605-gd.gif (6961 bytes)

posted: 28.6.2005

VÀI Ý KIẾN VỀ MỘT BÀI VIẾT của
Giáo Sư TRẦN VĂN TOÀN
Đại Học Công Giáo Lille, Pháp.

Trần Chung Ngọc

Tôi vừa nhận được từ một người bạn bài “Hội Nhập Và Tiếp Thu Văn Hóa: Bàn Về Việc Đạo Thiên Chúa Ăn Rễ Vào Đất Việt Nam của tác giả Trần Văn Toàn ở Pháp, đăng trên tờ Định Hướng số 40, mùa thu 2004, từ trang 4 đến trang 28.  Mở đầu bài viết là hai câu bằng tiếng La-Tinh có chua nghĩa tiếng Pháp, tiếp theo là một đoạn tóm tắt nội dung bài viết bằng tiếng Pháp, sau đó mới đến bài viết bằng tiếng Việt.  Vì vậy, tôi tin rằng tác giả là một trí thức Công Giáo.  Anh bạn có đề nghị tôi viết một bài đưa lên Giao Điểm để soi sáng một số vấn đề trong bài viết của ông Toàn.  Có lẽ anh ta đã nhận thấy trong bài có nhiều điểm không được sáng lắm, và vì không được rảnh rỗi như tôi nên không có thì giờ viết bài phê bình, nên ưu ái nhường gánh nặng cho tôi.  Nếu đọc bài nào của một trí thức Công Giáo Việt Nam mà cũng phải viết bài phê bình thì quả thật là rất tội nghiệp cho tôi, và dù một ngày có 48 tiếng tôi cũng không sao làm nổi.  Nhưng đặc biệt là tác giả bài viết này là một bậc trí thức thượng thặng của Công Giáo Việt Nam, giáo sư tại một trường đại học Công Giáo ở Pháp, và chủ đề bài viết lại thuộc lãnh vực mà tôi đã nghiên cứu từ lâu nên cũng gây cho tôi ít nhiều hứng thú để đọc.  Và đã đọc rồi thì không thể không phê bình tuy đã mất đi thời gian tính, nhưng chủ đề của bài viết thì luôn luôn vẫn còn là một đề tài nóng bỏng cần phải làm sáng tỏ để ngăn ngừa những sự xuyên tạc lịch sử trong tương lai..

Tôi phải nói ngay rằng, đọc bài của ông Toàn, càng đọc tôi càng ngạc nhiên vì trong thời buổi này, khi mà những chi tiết về những sự kiện lịch sử Việt Nam đã khá rõ ràng, mà một bậc trí thức Công Giáo lại có thể có một sự hiểu biết nghèo nàn, thiếu sót về vấn đề đạo Thiên Chúa (xin hiểu là Công Giáo) truyền vào Việt Nam cũng như về ý thức tôn giáo của người Việt Nam như thế.  Nhưng khi đọc tới trang cuối, phần chú thích, thì tôi biết tác giả là một Giáo sư tại một học viện Công Giáo ở Pháp (Professeur, Institut Catholique de Lille, France) và sự ngạc nhiên của tôi đột nhiên giảm bớt đi nhiều.  Một Giáo sư Việt Nam, chắc chắn phải là người Công Giáo, dạy trong một học viện Công Giáo, viết về Công giáo và về tôn giáo ở Việt Nam, thì chỉ có thể viết như vậy, không ra ngoài những hiểu biết của các thừa sai Công Giáo trong thế kỷ 17-19, và của một số trí thức Công Giáo Việt Nam tuy họ đang ở cuối thế kỷ  20, đầu thế kỷ 21, mà tôi đã đọc bài của họ..   Tôi chợt nhớ đến những Giáo sư thần học danh tiếng của Công Giáo như Hans Kung, Uta Ranke-Heinemann, Leonardo Boff, Charles Curran v..v.., những người đã bị cất chức giáo sư thần học trong các trường đại học Công Giáo chỉ vì họ không dạy theo đúng chỉ thị của Vatican, và vì kiến thức của họ đã thực sự ở đúng thời đại: cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, ra ngoài, và vượt xa những gì “giáo hội dạy rằng...” cho đám tín đồ thấp kém. 

Để chứng minh những điều nhận xét tổng quát của tôi ở trên, chúng ta hãy điểm qua vài điều Giáo sư Toàn viết trong bài.  Ngay câu đầu trong bài, tôi đã thấy ông Toàn đặt sai vấn đề vì nó không phù hợp với những sự thực lịch sử.  Ông Toàn viết:

 Nhân dịp bàn riêng về việc đạo Thiên Chúa ăn rễ vào đất Việt Nam, tôi có ý định là đặt nó vào trong khuôn khổ chung chung của bất kỳ cuộc giao lưu văn hóa nào.  Vấn đề chung chung đó là: trao đổi văn hóa bao giờ cũng phải có hai chiều hướng giao thoa với nhau, một bên thì đưa vào, một bên thì nhận lấy, hai bên đối chiếu với nhau theo những điều kiện nhất định.

Chúng ta hãy bỏ qua vấn đề đạo Thiên Chúa đã thực sự ăn rễ vào đất Việt Nam hay chưa, và thực chất văn hóa Thiên Chúa Giáo (xin hiểu là Công Giáo) là như thế nào, nhưng sự truyền đạo Thiên Chúa vào đất nước Việt Nam thì không có gì có thể gọi là giao lưu hay trao đổi văn hóa.  Lịch sử truyền đạo của Thiên Chúa Giáo trên khắp thế giới đã chứng tỏ rằng đó là một sự xâm lăng văn hóa với chủ trương hủy diệt mọi nền văn hóa khác để áp đặt văn hóa Thiên Chúa Giáo thay vào đó, nếu chúng ta có thể coi niềm tin về một ơn “cứu rỗi” của một người Do Thái tên là Giê-su là nền văn hóa của Thiên Chúa Giáo.   Tôi thật lấy làm thất vọng, là giáo sư một trường đại học Công Giáo như ông Toàn lại không biết gì về chính lịch sử của tôn giáo mình, và nhất là lịch sử truyền đạo của Thiên Chúa Giáo vào Việt Nam nói riêng, trên thế giới nói chung, cho nên đã đặt sự truyền đạo Thiên Chúa vào Việt Nam trong khuôn khổ của một cuộc giao lưu hay trao đổi văn hóa..  Nếu trong học trình của Công Giáo, giáo sư không được giáo hội cho phép biết về chính sách hủy diệt các nền văn hóa khác của giáo hội Công Giáo, không được học về thực chất cuộc xâm lăng văn hóa của các thừa sai Công Giáo ở Việt Nam, thì đây là cơ hội để giáo sư biết thêm về những vấn đề này.  Những tài liệu sau đây có thể giúp giáo sư biết rõ hơn một chút về bản chất truyền đạo của Công Giáo.

Trong cuốn Công Giáo Chính Sử, tôi đã dịch nguyên văn mấy đoạn trong cuốn Deceptions And Myths Of The Bible của Lloyd. M Graham, Secaucus, N.J: Carol Publishing Group, 1975, trang 444-445, nói về thành tích của Giáo Hội Công La [Công Giáo La mã] trong sách hủy diệt công trình văn hóa và văn minh của các dân tộc nạn nhân ở Âu Châu và ở vùng Trung Đông trong thời Trung Cổ như sau:

"Sự hủy diệt mọi chứng tích về phái Tự Ngộ và những nguồn tài liệu về đa thần là "việc làm đầu tiên" của Công Giáo. Chính các nhà truyền giáo đã khởi sự ở Antioch như được nói đến trong sách "Công Vụ Các Sứ Đồ" (Acts). Do lệnh của Giáo Hội Công La, tất cả kinh sách của những người ủng hộ phải Tự Ngộ đều bị đốt, cũng như 36 cuốn của Porphyry [Porphyry là một triết gia (232-305) có chủ trương cho rằng triết lý là phương tiện giải thoát và nhấn mạnh đến lối tu khổ hạnh để tinh khiết hóa con người; TCN] Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085) đốt thư viện Apollo chứa đầy kiến thức cổ xưa. Hoàng Đế Theodosius [Roman Emperor (379-395)] đốt sạch 27 ngàn tài liệu về học phái huyền bí vì những tài liệu này chứa những căn bản giáo lý của Ngũ Kinh.

Sự hủy diệt văn hóa này vẫn tiếp tục sau khi những nhà lập giáo đã qua đời. Những tín đồ cuồng tín mà họ đào tạo ra tiếp tục công việc này: Thánh Chiến quân đốt tất cả các sách vở mà họ có thể kiếm ra được, kể cả những cuốn nguyên bản thánh thư Do Thái. Năm 1233, những tác phẩm của Mainmonides (một triết gia Do Thái xuất sắc, 1135-1204; TCN) bị đốt cùng với 12 ngàn cuốn của Kinh Talmud (Thánh Kinh của Do Thái Giáo; TCN). Năm 1244, 18 ngàn cuốn sách đủ loại bị hủy. Theo Draper, Hồng Y Ximenes đã đốt 80 ngàn bản văn của Ả Rập ở Công Trường Granada. Ở Tân Thế Giới (Mỹ Châu), toàn bộ kiến thức cổ xưa bị người Công Giáo Tây Ban Nha phá hủy cùng với đền đài chứa đựng kiến thức này.

