705-gdlogo.gif (49914 bytes)
          posted: 07.7.2005

Tản Mạn Quanh Việc Thủ Tướng Phan Văn Khải Thăm Viếng Hoa Kỳ

Trần Niệm Từ

Quả là trên đời này không việc gì lại không thể xảy ra, mà nhất là chuyện “chính chị, chính em” ở cái cõi ta bà ô trọc này, cho nên ngạn ngữ Tây phương hay bảo “Chẳng bao giờ nói không đời nào! Never say never!” Còn giới bình dân mình hay phán là “Ngó dzậy mà không phải dzậy!” Và bạn cứ đem chân lý ấy ứng dụng vào đời sống thường ngày thì “ngộ” ra ngay mọi chuyện trước mắt mà chẳng cần phải tranh luận cãi vã lôi thôi với ai. Chiêu bài trắng xanh vàng đỏ gì cũng chỉ là nhất thời gió thỏang mây bay, chỉ có bao nhiêu nạn nhân chết vì nó có ngậm cười nơi chính suối hay không?

Một trong những chuyện lạ mới đây là việc Thủ tướng nước XHCN Việt Nam Phan Văn Khải và phái đòan nhà nước chính thức thăm viếng nước cựu thù Hoa Kỳ trong một tuần lễ từ 15 tháng 6. Qua cuộc công du này ông đã gặp các nhân vật tăm tiếng của Mỹ như Bill Gates của đại công ty Microsoft và thăm ban giám đốc xưởng chế tạo phi cơ Boeing ở tiểu bang Washington, tiếp kíến TổngThống Mỹ George W. Bush tại Tòa Nhà Trắng ở DC; viếng vài cơ sở giáo dục và kỷ nghệ ở Boston, và làm việc với John Thain, Giám đốc điều hành NYSE và M.Sullivan, Giám đốc điều hành Công ty AIG trước khi rung hồi chuông khai mạc giao dịch chứng khóan ở Wall Street ở New York.

Cái châu Mỹ này quả là điểm hẹn của lịch sử thế giới từ ngày nó được Christopher Columbus đặt chân lên vào tháng 10 năm 1492. Kể từ đấy diện mạo chính trị quốc tế đổi thay nhanh chóng, có thể nói là bước ngoặc của lịch sử nhân lọai. Chuyện chính chị chính em đối với tây phương trở thành ván bài bi-zi-nết mà thôi. Chỉ có quyền lợi và lòng tham lam ích kỷ là quan trọng. Đường ranh giới giữa mọi giá trị đạo đức đều vô nghĩa. Vì đâu nên nổi?

Để thấy những cái liên hệ chằng chịt dây mơ rễ má trong hơn 5 thế kỷ qua, ta hãy từ từ mà tản mạn chuyện xưa và chuyện nay. Các bạn khoan nhảy chổm vào chuyện quốc cộng tương tranh hay “cuốc ra” và “cộng vào”.

I. Chuyện xưa:  

Sau cái chuyến phiêu lưu ấy ở thế kỷ 15 của họ Kha, các cường quốc tây phương, nỗi nhất thời bấy giờ là Tây-Ban-Nha, Bồ-Đào-Nha, Hòa-Lan, Pháp Anh xem thế giới là vật sở hữu của mình nên tranh nhau đi xâm chiếm đất đai quanh địa cầu để vơ vét tài nguyên và mở ra một giai đọan dài của chủ nghĩa thực dân, mạnh được yếu thua, chẳng đếm xĩa gì đến chủ quyền quốc gia của bất kỳ nước nào. Tình trạng này vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm đến bây giờ, và ta thấy rằng chính trường thế giới ngày nay vẫn là sân chơi của cái đám tây phương da trắng. Họ chỉ cốt bảo vệ cho nhau mà thôi và áp đặt mọi ý muốn của mình lên trên các nước khác. Các nhược tiểu quốc chỉ còn là đám ruồi bu, chẳng đáng giá một xu.

