
Tản Mạn
Quanh Việc Thủ Tướng Phan Văn Khải Thăm Viếng Hoa Kỳ Trần
Niệm Từ Quả là
trên đời này không việc gì lại không thể xảy ra, mà nhất là chuyện
“chính chị, chính em” ở cái cõi ta bà ô trọc này, cho nên ngạn ngữ
Tây phương hay bảo “Chẳng bao giờ nói không đời nào! Never say never!”
Còn giới bình dân mình hay phán là “Ngó dzậy mà không phải dzậy!” Và
bạn cứ đem chân lý ấy ứng dụng vào đời sống thường ngày thì “ngộ”
ra ngay mọi chuyện trước mắt mà chẳng cần phải tranh luận cãi vã lôi
thôi với ai. Chiêu bài trắng xanh vàng đỏ gì cũng chỉ là nhất thời
gió thỏang mây bay, chỉ có bao nhiêu nạn nhân chết vì nó có ngậm cười
nơi chính suối hay không? Một
trong những chuyện lạ mới đây là việc Thủ tướng nước XHCN Việt Nam
Phan Văn Khải và phái đòan nhà nước chính thức thăm viếng nước cựu
thù Hoa Kỳ trong một tuần lễ từ 15 tháng 6. Qua cuộc công du này ông đã
gặp các nhân vật tăm tiếng của Mỹ như Bill Gates của đại công ty
Microsoft và thăm ban giám đốc xưởng chế tạo phi cơ Boeing ở tiểu bang
Washington, tiếp kíến TổngThống Mỹ George W. Bush tại Tòa Nhà Trắng ở
DC; viếng vài cơ sở giáo dục và kỷ nghệ ở Boston, và làm
việc với John
Thain, Giám đốc điều hành NYSE và M.Sullivan, Giám đốc điều hành Công ty
AIG trước khi rung hồi chuông khai mạc giao dịch chứng khóan ở Wall Street
ở New York. Cái
châu Mỹ này quả là điểm hẹn của lịch sử thế giới từ ngày nó được
Christopher Columbus đặt chân lên vào tháng 10 năm 1492. Kể từ đấy diện mạo
chính trị quốc tế đổi thay nhanh chóng, có thể nói là bước ngoặc của
lịch sử nhân lọai. Chuyện chính chị chính em đối với tây phương trở
thành ván bài bi-zi-nết mà thôi. Chỉ có quyền lợi và lòng tham lam ích kỷ
là quan trọng. Đường ranh giới giữa mọi giá trị đạo đức đều vô
nghĩa. Vì đâu nên nổi? Để
thấy những cái liên hệ chằng chịt dây mơ rễ má trong hơn 5 thế kỷ
qua, ta hãy từ từ mà tản mạn chuyện xưa và chuyện nay. Các bạn khoan nhảy
chổm vào chuyện quốc cộng tương tranh hay “cuốc ra” và “cộng vào”.
I. Chuyện
xưa: Sau
cái chuyến phiêu lưu ấy ở thế kỷ 15 của họ Kha, các cường quốc tây
phương, nỗi nhất thời bấy giờ là Tây-Ban-Nha,
Bồ-Đào-Nha, Hòa-Lan, Pháp và
Anh xem
thế giới là vật sở hữu của mình nên tranh nhau đi xâm chiếm đất đai
quanh địa cầu để vơ vét tài nguyên và mở ra một giai đọan dài của
chủ nghĩa thực dân, mạnh được yếu thua, chẳng đếm xĩa gì đến chủ
quyền quốc gia của bất kỳ nước nào. Tình trạng này vẫn còn ảnh hưởng
sâu đậm đến bây giờ, và ta thấy rằng chính trường thế giới ngày
nay vẫn là sân chơi của cái đám tây phương da trắng. Họ chỉ cốt bảo
vệ cho nhau mà thôi và áp đặt mọi ý muốn của mình lên trên các nước
khác. Các nhược tiểu quốc chỉ còn là đám ruồi bu, chẳng đáng giá một
xu. Thực
ra tham vọng đế quốc của tây phương đã có từ thời ông hòang đế trẻ
Alexander the Great của Hy-lạp, ở thế kỷ thứ 4 trước TL Ông đã bành trướng
thế lực qua phương đông và sự sống còn của các nước nhỏ xem như cỏ
rác. Từ đấy để phục vụ cho các cuộc chiến xâm lăng, vũ khí và phương
tiện dĩ nhiên luôn cãi tiến để giết người nhiều hơn và nhanh hơn.