Sau khi phá hủy mọi chứng tích, các nhà lập giáo Kitô đầu tiên đã có thể thay thế những kiến thức cổ xưa này bằng những điều vô nghĩa của họ. Và để chứng minh những điều vô nghĩa này, họ đã thay đổi lời lẽ và gài vào đó những câu không có trong những nguyên bản, ... Về cùng một chủ đề này, Massey viết như sau: "Trong bốn thế kỷ đầu, họ đã hủy bỏ những tài liệu quan trọng nhất về mọi sự hiểu biết trung thực về nguồn gốc thực của sự mê tín trong Kitô Giáo. Những huyền thoại được viết và in ra như là lịch sử nhân loại, mọi tư tưởng khác đều bị dẹp bỏ hay cưỡng bách phải chấp nhận sự gian dối.

"Theo giáo lý của họ thì "máu của Chúa Kitô đã rửa sạch tội lỗi của thế giới," nhưng tội lỗi vẫn còn với chúng ta ngày nay. Cái mà thực sự bị rửa sạch chính là sự lành mạnh của thế giới. Với thời gian, giáo lý của họ đã làm tâm thức Tây Phương đau đớn đến nỗi Agibard ở Lyons phải viết như sau:"Cái thế giới bất hạnh này dưới sự chuyên chế điên rồ, những điều mà người Kitô giáo tin, thực ra là những điều vô nghĩa đến độ từ xưa tới nay không ai có thể làm cho người ngoại đạo tin được."

(The destruction of all evidence of Christianity's gnostic and pagan source was "the first work." It was the evangelists themselves who started it, in Antioch, as stated in Acts... By order of the Church the books of the Gnostic Basilides were burned, likewise Porphyry's thirty-six volumes. Pope Gregory VII burned the Apollo library filled with ancient lore. Emperor Theodosius had 27,000 schools of the Mysteries paprus rolls burned because they, contained the doctrinal basis of the Gospels.

   Nor did the destruction end with the Founders; the fanatics they made carried on the work: the Crusaders burned all the books they could find,  including  original Hebrew scrolls. ln 1233 the works of Maimonides were burned  along  with   twelve  thousand    volumes  of  the Talmud.    In  1244 eighteen  thousand  books  of various kind were destroyed. According to Draper, Cardinal Ximenes "delivered to the flames in the square of Granada   eighty  thousand   Arabic  manuscripts." On finding  similar  lore  in  the  New  World,   the  Spanish Christians destroyed it and the temples that contained it.

   All evidence of source destroyed, the Christian Fathers coulld now substitute their own absurdities.  And to substantiate them they altered words and inserted verses that  did  not  exist  in  the  original  texts...  On  this same subject Massey wrote thus: "..They had almost reduced the first four centuries to silence on all matters of the most vital importance for any proper understanding of the true origins of the Christian superstition. The mythos having been at last published as a human history, everything else was suppressed or forced to support the fraud." 

      According to their teaching "the blood of Christ washed away the sins of the world," still with us. What it actually washed away was the sanity of the world. In due time its doctrines so bedeviled the Western mind that Agobard of Lyons wrote thus "The wretched world lies now under the tyranny of foolishness; things are believed by Christians of such absurdity as no on ever could aforetime induce the heathen to believe.")

Sau đây là một tài liệu khác về một số những hành động của giáo hội Công Giáo khi giáo hội nắm được quyền lực thế gian (Joseph D. Daleiden, The Final Superstition, trg. 60), Daleiden là một tín đồ Công Giáo:

"Không có một trích dẫn thống kê đơn thuần nào có thể nói lên vô lượng những sự ác ôn mà giáo hội Công La đã làm nhân danh Thiên Chúa. Từ khi mà các triều đại giáo hoàng cấu kết quyền lực với chính quyền trong thế kỷ 5 cho tới công cuộc Phục Hưng, cái áo vô minh và mê tín đã phủ lên Âu Châu. Ánh sáng tự do đã tắt ngấm, Dân La Mã cổ xưa đã có những thư viện chứa 500000 cuốn sách, thời kỳ từ năm 500 tới năm 1000 của Âu Châu dưới quyền thống trị của Công Giáo không có một thư viện nào có được hơn 600 cuốn sách. Sự tiến bộ khoa học, đặc biệt là về y học, hoàn toàn ngưng trệ. Văn hóa con người thoái hóa đến mức tàn bạo.

Thật là mỉa mai, chính những cuộc Thánh chiến chống dân Hồi giáo đã rọi một tia sáng trí thức qua cái mờ tối của vô minh và mê tín. Không như những dân KiTô tìm cách tiêu diệt mọi kiến thức không hợp với thần thuyết của họ, những người theo Hồi giáo đã gìn giữ trí tuệ của dân Hi Lạp cổ xưa. Hơn nữa, họ đã có nhiều tiến bộ đáng kể về toán học, triết học, và khoa học. Khi những thập tự quân của Giáo hội CôngLa trở về từ miền Đông họ đã mang về cùng với những chiến lợi phẩm những hạt giống kiến thức mà sau này đưa đến công cuộc Phục Hưng. Song song với hàng đống những đồ cướp đoạt được và những thánh tích giả mạo, những thập tự quân cũng mang về theo nghệ thuật và văn học của cổ Hi Lạp. Những tác phẩm của các triết gia Hi Lạp mà giáo hội Công La đã dẹp đi từ nhiều thế kỷ trước, nay lại xuất hiện. Một vài triết gia như Plato và Aristotle được đưa vào trong giáo thuyết của giáo hội. Thật vậy, những tác phẩm của Thomas Aquinas, đặc biệt là những chứng minh về sự hiện hữu của Thiên Chúa, căn bản là của Aristotle được sửa lại thành mới. Nhưng quan trọng hơn là, về sau này, triết lý nhân bản của Hi Lạp đã nảy nở trong đầu óc của những người đau lòng mà nhận ra sự vô ích của những suy đoán thần học cùng sự ác ôn của những tín điều mà giáo hoàng đưa ra. Kết quả là, chính cái nền tảng trí thức và độc tài về đạo đức của Giáo hội bắt đầu lung lay."

(No mere recitation of statistics can convey the immeasurable evil that the Roman Catholic Church dispensed in God's name. From the time that the papacy cemented its power with the state in the fifth century until the Renaissance, the cloak of ignorance and superstition was draped over Europe. The light of freedom was extinguished. It is no longer fashionable to call them the Dark Ages, but indeed they were. The ancient Romans had libraries of 500,000 volumes, there was not a library of over 600 volumes in Christian Europe the period 500 to 1000. Scientific advance, especially in medicine, came to a screeching halt. Human culture regressed to a more brutal level.

Ironically, it was the initiation of the Crusades against the Muslims that shed a ray of intellectual light through the gloom of ignorance and primitive superstitions. Unlike the Christians who sought to destroy all knowledge that contradicted their theology, the Muslims had preserved the wisdom of the ancient Greeks. Moreover, they had made significant advances in Mathematics, philosophy, and science. When the Crusaders returned from the East they brought with their spoils of war the seeds of knowledge which, eventually, gave birth to the Renaissance. Along with the pile of plundered Eastern artifacts and phony relics, the Crusaders also brought back the art and literature of ancient Greece. The writings of the Greek philosophers, which the Church had suppressed centuries before, reappeared. Some of the philosophers such as Plato and Aristotle were accornmodated in Church doctrine. Indeed, the writings of Thomas Aquinas, especially his demonstrations for the existence of God, were basically a rehash of Aristotle. But more importantly in the long run, Greek humanistic philosophy found fertile ground in the minds of those who were painfully aware of the futility of theological speculation and the evil of papal dogmatism. As a result, the very foundation of the Church's intellectual and moral despotism would begin to shake.)

Và Robert G. Ingersoll, nhà tư tưởng tự do vĩ đại nhất của nước Mỹ, có tượng tưởng niệm ở Peoria, Illinois, đã nhận định như sau (Joseph Lewis, Ingersoll: The Magnificent, trg. 125) vào cuối thế kỷ 19:

"Khi Ki Tô Giáo có được quyền lực thì tôn giáo này phá hủy mọi tượng thần mà nó có thể đặt những bàn tay vô minh của nó lên trên. Nó hủy hoại và xóa bỏ mọi họa phẩm, phá hủy mọi công sự đẹp đẽ, đốt sạch những tác phẩm Hi Lạp và La Tinh, triệt tiêu mọi lịch sử, thơ phú, triết lý và thiêu rụi mọi thư viện mà nó có thể đốt được. Kết quả là, màn đêm Trung Cổ đã phủ lên nhân loại. Nhưng vì tình cờ, vì may mắn, vì bỏ sót, một vài tác phẩm đã thoát được sự ác liệt của cuồng nhiệt tôn giáo, và những tác phẩm này trở thành cái nhân mà quả của nó là nền văn minh của chúng ta ngày nay."

(When Christianity came in power it destroyed every statue it could lay its ignorant hands upon. It defaced and obliterated every painting; it destroyed every beautiful building; it burned the manuscripts, both Greek and Latin; it destroyed all the history, all the poetry, all the philosophy it could find, and reduced to ashes every library that it could reach with its torch. And the result was, that the night of the Middle Ages fell upon the human race. But by accident, by chance, by oversight, a few of the manuscripts escaped the fury of religious zeal; and these manuscripts became the seed, the fruit of which is our civilization today.)