Thực ra tham vọng đế quốc của tây phương đã có từ thời ông hòang đế trẻ Alexander the Great của Hy-lạp, ở thế kỷ thứ 4 trước TL Ông đã bành trướng thế lực qua phương đông và sự sống còn của các nước nhỏ xem như cỏ rác. Từ đấy để phục vụ cho các cuộc chiến xâm lăng, vũ khí và phương tiện dĩ nhiên luôn cãi tiến để giết người nhiều hơn và nhanh hơn. Nhưng rồi chiếm được đất mà không giữ được cho lâu dài thì có phải là hòai công không? Chẳng thể cai trị vùng đất mới chiếm với gươm giáo mãi, phải cần có một lọai “mê hồn thuyết” nào đó để ru ngũ dân tình và dễ sai khiến.

Cho mãi đến 8 thế kỷ sau, cái mê hồn thuyết đó đã được tìm ra gọi là “đạo Ca-tô La-mã” (Roman Catholic) do hòang đế La-mã Flavius Valerius Aurelius Constantinus (272337) mà tây phương hay gọi là Constantine I sáng lập ra. Ở đây ta nên để ý đến mấy chữ “Ca-tô La-mã” đã đi vào lịch sử không thể sữa đổi được nữa, để phân biệt với các hệ phái Ki-tô khác như Chính thống giáo, Anh giáo và Phản thệ giáo nấy sinh về sau, tương đối ít nham hiểrm bằng Ca-tô La-mã. Vì đạo này, hay nói cho đúng hơn tổ chức giáo hội này, được thành lập để phục vụ cho nhu cầu chính trị của đế quốc La-mã, chẳng hề dính dự gì đến chuyện tín ngưỡng linh thiêng chân chính gì cả. Nói tắt lại nó chỉ là một công cụ chính trị cho đế quốc, mà đến nay vẫn còn rất hiệu nghiệm.

1)                  Hòang Đế La-Mã Constantine I và đạo Ca-tô La-Mã:

Câu chuyện bắt đầu vào đầu thế kỷ 4, khi đế quốc La-Mã quá rộng đến độ bị phân hóa thành tây và đông, với hai đối thủ làm hòang đế cai trị ở hai phương, Maxentius ở kinh đô Rome và Constantine I cùng với em vợ là Licinius ở Byzantium (về sau đổi tên là Constantinople mà nayİstanbul – thủ đô của Thổ-Nhĩ-Kỳ).

Bao lâu nay Constantine I rất ngạc nhiên khi thấy có một nhóm tự cho là đồ đệ thuộc lọai die-hard của Jesus đã chết trước đó 3 thế kỷ, vẫn âm thầm tuyên truyền rĩ tai từ Trung đông đến kinh đô La-mã về một đấng cứu thế ở trên trời và cõi thiên đường sau khi chết làm cho đám cùng đinh mê rớt mồng tơi đến nỗi dù cho các hòang đế La-mã tiền nhiệm có ngăn cấm đến thế nào ngay cả trừng phạt dã man mà phong trào mê tín vẫn không giảm. Jesus đã bị thái thú La mã Pontius Pilatus với sự tán thành của hội đồng giáo sĩ Do-thái ở Jerusalem kết tội chết trên dàn gỗ ở đồi sọ vì tội tuyên truyền chống phá La-mã và gây rối trị an. Rốt ráo Constantine I khám phá ra tuyệt chiêu “nếu không dẹp bõ được bọn phá rối thì nên xử dụng chúng theo cách có lợi hơn.”

Khi Constantine I cất quân quyết tiêu diệt Maxentius, ông ta gây chia rẽ Rome bằng cách vu cáo Maxentius giết hại tín đồ Ki-tô giáo, rồi còn tuyên truyền phù thủy rằng ông thấy hai chữ “chirho” trên trời (mẫu tự Hy-lạp XP lúc đầu tượng trưng cho thần mặt trời Apollo, về sau lại tượng trưng cho Ki-tô – điều này cho thấy thời ấy mọi tín ngưỡng đều từ Hy-lạp) và dòng chữ “Với dấu hiệu này ngươi sẽ chiến thắng” (in hoc signo vinces), mà khích động được binh sĩ hăng say xông trận. Nhờ vậy Constantine I giết đươc Maxentius tại cầu Milvian gần Rome vào năm 312. Độ xác thực bao nhiêu không ai được rõ bởi vì các tài liệu viết về Constantine I đều do tân tòng viết lại cho kẻ chiến thắng. Vào năm 325 ông hạ bệ luôn cả Licinius rồi cho treo cổ, mà trước đó ông ta đã công bố sẽ tha tội chết. Năm 326 Constantine I giết luôn người con trai trưởng Crispus và bà vợ bé Fausta.

