoan hơn và giỏi hơn đồng loại của các ông.."

...Ngay cả khi chính quyền Việt Nam cho ra những đạo dụ chống sự truyền đạo Gia Tô, họ vẫn cho phép những Thánh nhân Phật giáo từ Trung Hoa vào truyền đạo ở Việt Nam.  Điều này chứng tỏ giới quan lại không chống đối bản thân sự truyền đạo.

   Sự phỉ báng tất cả những gì của Á Châu được thấy rõ, ngay từ lúc đầu, trong thái độ của những thừa sai Pháp đối với những tôn giáo ở Việt Nam, như chúng ta đã thấy trong những thư từ liên lạc và tác phẩm của họ.

...Trước khi những người Ki Tô Giáo tới, Việt Nam có ba tôn giáo lớn: Phật Giáo, Lão Giáo, và Khổng Giáo.  Ba tôn giáo của Việt Nam này sống chung hòa bình với nhau hầu như trong suốt giòng lịch sử.  Theo một mức độ nào đó, các tôn giáo này hòa hợp làm một, một nơi thờ tự tôn giáo có thể được dựng lên để thờ cả ba vị giáo chủ của ba đạo sống khác nhau.  Về vấn đề tôn giáo, Việt Nam là một xã hội đa tôn giáo, điều này có thể giải thích sự kiện các thừa sai Tây phương thành công ở Việt Nam hơn là ở những nơi khác tại Đông Nam Á.

...Bất kể là những sự khác biệt giữa các tôn giáo ở Việt Nam như thế nào, chúng thật không đáng kể so với cái vực thẳm ngăn cách những tôn giáo này với giáo hội hiếu  chiến  Gia Tô..  Các Vua Việt Nam  coi chủ thuyết Gia Tô như là một sự đe dọa đến quyền hành của họ, và coi những người Việt Nam theo đạo như thuộc hạng chót trong một hệ thống quyền lực tôn giáo chặt chẽ dưới quyền những giám mục ngoại quốc. (Bị ngoại nhân hoàn toàn thống trị đến độ giáo hội Gia Tô Việt Nam không có một giám mục Việt Nam nào được bổ nhiệm cho tới thập niên 1930, 400 năm sau khi những giáo sĩ thừa sai Gia Tô đầu tiên tới Việt Nam)  Ở trên những giám mục ngoại quốc là một giáo hoàng ngoại quốc ở tận La Mã xa xôi, và những tín đồ Việt Nam này trung thành và tuân lệnh giáo hoàng thay vì hoàng đế Việt Nam.

   Những thừa sai thì hoàn toàn xa lạ với Việt Nam và với ý tưởng hòa hợp giữa các lý tưởng tôn giáo khác nhau.  Đối với dân ngoan đạo Gia Tô thời đó thì chỉ có hai quan điểm đối ngược, hoặc đúng hoặc sai, không thể có một sự thỏa hiệp hay đối thoại nào giữa hai quan điểm trên.  Các thừa sai coi thường tín ngưỡng và cách hành đạo địa phương, cho chúng là sai lầm...

   Nhiều bản báo cáo thời đó mô tả sự việc các thừa sai đã mang vào Việt Nam một số lượng lớn Âu dược chữa bệnh cho dân chúng để "chiếm lòng họ." (Linh mục de Courtaulin, trích trong tác phẩm của Taboulet, trg. 42).  Nhưng trong những hoạt động dụ người vào đạo,  các thừa sai Gia Tô đã khai thác sự sợ hãi và hi vọng của đám dân ngu dốt và nhẹ dạ cả tin.  Những kẻ tân tòng coi Ki Tô Giáo như là một hệ thống ma thuật mới. Nước thánh Gia Tô được dùng với hi vọng có thể đuổi được quỷ ám,  cứu  người chết sống lại, làm cho người mù sáng mắt trở lại v...v..   

   Tin vào sự không thể sai lầm của Gia Tô Giáo, những hội viên trong Hội Truyền Giáo Hải Ngoại đã tấn công Phật Giáo, coi Phật Giáo như là vô thần và thờ hình tượng, và chỉ trích nặng nề Khổng giáo về tục lệ thờ cúng tổ tiên.

...Đối với những nhà lãnh đạo Việt Nam, toàn thể giáo thuyết Ki Tô bị coi là không thực.  Theo quan điểm của Nho gia thì bản chất con người là tốt; chỉ cần được huấn luyện cho tốt để có thể sử dụng lý trí của mình mà phân biệt giữa tốt và xấu.  Con người không cần phải được "cứu rỗi" bởi sự can thiệp  của Chúa Ki Tô với Thượng-đế,  và nếu cho rằng Chúa Ki Tô có khả năng như vậy thì đối với giới Nho sĩ, đó cũng không khác gì một sự mê tín.