Đó là những gì Công Giáo đã thực hiện qua chủ trương tiêu diệt văn hóa của các tôn giáo, tín ngưỡng nào không phù hợp với những giáo điều và niềm tin của Công Giáo. Có thể nói là những hành động trên là giao lưu hay trao đổi văn hóa hay không?  Và Việt Nam có ra ngoài lệ hay không?

Về vấn đề truyền đạo vào Việt Nam, người mà tác giả ca tụng trong bài và trích dẫn lập luận của ông ta là Giáo sĩ Alexandre de Rhodes. Nhưng chúng ta đã biết rằng,   trong cuốn "Phép Giảng 8 Ngày...", cái tên giáo sĩ thực dân cuồng tín ngu xuẩn, mù lòa tin bướng tin càn này đã  mạ lỵ cả ba tôn giáo lớn  ở Việt Nam là Phật Giáo, Khổng Giáo, và Lão Giáo.  Ông gọi Đức Phật và Đức Khổng Tử bằng những danh từ thiếu văn hóa, phản ánh tư cách của một con người vô giáo dục, vô đạo đức tôn giáo, và cuồng tín.  Linh mục Trần Thái Đỉnh cũng phải công nhận như vậy khi đọc cuốn   “Phép Giảng 8 Ngày..” của de Rhodes và thú nhận đã bị một cú sốc lớn vì lối hành văn hạ cấp cũng như những xuyên tạc Phật Giáo rất trắng trợn của de Rhodes.  Hơn nữa, chủ trương của các thừa sai Pháp khi Pháp xâm chiếm Việt Nam là phải tiêu diệt cho bằng được ảnh hưởng Nho giáo và giới Văn Thân trong xã hội Việt Nam.  Tại sao?  Vì giới hiểu biết có học ở Việt Nam đã là những thành trì chống lại chủ thuyết duy thần của Thiên Chúa Giáo, một chủ thuyết hạ thấp con người xuống hàng súc vật, đối ngược với những giáo lý nhân chủ, nhân bản của Tam Giáo đã thấm nhuần sâu xa trong xã hội Việt Nam. Thật vậy, de Rhodes cũng như đám thừa sai khác có mang lại những triết lý hay ho gì cho Việt Nam đâu?  Họ chỉ có thể rao giảng về một cái bánh vẽ trên trời của dân Do Thái cho đám dân cùng đinh không có đầu óc ở Việt Nam và cùng lúc nô lệ hóa người dân Việt Nam để phục vụ cho các “bề trên”.  Cảnh các giáo sĩ Tây phương ngồi kiệu vênh vang trước sự khúm núm của giáo dân và các linh mục bản xứ là một thí dụ điển hình.  

Chính Toàn Quyền  Đông Dương J. L. de Lanessan,  cách đây hơn 100 năm, trong cuốn Les Missions et leur Protectorat, trích dẫn bởi Patrick J. N. Tuck trong cuốn “Thừa sai Công giáo Pháp và các chính sách đế quốc tại VN 1857-1914” (The French Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in VN 1857-1914), cũng phải thú nhận là sự truyền đạo của Công Giáo vào Việt Nam chỉ có thể len lỏi vào giới cùng đinh qua nhận xét như sau:

   "Thật ra, trong hơn 2 thế kỷ mà các Hội Truyền Giáo Công Giáo hoạt động ở Trung Hoa và bán đảo Đông Dương, có lẽ họ không cải đạo được quá 10 học giả.  Toàn thể giới cầm quyền có học của dân chúng đã tránh né sự truyền đạo của họ.  Đại cương thì các nhà truyền giáo chỉ tuyển mộ được tín đồ trong những giai cấp thấp nhất, và phần lớn là những kẻ, vì lý do này hay lý do khác, đã bị xã hội An-Nam ruồng bỏ."

   (In fact during the two centuries and more that the Catholic Missions have been operating in China and the Indochinese peninsula they have probably not converted more than ten scholars in all.  The entire educated and governing class of the population has evaded their proselytism.  In general Catholic missionaries only recruit from among the lowest classes, and mainly among those who, for various reasons have been rejected by Annamese society.)

Nhận xét của de Lanessan đã được lập lại trong một cuộc đối thoại của ông ta với Giám mục Puginier trong đoạn sau đây trong cuốn Ki-Tô Giáo: Từ Thực Chất Đến Huyền Thoại, trang 115, trích dẫn một đoạn Jean Raoul Clémentin viết:

Vì Giám mục Puginier luôn luôn trở lại vấn đề các sĩ phu, de Lanessan (Toàn Quyền Đông Dương) viết: “Tôi nghĩ mình được phép hỏi: “Theo ý ông thì nước Pháp phải đối xử với tầng lớp sĩ phu như thế nào?”  Câu trả lời của ông ta rất rõ ràng và ngắn gọn: “Phải tiêu diệt họ đi.”

“Vì sao?” Tôi hỏi.  Giám mục trả lời: “Vì các sĩ phu có một ảnh hưởng rất lớn, một uy tín rất lớn; họ được kính trọng mỗi khi họ ra làm quan, cho nên cần thiết phải tiêu diệt họ.  Chừng nào tầng lớp sĩ phu còn, thì chúng ta còn phải lo sợ tất cả, bởi vì lòng yêu nước nồng nàn, họ không thể nào chấp nhận nền đô hộ của chúng ta.  Còn điều nữa là chẳng một ai trong họ chịu theo đạo Thiên Chúa cả.”

Với những chính sách truyền đạo của các thừa sai Pháp vào Việt Nam như trên, khoan kể đến những hoạt động xách động giáo dân gây nội loạn trong nước, bất tuân luật lệ quốc gia, cũng như huy động giáo dân hỗ trợ lực lượng quân sự Pháp để đánh dẹp kháng chiến v..v.., có cái gì có thể gọi là “giao lưu văn hóa” hay “trao đổi văn hóa” như giáo sư Toàn đã viết hay không?  Nhưng vấn đề chính là tại sao lại có tình trạng thất bại của Thiên Chúa Giáo đối với giới trí thức Việt Nam như trên.  Vì những sự mê tín hoang đường của Công Giáo không thể nào đi vào đầu óc của những giới hiểu biết ở Á Đông, nơi đây các nền văn hóa địa phương cao hơn nền văn hóa Công Giáo rất nhiều.  Thật vậy, văn hóa Á Đông nói chung, Việt Nam nói riêng, có thể nói là sự tổ hợp của các tư tưởng nhân bản trong Tam Giáo: Thích, Nho, Lão, trong đó Phật Giáo và Nho Giáo nổi bật nhất, và đã ăn rễ vào đất nước Việt Nam, với những tư tưởng tạo sự trật tự thái hòa trong xã hội, cùng lúc theo con đường trí tuệ, tu tập của Phật Giáo để đi đến sự hiểu biết đúng (như thực tri kiến), và cuối cùng chứng nghiệm các chân lý để đi tới giải thoát.  Ngược lại, văn hóa Công Giáo có cái gì?  Như các tài liệu trên đã vạch rõ, nền văn minh Âu Mỹ tuyệt đối không phải là sản phẩm của Công Giáo mà trên thực tế Công Giáo đã làm chậm sự tiến bộ của con người Tây phương nhiều thế kỷ.  Tất cả chỉ đặt vào niềm tin về một cuộc sống đời đời sau khi chết, nếu tin vào Thiên Chúa.  Cốt tủy của Công Giáo là như vậy.  Tất cả những hoa lá cành như mở trường học, viện mồ côi, việc từ thiện chỉ là để khuyến dụ con người vào đạo để phục vụ Thiên Chúa, đúng ra là phục vụ các bề trên, từ Giáo hoàng cho tới các Linh mục, những người tự nhận là “Cha cũng như Chúa” mà không hề đỏ mặt.  Chứng minh?

Nghiên cứu tường tận về các hoạt động xã hội của Công Giáo như mở trường học, lập viện mồ côi, cứu trợ từ thiện từ xưa tới nay, chúng ta rất ít thấy ở đâu là thuần túy từ thiện, mà mục đích chính của các hoạt động đó là dùng vật chất để truyền đạo, để làm giàu cho Giáo hội trên sự đau khổ của con người, và chúng ta phải công nhận đây là nguyên nhân chính về sự thành công của Công Giáo trong những thế kỷ qua: giới giáo sĩ sống trên sự nghèo khổ và ngu dốt của đám tín đồ thấp kém.  Các viện mồ côi là những trung tâm nhồi sọ đám trẻ đầu óc chưa phát triển và để quảng cáo cho bộ mặt thánh thiện của giáo hội và lẽ dĩ nhiên không phải là do tiền của giáo hội bỏ ra mà là tiền của những người có giầu lòng bác ái trong xã hội.  Những trường học Công Giáo cũng có cùng một mục đích và khi không còn lợi nhuận thì phải đóng cửa hàng loạt như chúng ta thấy thường xảy ra hiện nay ở trong thế giới Âu Mỹ, trong khi giáo hội có thể bỏ ra cả tỷ đô la để bồi thường cho các nạn nhân bị các “Cha cũng như Chúa” xâm phạm tình dục.  Công việc từ thiện được giáo hội quảng cáo và đánh bóng nhiều nhất là dòng “thừa sai bác ái” của bà Teresa ở bên Ấn Độ.  Nhưng thực chất ra sao, không có mấy tín đồ biết đến vài tài liệu sau đây.