Nhưng rồi chiếm được đất mà không giữ được cho lâu dài thì có phải
là hòai công không? Chẳng thể cai trị vùng đất mới chiếm với gươm giáo
mãi, phải cần có một lọai “mê hồn thuyết” nào đó để ru ngũ dân
tình và dễ sai khiến. Cho
mãi đến 8 thế kỷ sau, cái mê hồn thuyết đó đã được tìm ra gọi là
“đạo Ca-tô La-mã” (Roman Catholic) do hòang đế La-mã Flavius
Valerius Aurelius Constantinus
(272 – 337) mà tây
phương hay gọi là Constantine
I sáng lập ra. Ở đây ta nên để ý đến mấy chữ “Ca-tô La-mã” đã
đi vào lịch sử không thể sữa đổi được nữa, để phân biệt với
các hệ phái Ki-tô khác như Chính thống giáo, Anh giáo và Phản thệ giáo nấy
sinh về sau, tương đối ít nham hiểrm bằng Ca-tô La-mã. Vì đạo này, hay
nói cho đúng hơn tổ chức giáo hội này, được thành lập để phục vụ
cho nhu cầu chính trị của đế quốc La-mã, chẳng hề dính dự gì đến
chuyện tín ngưỡng linh thiêng chân chính gì cả. Nói tắt lại nó chỉ là
một công cụ chính trị cho đế quốc, mà đến nay vẫn còn rất hiệu
nghiệm. 1)
Hòang
Đế La-Mã Constantine I và đạo Ca-tô La-Mã: Câu
chuyện bắt đầu vào đầu thế kỷ 4, khi đế quốc La-Mã quá rộng đến
độ bị phân hóa thành tây và đông, với hai đối thủ làm hòang đế cai
trị ở hai phương, Maxentius ở kinh
đô Rome và Constantine I cùng với em vợ
là Licinius ở Byzantium
(về sau đổi tên là Constantinople mà nay là İstanbul
– thủ đô của Thổ-Nhĩ-Kỳ). Bao lâu
nay Constantine I rất ngạc nhiên khi thấy có một nhóm tự cho là đồ đệ
thuộc lọai die-hard của Jesus đã chết trước đó 3 thế kỷ, vẫn âm thầm
tuyên truyền rĩ tai từ Trung đông đến kinh đô La-mã về một đấng cứu
thế ở trên trời và cõi thiên đường sau khi chết làm cho đám cùng đinh
mê rớt mồng tơi đến nỗi dù cho các hòang đế La-mã tiền nhiệm có ngăn
cấm đến thế nào ngay cả trừng phạt dã man mà phong trào mê tín vẫn
không giảm. Jesus đã bị thái thú La mã Pontius
Pilatus với sự tán thành của hội đồng giáo sĩ Do-thái ở Jerusalem kết
tội chết trên dàn gỗ ở đồi sọ vì tội tuyên truyền chống phá La-mã
và gây rối trị an. Rốt
ráo Constantine I khám phá ra tuyệt chiêu “nếu không dẹp bõ được bọn
phá rối thì nên xử dụng chúng theo cách có lợi hơn.” Khi Constantine
I cất quân quyết tiêu diệt Maxentius,
ông ta gây chia rẽ Rome bằng cách vu cáo Maxentius giết hại tín đồ Ki-tô
giáo, rồi còn tuyên truyền phù thủy
rằng ông thấy hai chữ “chi và rho” trên
trời (mẫu tự Hy-lạp XP lúc đầu tượng trưng cho thần mặt trời Apollo,
về sau lại tượng trưng cho Ki-tô – điều này cho thấy thời ấy mọi
tín ngưỡng đều từ Hy-lạp) và dòng chữ “Với dấu hiệu này ngươi sẽ
chiến thắng” (in hoc signo vinces),
mà khích động được binh sĩ hăng say xông trận. Nhờ vậy Constantine
I giết đươc Maxentius tại cầu Milvian gần
Năm
313, qua “Đạo dụ Milan” (Edict of Milan)
ông cho phép đạo Ki-tô họat động, rồi triệu tập Công đồng Nicaea vào
năm 325, ra lệnh gom góp xào nấu lại những sách cũ của Do-thái giáo và
các sách viết về Jesus của các đồ đệ tạo nên nòng cốt cho cuốn
Bible, và lấy nó làm tín lý của “đạo
Ca-tô La-mã” cho phù hợp với nhu cầu chính trị mới. Dĩ nhiên qua công
đồng này, biết bao nhiêu truyện tích bất lợi cho đế quốc đâ bị lọai
bỏ. Khi được nhà nước bảo trợ thì nội bộ phe
phái tín đồ cũng chia rẽ. Để giải quyết chuyện phân hóa trong các phe
phái Ki-tô, mà nổi nhứt là phái Arius và phái Athanasius, Constantine
I chấp nhận tín lý “Ba Ngôi” gọi là
“Nicene Creed”
ủng hộ Athanasius của
thành Alexandria thần hóa Jesus. Ông nghiễm nhiên trở thành “Hòang đế Ki-tô đầu
tiên”. Ông cũng
cho thành lập một tổ chức tăng lữ tại phố đồi Đám tăng lữ, ban đầu thực ra tòan là tay chân bộ
hạ trong giới hòang thân trưởng giả do ông bổ nhiệm, trở thành những
cán bộ tuyên truyền chính trị được hưỡng lương và thành công trong việc
kết hợp chặt chẻ không thể tách rời giữa thế quyền và thần quyền.