   Giáo điều Ki Tô, ngoài tính chất thô thiển và không hợp lý, còn bị coi như là thật sự nguy hiểm, vì nó làm cho con người xa cách với gia đình để tìm sự giải thoát cho riêng mình.

... Bằng sự đe dọa hỏa ngục và sự đày đọa đời đời, các giáo sĩ thừa sai bắt buộc những đàn chiên Việt Nam của họ phải theo đuổi ly rượu Thánh cho sự sống đời đời của mình trong một thế giới sau thay vì làm những bổn phận hiếu thảo trong đời này.  Những nhà cấm quyền Việt Nam đặc biệt lo ngại về giáo điều xưng tội của Gia Tô Giáo, coi đó như là một cách áp đặt quyền lực trên giáo dân. (Không những thế, đây cũng là một cách lấy tin tức tình báo quân sự rất hữu hiệu. TCN).

   ...Như là một sự thách đố đối với  thiên tài của   Khổng giáo trong việc hòa hợp các tín ngưỡng khác nhau, Gia Tô Giáo đã chứng tỏ là một tôn giáo hoàn toàn không thể tiêu hóa nổi.  Trong bốn thế kỷ, Gia Tô Giáo vẫn còn như là một lực lượng chia rẽ trong xã hội Việt Nam.  Để tăng cường cái vực thẳm ý thức hệ giữa những tín dồ Gia Tô và đại khối dân tộc, những tín đồ Gia Tô thường sống trong những làng mạc riêng biệt, dưới quyền thống trị của các linh mục, y như những làng mạc trong thời Trung Cổ ở Âu Châu cách đây 500 năm. [Linh Mục Trần Tam Tĩnh đã gọi những làng mạc riêng biệt này là những “ốc đảo ngu dốt”]

   Về mặt văn hóa cũng vậy, những người Việt Nam tân tòng Gia Tô trở thành cô lập với nền văn hóa chủ đạo.  Để phổ biến giáo lý Gia Tô, các thừa sai đã nghĩ ra một dạng chữ mới theo mẫu tự La Mã gọi là Quốc Ngữ, một cách phiên âm tiếng Việt họ dùng để dạy những đàn chiên của họ.   Họ dịch những sách cầu nguyện hay kinh sách Gia Tô khác ra loại chữ mới này, nhưng không dịch văn chương Việt Nam.  Điều này có nghĩa là những tín đồ Gia Tô Việt Nam, vì không còn học ở các trường làng do các thầy Nho dạy, không thể đọc được tiếng Việt, gọi là chữ Nôm, hay chữ Hán được dùng trong mọi văn kiện công cộng.  Chữ Quốc Ngữ là một trong vài đóng góp có ảnh hưởng lâu dài vào nền văn minh Việt Nam của Tây phương,  nhưng ảnh hưởng tức thời của nó là chia rẽ quốc gia và đánh thẳng vào gốc rễ văn hóa của Việt Nam.

   Đối với một quốc gia mà lý tưởng là sự hòa đồng trong cộng đồng và lối sống theo những qui định giao thiệp giữa con người với nhau, sự xâm nhập của Gia Tô Giáo biểu thị cho sự xáo trộn và bất hòa trong xã hội.

   Ngay từ ngày đầu, những người xây dựng Gia Tô Giáo ở Việt Nam đã cố ý coi thường chính quyền Việt Nam và đã dùng đến phương cách hối lộ và gian lận để đạt được những mục đích của họ."

   (Franco-Vietnamese relations from the 17th century on followed the classic pattern of Western penetration of Asia.  First came the missionaries and traders.  In time, diplomats arrived to intercede on behalf of both and, in the end, soldiers marched in to impose foreign rule - for the subject people's own good, of course.

 A country's chief motive in acquiring colonies and spheres of influence would seem to be acquisition - to get something, be it  power, prestige, wealth, or plunder...In the French case the chief emphasis was on religion.  As the torchbearers of Catholicism, the French were engaged in a religious crusade to give the people of Vietnam that most priceless of gifts, the opportunity to achieve immortality.  Only when France became more secular in the 19th century did it place emphasis on its "civilizing mission" - in countries justly proud of their ancient civilization.

...However unwelcome the traders were, Western missionaries were even more suspect.  After 1645, when Alexandre de Rhodes was first imprisoned and then expelled, missionaries had to disguise themselves as traders, according to English merchants who came to Vietnam to open up trade channels.