Tờ Newsweek, số ngày 13 tháng 11, 1995, David Gates có điểm cuốn sách "The Missionary Mission" của Christopher Hitchens viết về bà Teresa.  Theo Hitchens thì "Mẹ Teresa là một kẻ "mị dân" chống phá thai và là kẻ "phục vụ cho những quyền lực thế gian.", thân thiện với hạng người không tin cậy được như tên lừa đảo Charles Keating ở Ngân Hàng Tiết Kiệm và Tín Dụng, mà nhân danh hắn Mẹ đã viết cho ông Tòa Lance Ito trong vụ xử hắn năm 1992.  Trong một bức thư trả lời với đầy đủ lý lẽ , ông Phó Biện Lý của Tòa giải thích cho Mẹ Teresa biết bằng cách nào mà Keating đã ăn cắp món tiền đã biếu cho Mẹ, và đề nghị Mẹ hoàn trả lại số tiền đó cho các "sở hữu chủ với đầy đủ pháp lý"; Mẹ đã không hề hồi âm.

   Hitchens cũng ghi chú rằng Mẹ đã vào "điều trị ở một vài bệnh viện tốt nhất và đắt tiền nhất ở Tây phương." [Tiền của ai?  Tiền của những người hảo tâm cả tin đóng góp cho  những việc “từ thiện” của bà Teresa]   Hitchens lý luận rằng "Mẹ làm công việc từ thiện không phải vì chính sự từ thiện mà chỉ để mong một ngày nào đó được kể như một vị Thánh thành lập một dòng tu mới trong giáo hội."

   (Hitchens' Mother Teresa is an anti abortion "demagogue" and a "servant of earthly powers," cozying up to such a slime as S & L (Savings & Loans) swindler Charles Keating, on whose behalf she wrote to Judge Lance Ito during his 1992 trial.  In a well-reasoned reply, a deputy D.A. explained to her how Keating stole the money he'd donated and suggested she return it to "its rightful owners"; she never answered.

...Hitchens notes, she herself has "checked into some of the finest and costliest clinics and hospitals in the West."  She does charitable work, he argues, "not for its own sake but...so that she may one day be counted as the beatific founder of a new order and discipline within the Church itself.")

Ngoài ra, một học giả chuyên gia viết tiểu sử, Anne Sebba, đã sang tận Calcutta và nhiều nơi khác để quan sát những "cơ sở từ thiện" của bà Teresa và tìm hiểu sự thực về những "công cuộc từ thiện" của bà Teresa.   Kết quả nghiên cứu trong nhiều năm được viết thành cuốn "Mother Teresa: Beyond The Image" (Mẹ Teresa: Ngoài Cái Hình Ảnh Được Tạo Nên"), Doubleday, New york, 1997,  trong đó tác giả đã dùng hơn nửa cuốn sách dày gần 300 trang để viết về một số những sự thực về cái gọi là "công cuộc  từ thiện" của bà Teresa mà chính tác giả đã đích thân đến tận nơi quan sát, tìm hiểu cùng qua nhiều cuộc phỏng vấn những nhân vật có thẩm quyền như bác sĩ, nữ tu, những người đứng đầu các cơ quan từ thiện, những nhân viên thiện nguyện và cả những cựu nữ tu trong dòng "Thừa Sai Bác Ái" (Missionaries of Charity) của bà Teresa (I am full of questions and have put as many as I can to people qualified to answer them including doctors, nuns, heads of charities, volunteers and former Missionaries of Charity).  

   Sau đây là vài điểm chính mà tác giả, Anne Sebba, đã khám phá ra:

Công việc từ thiện của bà Teresa không bắt nguồn từ chính lòng từ thiện mà động cơ thúc đẩy chính là để làm sáng danh Chúa và để truyền đạo.  Ngay cái tên của dòng "Thừa Sai Bác Ái" cũng đã nói lên rõ ràng mục đích truyền đạo của các thừa sai trong những thế kỷ qua.  Bà Teresa biết rõ về lịch sử truyền đạo ở Ấn Độ và toan tính KiTô hóa quốc gia này trong 400 năm qua.  Bà Teresa đã khẳng định rằng công việc bà làm là để phục vụ Chúa, không phải phục vụ con người, phục vụ Chúa bằng cách kiếm thêm nhiều tín đồ cho Chúa mà những sự đau khổ, bất hạnh của con người là những cơ hội để bà làm "việc thiện", chứng tỏ "lòng từ bi" của Bà.  Bà không phải là cứu tinh của nhân loại, những việc bà làm chỉ có tính cách tượng trưng bề ngoài.

 (Sebba, p. 21:   She had assiduously studied as much as she could about the history of the missionary movement in India, especially in its most recent, expansive phase.  She would have known that attempts to Christianize the country had been made repeatedly for about 400 years... Page.55: Our special task will be to proclaim Jesus Christ to all peoples above all to those who are in our care.  We call ourselves Missionaries of Charity.  Mother Teresa never shrank from emphasising that she was working for Christ first and above all.. The name, incorporating the word "missionary" with all its resonance in Indian history, had been chosen with care and intent.  Of course, she hoped that by her actions she would win more converts for Christ....No one should be in any doubt, and Mother Teresa has expressed herself very clearly on the point, the religious motivation   is foremost. Abandoned babies and the terminally ill, society's most vulnerable and helpless, were there to supply the occasions for charity and the raw material for demonstration of compassion in India... She is not the savior of humanity, what she does is symbolic.)

Chúng ta còn nhớ, để quảng cáo cho bà Teresa trước đám người có đầu mà không có óc, GH John Paul II tuyên bố: “Mẹ Teresa là quà của Thượng đế cho những người nghèo khổ” (a gift of God for the poor) nhưng Ngài không hề nói tới những người nghèo khổ là quà của Thượng đế cho ai? 

Tác giả Anne Sebba còn đưa ra nhiều hình ảnh của bà Teresa, trái ngược hẳn với những hình ảnh đã được bộ máy tuyên truyền của giáo hội trên thế giới đưa ra, thí dụ như:

"đạo đức giả, thân cận với một số lãnh tụ độc tài trên thế giới, ve vãn giới truyền thông – và có lẽ quan trọng hơn cả - là như một đại sứ lang thang khắp nơi hoạt động cho chính trị của Vatican, mù quáng chống mọi hình thức kế hoạch hóa gia đình, bất minh về vấn đề tiền bạc, nhận tiền thụt két nhà băng của một tên lừa đảo (Charles Keating) và khi Tòa án viết thơ khuyên Bà nên trả lại số tiền đó thì lờ đi không trả lời, dùng tiền của thiên hạ đổ vào các tu viện thay vì nhà thương và để cho các cơ sở từ thiện rất thiếu thốn v..v.." (personal hypocrisy,  consorting with dictators,  courting the media and - perhaps most serious of all -  "operating ...as the roving ambassador  of a highly political papacy," blindly objecting to all forms of family planning, refused to return the stolen money that Keating had donated, alledgedly spent millions of pounds on convents rather than building new hospitals,  administering dubious medical treatment).

   Đó là thực chất những công việc "từ thiện" và cái gọi là “lòng thương người” của Mẹ Teresa, đại diện cho Công Giáo, người mà các tín đồ Ca Tô được nhồi vào trong đầu óc hình ảnh của một Thánh nhân.  Ngày nay, đã có thêm nhiều tài liệu về bà Teresa do chính những người trước đây cộng tác với bà, như các sơ (soeur, sister), viết ra. Họ không phải là người ngoài mà là chứng nhân trong cái gọi là dòng tu "Thừa sai bác ái" của bà Teresa. Hình ảnh của bà Teresa mà họ đưa ra không thánh thiện như giáo hội đã cấy vào đầu óc các tín đồ mà thực ra là : đạo đức giả, lừa bịp, gian dối, tàn nhẫn, cuồng tín, lạc hậu v..v... như chúng ta sẽ thấy trong tài liệu sau đây.

Thí dụ, sơ  Susan Shields đã viết trong tờ Free Inquiry, số mùa đông 1998, tiết lộ rằng:

 một phần nhiệm vụ của sơ là giúp trong việc giữ sổ sách về số tiền, lên đến nhiều triệu đô la, do những người có từ tâm đóng góp để bà Teresa làm việc "từ thiện" vì tin ở những lời tuyên truyền quảng cáo của dòng tu "Thừa sai bác ái", nhưng hầu hết những số tiền đó lại để trong nhiều ngân hàng khác nhau mà không dùng gì đến, trong khi các sơ hàng ngày phải đi ăn mày (beg) thức ăn của các thương gia địa phương, vì bà Teresa chủ trương "nghèo khổ" là một đức tính.  Ngày nào xin không đủ thì các em mồ côi hoặc các bệnh nhân dưới sự "săn sóc" của hội "thừa sai bác ái" phải ăn đói.  Đó là từ thiện hay sao? Với hàng triệu đô la nằm ì trong các ngân hàng mà bà Teresa vẫn thường xuyên  kêu gọi đóng góp thêm cho công cuộc từ thiện của bà, thật là hoàn toàn vô nghĩa.” [Không hẳn là vô nghĩa, vì đây chính là một trong những thủ đoạn làm giầu của Giáo hội qua những tay sai mù lòa tin bướng tin càn, vô trí tuệ, vô đạo đức, như bà Teresa.  Và nếu không có những số tiền này, làm sao bà Teresa có thể vào điều trị ở những bệnh viện đắt tiền nhất?  TCN]

(Judith Hayes trong The Happy Heretic, p. 66-67:  Shields revealed that part of her job was to help keep track of the millions of dollars donated to Teresa's "charity" work.  Unfortunately, most of that money sat unused in various bank accounts while the sisters literally had to beg for food from local merchants, since "poverty" is supposedly a virtue.   If the locals couldn't help out, the soup kitchens did without.  This is charity?   With millions sitting idle and Teresa constantly asking for more donations, it makes no sense at all.)

