705-gdlogo.gif (49914 bytes)

posted: 08.8.2005

source: http://www.phusa.net/thoiSu/banTinthoiSu/NhatHanh/5-08-2005_MotLanGheLangMai...htm

Một lần ghé Làng Mai, nói về thiền sư Nhất Hạnh.

Cảm nghĩ của Tâm MinhTịnh Ý | 5.08.2005 

Phần I

Như bao nhiêu đạo hữu khác, chúng tôi đã nghe không ít đồng bào Việt Nam lẫn người ngoại quốc, nói đến Làng Mai từ nhiều năm qua. Chúng tôi nghe họ nói Làng Mai như một trung tâm Phật giáo, do thầy Nhất Hạnh sáng lập và hướng dẫn. Và vì sinh hoạt hằng ngày ở Làng Mai là tu thiền, nên thầy Nhất Hạnh còn được gọi là thiền sư.

Chúng tôi ghé thăm Làng Mai lần thứ hai, vào hạ tuần tháng 7 năm nay (2005). Lần thứ nhất cách đây khoảng 15 năm, chúng tôi đã chỉ ở lại một đêm, lúc làng còn ở trong giai đoạn vừa thành hình. Trong câu chuyện thân mật, thỉnh thoảng xảy ra qua đời sống hằng ngày, giữa những bạn hữu người Việt, mỗi khi nhắc đến vị tu sĩ đứng đầu Làng Mai, chúng tôi vẫn gọi thầy là Thượng Tọa Nhất Hạnh, như tiếng gọi quen thuộc, tôn kính ngày xưa (trước năm 1965). Nhưng khi nói chuyện với người ngoại quốc thì hai tiếng Maitre Zen (Thiền sư) thường được gọi hơn, gọi một cách tự nhiên. Và cách gọi nầy cũng chỉ để làm cho mình dễ nhớ «sinh hoạt hằng ngày của thầy Nhất Hạnh là tu thiền, chỉ có thế thôi». Chứ hai chữ «thiền sư» thực ra vốn chẳng phải là một tước vị gì đáng đặt vấn đề dài dòng cả !

Tuy nhiên, có một đạo hữu trên internet, lại nêu ra một số từ, mà ông gọi là «những danh xưng đầy vẻ đạo cao như Thiền Sư, Sư Ông, Đại Đức, Thượng Tọa, Hòa Thượng…», để nhân dịp đạo hữu ấy nêu ra một số kiến thức «uyên bác» về «thiền» lẫn địa phương tính của mình, rồi theo đó «nhắc nhở» mọi người rằng «cần khiêm cung chỉ biết đến các bậc tu hành đạo cao đức trọng qua danh tiếng ngôi chùa, để xưng gọi cho «điềm đạm» và «từ ái»…. Nghĩa là không nên biết đến các bậc tu hành đạo cao đức trọng qua nhân vật thực tại, vốn vẫn còn trong định luật vô thường. (?)

Đồng thời chúng tôi lại cảm thấy ngạc nhiên, khi đọc qua một đoạn khác, cũng do đạo hữu ấy viết, xin mạn phép chép lại như sau :

 «Trong thế giới Thiền, phải chăng ngôn ngữ chỉ là qui ước nghèo nàn, thô lậu, có khi ồn ào mà vô nghĩa, bất lực trong sự chuyển tải những suối nguồn tư tưởng thâm diệu của con người ?!», hay

«Bao nhiêu sách vở hơn nghìn năm sau vẫn chưa nói hết được phần tinh túy nhất của sự im-lặng-muôn-trùng-tiếng-nói…».

Ngạc nhiên vì nội dung giữa im lặng và phát biểu tự mâu thuẫn. Bỡi ý nghĩ nào đã được viết ra thành chữ, hay nói ra thành lời mà không nằm trong ngôn ngữ qui ước, vô nghĩa, bất lực?

Như vậy, sư chú, sư bác, sư ông, Ôn Làng Mai, Ôn Làng Hồng, hay gì gì đi nữa, do anh đề nghị, do tôi đề nghị, hay do mọi người, chúng ta đề nghị, cũng đều chỉ là những ngôn ngữ qui ước, nghèo nàn, thô lậu, có khi ồn ào mà vô nghĩa.... (Dựa theo lời đạo hữu ấy).