Thời ấy người ta chạy tiền đút lót để được vào giới tăng lữ mà
tận hưởng vinh hoa phú quí (simony).
Hai bên đều có lợi. Tình trạng này còn sa đọa hơn trong thời Trung Cổ
đã nhận chìm châu Âu vào một thời đại đen tối (Dark Ages) trong vòng
900 năm từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 15. Các sử gia ngày nay đánh giá rất cao về mưu đồ
chính trị tinh ma này của Constantine
I cốt để bành trướng và thống nhất
lại đế quốc, chứ ông chả mấy tin vào chuyện thần thánh vớ vẫn. Thật
là diệu kế! nhất cữ lưỡng tòan, mà lợi nhuận lại tăng bội phần. (Even Christian skeptics
have accepted this formulation, though seeing Có thể
nói rằng nếu không có Constantine I thì không hề có Jesus được xưng tụng
như bấy lâu và không hề có Ki-tô giáo, bởi Jesus đã xuất hiện trước
đó hơn 300 năm và hầu như bị quên lãng. Chính Constantine I đã đề cao độc
thần giáo, và biết pha trộn mê tín vào chính trị cho âm mưu thôn tính
thiên hạ có lợi cho mình. Trước đó, chính Constantine I cũng như dân
chúng ở các đế quốc Hy-La chỉ biết tôn thờ đa thần, và đặc biệt là
Apollo, thần mặt trời. Vì thế
khi đẫ chiếm đóng được nước nào thì tập đòan xâm lược và Vatican
liền ra sức tiêu diệt mọi tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa, phong tục tập
quán của bản xứ và cưỡng bức cãi đạo theo Ca-tô ở bất cứ giá
nào, để tạo ra một xã hội đàn cừu thuần nhứt cho kẻ xâm lăng dễ
cai trị. Tổ chức giáo quyền phong kiến ở Vatican nhờ vậy mà vươn dài
như những vòi bạch tuộc xen vào và khuynh đảo chuyện nội bộ của các
nước nhỏ làm lợi cho quyền lợi của các nước tây phương, và đáp lại
được các nước này bảo vệ tối đa ở một nơi an tòan giữa lục địa
châu Âu. Dù lãnh thổ Với một
quá khứ đẫm máu như vậy mà ngày nay Vatican lại xúi dục các cường quốc
tây phương luôn hô hào đòi “tự do tôn giáo” ở các nước phi-Ki-tô.
Thực là một trò đại bịp cười ra nước mắt. Đòi tự do chung chạ giữa
bầy sói và đám cừu non. Cách tổ
chức hệ thống cai trị kềm kẹp của tập đòan tăng lữ Vatican đã được
hòan chỉnh tuyệt hảo qua thời gian cho nên sau này Karl Marx, Lenin và Stalin
trong khi thành lập đảng Cộng sản trên thế giới đã mô phỏng y hệt để
củng cố quyền lực từ trung ương đến địa phương sau khi cướp được
chính quyền. Vì biết tẩy nhau quá kỷ cho nên Vatican luôn là mũi nhọn cố
triệt hạ các chế đô CS vì họ đã dám trực diện chống báng lại Có người
sẽ bảo chuyện đạo Ca-tô La Mã có dính dáng đến chuyện ông thủ tướng
Phan Văn Khải đến thăm Hoa-Kỳ? Ấy chớ vội. Đã bảo “Ngó dzậy mà
không phải dzậy!” Có chứ! Hãy bình tỉnh nghiền ngẫm lại lịch sử đông
tây kim cổ để ôn cố tri tân. 2)
Thực
dân tây phương và Trở lại với chủ nghĩa thực dân tây phương
bắt đầu từ thế kỷ thứ 15. Bấy giờ Bồ-Đào-Nha là một cường quốc
hàng hải. Bà hòang Isabella của xứ Sở dĩ
chuyện mạo hiểm thành công của Columbus được ca tụng om xòm, dù trước
đó đã có nhiều nhà thám hiễm khác đến được Mỹ châu bằng đường
biển mà chẳng hề được nhắc tới là vì ở thế kỹ 13, sự giao dịch
buôn bán Âu Á đều dựa vào con đường tơ lụa dưới sự bảo vệ yên
ổn của đế quốc Mông cổ (Pax Mongolica)
rộng lớn. Nhưng kể từ năm 1453 khi người Muslim Ả Rập lập ra đế quốc
Ottomans chiếm thành phố Constantinople
ở Tiểu Á thì con đường
thương mãi này bị cắt đứt và kinh tế châu Âu bị bế tắt. Vì thế
mà Bồ-Đào-Nha phải cố
tìm đường biển để tái lập giao thương với Á châu. Dù đại đa số thượng lưu châu Âu thời ấy vẫn
cho là quả đất phẳng như cái đĩa vì không dám nói ngược lại với giáo
lý đạo Ca-tô đang độc tôn. Trước thời bấy giờ nói ngược lại những
tín lý đã ghi trong Bible chỉ nhận lấy tội chết. Nhưng những nhà hàng hải
