
posted: 28.7.2005
Nguyễn
Đắc Xuân Tôi đang chuẩn bị tổ chức lễ sinh
nhật lần thứ 69 (15.7. 2005) của mình thì được điện thoại của nhạc
sĩ Phạm Duy từ TP HCM gọi ra báo cho biết ngày 14.7.2005 anh sẽ ra Huế dự
Festival làng nghề xứ Huế. Đó là một tin vui bất ngờ và tôi nghĩ ngay
đến chuyện sẽ mời anh dự sinh nhật của tôi giống như năm tôi lên 50
tuổi ta (1986) tổ chức sinh nhật tại vườn An Hiên của bà Nguyễn Đình
Chi với sự có mặt của nhà thơ Chế Lan Viên, nhà thơ Thanh Tịnh, nhạc
sư Nguyễn Hữu Ba, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà văn Tô Nhuận Vỹ.
Một ý nghĩ vụt thoáng qua trong đầu tôi: “Thế thì vui quá, em sẽ mời
anh dự sinh nhật của em.” Ý chưa kịp chuyển thành lời thì ở đầu dây
bên kia anh Phạm Duy nói tiếp : “Anh sẽ ra Huế và ở nhà em để chơi với
em !” Tôi vui quá phải kêu lên : “Thế thì em sắp có một món quà sinh
nhật rất tuyệt vời rồi. Vui quá !”.
Chiều ngày 14.7 gia đình tôi hân hạnh
được đón nhạc sĩ Phạm Duy - người nhạc sĩ lớn mà tôi yêu và đã
“khóc cười” theo anh hơn bốn chục năm qua. Món quà mà anh mang ra Huế
là bài viết Chàng Văn hiện về cùng “tình
nhân âm nhạc”. Đây là bài báo đầu tiên anh viết ở Việt Nam và
đăng trên báo Việt Nam (trang Văn Nghệ báo Thể Thao TP HCM, số 155 ra ngày
14.7.2005) sau 30 năm anh sống ở bên kia địa cầu. Bài báo anh khen nhạc Văn
Cao và tài tổ chức và biểu diễn tuyệt vời của ca sĩ Ánh Tuyết. Bài
viết rất hay nhưng tôi không ngạc nhiên vì đó là “nghề của chàng”.
Nhưng riêng đoạn cuối tôi đọc và xúc động đến nghẹn ngào. Tôi có cảm
tưởng như anh đang đứng trước bàn thờ tác giả Quốc ca Việt Sáng 15.7.2005, Lưu Trọng Văn gọi ra báo
cho biết báo Thanh Niên đưa tin “Được phép
biểu diễn và phổ biến một số ca phúc tại Việt Nam, nhạc sĩ Phạm
Duy: Tôi rất mừng và làm sao nói cho hết niềm vui !”, dư luận trong giới người yêu nhạc Phạm Duy ở TP HCM
đang “sốt” lên, họ tranh nhau để được hát nhạc Phạm Duy trước công
chúng. Cú điện thoại của Văn réo gọi vào lúc anh Phạm Duy và tôi đang
đến thăm nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nhạc sĩ Phạm Duy báo cho anh Tường
biết : “Ngày 25 tháng 7 nầy tôi sẽ ra
Hà Nội để chính thức được nhận Giấy xác nhận đăng ký công dân Việt
Nam và Giấy phép được phổ biến một số nhạc phẩm của tôi tại Việt
Nam”. Anh Tường cho đây là món
quà quý anh được nhận hôm nay 15.7.2005 (đúng bảy năm 1 tháng sau ngày anh
Tường ngã bệnh). Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ rất thích nhạc Phạm Duy, chị
loay hoay đi tìm mở một hộp trà mới để uống mừng cái tin mà chị đã
chờ đợi từ lâu. Theo tôi - anh Phạm Duy, nói theo ngôn ngữ của Thiền sư
Thích Nhất Hạnh - “đã về, đã đến, bây giờ, ở đây”. Anh đã có mặt
trong đời sống âm nhạc Việt Tự nhiên lúc ấy tôi nhớ đến “anh
Tố Hữu” ba mươi năm trước. Tháng 5.1975 “Anh Tố Hữu” dặn tôi vào
Sài Gòn tìm gặp Phạm Duy và Trịnh Công Sơn và nói với các anh : -“ Đất nước