Cao hơn nữa, «Bụt» hay «Phật» vẫn chỉ là những danh từ ước định, dùng để tôn xưng Đấng Toàn Giác, đã tìm ra con đường giải khổ cho chúng ta. Giả tỷ ngày xưa, ngay từ đầu, tiền nhân ta đã mệnh danh Đấng Toàn Giác là «Trời Xanh» (=Bụt), hay mệnh danh Ngài là «Mây Trắng» (=Phật), thì ngày nay, thay vì «Bụt» chúng ta gọi Ngài là «Trời Xanh», và thay vì «Phật», chúng ta gọi Ngài là «Mây Trắng». Tức là «trời xanh» hay «mây trắng» vốn không tự có, cố định, chỉ do con người qui ước, để hiểu biết hay cảm thông mà thôi.

Từ đó, danh xưng nào gần với âm thanh của nguồn kinh điển nguyên thủy, do Đấng Toàn Giác (Buddha hay Bụt) lưu lại hơn, thì chúng ta nên dùng. Chúng ta dùng để hiểu và cảm thông, chứ chúng ta không dùng để chấp kiến, ôm chặt từ ngữ. Và chúng ta càng không dùng để «đối lập» với những người có thể gọi đấng Toàn Giác khác chúng ta. Nghĩa là chúng ta dùng danh từ «Bụt» một cách trân trọng, như dùng danh từ «Phật».

Khi đã vào thế gìới thiền, như thị, vô chấp, tại sao chúng ta lại đặt vấn đề «Thống Nhất của Tính Thuần Việt và (thuần) Hán Việt Trong Ngôn Ngữ Phật Giáo Việt Nam» ?

Nhiều trí thức VN xưa nay đã từng nói : Chữ Nôm là văn tự đặc thù nhất của nước ta, có thể xem nó là thuần Việt, nhưng khi truy nguyên, thì nó cũng đến từ những nét của Hán Tự ghép lại.

Như vậy, đi tìm tính thuần nhất ngôn ngữ trong thiền học nhà Phật là một điều rất khó, có thể nói là bất khả đạt, hay nếu đạt được thì rơi vào trong chừng mực mâu thuẫn. Chưa kể, ấn tượng xem chữ Hán là «thánh tự», lưu lại do một ngàn năm VN bị phương Bắc đô hộ vẫn còn, mặc dù ấn tượng ấy rất vi tế, khó cảm nhận. Và có thể đó là nguyên nhân làm cho không ít Phật tử VN do dự, khi phải quay lại dùng một từ ngữ Phật giáo cổ xưa (Bụt), thay thế một từ ngữ đã thông dụng (Phật) qua ảnh hưởng Bắc thuộc. (?)

Nhưng tinh thần độc lập của dân tộc VN ngày nay đã dần dần nở hoa. Từ ngữ tôn giáo đóng một vai trò rất quan trọng trong tâm linh của người dân Việt. Sự dằn co giữa hai khuynh hướng ngôn ngữ, quen dùng và ít quen dùng, là một điều khó có thể tránh. Nếu chúng ta phá vỡ được kiến chấp, cùng nhau quay lại trong thế giới thanh tịnh (hay im lặng), «giữ ý quên lời» của THIỀN, thì tinh thần độc lập cũng chính là tinh thần tự do với nghĩa rộng nhất, phóng khoáng nhất, không thuộc về một khung tập quán nào cả, sẽ đưa chúng ta đến gần âm thanh tiếng nói của «Phật».

Té ra dùng ngôn ngữ như phương tiện, tạm thời trao đổi với nhau những ý nghĩ thực thà trong nhà Phật, cũng không phải là chuyện dễ !

Chung cục, đạo cao đức trọng vốn không làm sao có thể đo lường được bằng kiến thức tương đối thế gian, chuyên câu chấp, dựa theo sách vở, hay tự suy luận theo tin tức, khéo léo đề cao mình, thiên về bắt bẻ, phê bình người, vốn dễ sai hơn là đúng ? Và nếu im lặng là chân lý thanh tịnh, thì càng phê phán, dù với tiểu xảo «khách quan» đến đâu, lắm khi càng dẫn đến phiến diện, lệch lạc, đóng khung, chủ quan, nhiều hơn đối là tượng bị phê phán !?