đều cho là quả đất hình tròn, trong đó có Sau khi Hai nước Pháp và Anh cũng không chịu thua sút. Năm
1534 Vua Francis I của Pháp bắt đầu gởi nhiều nhà thám hiểm đi dò đường
chiếm đất như Jacques Cartier tìm đất ở bắc Mỹ, nay là Canada; năm 1673
Louis Joliet và nhà truyền đạo dòng Jesuit tên Jacques Marquette tìm được
Mississippi và Arkansas; năm 1682 René-Robert Cavelier, Sieur de La Salle theo sông
Mississippi ra vịnh Mexico, đã dành mọi đất đai đi qua cho vua Pháp Louis
XIV, trở thành tên Louisiana. Dưới triều vua này quân Pháp trở
nên cường quốc sau khi đã đánh
bại liên quân Tây-Ban-Nha trên
đất bắc châu Âu, chủ yếu ở vùng Hòa-lan. Trong khi ấy hải quân hòang gia Anh luôn đánh cướp
tài sản của các tàu buôn của Tây-Ban-Nha ở châu Mỹ và trên
các đại dương, nên năm 1588 vua Philip của Tây-Ban-Nha quyết
định mang đại hạm đội (Spanish Armada)
sang trừng trị nữ hòang Anh Elizabeth nhưng lại bị thua to vào năm 1660 và
từ đó Tây-Ban-Nha trở nên suy yếu. Trên
cuộc diện thế giới chỉ còn lại hai đấu thủ Anh và Pháp nên sự va chạm không thể tránh càng ngày
càng gia tăng trên các đường hàng hải và thuộc địa. Khi chiếm được thuộc địa thì các đế quốc tây
phương liền nghĩ đến việc xử dụng lao động khai phá, và chi phí rẽ
nhất là bắt dân nô lệ nhất là từ các nước nghèo Phi châu, do đó mà
đã đẩy viêc buôn bán và cưởng bức nô lệ lên đến một mức độ
chưa từng thấy trong lịch sử nhân lọai. Không những các nước thực dân
lớn như Anh, Pháp, Hòa-lan, Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha, mà các nước bé hơn
như Thụy điển và Đan mạch – những nước luôn tự hào với văn minh
Ki-tô - vì lợi nhuận kết sù của việc buôn bán nô lệ cũng nhảy vào kiếm
ăn. Ban đầu họ đã bắt ép dân nô lệ bản xứ ở vùng Caribbean và
Nam Mỹ; nhưng về sau không cung cấp đủ nên họ thay thế bằng nô lệ da
đen nhập từ Phi châu. Đợt dân nô lệ được nhập vào thuộc địa Anh
ở Bắc Mỹ đầu tiên là vào năm 1619 ở cảng Jamestown, Virginia.
Dân nô lệ bị đối xử và hành hạ giết chết không khác gì súc vật. Sự
buôn bán nô lệ này kéo dài hơn 200 năm, cho mãi đến 1827 mới bị ngăn cấm.
Số nô lệ bị thiệt mạng đủ mọi cách có thể lên đến hàng triệu nhưng
cho đến nay vẫn không có con số thống kê chính xác. Năm
1600 nữ hòang Elizabeth I
nhượng
bộ giới tài phiệt hòang gia Anh cho thành lập British East India Company, mục đích ban đầu là xin
được ưu tiên buôn bán với Ấn độ và vùng East Indies trong vòng 15 năm.
Nhưng khi thấy sức đề kháng của Ấn quá yếu công ty này dần biến
thành tập đòan thực dân tấn công và chiếm đóng Ấn vào năm 1757. Sau đó
họ trục xuất người Pháp khỏi Ấn vào năm 1760 chỉ trừ mảng Cũng vì sự độc quyền và bóc lột của họ đã
đưa đến việc dân Mỹ thuộc địa phát khởi Boston Tea Party
ở Province of
Massachusetts Bay nổi dậy để chống lại thực dân Anh, và đưa đến
cuộc chiến tranh dành độc lập của Hoa Kỳ vào
July 4, 1776. Lòng tham lam của Tập đòan British East India Company
này cũng đã làm cho hàng triệu dân nghèo (1/6 dân số của xứ Bengal) bị
chết đói vào các năm 1770-1773 vì
chúng đã cưởng bức vơ vét phần lớn tài nguyên của xứ Bengal, chẳng
khác gì hai triệu dân Bắc và Trung kỳ Việt Nam bị chết đói vào năm Ất
Dậu 1945 do sự dã man của bọn xâm lược Nhật. Năm 1857 đến khi giấy phép độc quyền hết hạn,
hòang gia Anh thay tập đòan tài phiệt này trực tiếp cai trị Ấn. Dù thế
công ty tìm mọi cách kéo dài mãi đến năm 1874 mới giải thể. Giữa thế
kỷ thứ 19, Anh đã quản trị một vùng rộng lớn gồm các nước Ấn, Miến
Điện, Singapore và Hong Kong, có dân số khỏang 1/5 dân số thế giới thời
bấy giờ. Rồi ảnh hưởng còn lan đến Trung quốc, Phi luật tân và Java.