Năm 313, qua “Đạo dụ Milan” (Edict of Milan) ông cho phép đạo Ki-tô họat động, rồi triệu tập Công đồng Nicaea vào năm 325, ra lệnh gom góp xào nấu lại những sách cũ của Do-thái giáo và các sách viết về Jesus của các đồ đệ tạo nên nòng cốt cho cuốn Bible, và lấy nó làm tín lý của “đạo Ca-tô La-mã” cho phù hợp với nhu cầu chính trị mới. Dĩ nhiên qua công đồng này, biết bao nhiêu truyện tích bất lợi cho đế quốc đâ bị lọai bỏ.

Khi được nhà nước bảo trợ thì nội bộ phe phái tín đồ cũng chia rẽ. Để giải quyết chuyện phân hóa trong các phe phái Ki-tô, mà nổi nhứt là phái Arius và phái Athanasius, Constantine I chấp nhận tín lý “Ba Ngôi” gọi là “Nicene Creed” ủng hộ Athanasius của thành Alexandria thần hóa Jesus. Ông nghiễm nhiên trở thành “Hòang đế Ki-tô đầu tiên”. Ông cũng cho thành lập một tổ chức tăng lữ tại phố đồi Vatican (Mons Vaticanus) ngọai ô Rome để giúp việc, về sau biến thành Giáo-Hội Ca-tô La-Mã dựa trên những tín luật do ông đặt ra. Ngay cả câu chuyện xử chết Jesus cũng được sữa lại là do các tu-sĩ Do-thái chủ trương chứ chẳng phải do người La-Mã. Do đó mà dân Do-thái về sau luôn bị Giáo-Hội Ca-tô truy diệt không nương tay.

Đám tăng lữ, ban đầu thực ra tòan là tay chân bộ hạ trong giới hòang thân trưởng giả do ông bổ nhiệm, trở thành những cán bộ tuyên truyền chính trị được hưỡng lương và thành công trong việc kết hợp chặt chẻ không thể tách rời giữa thế quyền và thần quyền. Thời ấy người ta chạy tiền đút lót để được vào giới tăng lữ mà tận hưởng vinh hoa phú quí (simony). Hai bên đều có lợi. Tình trạng này còn sa đọa hơn trong thời Trung Cổ đã nhận chìm châu Âu vào một thời đại đen tối (Dark Ages) trong vòng 900 năm từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 15.

Các sử gia ngày nay đánh giá rất cao về mưu đồ chính trị tinh ma này của Constantine I cốt để bành trướng và thống nhất lại đế quốc, chứ ông chả mấy tin vào chuyện thần thánh vớ vẫn. Thật là diệu kế! nhất cữ lưỡng tòan, mà lợi nhuận lại tăng bội phần. (Even Christian skeptics have accepted this formulation, though seeing Constantine's policy as a political one, unifying and strengthening the Empire, rather than a spiritual move. Still the Edict of Milan indicated that reverence to the Divine, as shown by past history, was for the good of the Roman Empire. The Roman Emperor has become more responsible to the Divine for giving religious guidance to its people than in the past – Wikipedia.) Chỉ vì nhu cầu chính trị nhất thời mà Constantine I đã mở cái hộp Pandora để ám khí mê hồn thuyết thóat ra và từ đấy thế giới bị nhiều tai ách khổ đau. Bởi vì cái đạo Ca-tô La-Mã này đã là một khí cụ không thể thiếu trong các sách lược bành trướng của các đế quốc xâm lược từ tây phương.

Có thể nói rằng nếu không có Constantine I thì không hề có Jesus được xưng tụng như bấy lâu và không hề có Ki-tô giáo, bởi Jesus đã xuất hiện trước đó hơn 300 năm và hầu như bị quên lãng. Chính Constantine I đã đề cao độc thần giáo, và biết pha trộn mê tín vào chính trị cho âm mưu thôn tính thiên hạ có lợi cho mình. Trước đó, chính Constantine I cũng như dân chúng ở các đế quốc Hy-La chỉ biết tôn thờ đa thần, và đặc biệt là Apollo, thần mặt trời.

