
posted: 07.7.2005
Một Công Thức Tuyệt Đẹp
Đào Viên Cuộc chiến ở Irắc của Tổng Thống
Gearge W. Bush đã sang đến năm thứ hai, tháng thứ 4 (1), mà không
thấy có gì là sáng sủa. Những chuyện xẩy ra hằng ngày tại Irắc – hoạt
động nổi loạn chống đối Hoa Kỳ, chống chính phủ lập hiến lâm thời
được Hoa Kỳ hình thành và hậu thuẫn vẫn tiếp tục gia tăng, chiến dịch
khủng bố nhằm vào quân lính và cảnh sát địa phương thân Mỹ vẫn
không ngừng nghỉ chút nào – nhất là lính Hoa Kỳ vẫn chết dài dài mỗi
ngày, với tổng số lên trên 1740, đã làm cho dân chúng Hoa Kỳ không còn cảm
thấy tin tưởng vào sự can thiệp vào Irắc của Hoa Kỳ như trước nữa.
Trước đây, nhất là sau khi được tái bầu lại thêm một nhiệm kỳ nữa,
Tổng Thống Bush đã được đa số dân Hoa Kỳ tin tưởng vào sự lãnh đạo
của ông trong mọi chuyện. Nhưng bây giờ, trong một cuộc thăm dò dư luận
của Gallup, cứ 10 người dân Hoa Kỳ được hỏi ý kiến thì 6 người
nghĩ Hoa Kỳ phải rút một phần hay rút hết quân đội ra khỏi Irắc.
Trong một cuộc thăm dò khác của ABC News và The Washinhton Post, thì hai phần
ba cho rằng quân đội đang bị sa lầy tại đó. Mọi
người nghĩ lại cái công thức 10-30-30
dùng trong thời biểu chiến dịch Irắc của ông Tổng Trưởng Quốc Phòng
Donald Rumfeld (2) – 10 ngày để đánh tan chính phủ Saddam Hussein,
30 ngày sau đó để tái lập an ninh và trật tư, và 30 ngày sau rốt là để
quân đội chuyển tiếp sang một sứ mạng khác – mà không khỏi mỉm cười,
vì thấy nó quá tốt đẹp để có thể là sự thật. Xu hướng bi quan không phải chỉ xẩy
ra trong dân chúng Hoa Kỳ. Thường dân Hoa Kỳ chỉ biết những tin tức về
tình hình chiến sự tại Irắc qua những bản tin của các thông tấn xã,
và các giới truyền thông Hoa Kỳ. Mà những bản tin này không phải bao giờ
cũng hoàn toàn khách quan độc lập, mà đều có ít hay nhiều lọc lựa cho
có nhiều điểm tích cực hơn là tiêu cực, để dân chúng Hoa Kỳ xem được
dễ chịu. Ông Greg Dyke, cựu Tổng Giám Ðốc đài BBC có lần đã tỏ ra rất
“ngạc nhiên và kinh hoàng” (surprise
and shocked) trước giọng điệu thiên vị
của các hãng thông tấn lớn truyền hình và truyền thanh của Hoa Kỳ khi làm phóng sự chiến trường
Irắc. Ông cho rằng, từ ngày có biến cố 9/11 “các nhà làm thông tấn Hoa Kỳ đã quấn cờ
Hoa Kỳ vào người” và đã lẫn lộn tinh thần khách quan vô tư của
người làm thông tấn với lòng nhiệt thành thiên vị của người ái quốc
(3). “Tìm
cách rút lui” bây giờ không phải chỉ là những lời xì xào của những
bậc cha mẹ, anh em, vợ con quá lo lắng cho người thân ở nơi xa xôi, ở
chốn xa trường không có lằn ranh bạn thù, mà tử thần có thể chợt đến
bất cứ lúc nào dưới bộ mặt thản nhiên của một kẻ sẵn sàng chết
cho lý tưởng, một lý tưởng đúng hay sai tùy vị trí đứng nhìn. “Tìm cách rút lui” bây giờ đã được một
số nhà Lập Pháp, lớn tiếng nói lên tại Quốc Hội Hoa Kỳ. Dân biểu
Walter B. Jones, của tiểu bang North Carolina, một nhân vật bảo thủ của đảng
Cộng Hòa, rất trung thành với Tổng
Thống Bush, đã lên tiếng yêu cầu chính phủ hãy đặt ra những mục tiêu
rõ rệt cho quân đội rút khỏi Irắc. Ông này chính cũng là người mà trước
đây, vì rất bất bình với Pháp đã không chịu theo Mỹ đánh Irắc, đã
nhất định bắt nhà hàng ăn Cafeteria của Quốc Hội không được gọi món
khoai tây chiên là “french fries” mà phải
gọi là “freedom fries”! Thêm vào đó,
Thượng Nghị Sĩ Dân Chủ Russell D. Feingold của Nhưng ngay trong chính phủ của Tổng
Thống Bush, không phải tất cả mọi người đều nghĩ như Phó Tổng Thống
Dick Chenney khi ông tuyên bố với báo chí là quân đội ta tại Irắc đang
thắng lớn và bọn phản loạn đang bị chúng ta đập cho sắp chết (4).