Để giải quyết tài chánh cho việc buôn bán trà, họ tìm cách bán nha phiến
trồng ở Ấn sang Trung quốc và đã dẫn đến các cuộc chiến tranh nha phiến
giữa Anh và Tàu. Chính nhờ tài nguyên vơ vét ở các thuộc địa đã
giúp cho nền kỷ nghệ của Anh phát triển vượt qua các cường quốc khác
ở châu Âu, và càng giúp gia tăng lực lượng xâm lăng của thực dân. Khi việc
cai trị thuộc địa ở châu Mỹ và Ân gặp khó khăn, các cường quốc châu
Âu liền đỏ xô chia cắt châu Phi qua “Hội nghị về Tây Phi” tại Sau khi Robert Clive,
tòan quyền ở Ấn, đánh bại được quân đội Pháp dưới quyền của Joseph François
Dupleix ở Ấn đưa đến hiệp ước Paris vào năm 1763,
tham vọng thuộc địa của Pháp bị tiêu vong. Pháp mất hầu hết thuộc địa
ở Mỹ châu trừ Mississipi vào tay người Anh, liền vội vả tìm kiếm nơi
khác và nạn nhân mới chính là Việt Đến
đầu thế kỷ 19 sau khi hải quân Anh dưới sự chỉ huy của Đô đốc
Horatio Nelson đã tiêu diệt hạm đội của liên quân Pháp và Tây-Ban-Nha của
Napoleon I ở trận Trafalgar, Anh
quốc trở nên siêu cường thế giới, với thuộc địa trải dài quanh địa
cầu. Ngày nay nhiều người vẫn ca tụng và ngưỡng mộ
sự cường thịnh của tây phương mà quên đi các tội ác của họ đã
gây ra cho thế giới. 3)
Tập
đòan thực dân Pháp và Vatican xâm lược Việt Việc
Pháp từng bước xâm lược Việt nam qua sự cấu kết của tập đòan cố
đạo Ca-tô ra sao thì ngày nay các nguồn tư liệu sử học thế giới và Việt
nam đã phơi bày rõ ràng; những nguồn này đã bị các chế độ thực dân
Pháp và Ca-tô miền Nam trước đây bưng bít tối đa để cốt che dấu những
tội ác tày trời. Giáo
sư Phan Khoang đã tóm lược trong cuốn “Việt Nam Pháp Thuộc Sử” tòan bộ
sách lược xâm lược ấy như sau: "Những
sự giao tiếp giữa Pháp và Việt Bàn
về chính sách thâm độc của tập đòan thực dân và cố đạo Vatican cốt
xóa nhòa văn hóa bản địa và tiêu diệt thành phần trí thức ưu tú của
xã hội cũ, rồi đào tạo thành phần trí thức mới vong bản khinh rẽ văn
hóa dân tộc, chỉ biết thụ hưỡng vinh hoa phú quí và phục vụ Vatican
và ngọai bang. Giáo sư Phan Khoang khẳng định: Về
mặt văn hóa cũng vậy, những người Việt Trong lich sử nước Việt, chúng ta được biết đến
các vua Trần Ích Tắc và Lê Chiêu Thống đã bị xú danh thiên cổ trong
các sách sử chỉ vì hành động cỏng rắn cắn gà nhà, đi hạ mình cầu
cạnh với ngọai bang hùng mạnh phương bắc để cầu xin họ cứu lại cho
ngai vàng, và gần đây là Nguyễn Ánh trong cơn tuyệt vọng đã rơi vào cạm
bẩy của cố đạo Bá Đa Lộc (Pigneau
de Béhaine) để dẫn đến việc đất nước
bị gần 100 năm nô lệ giặc tây. So sánh các sự kiện ấy, cũng cùng một hành động
nông nổi; ta thấy gì? Thực đáng thương cho hai vị vua cuối của nhà Trần
và nhà Lê chỉ vì họ sinh ra bất phùng thời và thất bại đành mang tiếng
xấu; trong khi ấy Nguyễn Ánh lại gặp phải bọn tây dương với phương
tiện dồi dào và vũ khí tiến bộ, đang rình rập thôn tính thuộc địa
đã đưa ông lên ngôi hòang đế lập ra triều Nguyễn kéo dài 143 năm
(nhưng hết 71 năm chịu sự bảo hộ của tây), thì lại được ca tụng.