Nếu con người không sống với nguồn tư tưởng thâm diệu, thanh tịnh, bình đẳng, phá chấp bên trong, cứ để cho sở tri chướng của «tư duy trí thức» phân biệt cao thấp, lo mình thua người, sợ ít được xung quanh chú ý, thì dù thuộc lòng sách vở, Tam Tạng kinh điển cũng chẳng ích gì !

Vã lại, danh từ «thiền sư» chỉ đơn giản có nghĩa là người hiểu biết đầy đủ về một môn thiền nào đó, có thể tự mình thực hành thuần thục và hướng dẫn (hay dạy) lại người khác, tương tự như võ sư, luật sư, dược sư, giáo sư, kiến trúc sư…v.v…xuyên qua sự ngay thẳng thực hành nghề nghiệp mà họ được xã hội gọi cho những tên qui ước như thế. -Có gì đâu mà phải lôi sách vở, phong hóa địa phương ra dẫn chứng đặt vấn đề ?

Phải chăng nhiều khi người đặt vấn đề, tự họ mang tâm ý bất bình, lo ngại (mà lo ngại cái gì ?), lo ngại trước các loại «sư» vừa kể, có thể là «giả mạo» ư ?  Trong trường hợp nầy thì xin thưa, đã có công chúng là cái «máy lọc». Và khi công chúng đông đảo, gồm đủ mọi thành phần, trí thức có, bình dân có, khoa học có, triết gia có… hoà hài tiếp nhận, tôn kính một vị sư (=một vị thầy), thì chúng tôi thiết nghĩ, vị sư ấy tất phải có giá trị, đủ phẩm cách xứng đáng.

Nhận xét của một cá nhân ở xa, dựa trên đống «tài liệu», lấy trên báo chí hay từ internet, dù người ấy có thông thái đến đâu, làm sao bằng nhận xét của một số lớn công chúng, gồm nhiều thành phần, từng tiếp xúc, thảo luận, thực hành ?!

Hơn nữa, tuy cái hiểu biết về một nhân vật, do duyên hợp mà thành, theo phân tích danh sắc trong Phật giáo, có phức tạp, thâm sâu, bất định, khó dựa vào trình độ uyên bác mà nhận xét đến đâu, thì cái danh sắc giản dị, thực tế, vô chấp trong nhà thiền, lại chỉ với một tâm thức như thị, bình đẳng, hòa hài, «ở đây và hiện giờ», người ta cũng có thể tạm nắm bắt được lằn mức của ý nghĩa. Nhất là các ý nghĩa qui ước, hiểu biết làm phương tiện, như thiền sư, thiền sinh, thiền giả, tu sĩ, văn sĩ, thi sĩ…v.v…

Nhờ may mắn được thầy tổ thường nhắc nhở như vậy, nên chúng tôi chẳng những đã không bận tâm việc mình gọi thầy Nhất Hạnh là thiền sư, mà chúng tôi còn cảm thấy thân thiện, dễ hiểu, dễ nhớ, khi nghe những người xung quanh gọi thầy là thiền sư nữa.

Thử đi ra ngoài vấn đề nghĩa lý của hai chữ «thiền sư» một chút. Thầy Nhất Hạnh, trước đây mấy mươi năm, đã viết một cuốn sách để đời, là «Hoa Sen Trong Biển Lửa». Ý nghĩa của tên cuốn sách ấy và thực tại xã hội lúc bấy giờ, đã cho người ta hiểu một cách giản dị, dễ dàng rằng : «Hoa sen vô nhiễm (gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn), dù nằm trong một biển lửa ngược đãi, kỳ thị, vẫn ung dung, tự tại, làm tròn chức năng của nó».