Đó chính là thực chất văn hóa Công Giáo và ngày nay chúng ta đã hiểu tại sao Á Đông lại từ chối, không chấp nhận nền văn hóa này. Trong cuốn Các Giáo Sĩ Thừa Sai  (Missionaries,   p. 90), cuốn sách đi kèm với một chương trình TV 6 kỳ của đài BBC, khảo luận về những thành quả truyền đạo của Ki Tô Giáo trên thế giới,  Julian Pettifer &  Richard Bradley cũng viết như sau về sự thất bại của Công Giáo tại Á Châu:

“(Ngoài Phi Luật Tân) Ở các nơi khác ở Á Châu, sự tiến bộ trong công cuộc truyền giáo Ki Tô rất chậm, có thể nói là không đáng kể.  Bất cứ nơi nào mà các thừa sai đụng phải những nền văn hóa tôn giáo lớn như Phật Giáo, Ấn Độ Giáo, hay Hồi Giáo thì dân chúng ở những nơi đây đều cưỡng lại và đôi khi tỏ thái độ thù nghịch rõ rệt."

   (Elsewhere in   Asia,  Christian  progress has been slow, even negligible.  Wherever missionaries have encountered   other    great  religious   cultures    such   as Buddhism, Hinduism or Islam, the people have remained quite resistant and sometimes downright hostile.)

Và Avro Manhattan trong cuốn "Chủ Nghĩa Đế Quốc của Gia Tô Giáo Và Sự Tự Do Của Thế Giới" ("Catholic Imperialism and World Freedom", trg. 341 - 365) đã viết:

   "Những công vụ truyền giáo của Ki Tô Giáo không bao giờ chỉ là thuần túy truyền giáo.  Những công vụ truyền giáo này luôn   luôn  hoặc theo sau, hoặc đồng hành, hoặc làm đạo quân tiền phong cho những kho hàng Tây phương, ngoại giao Tây phương, và những binh đội Tây phương.  Bất kể sự diễn tiến như thế nào, kết quả đều giống nhau: những dân tộc Á châu mất đi hoặc một phần, hoặc toàn phần sự tự do của họ, bất cứ khi nào và ở nơi nào mà cái Thánh giá cùng cái mũ Tây phương xuất hiện.   Sự chấp nhận, do tự nguyện hay do cưỡng bức, hai thứ trên được tuyên dương là chiến thắng của nền văn minh Ki Tô, và văn minh Ki Tô có nghĩa là bất cứ cái gì có tính cách thống trị - hay nói khác đi, bất cứ cái gì của Tây phương - sự thành công thường thường tùy thuộc ở sự hiện diện của những hạm đội ở ngoài khơi.

   Những dân tộc chậm tiến, nhưng có nền văn minh cao, mất đi nền độc lập của họ, văn hóa của họ bị chế nhạo, màu da của họ bị coi như là dấu vết của nhục nhã, quá khứ, hiện tại và ngay cả những khả năng thành đạt trong tương lai của họ bị khinh miệt và coi thường..   Thực ra, từ khi được cấy vào từ Judea, Ki Tô giáo đã trở thành tôn giáo của Tây phương, và từ đó trở nên tôn giáo lớn nhất trên thế giới, không do sức mạnh của những nguyên lý đạo đức tinh thần mà do sự thống trị vật chất của người da trắng...  Ki Tô giáo hiện còn bị hầu hết Á Châu bác bỏ vì tôn giáo này được coi như biểu thị sự tham tàn của thế giới Tây phương, của chủ nghĩa đế quốc Tây phương và của sự "ưu việt của người da trắng".

(Christian missions were never solely Christian missions.  They were invariably preceded, accompanied, or followed by Western warehouses, Western diplomacy, and Western armies.  Whichever the sequence, the result was eternally the same: the partial or total loss of the regional, national, and racial liberty of the Asiatics, wherever and whenever the Cross and the Western Hat had made their appearance.  The voluntary or forced acceptance of both was proclaimed to be the victory of Christian civilization, and Christian civilization came to mean whatever tended to be dominant - in other words, whatever was Western - success very often depending on the appearance of naval squadrons off the coasts.

    Backward and highly civilized peoples lost their independence; their cultures were ridiculed, the color of their skin became a mark of opprobium; their past, present, and even potential future achievements were scorned and despised... In fact, since its transplantation from Judea,  Christianity  had become Western, and since then had become the dominant world religion, not through the strength of its principles but through the physical dominance of the White race... Christianity is still spurned by most of Asia as being hopelessly identified with  the  rapacity  of  the  Western  world,  of   Western Imperialism and of Western "White supremacy".}

Thật là không may cho Việt Nam, có đến 7% người dân chấp nhận nền văn hóa mị dân, hoang đường và tàn nhẫn này.  Tại sao vậy?  Có hai nguyên nhân: sự xảo quyệt, cuồng tín, óc thực dân của các giáo sĩ thừa sai Tây phương, cộng với sự ngu dốt của đám dân Việt Nam cùng đinh nghèo khổ.  Người dân nghèo khổ, thấp kém, bị áp bức v..v.. trong xã hội phong kiến Việt Nam trước đây tin lời các giáo sĩ Tây phương là họ đến để giải thoát người dân ra khỏi cảnh nghèo đói, khỏi cảnh áp bức, được quyền bình đẳng, và nhất là được hứa hẹn một cái bánh vẽ trên trời sau khi chết.  Nhưng họ đâu có biết đó chỉ là những chiêu bài lừa dối của các giáo sĩ, và kết quả là họ bị lùa vào trong một định chế tôn giáo độc tài, được dồn vào sống trong những ốc đảo ngu dốt (từ của Linh mục Trần Tam Tĩnh), dưới quyền tuyệt đối của các Linh mục sống như những lãnh chúa, và chính những Linh mục bản xứ này cũng còn phải qụy lụy trước những Linh mục Tây phương và phải tuyệt đối trung thành với một ông giáo hoàng mũi lõ mắt xanh ngự trị ở La Mã.   Họ cũng không hề biết đến vai trò của những giáo sĩ thừa sai trong cuộc xâm lăng của thực dân Pháp.  Những tài liệu đã được giải mật hiện nay cho biết là ở Việt Nam, vai trò của các giáo sĩ thừa sai Công Giáo đưa đến sự thành công của  cuộc xâm lăng của thực dân Pháp là điều không ai có thể chối cãi.  Trong cuốn Các Thừa Sai Và Chủ Nghĩa Đế Quốc Của Pháp: Vai Trò của Các Thừa Sai Công Giáo Trong Sự Bành Trướng Thuộc Địa Của Pháp: 1880-1905, tác giả James Patrick Tudesco đã viết như sau, trang 122:

   Những thừa sai thì tham dự chặt chẽ vào trong những biến cố trong những thập niên 1850 và 1860, đưa đến sự chiếm hữu Nam Kỳ,  đến độ một sử gia hiện đại, Étienne Võ Đức Hạnh, đã gọi cuộc xâm lăng của Pháp và Tây Ban Nha vào Nam Kỳ  năm 1858 là “cuộc thánh chiến thứ 9”.

   (Missionaries were closely involved in the events of the 1850’s and 1860’s leading to the acquisition of Cochin-china, to the extent that one modern historian, Étienne Vo Duc Hanh, has labeled the joint French and Spanish invasion of Cochin-china in 1858, the “ninth crusade”.)

Từ những sự kiện trong những tài liệu trên, chúng ta có thể thấy ngay là giáo sư Trần Văn Toàn đã đặt sự xâm nhập của Thiên Chúa Giáo vào Việt Nam vào trong một khuôn khổ hết sức sai lầm dưới mỹ danh giao lưu văn hóa hay trao đổi văn hóa, trong khi bản chất thực của Công Giáo là phi văn hóa và dựa vào những thế lực thực dân đi xâm chiếm các nước nghèo, chậm tiến, để truyền đạo qua sách lược mê hoặc quần chúng cùng tiêu diệt các nền văn hóa khác.  Từ căn bản sai lầm này, tác giả đi từ sai lầm này đến sai lầm khác trong toàn bài phản ánh trình độ hiểu biết quá nghèo nàn của tác giả về chính những chủ đề mà tác giả muốn viết.  Tôi không muốn nghĩ là giáo sư Trần Văn Toàn không có đủ sự lương thiện trí thức, cũng như một số trí thức Công Giáo khác như Nguyễn Gia Kiểng, Đỗ Mạnh Tri, Phan Phát Huồn, Vũ Đình Hoạt v..v.. , để viết lên những sai lầm một chiều với mục đích đánh bóng Công Giáo, lạc dẫn đầu óc độc giả.   Hay là giáo sư Toàn không hề biết đến những tài liệu, ngày nay đã có khá nhiều, về sự xâm nhập của Công Giáo vào Việt Nam?  Rất có thể, nếu giáo sư là một tín đồ Công Giáo ngoan đạo, hoặc là giáo sư không được phép đọc những tài liệu mà giáo hội không muốn cho con chiên đọc, hoặc là giáo sư sợ đọc những tác phẩm, tài liệu này thì sẽ bị đầy đọa xuống hỏa ngục. 