Vì thế khi đẫ chiếm đóng được nước nào thì tập đòan xâm lược và Vatican liền ra sức tiêu diệt mọi tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa, phong tục tập quán của bản xứ và cưỡng bức cãi đạo theo Ca-tô ở bất cứ giá nào, để tạo ra một xã hội đàn cừu thuần nhứt cho kẻ xâm lăng dễ cai trị. Tổ chức giáo quyền phong kiến ở Vatican nhờ vậy mà vươn dài như những vòi bạch tuộc xen vào và khuynh đảo chuyện nội bộ của các nước nhỏ làm lợi cho quyền lợi của các nước tây phương, và đáp lại được các nước này bảo vệ tối đa ở một nơi an tòan giữa lục địa châu Âu. Dù lãnh thổ Vatican chỉ là một thành phố nhỏ nhưng nhờ cách tổ chức tinh vi như trên nên tiền của tài nguyên thâu tóm chia chác từ các nước khác đã là một nguồn kinh tài đồ sộ. Họ đã dùng nguồn kinh tài này để tái đầu tư vào các cuộc khuynh đảo, o ép, mua chuộc và cữơng bức cãi đạo ở các nước nhỏ chưa bị khống chế mà họ gọi là truyền đạo.

Với một quá khứ đẫm máu như vậy mà ngày nay Vatican lại xúi dục các cường quốc tây phương luôn hô hào đòi “tự do tôn giáo” ở các nước phi-Ki-tô. Thực là một trò đại bịp cười ra nước mắt. Đòi tự do chung chạ giữa bầy sói và đám cừu non.

Cách tổ chức hệ thống cai trị kềm kẹp của tập đòan tăng lữ Vatican đã được hòan chỉnh tuyệt hảo qua thời gian cho nên sau này Karl Marx, Lenin và Stalin trong khi thành lập đảng Cộng sản trên thế giới đã mô phỏng y hệt để củng cố quyền lực từ trung ương đến địa phương sau khi cướp được chính quyền. Vì biết tẩy nhau quá kỷ cho nên Vatican luôn là mũi nhọn cố triệt hạ các chế đô CS vì họ đã dám trực diện chống báng lại Vatican. Than ôi, các chính quyền CS là những đối tượng cụ thể trần gian nên dễ bị tiêu diệt trong khi hệ thống của Vatican lại là hư hư ảo ảo được pha màu thần bí nữa đời nữa đạo, nên các thế lực chống đối không tìm ra được mục tiêu cụ thể để triệt hạ.

Có người sẽ bảo chuyện đạo Ca-tô La Mã có dính dáng đến chuyện ông thủ tướng Phan Văn Khải đến thăm Hoa-Kỳ? Ấy chớ vội. Đã bảo “Ngó dzậy mà không phải dzậy!” Có chứ! Hãy bình tỉnh nghiền ngẫm lại lịch sử đông tây kim cổ để ôn cố tri tân.

2)                  Thực dân tây phương và Vatican trong chính sách Thuộc Địa:

 Trở lại với chủ nghĩa thực dân tây phương bắt đầu từ thế kỷ thứ 15. Bấy giờ Bồ-Đào-Nha là một cường quốc hàng hải. Bà hòang Isabella của xứ Castile ở Bồ Đào Nha và chồng là vua Tây Ban Nha Ferdinand V nhanh tay tài trợ cho cuộc mạo hiểm này của Columbus đâm ra trúng lớn trở nên giàu to nhờ của cải chiếm được ở tân thế giới. Nên nhớ là luôn luôn vẫn có bóng đen của Vatican nằm ở phía sau yểm trợ và hưởng lợi; bởi theo thời gian và với nhiều thủ đọan chính trị thâm độc nên từ thời Giáo Hòang Gregory VII (GH: 1073-85), Vatican đã thóat ra khỏi được sự khống chế của các vua chúa đế quốc Thánh La-Mã (Holy Roman Empire), rồi trở nên độc lập và càng ngày càng chi phối chính trường châu Âu. Ông này đã tìm cách hạ bệ được hòang đế Henry IV và từ đó Giáo Hòang nắm giữ quyền phong vương hay hạ bệ các vua chúa tây phương bấy giờ như trở bàn tay. Cũng vì giáo quyền lấn át cả thế quyền nên năm 1095, Giáo Hòang Urban II đã xúi dục và mở đầu những cuộc thập tự chiến (crusades) đẩm máu qua Trung đông. Danh từ thập tự chiến này ngày nay còn được tây phương dùng để chỉ cho những cuộc tiến đánh các phe phi-Ki-tô. [The term Crusade was originally applied solely to European efforts to retake from the Muslims the city of Jerusalem, which was sacred to Christians as the site of the crucifixion of Jesus Christ. It was later used to designate any military effort by Europeans against non-Christians – Microsoft Encarta Encyclopedia Deluxe - 2004.]