giải phóng rồi, các anh Phạm Duy, Trịnh Công Sơn hãy cứ ở đó chứ đừng
đi đâu cả. Anh Phạm Duy tiếp tục sáng tác đi. Lấy khúc đầu (kháng chiến)
nối với khúc đuôi (hoà bình), để khúc giữa qua một bên !” Tôi vào Sài Gòn thì anh Phạm Duy đã
đi rồi, còn Trịnh Công Sơn - đang mừng ngày “Nối Vòng Tay Lớn” giữa
“Huế Sài Gòn Hà Nội” thì còn đi đâu nữa. Không truyền đạt được
với ai lời dặn của “anh Tố Hữu” nên tôi phải giữ trong lòng. Mãi
đến tháng 7 năm 1986 nhân sinh nhật của tôi ở Vườn An Hiên, tôi kể
chuyện “Anh Tố Hữu” dặn tôi với các anh trong bàn tiệc. Anh Chế Lan
Viên cho biết “anh Tố Hữu” cũng đã nói với Giáo sư Trần Văn Khê như
thế nhưng không rõ Giáo sư Trần đã nói lại với Phạm Duy hay chưa (!)
Sau buổi gặp mặt ở vườn An Hiên, anh Chế Lan Viên ngồi tại nhà khách
2 Lê Lợi Huế viết bài “Lá Rụng Về Cội” và đăng vào tạp chí Sông Hương (số 21/ tháng
9 và 10/1986, tr.5). Năm 2000 tôi cùng với nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, ca sĩ Ánh
Tuyết đến thăm anh Phạm Duy tại Khách sạn Continental TP HCM, tôi kể lại
lời “anh Tố Hữu” dặn tôi năm 1975. Anh Phạm Duy cho biết anh đã đọc
được ý kiến đó qua bài viết của Chế Lan Viên. Đầu sau (2001), nhân Hội thảo Bản sắc
dân tộc trong văn học nghệ thuật Việt Nam do Trung tâm Nghiên cứu Quốc học
tổ chức tại Hội trường Thống Nhất TP HCM, tôi được gặp “anh Tố Hữu”
(một trong các chủ toạ đoàn cuộc hội thảo). Trong giờ giải lao tôi tranh thủ “báo cáo” với “anh”. -“ Thưa anh, cách đây hai mươi sáu năm,
anh có bảo em vào Sài Gòn nói với nhạc sĩ Phạm Duy ý kiến của anh….nhưng
cho mãi đến đầu năm 2000 em mới có dịp báo lại ý kiến đó với nhạc
sĩ Phạm Duy !” Ông Tố Hữu hấp háy mắt cười vui
vẻ: -“ À hả ! Năm ngoái (tức 2000) Phạm
Duy về Hà Nội có đến thăm mình. Nếu Phạm Duy có về lại thì anh em
nên tạo điều kiện cho anh ta thâm nhập thực tế để anh sáng tác tiếp.
Phạm Duy là một người rất có tài…!” Nhận
định của “anh Tố Hữu” về nhạc sĩ Phạm Duy tôi đã ghi lại trong một hồi ký ngắn mang tựa đề “Anh Tố Hữu”
đăng báo Văn Nghệ lúc “anh Tố Hữu” còn tại thế và sau đó in lại
trên tạp chí Sông Hương (số 167, tháng
01-2003, tr. 5-9) và - Sách Tố Hữu Sống Mãi
Trong Lòng Nhân Dân Và Đất Nước, (Nxb Văn Học, TTNCQH, HN, tháng 3/2003,
tr.122-129). Hôm nay tôi nhớ “anh Tố Hữu” và nghĩ rằng ở cõi vĩnh hằng
“anh Tố Hữu” cũng đang mỉm cười vui đón nhạc sĩ Phạm Duy trở lại
làm công dân Việt Nam và thực hiện cái “phần cuối cuộc đời” làm
âm nhạc phục vụ đồng bào Việt Nam mà anh đã nhắm đến từ ba mươi
năm trước. Sáng 16.7.2005, anh Phạm Duy thức dậy
từ lúc 4 giờ. Anh mở đèn và mở hết các cửa trên Gác Thọ Lộc để
đón gió sông Hương ban sớm. Anh ngồi bệt xuống sàn nhà, tựa lưng vào
thành cửa ngồi đọc tư liệu về anh lấy xuống từ Internet. Đèn sáng thức
tôi dậy. Tôi nấu nước pha trà rồi hai anh em ngồi uống nước nói chuyện.