Ba tuần trước mới đây, một viên chức cao cấp của toà Bạch Ốc, sang Nói như vậy tức là đã cải chính
lời tuyên bố “Sứ mạng đã hoàn tất”
(Mission Accomplished) của Tổng Thống Bush nói ngày 1 tháng 5, hai năm truóc đây
trên một chiếc Hàng Không Mẫu Hạm. Quả thực quân đội Hoa Kỳ vẫn
chưa hoàn tất được sứ mạng mà ngược lại còn phải đang thi hành nhiệm
vụ một cách khá vất vả. Mục tiêu bây giờ không còn là đi tìm ra võ
khí giết người hàng loạt (weapon of mass destruction hay WMD) của T.T. Saddam
Hussein nữa mà là đánh chiếm Irắc dể đem lại tự do dân chủ cho nhân
dân Irắc, để rồi làm gương cho các nước Ả Rập trong vùng. Để làm
việc này và cũng là chuẩn bị rút lui khỏi Irắc một cách đường hoàng,
Hoa Kỳ đã hậu thuẫn cho một cuộc bầu cử thành công một quốc hội lập
hiến, và lập nên một chính phủ lâm thời thân Hoa kỳ, để hợp thức hóa
sự chiếm đóng được hiểu là tạm thời của Hoa Kỳ tại Irắc. Hoa Kỳ
đã lại bỏ tiền ra – rất nhiều tiền (5) – để xây dựng
nên một lực lượng quân sự địa phương mệnh danh là Lực Lượng An
Ninh Irắc (Irak Security Force) sẽ thay thế Hoa Kỳ đánh dẹp lũ phản loạn,
mà đem lại trật tự và an ninh cho xứ xở. Những chiến lược gia, cố vấn An
Ninh cho Tổng Thống Bush, ở thế cưỡi cọp, tất nhiên phải rất tin tưỡng
vào sự thành công của chiến dịch chiếm đóng Irắc, Họ dựa vào những
bài học lịch sử trong quá khứ. Họ đã thấy rằng trong khoảng vài trăm
năm nay, những vụ nổi loạn của dân địa phương, ở Phi Châu, ở Á
Châu, và ngay ở Trung Đông, chống lại quân đội chiếm đóng ngoại quốc,
không phải bao giờ cũng thành công. Đã có
đến một phần ba là thất bại. Lịch sử cận đại Việt Hoa Kỳ đã không cần phải nhìn đến
bài học lịch sử ở Việt Có hai nhận định căn bản cần
lưu ý. Năm 1920, người Anh đã có tại chỗ khoảng 120,000 binh sĩ. Khi cuộc
chống đối lên cao độ, họ có thêm 15,000 quân nữa gửi đến để trợ
lực. Tổng số quân đội Anh ngày ấy cũng chẳng khác với con số 138,000
quân đội Hoa Kỳ ngày nay bao nhiêu. Thế nhưng, dân số Irắc ngày ấy chỉ
là 3 triệu, mà bây giờ thì họ đã lên tới 24 triệu. Một cách đơn giản,
người Anh đã dùng 1 người lính để đối phó với 23 người Irắc. Trong
khi bây giờ 1 người lính Hoa Kỳ phải đương đầu với 174 người Irắc.