Đến khi Nguyễn Ánh nhận ra được bộ mặt xảo trá của thực dân Pháp
và cố đạo thì đã muộn rồi. Người ta tự hỏi tại sao các cố đạo gián điệp
lại đi giúp Nguyễn Ánh diệt nhà Tây Sơn vốn được dân chúng ủng hộ?
Câu trả lời thực đơn giản, bởi giúp kẻ cùng đường thì mới đạt
nhiều lợi nhuận hơn trong việc ngả giá, và hậu quả tai hại vô lường
đã để lại cho các thế hệ con cháu phải gánh chịu là tình trạng chia
rẽ dân tộc sâu đậm dù khi đất nước được thống nhất như ta đã thấy
hiện nay. Nước
Pháp có truyền thống tuân phục Vatican từ lâu đời, khi Giáo Hòang Saint Rèmi rữa tội cho vua
Clovis vào năm 498 TL., nên từ
đó đã được phong là “trưởng Nữ của Giáo Hội” (Eldest Daughter of the Church). Ở Á
đông, bất hạnh làm sao cho Việt nam lại bị cố đạo Vatican và thực
dân Pháp dòm ngó đến, và trở thành một nước có đạo quân Ca-tô lớn
sau Phi-luật-tân. Trong cùng thới kỳ ấy nước Nhật vào thế kỷ 16, khi
nhìn thấy được những âm mưu thâm độc của bọn cố đạo Ca-tô và sự
phản phúc của các họ đạo (dalmyo), nên
sau khi Tây- ban-nha chiếm đóng Phi-luật-tân, sứ quân Hideyoshi (1536-1598), liền
ra lệnh đóng đinh 9 cố đạo và 17 tân tòng chết trên giá gỗ. Đến thời
sứ quân Tokugawa Iemitsu (trị vì từ 1623 đến 1641), ông còn quyết liệt hơn
ra lệnh vào năm 1635 triệt để cấm các tàu bè của bọn tây dương lui tới
Nhật buôn bán hoặc truyền đạo. Năm 1639 lại ra lệnh trục xuất bọn cố
đạo dòng Jesuits Bồ-đào-nha và tận diệt các họ đạo, nhờ vậy mà Nhật
không bị nhiểu lọan bởi đám Ca-tô tân tòng như ở Việt nam. Đạo
lý đông phương xưa nay luôn đề cao những giá trị chánh nhân quân tử,
phân định chính tà, hay rạch ròi vương bá đạo, đế cao lòng yêu nước
thương nòi. Ngày nay xem ra những thứ ấy đã bị các giá trị Ki-tô của
tây phương đẩy vào đống rác lịch sử từ lâu. Cái mê hồn thuyết đầy huyền hoặc do Constantine I
xào nấu ban đầu cộng với quyền lực và tiền bạc của Vatican qua 17 thế
kỷ đã làm cho tân tòng bản địa mất hướng và thất lạc lương tri, trở
thành những tên cuồng tín làm bất cứ điều gì Vatican sai khiến. Họ
không còn sáng suốt để phân biệt chân giả; mất đi cái khái niệm tổ
quốc và nòi giống tổ tiên. Trái lại họ sinh lòng kiêu ngạo tự đắc với
đức tin mới và quay lại khinh rẽ nhứng tín ngưỡng truyền thống cao đẹp
của tổ tiên vì họ đã biến thành một bộ phận người máy của quốc
tế chuyên phục vụ cho tổ quốc mới của họ là Vatican. Họ chỉ biết
trung thành và làm nô lệ cho Các
thuộc địa của Anh sau khi được độc lập không mắc phải cái “sinh tử
phù” của Ca-tô giáo là vì đế quốc Anh, vốn chuộng Tin-lành mà giáo hội
này chưa có một tổ chức quốc tế hữu hiệu lâu đời như Vatican. Các
xã hội cũ của thuộc địa Anh không bị phân hóa đời đời bởi các đạo
quân thứ năm cuồng tín thô bạo và vong bản do Nhìn lại lịch sử Việt nam cận đại sau thời kỳ
Pháp cai trị và đòi quay trở lại (1883-1954) ta học được gì? Mọi chuyện
bây giờ đã lắng xuống làm cho những âm mưu đen tối của Rồi ta thấy tập đòan này đã làm mọi cách để
di cư một triệu dân Ca-tô ở miền bắc vào nam, ưu tiên là các vùng Bùi