Sở dĩ chuyện mạo hiểm thành công của Columbus được ca tụng om xòm, dù trước đó đã có nhiều nhà thám hiễm khác đến được Mỹ châu bằng đường biển mà chẳng hề được nhắc tới là vì ở thế kỹ 13, sự giao dịch buôn bán Âu Á đều dựa vào con đường tơ lụa dưới sự bảo vệ yên ổn của đế quốc Mông cổ (Pax Mongolica) rộng lớn. Nhưng kể từ năm 1453 khi người Muslim Ả Rập lập ra đế quốc Ottomans chiếm thành phố Constantinople ở Tiểu Á thì con đường thương mãi này bị cắt đứt và kinh tế châu Âu bị bế tắt. Vì thế mà Bồ-Đào-Nha phải cố tìm đường biển để tái lập giao thương với Á châu.

Dù đại đa số thượng lưu châu Âu thời ấy vẫn cho là quả đất phẳng như cái đĩa vì không dám nói ngược lại với giáo lý đạo Ca-tô đang độc tôn. Trước thời bấy giờ nói ngược lại những tín lý đã ghi trong Bible chỉ nhận lấy tội chết. Nhưng những nhà hàng hải đều cho là quả đất hình tròn, trong đó có Columbus, và ông ta nghĩ rằng có thể đến châu Á nhanh hơn bằng cách băng qua Đại tây dương.  

Sau khi Columbus thành công thì nhiều nhà thám hiểm khác tranh nhau ra biển. Năm 1487, Bartolomeu Dias lái được tàu vòng qua Mũi Hảo Vọng (Cape of Good Hope) ở châu Phi, rồi năm 1498 Vasco da Gama đến được Ấn độ, mở đầu cho sự bành trướng thuộc địa của Bồ qua châu Phi và Á. Tây-Ban-Nha cũng không chịu kém, sau khi chiếm được vài nơi trên châu Mỹ thì liền ngó qua châu Á, năm 1565 Miguel López de Legaspi chiếm Phi luật tân. Năm 1571 hải quân Tây-Ban-Nha lại đánh bại hải quân của đế quốc Hồi Ottomans ở trận Lepanto thì trở nên hùng mạnh.

Hai nước Pháp và Anh cũng không chịu thua sút. Năm 1534 Vua Francis I của Pháp bắt đầu gởi nhiều nhà thám hiểm đi dò đường chiếm đất như Jacques Cartier tìm đất ở bắc Mỹ, nay là Canada; năm 1673 Louis Joliet và nhà truyền đạo dòng Jesuit tên Jacques Marquette tìm được Mississippi và Arkansas; năm 1682 René-Robert Cavelier, Sieur de La Salle theo sông Mississippi ra vịnh Mexico, đã dành mọi đất đai đi qua cho vua Pháp Louis XIV, trở thành tên Louisiana. Dưới triều vua này quân Pháp trở nên cường quốc sau khi đã đánh bại liên quân Tây-Ban-Nha trên đất bắc châu Âu, chủ yếu ở vùng Hòa-lan.  

Trong khi ấy hải quân hòang gia Anh luôn đánh cướp tài sản của các tàu buôn của Tây-Ban-Nha ở châu Mỹ và trên các đại dương, nên năm 1588 vua Philip của Tây-Ban-Nha quyết định mang đại hạm đội (Spanish Armada) sang trừng trị nữ hòang Anh Elizabeth nhưng lại bị thua to vào năm 1660 và từ đó Tây-Ban-Nha trở nên suy yếu.