Nếu Hoa Kỳ muốn có một tỷ số
áp đảo như người Anh, thì họ cần có khoảng 1 triệu binh lính tại xứ
này. Đây là một con số hoang tưởng, bởi vì muốn làm như thế thì lại
phải trở về chế độ quân dịch đã được bãi bỏ sau khi Hoa Kỳ rút
khỏi Việt Người Anh, để bổ sung quân số tại
chiến trường Irắc, khi sôi động, họ dùng binh sĩ thuộc địa đem từ
Ấn Độ sang. Đám lính thuộc địa này lại được sung vào đến 87% công
việc tác chiến, đỡ đạn cho lính Anh, khiến cho dân chúng Anh cảm thấy
rất yên ổn trong lòng - vì đã có hình nhân thế mạng - sẵn sàng ủng hộ
chính phủ Hoàng Gia mở mang nền Thuộc Địa. Trong khi Hoa Kỳ, trớ trêu
thay, đã lại phải nhờ đến quân đội Anh chiếm giữ Basra, một vùng tương
đối yên ổn, nhưng không thể đưa họ vào nhũng nơi dầu sôi lửa bỏng
như Falluja, Mosul, đỡ đạn cho lính Hoa Kỳ được. Phụ huynh, gia đình có
con em bị đưa đi Afghanistan hay Irắc, mà tại đó không có chiến tuyến bạn
thù rõ rệt, không thiếu những kẻ đeo bom tử vì đạo, cũng không khỏi
sốt ruột mặc dầu có yêu nước đến mấy. Vậy thì chỉ còn cách chi tiền
cho dân địa phương giúp làm việc đó thay cho người mình. Một nhận định khác nữa là, năm
1920, người Anh đã chỉ phải đương đầu với những nhóm phản loạn bản
xứ, người Irắc. Những người này đứng lên chống Anh quốc là vì người
Anh là kẻ xâm lược, chiếm đóng quốc gia xứ sở của họ. Họ chiến đấu
vì lòng ái quốc. Ngày nay Hoa Kỳ có rất nhiều kẻ thù khác ngoài những
người Irắc. Theo ước lượng của bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ thì thành phần
cốt cán của những kẻ phản loạn có khoảng 12 ngàn là dân Irắc bản xứ,
nhưng có đến khoảng 20 ngàn là người từ các nước khác đến chiến đấu
giúp nhóm dân địa phương chống quân đội chiếm đóng Hoa Kỳ. Số này
gia tăng mỗi tháng. Họ là những người Ả Rập Muslim đến từ tứ xứ
như Sudan, Ai Cập, Palestine, Afghanistan, Algeria, Morocco, Pakistan vân vân. Người
ta thấy có đến 20% những kẻ đeo bom tự sát là người Mười hai ngàn loạn quân Irắc có
thể chỉ chiến đấu vì Hoa Kỳ là kẻ xâm lược chiếm đóng xứ xở họ.
Một thu xếp chính trị trao trả nến tự chủ cho người bản xứ, như Hoa
Kỳ đang làm, kèm theo một chương trình rút lui rõ rệt nào đó của Hoa Kỳ,
mà Hoa Kỳ chưa muốn làm, có thể làm giảm bớt sức chiến đấu của nhóm
này. Còn đối với hai chục ngàn người Muslim ngoại quốc đến Irắc để
chiến đấu chống Mỹ, thì lại khác. Họ có những lý do và mục tiêu để
chiến đấu khác với người Irắc địa phương. Họ muốn đuổi Mỹ ra khỏi
Irắc không phải vì lòng ái quốc thấy tổ quốc bị chiếm đóng mà nổi
giận. Sự chiếm đóng Irắc của Mỹ có thể chỉ là một cái cớ - không
phải là nguyên nhân – để họ đến đấy tấn công quân đội Hoa Kỳ. Họ
chống Hoa kỳ vì những lý do sâu xa hơn là sự chiếm đóng Irắc. Lý
do này là lòng thù ghét sâu đậm chính sách của Hoa Kỳ đối với thế giới
Ả Rập, đặc biệt trong vụ tranh chấp giữa Do Thái và Sự tạo dựng
nên, bảo vệ và bành trướng quốc gia Do Thái là một thành công rực rỡ
của một dân tộc nổi tiếng thông minh giỏi giang trên thế giới. Chỉ mới
được thành lập từ năm 1947 do một quyết định của Liên Hiệp Quốc, từ
một mảnh đất nhỏ bé nằm giữa những người Ả Râp nhiều ác cảm bao
vây xung quanh, người Do Thái từ mọi quốc gia trên thế giới đã kéo về
đây mà lập nên một quốc gia hùng mạnh phú cường. Chỉ với 6 triệu dân
sinh sống trên 20 ngàn cây số vuông họ đã đối đầu được với 70 triệu
dân Ai cập, 17 triệu dân Syria, và 5 triệu dân Jordan, chưa kể đến 3 triệu
dân Palestine mà họ đã dành lấy đất. Họ đã có một nền kinh tế khá
cao (lợi tức đầu người theo mãi lực hơn US $19,000 một năm), và một nền