Tôi có thể chấm dứt bài viết ở đây vì như vậy cũng đủ để cho chúng ta thấy rõ trình độ hiểu biết của giáo sư Trần Văn Toàn về những chủ đề mà giáo sư viết.  Nhưng để cho vấn đề được rõ ràng hơn, tôi đành mất công bỏ chút thì giờ để phê bình tiếp bài viết của giáo sư Toàn.  Sau đây tôi chỉ lướt qua một số điểm điển hình trong bài, kèm theo những lời phê bình ngắn của tôi vì tôi thấy không đáng để tôi phê bình một cách dài dòng với những tài liệu dẫn chứng.   Giáo sư Toàn viết:

“Trở lại vấn đề Việt Nam, đối với những người coi đặc tính dân tộc như là một hệ thống Á-đông hoàn toàn khép kín, thì có hai yếu tố văn hóa từ Tây phương xâm nhập – tôi không nói là du nhập – vào nước ta và làm tổn thương đến đặc tính dân tộc, đó là chế độ Cộng sản và đạo Thiên chúa.  Có điều cả người Cộng sản lẫn người Công giáo đều cho mình là người Việt, duy trì dân tộc tính..”

Chúng ta cần biết, Cộng sản là một ý thức hệ chính trị và xã hội, xuất sinh ở Âu Châu để đối phó với sự bóc lột dân lao động của tư bản rừng rú ở Âu Châu, với chế độ phong kiến, và đối phó với ảnh hưởng thuốc phiện của Ki-tô Giáo ở Âu Châu. Vì là một ý thức hệ chính trị và xã hội nên nó chỉ có thể áp dụng hữu hiệu trong một hoàn cảnh chính trị quốc tế và hoàn cảnh xã hội địa phương. Khi hoàn cảnh chính trị quốc tế thay đổi, xã hội thay đổi thì Cộng sản cũng phải thay đổi theo.  Điều này đã xảy ra khắp nơi trong thế giới Cộng Sản trước đây.   Công Giáo thổi phồng vai trò của John Paul II tiếp tay với Gorbachev để tạo nên sự sụp đổ của chủ nghĩa Cộng Sản.  Không có gì sai sự thực hơn.  Trước năm 1989 cả chục năm, nhiều phân tích gia Âu Mỹ đã tiên đoán sự sụp đổ của Cộng Sản, sụp đổ vì những khó khăn nội tại, vì chính sách kinh tế sai lầm, và vì sự thay đổi của chính trị quốc tế, và Cựu Đại Tá VNCH Trần Văn Kha cũng đã tiên đoán như vậy từ năm 1983.

Trước hết, tôi muốn nói Cộng Sản đã đi vào Việt Nam khác với Công Giáo như thế nào. Tôi muốn đặt một câu hỏi:  Tại sao có một thời rất nhiều trí thức Tây phương lại ngả theo Cộng Sản, và hầu hết Âu Châu cũng theo Cộng Sản.  Và ngày nay, nền Thần Học Giải Phóng trong nội bộ Công Giáo ở Nam Mỹ cũng chịu ảnh hưởng không ít thì nhiều của Marx?   Vì thật ra, lý thuyết Cộng Sản không sai nhưng người Cộng Sản không tìm ra được một phương cách thỏa đáng nào để áp dụng và càng ngày càng đi xa căn bản thuyết lý của Marx, Engels. Người ta thường cho Cộng sản là “vô thần” mà không tự hỏi tại sao con người lại cần phải “có thần”?  Công giáo đã tận dụng sự mê tín của tín đồ vào một vị thần để chống Cộng.  Nhưng rất ít người hiểu quan niệm vô thần của Cộng sản.  Tài liệu sau đây hi vọng có thể làm sáng tỏ phần nào khía cạnh chống tôn giáo của Cộng Sản.

   Nhiều nhà thần học Công Giáo cũng đã nghiên cứu về ý chí, chủ trương chống tôn giáo của Marx, và phần sau đây là tóm tắt sự phân tích chính xác và tuyệt vời của Linh mục John Courtney Murray, một nhà Thần Học Công Giáo nổi danh thuộc hiệp hội Giê-Su (S.J. = Society of Jesus), trong cuốn "Vấn Nạn Thiên Chúa" ("The Problem of God", Yale University Press, New Haven & London,  1964, Trg. 108-113):

   Thứ nhất,  chủ thuyết vô thần của Marx không xuất phát từ thế giới các tư tưởng mà từ thế giới của sự kiện - sự kiện xã hội về sự nghèo khổ của con người.  Đó là một sự bực tức vô thần để chống lại tình trạng lịch sử của con người trong thời đại kỹ nghệ.  Ở đáy sâu của ý chí vô thần mà cỗi nguồn là vấn đề hiện hữu của những sự xấu ác, tiềm ẩn một ý tưởng đạo đức tuyệt đối.  Theo ý tưởng này thì không những sự xấu ác không có quyền hiện hữu mà còn không thể tha thứ được.  Đây là một nguyên lý tuyệt đối mà Thiên Chúa trong Thánh Kinh không thừa nhận tính quyết định của nó trong nhiệm vụ cai trị thế giới của Thiên Chúa.  Thiên Chúa xét xử  sự xấu ác là xấu ác nhưng không coi đó như là không thể tha thứ được.  Điều này trở thành tội án của Thiên Chúa.  Theo Marx, là Thiên Chúa theo đúng nghĩa Thiên Chúa thì không được tha thứ sự xấu ác.  Vì Thiên Chúa trong Thánh Kinh khoan nhượng sự xấu ác, nên đó không phải là Thiên Chúa.   Nhân danh Thiên Chúa Marx đã loại bỏ Thiên Chúa.  Đây là dạng tinh khiết nhất và nồng nhiệt nhất của chủ thuyết Vô Thần khi con người bác bỏ Thiên Chúa nhân danh chính đặc tính đạo đức của một Thiên Chúa.

   Thứ nhì, từ sự bực tức của Maxr trước sự nghèo khổ của con người đã nảy ra lòng mong muốn được tự do.  Theo Marx, cái tự do chân thực của con người là khả năng thay đổi thiên nhiên, biến đổi con người và xã hội, xây dựng một thế giới mới, khai trương một lịch sử mới.  Cái khả năng này đến với con người khi con người nhận ra được những điều cần thiết trong duy vật biện chứng sử quan.   Nhận ra rồi, con ngưòi sẽ trở thành chủ nhân của lịch sử, đó là cái tự do cụ thể của con người.  Đây cũng chính là cái tự do của một Thiên Chúa Sáng Tạo, quyền năng thực sự trên quá trình lịch sử.  Từ cái tự do này, con người  Cách Mạng sẽ làm cho lịch sử có ý nghĩa, nghĩa là tạo đường hướng mới để đạt tới một thế giới không có sự nghèo khổ.

   Thứ ba, theo Marx thì Thiên Chúa (God) là kẻ thù tột đỉnh của tự do.  Sự hiểu biết về Thiên Chúa theo nghĩa trong Thánh Kinh là căn nguyên chính yếu để làm cho con người tự xa lìa chính mình.  Con người tin vào một Thiên Chúa toàn trí, toàn năng là rơi vào trong vòng giam hãm của một ảo tưởng.  Theo Marx, Thiên Chúa là một ảo tưởng, là sáng tạo của con người, là sự khao khát của những người bị áp bức.  Vì sự thoải mái của chính mình, con người bày đặt ra một thiên đường với ảo tưởng là có một quyền năng làm chủ lịch sử,  có khả năng cứu vớt con người ra khỏi cảnh nghèo khổ, và dẫn lịch sử đến một thiên đường ở ngoài lịch sử.  Nhưng đây chỉ là dự phóng của chính con người.  Cho nên, cái dự phóng  ảo tưởng này, và niềm tin vào ảo tưởng này thật là tai hại.  Đó chính là sự xa lìa của con người với chính mình.  Vì tin vào một Thiên Chúa, con người trở thành xa lạ với bản ngã chân thực của chính mình,  bị tê liệt trong những khả năng cần thiết  của chính mình.   Và con người bị biến thành bất lực trong nhiệm vụ lịch sử, nghĩa là biến đổi bản chất và xếp đặt lại những gánh nặng đang đè mình xuống hàng nô lệ trong những hoàn cảnh nghèo khổ đặc thù của xã hội tư bản cũng như trong xã hội phong kiến trước đây.

   Cho nên, cái gốc niềm tin về Thiên Chúa cần phải đánh bật ra khỏi con người cách mạng.  Hơn nữa, sự dẹp bỏ vai trò của Thiên Chúa phải được thực hiện một cách toàn diện, trong đời sống riêng tư cũng như trong đời sống công cộng.  Marx và những người kế thừa ông không bị lừa dối bởi cái luận cứ trống rỗng: tôn giáo là vấn đề thuần túy riêng tư.  Họ rất sáng suốt nhận ra rằng tôn giáo, ngay cả trong dạng tín ngưỡng riêng tư, cũng là vấn đề công cộng nhất trong những vấn đề công cộng.  Cho nên, trong xã hội lý tưởng của Marx, không ai được phép nói rằng, ngay cả nghĩ   trong thâm tâm, "Thiên Chúa hiện hữu , đang sống động trong hiện tại."  Đối với đảng xã hội cách mạng vô sản, tôn giáo không phải là một vấn đề riêng tư mà là vấn đề thuộc về ý hệ, do đó là một vấn đề của đảng, và do đó là một vấn đề công cộng.  Vì vậy, chống tôn giáo là trung tâm điểm của cuộc chiến ý hệ giữa tôn giáo và cộng sản.