Trên cuộc diện thế giới chỉ còn lại hai đấu thủ Anh và Pháp nên sự va chạm không thể tránh càng ngày càng gia tăng trên các đường hàng hải và thuộc địa.

Khi chiếm được thuộc địa thì các đế quốc tây phương liền nghĩ đến việc xử dụng lao động khai phá, và chi phí rẽ nhất là bắt dân nô lệ nhất là từ các nước nghèo Phi châu, do đó mà đã đẩy viêc buôn bán và cưởng bức nô lệ lên đến một mức độ chưa từng thấy trong lịch sử nhân lọai. Không những các nước thực dân lớn như Anh, Pháp, Hòa-lan, Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha, mà các nước bé hơn như Thụy điển và Đan mạch – những nước luôn tự hào với văn minh Ki-tô - vì lợi nhuận kết sù của việc buôn bán nô lệ cũng nhảy vào kiếm ăn. Ban đầu họ đã bắt ép dân nô lệ bản xứ ở vùng Caribbean và Nam Mỹ; nhưng về sau không cung cấp đủ nên họ thay thế bằng nô lệ da đen nhập từ Phi châu. Đợt dân nô lệ được nhập vào thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ đầu tiên là vào năm 1619 ở cảng Jamestown, Virginia. Dân nô lệ bị đối xử và hành hạ giết chết không khác gì súc vật. Sự buôn bán nô lệ này kéo dài hơn 200 năm, cho mãi đến 1827 mới bị ngăn cấm. Số nô lệ bị thiệt mạng đủ mọi cách có thể lên đến hàng triệu nhưng cho đến nay vẫn không có con số thống kê chính xác. 

Năm 1600 nữ hòang Elizabeth I nhượng bộ giới tài phiệt hòang gia Anh cho thành lập British East India Company, mục đích ban đầu là xin được ưu tiên buôn bán với Ấn độ và vùng East Indies trong vòng 15 năm. Nhưng khi thấy sức đề kháng của Ấn quá yếu công ty này dần biến thành tập đòan thực dân tấn công và chiếm đóng Ấn vào năm 1757. Sau đó họ trục xuất người Pháp khỏi Ấn vào năm 1760 chỉ trừ mảng Pondicherry. Bọn họ còn lập trạm buôn bán ở Hong KongSingapore và lập đồn điền trà ở Ấn, rồi nhập cảng qua thuộc địa ở bắc Mỹ.

Cũng vì sự độc quyền và bóc lột của họ đã đưa đến việc dân Mỹ thuộc địa phát khởi Boston Tea PartyProvince of Massachusetts Bay nổi dậy để chống lại thực dân Anh, và đưa đến cuộc chiến tranh dành độc lập của Hoa Kỳ vào July 4, 1776.

Lòng tham lam của Tập đòan British East India Company này cũng đã làm cho hàng triệu dân nghèo (1/6 dân số của xứ Bengal) bị chết đói vào các năm 1770-1773 vì chúng đã cưởng bức vơ vét phần lớn tài nguyên của xứ Bengal, chẳng khác gì hai triệu dân Bắc và Trung kỳ Việt Nam bị chết đói vào năm Ất Dậu 1945 do sự dã man của bọn xâm lược Nhật.

Năm 1857 đến khi giấy phép độc quyền hết hạn, hòang gia Anh thay tập đòan tài phiệt này trực tiếp cai trị Ấn. Dù thế công ty tìm mọi cách kéo dài mãi đến năm 1874 mới giải thể. Giữa thế kỷ thứ 19, Anh đã quản trị một vùng rộng lớn gồm các nước Ấn, Miến Điện, Singapore và Hong Kong, có dân số khỏang 1/5 dân số thế giới thời bấy giờ. Rồi ảnh hưởng còn lan đến Trung quốc, Phi luật tân và Java. Để giải quyết tài chánh cho việc buôn bán trà, họ tìm cách bán nha phiến trồng ở Ấn sang Trung quốc và đã dẫn đến các cuộc chiến tranh nha phiến giữa Anh và Tàu.