Chu, Phát Diệm vì hai lẽ: 1) Vì bọn này có thành tích làm tay sai cho Pháp
khét tiếng nên sợ Việt Minh trả thù. 2) Đem một lực lượng cuồng tín
như thế để làm nòng cốt cho chính quyền của con chiên Ngô Đình Diệm,
do Rồi cái khối này dựa vào ngọai bang trở nên
kiêu căng, lộng hành, khuynh lóat, tranh chiếm những đặc quyền, đặc lợi
vơ vét tài nguyên đất nước, ăn trên ngồi trước nắm mọi chức vụ
then chốt với sự tiếp tay của gia đình Diệm, theo lệnh của Vatican bày
ra chiêu bài mới Quốc-Cộng, cốt che đậy cuộc chiến tranh tôn giáo bẩn
thĩu, với chút hy vọng đảo ngược được thế cờ và Ca-tô hóa miền
nam cho nhanh chóng. Tất cả những điều này đã làm cho lòng dân càng óan
hận, vô tình đã làm lợi cho đối phương miền bắc ngay từ đầu vì đã
mất đi chính nghĩa. Mặc dù được tân đế quốc Mỹ ồ ạt đổ tiền
của, vũ khí chống đở nhưng than ôi, đã mất chính nghĩa thì còn làm
nên cơm cháo gì nữa, chỉ tội cho quân dân miền nam trở nên nạn nhân của
cuộc chiến nhơ bẩn không lối thóat kéo dài 20 năm. Chuyện gì phải đến
đã đến vào năm 1975. Lại một lần nữa khối quân lính cán bộ miền
nam, mà đại bộ phận nòng cốt là Ca-tô lại tháo chạy ra nước ngòai tị
nạn, nhưng kỳ này thì không được tổ chức chu đáo tươm tất có chuẩn
bị như 1954. II. Chuyện Nay: Dù muốn nói xuyên tạc cách nào đi chăng nữa thì
không ai phủ nhận được thành quả chiến thắng của dân tộc Việt A) Khối người Việt lưu vong ở Hải Ngọai: Dĩ nhên trong cuộc nội chiến tương tàn nào, kẻ
chiến thắng lúc ban đầu cũng phạm nhiều sơ sót gây ra vô số hậu quả
thương đau cho kẻ bại trận. Nhưng xét cho cùng với thời gian sự chia rẽ
thù hằn cũng sẽ tiêu tan với thời gian và do tinh thần yêu nước; mọi
người sẽ chung sức làm cho đất nước tiến bộ giàu mạnh hơn. Chuyện
đó đã xảy ra ở Trung quốc, ở Nga, ở Đức vv… nhưng không hề xảy ra
với Việt Giống như sau 1954, tập đòan tây phương và Họ phải luôn tìm mọi chiêu bài để tiếp tục hiện
hữu. Còn nhớ ngày nào của thập niên ’80, họ ngồi ấm êm ở Mỹ, ở
Pháp, ở Úc mà cứ kêu gào về nước lập chiến khu, kháng chiến, giải
phóng vv…đã làm bao kẻ ngây thơ mắc mưu gây quỉ, có người bỏ mạng
oan uổng. Đến lúc mọi người thấy tòan là bịp chán ngán thì nay họ đổi
sang đòi tự do tôn giáo, đòi trả lại đất đai tài sản cho giáo hội
Ca-tô, đòi tôn trọng nhân quyền. Tự do tôn giáo theo kiểu ngay ở hải ngọai
nếu các tăng sĩ Phật giáo từ trong nước sang hành đạo thì bọn cuồng
tín côn đồ liền biểu tình chống phá trước cổng chùa; nhưng khi có cha
cố từ trong nước đến gây quỉ thì tuyệt nhiên chẳng ai biểu tình trước
nhà thờ; ngược lại còn được đón tiếp linh đình. Đòi nhân quyền
theo kiểu muốn dân Việt trở thành bầy gia súc trong các họ đạo khuôn mẫu
ở châu Mỹ La-tinh. Đa số người Việt ở các cộng đồng hải ngọai đều
đã nhận ra bộ mặt thật của bọn mafia chính trị này, nên dần xa lánh.
Đặc điểm của bọn người này rất dễ nhận diện: con chiên Ca-tô, đầu
óc đã bị nhồi sọ một chiều chống cộng chết bỏ, hết đức Mẹ vào
nam thì nay đức Mẹ vượt biên, cái gì dính líu đến Việt Nam ngày nay đều
là xấu xa, vẫn còn lạc hậu, quê mùa cứ như còn ở thế kỷ 18, 19.