Nhưng nếu có người theo dõi chuyến thăm quê hành đạo, của thiền sư Nhất Hạnh, thấy thầy đối đầu với một số thái độ ân cần lẫn lạnh nhạt (nghi ngờ), và thầy chấp nhận búa rìu dư luận, khen ít chê nhiều (nếu không muốn nói là đả kích dữ dội, mạt sát thậm tệ), từ các giới truyền thông người Việt chống cộng ở hải ngoại, cũng như từ các cơ quan tuyên truyên, giỏi gieo rắt nghi ngờ của CSVN trong nước, hồi đầu năm nay, rồi người ấy «triết lý hóa», hay «tỷ giảo hóa» chuyến đi ấy, thành «Biển lửa giữa hoa sen», tức là «đảo nghĩa» hay «đảo đề» của tựa sách «Hoa Sen Trong Biển Lửa», do thầy Nhất Hạnh đã viết, thì chúng tôi thật tình cảm thấy khá khó hiểu.

Khá khó hiểu, vì xét theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, trong hoa sen làm gì có lửa (?), nhất là lửa sân hận, si mê, nghi kỵ, chia rẽ, phe phái… có nhiều đến độ có thể ví như biển ? Còn việc ví toàn bộ xã hội VN ngày nay như hoa sen, để ngụ ý rằng trong đó vô số tệ đoan, hận thù, phiền não, tích tụ nung cháy lên, nhiều như biển lửa, khi thiền sư Nhất Hạnh dấn thân đi vào, thì hình ảnh ấy thiếu chính xác, vì không tương ứng với tính tự nhiên của hoa sen. Và so sánh như thế là tội nghiệp cho hoa sen.

Theo chỗ chúng tôi nghĩ, đừng nói là xã hội VN ngày nay văn hóa xáo trộn, mà ngay cả giáo hội Phật giáo VN trong gian đoạn bình thường, chẳng bị chia rẽ, cũng không thể ví như hoa sen được, vì hoa sen lúc nào cũng trọn vẹn tinh khiết, còn nhân sự trong giáo hội, dù gặp thời hưng thịnh đi nữa, tính thanh khiêt cũng khó đồng nhất viên dung, tức không nhiều thì ít vẫn bị lôi kéo, ô nhiễm, tuy tỷ lệ rất thấp. Xưa nay có giáo hội nào hoàn toàn 100% đâu ? Pháp tương đối mà !

Như vậy, ví nội dung chuyến thăm quê hành đạo của thầy Nhất Hạnh, như «đi trong biển lửa giữa hoa sen» là một điều khó tưởng tượng được. Tu từ học là nghệ thuật làm đẹp cho văn chương, nhưng cần áp dụng đúng chỗ.

Liên quan đến hai chữ «thiền sư» và một vài điều khác cần đả thông như trên, chúng tôi xin trần tình chừng ấy cũng đủ rồi. Ngoài ra, thành thật mà nói, các phần còn lại trong bài viết của đạo hữu ấy rất có giá trị, chứng tỏ một sưu tầm công phu, đáng kính trọng, đáng quí mến. Nếu trong hàng ngũ cư sĩ Phật tử, mà có nhiều những ngòi bút như vậy, thì quả là một hiện tượng đáng mừng cho tương lai Phật giáo VN.

Vã lại, trong hoàn cảnh «tất cả hướng về vật chất», văn hóa xáo trộn (nếu không muốn nói là đảo lộn), bao trùm dân tộc và đạo pháp VN hiện nay, có Phật tử nào mà chưa bắt đầu thức tỉnh, để không yên lặng cố gắng, vượt ra khỏi cái khung giáo hội nầy có lý hơn giáo hội kia, hay đứng về phe giáo hội nầy chống lại giáo hội khác, hầu tái lập tình tự dân tộc, cùng quay về với ánh sáng từ bi của chư Phật, và nối kết sự cảm thông văn hóa đã từng có, xây dựng lại một giáo hội thuần Việt Phật, cho quê hương ngày mai ? Thế nên, cái giá trị trung đạo, và sự báo động «sư tử trùng thực sư tử nhục» (hay đạo Phật khi bị chính tu sĩ hay cư sĩ Phật giáo làm suy đồi, thì không còn ai có thể phục hồi được), của đạo hữu ấy, quả là một phát biểu sáng suốt.