khoa học công nghệ rất tân tiến (6). Nguồn tin đáng tin cậy cho
rằng Do Thái đã có bom nguyên tử. Trên con đường
định mệnh để sống còn, dân Do Thái đã vấp phải một dân tộc nghèo
khổ nhưng rất kiên cường là dân
Palestine, Và người Do Thái vói một sức mạnh áp đảo, cả về phương diện
kinh tế lẫn quân sự, họ đã thẳng tay phá tan mọi trở ngại, nghiền
nát mọi chống đối. Cả trăm ngàn dân Người Do Thái
đã không thể đạt được những thành tựu
dó chỉ bằng những cố gắng riêng, Họ đã phải có sự giúp
đỡ rất lớn lao của Hoa Kỳ (7). Nếu không có những chiến cụ
tối tân của Hoa Kỳ, họ đã không thể đánh bại được Ai Hình ảnh một
anh nghèo khổ cùng đinh trong làng (GDP ppp $800 mỗi đầu người, còn tệ hơn
một anh nghèo khổ khác, có tên Việt Nam, chỉ kiếm dược $2,300) hàng
ngày bị một cậu công tử nhà giầu (GDP ppp $19,000 mỗi đầu người) chèn
ép, đánh hộc máu mồm, muốn kêu cũng không được vì lại bị ông phú hộ
giầu nhất làng (GDP ppp $36,100 mỗi đầu người) bịt mồm bịt miệng, đã
đến với toàn thể thế giới Ả Rập, nhờ liên lạc vệ tinh viễn
thông. Mọi người Ả Rập trên thế giới đều trông thấy, đều cảm thấy
cái đau đớn cái nhục nhã của người Bởi vậy, lời
giải cho nền Hòa Bình của Irắc, xa hơn nữa, cho cả vùng Trung Đông như
Tổng Thống Bush thường nói tới, không phải chỉ ở Baghdad với ông Ibrahim al-Jaafari, mà nhiều
phần là phải tìm thấy tại West Bank và Jerusalem. Thế nhưng cái thìa khoá
Hoà Bình, từ bao lâu nay đã bị chôn vùi dưới tỷ đô la viện trợ Mỹ
cho Do Thái tại vùng này, đâu có dễ thấy. Có lẽ vì vậy
mà mới đây, ông Rumsfeld đã cảnh báo dân chúng Hoa Kỳ rằng có thể phải
mất mươi mười hai năm nữa mới dẹp hết lũ phản loạn khủng bố ở
Irắc được. Nhưng để trấn an dân chúng, ông nói trước là, với chi viện
phong phú cho dân địa phương, lính Hoa Kỳ sẽ có thể thong thả về nước. Như vậy thì
cái công thức 10-30-30 dùng trong thời biểu Irắc của ông vẫn còn rất tốt,
dùng được, vì nay ông đã thay đổi đơn vị thời gian trong công thức từ
“ngày” sang “lục cá nguyệt” rồi. Ghi chú:
(1) Quân đội Hoa Kỳ khởi sự tấn công
Irắc ngày 19 tháng 3 năm 2003.
(2) Công thức này đã được nêu lên
trong tờ New York Times ngày 24 tháng 5, 2005. (3) Các hãng thông tấn lớn như NBC, Fox
News từ chối bình luận về lời tố giác của ông Dyke. Riêng đài phát
thanh Clear Channels thì cải chính tin đài BBC cho rằng đài đã tổ chức những
cuộc xuống đường để ủng hộ chiến tranh. Nhưng đài công nhận đã
có và chỉ có một cá nhân phát ngôn viên của đài đã khuyến khích mọi
người xuống đường mà thôi. Nhưng đó không phải là chủ trương của
đài.
(4) Ông nói: “The insurgents are in their
last throes”.
(5) Hoa Kỳ đã chi tiêu khoảng 200 tỷ
vào chiến trường Irắc. Để có thể thành lập một đạo quân Irắc,
thay thế mình đối phó với nhóm phản loạn, Hoa kỳ đã phải trả lương
cho mổi người lính Irắc gấp ba lần số tiền họ có thể kiếm được
ở ngoài dân sự.
(6) Để có một khái niệm làm cuộc so
sánh, sau đây là những con số thống kê về tổng số diện tích, dân số
và GDP per purchasing power per head (US dollars) của mấy nước liên quan: Ai Cập
(1 triệu km2, 70 triệu dân, $3,810), Syria (185 ngàn km2, 17 triệu dân, $3,470),
Jordan (89 ngàn km2, 53 triệu dân,
$4,180), Do Thái (21 ngàn km2, 6.3 triệu dân, $19,000) và West Bank với Gaza (6
ngàn km2, 3.4 triệu dân, $800) – Tài liệu của The Economist, 2005.
(7) Do Thái, cùng với Ai Cập, là nước
nhận viện trợ Hoa Kỳ nhiều nhất thế giới, một Tỷ Đô La mỗi năm. Tháng
7, 2005 |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com