Không thể nào đối thọai lý lẽ lịch sự với họ được; bởi nói ngược
ý của họ có nghĩa là bị đe dọa, bị luật rừng. Họ cứ nghĩ dân trí
của đồng bào bây giờ cứ còn ở vào thời kỳ 1950; thực đáng thương
là họ không nhận ra rằng họ đã bị thời cuộc bỏ rơi quá xa. Bọn này trước đây vốn hét ra lửa mữa ra khói
ở miền nam bỗng chốc chỉ là lũ nộm phường tuồng, nên chuyện “to be
or not to be” là phải múa may quay cuồng để ăn tiền tài trợ. Ngày xưa dân
ta có câu: “Ăn cơm chúa, múa tối ngày” là thế! Ở các xã hội tây phương
ai cũng biết rằng nếu không bị homeless thì chẳng ai có thì giờ dư đi làm
các chuyện ruồi bu, như biểu tình chống phá, hung hãn cuồng tín u mê như
vài đám bị giật dây biểu tình nhân chuyến viếng thăm của ông thủ tướng
Khải vừa qua. Mà cũng lạ lắm, với bản chất vong thân họ càng hả hê
khi nhục mạ được đất nước, bôi xấu được tổ quốc, và vui mừng
hòa theo với kẻ thù của dân tộc. Đây là sách lược nham hiễm “hai mặt giáp công”
của Vatican; một mặt các cố đạo Ca-tô phối hợp với tây phương liên
tục áp lực với chính phủ độc lập ở Việt Nam để thiết lập lại mối
khống chế phong kiến cũ hầu kiểm sóat mọi họat động truyền giáo
Ca-tô trong nước, nhận lệnh trực tiếp từ Vatican; và đòi nhà nước trả
lại mọi tài sản của Ca-tô đã chiếm được từ thời thực dân Pháp
và hai chế độ Ca-tô ở miền nam. Mặt kia thì cứ nuôi dưỡng bọn tay
sai lưu vong chuyên chống phá Việt Trung quốc, một cường quốc với nền văn minh lâu
dài đã thành công trong đối sách này với Sau 30 năm bỏ nước ra đi, đa số dân chúng di tản
đã mõi mệt với các trò tuyên truyền thù hận xưa cũ đã nối lại tâm
tình quê hương với đất nước nay đã khá hơn xưa rất nhiều lại càng
làm cho bọn đầu nậu này thêm tức tối. Người ta chỉ còn hy vọng là
cái thế hệ hư hỏng này qua đi thì đất nước mới có ngày hòa hợp và
thế hệ trẻ của cộng đồng sẽ mạnh dạn đóng góp tài sức để xây
dựng một nước Việt B) Chính quyền trong nước: Không ai có thể phủ nhận được thế chính thống
của chính phủ hiện nay ở Việt Tuy vậy, trong men say chiến thắng năm 1975 chính
sách của họ đối xử với đồng bào miền nam thiếu chuẩn bị đã gây
nhiều đau khổ cho phía chiến bại. Điều đó không thể bào chữa chối
cãi được. Nhưng điều óai oăm ở đây vẫn là những oan khiên lịch sử.
Phía chiến bại thông thường rồi cũng hòa nhập vào dòng sông vận mệnh
của dân tộc, và mọi sự sẽ êm ả theo thời gian trừ phi có sự phá rối
xen vào của ngọai bang. Bằng chứng vẫn là những biến động của các thời
kỳ 1954 và 1975 còn tồn tại cho đến nay. Bài học ấy tin chắc chính phủ
Vệt Hy sinh trong đấu tranh xem ra còn dễ hơn bảo tồn
được thành quả trong hòa bình, mà kẻ thù luôn là ba đầu sáu tay ranh ma
vô cùng, chực chờ quay lại. Chúng nào chịu buông tha một cách dễ dàng
như thế. Mới ngày nào nhà nước Việt Nay vì nhu cầu sống còn của một đất nước nhược
tiểu, luôn vẫn phải đương đầu với cường quốc phương bắc, muốn dành
một chân đứng để vươn lên trong chính và thị trường thế giới, đành
phải mở cửa hòa nhập cầu thân với siêu cường, kẻ cựu thù. Qua chuyến
viếng thăm Mỹ của thủ tướng Khải, phái đòan đã đạt được rất
nhiều thỏa hiệp kinh tế, nhưng một chuyện không hề được công bố
trong chuyến công du có lẽ là mời gọi các công ty dầu hỏa Hoa Kỳ sang
tiếp tục khai thác các mõ dầu ở thềm lục địa Việt Nam đã bị bỏ dỏ
từ 1975. Qua việc này chính phủ VIệt Dĩ nhiên trong cái thế ngọai giao mặc cả, các tập
đòan thực dân và Mong rằng đảng cầm quyền trong nước hiện nay vốn
đã có nhiều kinh nghiệm chính trị khôn ngoan không dễ gì bị sa lầy
trong trận thế kinh tế tòan cầu, mắc mưu nham hiểm của các thế lực
đen tối. Muốn cho Việt Mùa lễ Độc Lập
của Hoa Kỳ, 2005. Trần Niệm Từ |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com