Riêng việc đạo hữu ấy nhận xét Thiền Làng Mai rất thực dụng và thích hợp với thế kỷ 21, nhất là đối với những người Tây Phương, chúng tôi cũng thiết nghĩ không cần nói thêm, vì chính đông đão những thiện hữu Âu, Á, Mỹ, Úc, Phi đang tích cực hành thiền tại Làng Mai, hay tại các nơi họ sinh sống, quê hương của họ, tự nó đã nói lên điều xác chứng đó.

Sở dĩ chúng tôi không nêu tên đạo hữu ấy ra, vì chúng tôi tôn trọng ý nghĩa một câu văn sâu sắc trong bài viết của ông là «Trong thế giới thiền, phải chăng ngôn ngữ chỉ là qui ước nghèo nàn, thô lậu, có khi ồn ào mà vô nghĩa ...», Như vậy, nêu danh tánh luận bàn, là rơi vào trò chơi ngôn ngữ qui ước, giả tạm, ồn ào mà vô nghĩa…nên chúng tôi không nêu tên. Nhưng giá trị nào trong bài viết của đạo hữu ấy đáng thưởng thức, chúng tôi liền thành tâm đề cao.

Còn sự phát biểu thô thiển của chúng tôi, xung quanh hai chữ «thiền sư» cũng như vài lãnh vực khác có «khách quan» hay không, là do quí đọc giả thẩm định, chúng tôi không dám tự phong cho mình, có đặc tính vô tư ấy.

Hơn nữa, ý kiến của chúng tôi về hai chữ «thiền sư» và về những vấn đề khác, như đã trang trải trên đây, vốn phát xuất từ tinh thần xây dựng. Chúng tôi luôn luôn nghĩ rằng : Sự hòa bình, và thiện cảm giữa những Phật tử tại gia, xa hay gần, đã quen hay chưa quen, vẫn là một yếu tố tối cần thiết, để khi hội đủ duyên lành, toàn thể cư sĩ Phật tử vừa tu thân, vừa phải nắm tay nhau, bảo tồn đạo pháp và dân tộc, hiện tại cũng như ngày mai.

Quay qua cái nhìn đối với thầy Nhất Hạnh, ít nhiều có liên quan đến chuyện gọi thầy là Thiền Sư. Đúng ra, phải nói là chúng tôi quí hóa tư cách thiền của thầy Nhất Hạnh, nhiều hơn là hiểu biết về thành tích, về diễn tiến tổ chức quốc tế Thiền Làng Mai. Và thú thật, sự quí hóa của chúng tôi dành cho thầy cũng không liên quan gì đến việc thầy là một nhà sư nổi tiếng trên thế giới, (-kiểu thấy sang bắt quàng làm họ !), mà chỉ vì chúng tôi nhận thấy thầy là người luôn luôn sống với một lý tưởng duy nhất, từ nhiều chục năm qua. Người ta thay đổi lập trường như thay áo, nhưng thầy thì không. Chỉ có thế thôi !

Và ấy cũng chính là động cơ mà mùa hè năm nay (hạ tuần tháng 7/2005), nhân đi ngang Làng Mai, chúng tôi được thúc đẩy ghé thăm thầy. Chúng tôi đến Làng Mai như một số khách vãng lai, để ghi danh sống hòa đồng năm ba ngày với đại chúng. Chúng tôi thoải mái ngồi yên trong đám đông nghe thầy giảng pháp là cảm thấy sung sướng rồi. Chúng tôi không tìm cách xin được thầy tiếp, nhưng nếu ngẫu nhiên gặp thầy, chào hỏi một đôi câu cũng là niềm hân hạnh. Và sự quan sát lẫn lắng nghe của chúng tôi đã có dư âm, kết quả tốt, để chúng tôi thuật lại bằng những giòng cảm nghĩ nầy,   như một chia xẻ với những ai hằng quan tâm.

Phần cảm nghĩ đến đây xin tạm ngưng, kỳ sau chúng tôi sẽ cố gắng gởi đến quí vị bản dịch của một bài Pháp Thoại dưới dạng «hỏi đáp».

Phần II
(Xin hẹn kỳ sau)

 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com