   Thứ tư, huyền thoại về "Thiên Chúa đã chết" (God is dead) là điểm chính yếu trong lý tưởng cách mạng.  Nhưng thực ra đây lại không phải là một huyền thoại.  Nói cho đúng, dưới cái dạng văn chương của huyền thoại này, tiềm ẩn một sự kiện khoa học.  Sự kiện này là con người cách mạng đã hiểu được một cách khoa học về lịch sử.   Con người đã khám phá ra ý nghĩa của lịch sử, nghĩa là chính lịch sử đã tạo ra bản chất con người chứ không phải là Thiên Chúa.  Sự khám phá này đưa tới sự kiện "Thiên Chúa đã chết".  Khi con người biết được chính mình qua lịch sử, hiểu được rằng mình chính là tạo phẩm của lịch sử chứ không phải là của Thiên Chúa thì Thiên Chúa  đã chết, ra khỏi lịch sử, để lại con người làm chủ lịch sử.

   Thứ năm, con người cách mạng không làm gì hơn là tìm cách giải quyết sự xấu ác.   Họ hiểu rằng không có một giải pháp nào có thể chấp nhận trừ phi nó có tính cách thực tế, thực sự giải thoát con người khỏi sự xấu ác.  Trong Thánh Kinh, Thiên Chúa dung dưỡng sự xấu ác và dùng nó để bào chữa cho công lý của Thiên Chúa.  Con người cách mạng cũng vậy, cho phép dùng những phương tiện xấu ác để đạt những mục đích tốt.  Chỉ khác là, những  mục đích  này có thể thực hiện được ngay trên trái đất.   Và như vậy, con người cách mạng đã làm nhiệm vụ "Thế Thiên hành đạo."

   Qua mấy điểm phân tích của Linh Mục Murray về luận cứ chống tôn giáo của Marx, chúng ta thấy rằng cái tôn giáo mà Marx muốn chống là cái tôn giáo độc Thần trong các xã hội tư bản, phong kiến, cái tôn giáo đã liên kết với thế quyền và tư bản để bóc lột dân vô sản qua sách lược lừa dối, dụ dỗ, ru ngủ, hứa hẹn những điều không tưởng, cái tôn giáo trong đó giới giáo sĩ được hưởng những đặc quyền vật chất, ngự trị trên sự qụy lụy của đa số giáo dân sống trong nghèo khổ, chứ không phải là các tôn giáo Đông phương như Phật Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo mà Marx không hiểu gì và không hề có kinh nghiệm gì về những tôn giáo này.  Thật vậy, Marx chủ trương đánh bật "Thiên Chúa trong Thánh Kinh" ra khỏi đầu óc con người.  Vị Thiên Chúa này không hề có trong đầu óc Phật tử.  Cho nên, phải nói rằng, chính sách khắc nghiệt của CS đối với Phật Giáo ở Việt Nam trước đây là một chính sách sai lầm, không những nó đi ra ngoài chủ thuyết của Marx mà còn làm giảm tiềm năng của một lực lượng dân tộc đã từng đóng góp những phần quan trọng trong những công cuộc xây dựng và bảo vệ nước trong nhiều giai đoạn lịch sử,  cũng như đã góp phần phát huy và gìn giữ nền văn hóa dân tộc như sử sách đã ghi chép.

Sự thất bại của lý thuyết Cộng Sản về vấn đề tôn giáo là Marx chỉ nhìn thấy mặt xấu của tôn giáo mà không nhìn thấy cái mặt tốt của tôn giáo, dù là tôn giáo Tây phương.  Marx không nhìn thấy cái nguồn cảm hứng tôn giáo để "trở thành tốt" của những tín đồ Ki Tô giáo, và không biết phân biệt giữa Giáo hội và quần chúng tín đồ, tập thể đám dân thấp kém đáng thương hơn là đáng trách.   Cho nên, Cộng Sản đã trở thành kẻ thù truyền kiếp của Công Giáo, một mối thù không đội trời chung mà giới lãnh đạo Công Giáo cấy vào đầu óc đám tín đồ thấp kém.   Tới những thập niên 1950-60, các lý thuyết gia CS mới bắt đầu nhìn thấy điều trên và tham gia phong trào đối thoại giữa CS và Ki Tô Giáo, và các nhà Thần học KiTô cũng đã phải nhìn lại chính tôn giáo của mình qua tư tưởng Marx, tuy kết quả không được bao nhiêu vì cả CS lẫn Ki Tô Giáo đều vẫn chấp chặt vào một số định kiến, nhất là về phía Công Giáo.

Thay vì giáo dục quần chúng, mở mang sự hiểu biết của quần chúng về Ki Tô Giáo, CS đã dùng những biện pháp vật chất khắc nghiệt để đối phó với tôn giáo và đã thất bại vì không thể nào cất bỏ niềm tin của một tín đồ tôn giáo khi mà họ chỉ biết tin một cách mù quáng, không cần biết không cần hiểu.   Vấn đề này đã trở thành rõ ràng trong thế giới Tây phương, nhất là ở Âu Châu, nơi đây vốn là cái nôi của Ki Tô Giáo.  Ngày nay, người dân đã hiểu biết rõ hơn về chính tôn giáo của họ là Ki tô Giáo nên Ki Tô Giáo đang trên đà suy sụp ở phương trời Âu Mỹ.  Với những người ngày nay còn tin vào những chuyện nhảm nhí như Thiên Chúa sáng tạo ra vũ trụ và con người, Giê-su sinh ra từ một nữ đồng trinh, chịu đóng đinh theo ý của Thiên Chúa Cha để chuộc cái tội không hề có của loài người, chết rồi lại sống lại và bay lên trời hiện đang ngồi bên tay phải của Chúa Cha, đến ngày tận thế sẽ phán xét tất cả mọi người, vừa sống vừa chết, nay tổng số đã lên tới mấy chục tỷ, Giáo hoàng là đại diện của Chúa Giê-su trên trần, Linh mục có quyền thay Chúa tha tội cho con chiên v..v.. thì chúng ta biết ngay họ thuộc lớp người nào trong các xã hội.  Cũng vì sự suy thoái bất khả phục hồi của Ki-tô Giáo ở phương trời Âu Mỹ mà Giáo hoàng John Paul II đã phải đẩy mạnh kế hoạch “cải đạo Á Châu” mà thực chất là xâm lăng văn hóa Á Châu bằng cái gọi là “nền thần học theo cung cách Á Châu”, nghĩa là lấy một số tư tưởng trong Tam Giáo của Á Châu, biến đổi chúng thành tư tưởng của Ki Tô Giáo để lùa người dân thấp kém vào những sự huyễn hoặc của Ki-tô Giáo..

Tại sao Á Đông loại bỏ Ki-tô giáo nhưng lại chấp nhận Cộng Sản trong thời gian qua?  Trong cuốn Catholic Imperialism and World Freedom, Avro Manhattan đã đưa ra một nhận định xác đáng:

  “Tuy nhiên, cho rằng Á Châu đã loại bỏ Ki Tô Giáo chỉ vì nó là một phó sản của Tây phương là sai lầm.  Khoa học và Kỹ nghệ cũng là những phó sản của Tây phương, nhưng chúng được đón nhận. Chủ nghĩa Marx là một phó sản của tư tưởng Tây phương, tuy nhiên chỉ trong vài thập niên đã đủ để nó gây mầm mống khắp lục địa trong đó gần hai ngàn năm nỗ lực của Ki Tô Giáo chỉ đưa tới một kết quả thê thảm.

   Chủ nghĩa Cộng Sản,  như    nguồn  cảm  hứng cách mạng của thế giới, có ích hay có hại là tùy theo quan niệm mỗi người.   Nhưng  sự  lan tràn kỳ lạ của nó là một sự kiện.  Nó đã góp phần cho một sự thức tỉnh nhanh chóng hơn của Á Châu, cho sự nổi giậy mau hơn  của tinh thần quốc gia của Á Châu, và cho sự chống lại Ki Tô Giáo  của Á Châu quyết liệt hơn.”

   (To think, however, that Asia has rejected Christianity simply because it is a by-product of the West would be erroneous.  Science and industrialism are Western by-products; yet they are welcome.  Marxism is a by-product of Western thought, yet a few decades have sufficed to plant its seeds throughout the continent in which almost two thousand years of Christian efforts were spent with the most dismal result...

   Whether Communism, as the inspirer of a world revolution, is beneficial or harmful is anyone's opinion.   Its phenomenal spreading, however, is a fact.   It has contributed to a swifter awakening of Asia, to a quicker emergence  of   Asian   nationalism,   to   a  fiercer  Asian  opposition to Christianity.) 

Tình hình chính trị và xã hội Việt Nam cũng không ra ngoài lệ.  Một đặc tính nổi bật nhất của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước.  Lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam đã chứng tỏ như vậy.  Muốn gì thì gì, không ai có thể phủ nhận sự kiện là Cộng Sản Việt Nam đã động viên được quần chúng để đi đến thành công trong sự nghiệp chống ngoại xâm, đánh bại Pháp và Mỹ, giành độc lập cho nước nhà và thống nhất được đất nước, đáp ứng được sự khao khát của toàn dân.  Và ngày nay, phong kiến không còn, cảnh nô lệ thực dân chấm dứt, Cộng Sản Việt Nam đã thay đổi vì ý thức hệ Cộng sản khi xưa và phương pháp cai trị của chính quyền khi xưa không còn áp dụng được trong tình hình mới.  Những người nào, vì lý do này hay lý do khác, cho rằng Cộng Sản Việt Nam không thay đổi, giữ nguyên đặc tính Stalinít-Leninnít, tôi bảo là họ mù.  Sự hồi phục những lễ hội lịch sử, những truyền thống dân tộc v..v.. không phải là duy trì dân tộc tính hay sao?