Anh tránh những câu chuyện cũ dù là chuyện “buồn ít hơn vui”. Anh đã
85 tuổi, không còn thì giờ để nói những chuyện đã thuộc về lịch sử
nữa. Anh tránh gặp những người muốn gặp anh để nhắc lại chuyện cũ.
Điều anh quan tâm hàng đầu là phải làm gì để xứng đáng với dân tộc
Việt 83 triệu người và sắp vào WTO. Việt Hai anh em nói chuyện quên mất chuyện
điểm tâm thì có người đem đến tặng tờ Tuổi Trẻ ngày 16.7.2005. Vừa
nghe chuyện tôi vừa giở đọc báo. Bổng mắt tôi dán vào cái tin ở trang
giữa “Sẽ phổ biến trước mắt trên 10
ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy”. Cái tin báo Tuổi Trẻ viết cụ thể
tên những bài hát sắp được cấp phép hát. Tôi nín thở đọc hối hả
và một niềm vui oà đến với cái tít bài Tình Ca.
Tôi thốt lên “ Ôi chao, có bài hát của em đây rồi !”. Anh Phạm Duy có vẽ khó hiểu, “sao lại
bài hát của em ?’. Tôi kể lại một chuyện cũ mà tôi đã kể với anh
nhiều lần. Năm 1955, tôi học lớp Đệ thất trường
Tây Hồ ở Đà Nẵng. Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ dạy cho tôi hát bài Tình Ca của Phạm Duy. Thầy Mỹ bảo rằng
đây là một bài hát về tình tự dân tộc hay nhất trong lịch sử âm nhạc
Việt Được món quà sinh nhật quý giá,
tôi thích thú quá và trở nên bạo gan dám cất tiếng hát “Tôi yêu đất nước tôi ….” trước mặt nhạc sĩ Phạm Duy. Tôi hát đến
câu “Làm sao chắp cánh chim ngàn / Nhìn
Trung - Hồi
tranh đấu đô thị cũng như khi ra vùng kháng chiến, bọn em xem câu ca nầy
là một khát vọng cháy bỏng và nhiều lúc nghĩ không bao giờ đạt được.
Nhưng may sao sau tháng 5.1975, ước vọng thống nhất đất nước đã trở
thành hiện thực. Ngày nay người ta có thể “chắp cánh” tàu bay phản lực,
tàu hoả tốc hành qua ba miền Trung Nam Bắc và thấy được dân tộc đang
“kết hàng mến nhau”. Nhạc sĩ nói tiếp lời tôi với giọng
rất vui: - Trong đó có Thiền sư Thích Nhất Hạnh,
ông Nguyễn Cao Kỳ và tôi. Tôi buộc miệng nói rồi hát: - Em không ngờ từ nửa thế kỷ trước
anh đã chuẩn bị sẵn câu ca để cho bọn em hát chúc mừng anh ngày hôm
nay:
-“ Vì
yêu, yêu nước, yêu nòi/ Ngày Xuân tôi hát nên bài (ư bài)
Ruộng xanh tươi tốt quê
nhà/ Lòng tôi đã nở như là (ừ là) đoá hoa !” Nhạc sĩ Phạm Duy nói rất khẻ, rất
êm ái:
- Lúc ấy tôi mới ba mươi ba tuổi. Và tôi xin phép được nhận xét: - Và, bây giờ, ở đây trước mắt
em: anh vẫn là chàng trai 33 tuổi với một tương lai sắp nở hoa. - Đúng thế ! - Phạm Duy.
Gác Thọ Lộc 20.7.2005 (*) Bài nầy đã được cắt bớt nhiều
câu, nhiều đoạn đăng báo Thể Thao TP
HCM, số 168, ngày thứ sau, 29.7.2005, tr.16 |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com