   Thế còn người Công Giáo?  Họ duy trì dân tộc tính như thế nào?  Họ cũng là người Việt nhưng có được dạy thế nào là dân tộc tính đâu mà duy trì dân tộc tính.  Họ còn hoàn toàn lệ thuộc Vatican từng nước bước nước đi , một tinh thần đối ngược hẳn với dân tộc tính Việt Nam.

Chúng ta hãy đọc một đoạn khác của giáo sư Trần Văn Toàn:

Có lẽ vì sợ rằng thiên hạ loại mình ra ngoài dân tộc Việt Nam, nên một số người Công giáo từ ít lâu nay đã nêu cao chiêu bài “Công giáo và Dân tộc”.  Khi mình là thiểu số mà sợ người ta kỳ thị như thế cũng không phải là không có lý do, trong khi nghe rêu rao một cách chung chung, vơ đũa cả nắm, rằng đi đạo là theo Tây, rằng Phật Giáo là dân tộc cho nên bao giờ cũng trung thành với dân tộc, v..v..  Sau năm 1975, các di tích về Alexandre de Rhodes đã bị hạ bệ, nhưng gần đây, người ta xét lại và lại nhắc đến những người Tây có công đối với văn hóa Việt Nam, như giáo sĩ de Rhodes, bác sĩ Yersin và Pasteur.

Trong đoạn trên, giáo sư Toàn dùng từ “rêu rao” không được chỉnh.  Vì “đi đạo là theo Tây” và “Phật Giáo là dân tộc, bao giờ cũng trung thành với dân” đã là những sự kiện lịch sử bất khả phủ bác, nên chẳng có ai cần phải rêu rao, mà chỉ đưa ra như là những sự kiện lịch sử để giáo dục quần chúng.  Ở đây, chúng ta cần phải hiểu rằng, “đi đạo là theo Tây” là cách nói chung chung trong dân gian dựa theo những sự kiện lịch sử, chứ không có nghĩa là ai đi đạo cũng là theo Tây. Giáo dân được dạy phải tuyệt đối tuân phục các bề trên “Cha cũng như Chúa” cho nên nếu các “Cha cũng như Chúa” theo Tây và bảo giáo dân làm gì thì giáo dân cứ nhắm mắt làm theo, nhiều khi họ không ý thức được việc làm của mình là theo Tây.  “Công giáo và Dân Tộc” đúng chỉ là một chiêu bài, một chiêu bài khó ăn khách.  Bởi vì bản chất của Công Giáo là phi dân tộc, điều này đúng khắp mọi nơi trên thế giới chứ không riêng gì ở Việt Nam, đặc biệt là tình trạng phi dân tộc lại nặng nhất ở Việt Nam so với Công giáo ở các nước Âu Mỹ.   Chừng nào mà Công Giáo Việt Nam, từ trên xuống dưới, còn lệ thuộc Vatican, và nhất nhất còn theo lệnh của Vatican, bất kể vì lý do gì, tôn giáo hay tín ngưỡng, thì câu “Công giáo và dân tộc” chỉ là một chiêu bài vô nghĩa.  Trước đây, Linh mục Hoàng Quỳnh đã huy động giáo dân Hố Nai vác gậy gộc lên làm loạn ở Saigon, hô to khẩu hiệu “Thà mất nước chứ chẳng thà mất Chúa”, và trước nữa thì Linh mục Trần Lục dẫn 5000 (năm ngàn) giáo dân đi hỗ trợ quân Pháp, hạ chiến khu kháng chiến Ba Đình của Đinh Công Tráng, Tam đại Việt Gian Ngô Đình Diệm đã theo tên Việt Gian Công giáo Nguyễn Thân đi truy lùng tiêu diệt Phan Đình Phùng như chính giám mục Ngô Đình Thục đã thú nhận v..v... Chính giám mục Puginier đã viết, Alain Forrest và Yoshiharu Tsuboi trích dẫn trong cuốn Catholicisme et Sociétes Asiatiques, trang 156-57:

"Giám Mục Puginier viết rằng: "Không có các thừa sai và giáo dân Công Giáo thì người Pháp cũng giống như những con cua đã bị bẻ gẫy hết càng.   Thí dụ như vậy, tuy tầm thường mộc mạc nhưng không kém phần chính xác và mạnh mẽ.  Thật vậy, không có các thừa sai và giáo dân Công Giáo, người Pháp sẽ bị bao vây bởi toàn là kẻ thù; họ sẽ không thể tin cậy vào một ai; họ sẽ chỉ nhận được những tin tức tình báo sai lầm, cung cấp với ác ý để phá hoại tình thế của họ; họ sẽ bị đẩy vào  tình trạng không  thể hoạt động  được gì và sẽ phải hứng chịu những thảm họa thực sự một cách nhanh chóng.  Địa vị của họ ở đây sẽ không giữ nổi được nữa, và họ sẽ bị buộc phải rời khỏi xứ, nơi đây quyền lợi và ngay cả sự hiện diện của họ sẽ bị nguy hại."

   (Sans les missionnaires et les chrétiens, écrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé toutes les pattes.  La comparaison, pour être triviale, ne manque pas de justesse et de force.  En effet, sans les missionnnaires et les chrétiens, les Francais se verraient entourés d'ennemis; ils ne pouraient se fier à personne; ils ne recevraient que de faux renseignements, méchamment donnés pour compromettre leur situation; ils se trouveraient donc réduits à l'impossibilité d'agir et seraient rapidement exposés à des vrais désastres.  Leur position ici ne serait plus tenable, et ils ne verraient forcés de quitter un pays où leurs intérêts et leur existence même serait compromis.)

Vậy câu “đi đạo là theo Tây” đâu có sai và “Công giáo và dân tộc” thì dân tộc ở đây là dân tộc nào?

Có thể có người nói, đó là chuyện lịch sử xa xưa, bây giờ khác rồi, và Công giáo đã biết đường quay về với dân tộc sau hơn 400 năm phản bội dân tộc.  Có thật như vậy không?  Nói thì hay lắm nhưng đã có gì chứng tỏ là Công giáo nói sao làm vậy.

Hãy đọc những gì lớp người trí thức Công Giáo viết gần đây. Đến ngày nay mà những bậc trí thức cùng cỡ như giáo sư Toàn cũng còn không chấp nhận lịch sử, vẫn tiếp tục xuyên tạc lịch sử, mạ lỵ các anh hùng dân tộc như Nguyễn Huệ, đòi Tổ Quốc phải ăn năn, và tiếp tục ca tụng tôn vinh tên giáo sĩ thực dân gián điệp Alexandre de Rhodes, những tên Việt gian như Pétrus Ký, Nguyễn Trường Tộ, Linh Mục Trần Lục v..v.. và hồ hởi ca tụng mấy tên Việt gian được Vatican phong thánh.  Ngoài ra, mục đích truyền đạo xảo quyệt của Công Giáo đã đánh đồng một cách ngu xuẩn Giê-su, một người Do Thái bị đóng đinh trên thập giá cùng với hai tên ăn trộm ở Trung Đông mới cách đây 2000 năm, với quan niệm rất trừu tượng về “ông Trời” của người Việt Nam đã có từ muôn thuở.  Ngày nay, các học giả nghiên cứu Kinh Thánh đã đồng thuận ở điểm là Giê-su chẳng qua chỉ là một người thường và họ đã dạy điều này cho các giới linh mục, mục sư, nhưng sự kiện này vẫn được dấu kín trước đám tín đồ thấp kém, với mục đích giữ họ trong bóng tối của Ki Tô Giáo [xin đọc Gospel Truth của Russell Shorto].

Có thể nói, giáo sư Toàn cũng thuộc loại trí thức phi dân tộc trên khi ông đặt Alexandre de Rhodes, một tên thừa sai Công giáo vô đạo đức tôn giáo, cùng vai vế với các bác sĩ Yersin và Pasteur, những người đã có công đối với cả nhân loại chứ chẳng riêng gì Việt Nam..   Riêng về vấn đề mà giáo sư Toàn cho rằng “người ta xét lại và lại nhắc đến những người Tây có công đối với văn hóa Việt Nam, như giáo sĩ de Rhodes, bác sĩ Yersin và Pasteur” cũng chứng tỏ là giáo sư Toàn đã cố tình nhập nhằng de Rhodes với Yersin và Pasteur và không biết rõ nội vụ tại sao cái tên Alexandre de Rhodes lại được nằm chình ình trên một con đường, cùng với những danh nhân lịch sử và những nhà ái quốc Việt Nam.  Chẳng có ủy ban nào xét lại cả, Alexandre de Rhodes được lấy lại đặt tên cho một con đường là qua sự nhận định sai lầm của một cá nhân về một vấn đề lịch sử, có lẽ vì cá nhân đó không biết đến những nghiên cứu mới về nhân vật Alexandre de Rhodes và về sự đóng góp thực sự củ