Chính nhờ tài nguyên vơ vét ở các thuộc địa đã giúp cho nền kỷ nghệ của Anh phát triển vượt qua các cường quốc khác ở châu Âu, và càng giúp gia tăng lực lượng xâm lăng của thực dân. Khi việc cai trị thuộc địa ở châu Mỹ và Ân gặp khó khăn, các cường quốc châu Âu liền đỏ xô chia cắt châu Phi qua “Hội nghị về Tây Phi” tại Berlin (1884-1885).

Sau khi Robert Clive, tòan quyền ở Ấn, đánh bại được quân đội Pháp dưới quyền của Joseph François Dupleix ở Ấn đưa đến hiệp ước Paris vào năm 1763, tham vọng thuộc địa của Pháp bị tiêu vong. Pháp mất hầu hết thuộc địa ở Mỹ châu trừ Mississipi vào tay người Anh, liền vội vả tìm kiếm nơi khác và nạn nhân mới chính là Việt Nam.

Đến đầu thế kỷ 19 sau khi hải quân Anh dưới sự chỉ huy của Đô đốc Horatio Nelson đã tiêu diệt hạm đội của liên quân Pháp và Tây-Ban-Nha của Napoleon I ở trận Trafalgar, Anh quốc trở nên siêu cường thế giới, với thuộc địa trải dài quanh địa cầu.

Ngày nay nhiều người vẫn ca tụng và ngưỡng mộ sự cường thịnh của tây phương mà quên đi các tội ác của họ đã gây ra cho thế giới.

3)                  Tập đòan thực dân Pháp và Vatican xâm lược Việt Nam:

Việc Pháp từng bước xâm lược Việt nam qua sự cấu kết của tập đòan cố đạo Ca-tô ra sao thì ngày nay các nguồn tư liệu sử học thế giới và Việt nam đã phơi bày rõ ràng; những nguồn này đã bị các chế độ thực dân Pháp và Ca-tô miền Nam trước đây bưng bít tối đa để cốt che dấu những tội ác tày trời.

Giáo sư Phan Khoang đã tóm lược trong cuốn “Việt Nam Pháp Thuộc Sử” tòan bộ sách lược xâm lược ấy như sau:

"Những sự giao tiếp giữa Pháp và Việt Nam từ thế kỷ 17 trở đi đều theo một mô thức cổ điển xâm nhập Á Châu của Tây phương.  Mới đầu là các thừa sai (cố đạo truyền giáo) và con buôn. Rồi các nhà ngoại giao đến can thiệp, nhân danh cả hai, và cuối cùng, quân lính tiến vào, áp đặt sự thống trị của ngoại quốc - lẽ dĩ nhiên là (nhân danh văn minh tây phương hoặc Ki-tô giáo) để làm tốt cho dân bản xứ. [Có nghĩa là chiếm đóng trước rồi … cưỡng bức làm tốt sau.]

Bàn về chính sách thâm độc của tập đòan thực dân và cố đạo Vatican cốt xóa nhòa văn hóa bản địa và tiêu diệt thành phần trí thức ưu tú của xã hội cũ, rồi đào tạo thành phần trí thức mới vong bản khinh rẽ văn hóa dân tộc, chỉ biết thụ hưỡng vinh hoa phú quí và phục vụ Vatican và ngọai bang. Giáo sư Phan Khoang khẳng định:

Về mặt văn hóa cũng vậy, những người Việt Nam tân tòng Gia Tô trở thành cô lập với nền văn hóa chủ đạo.  Để phổ biến giáo lý Gia Tô, các thừa sai đã nghĩ ra một dạng chữ mới theo mẫu tự La Mã gọi là Quốc Ngữ, một cách phiên âm tiếng Việt họ dùng để dạy những đàn chiên của họ. Họ dịch những sách cầu nguyện hay kinh sách Gia Tô khác ra loại chữ mới này, nhưng không dịch văn chương Việt Nam.Điều này có nghĩa là những tín đồ Gia Tô Việt Nam, vì không còn học ở các trường làng do các thầy Nho dạy, không thể đọc được tiếng Việt, gọi là chữ Nôm, hay chữ Hán được dùng trong mọi văn kiện công cộng. Chữ Quốc Ngữ là một trong vài đóng góp có ảnh hưởng lâu dài vào nền văn minh Việt Nam của Tây phương, nhưng ảnh hưởng tức thời của nó là chia rẽ quốc gia và đánh thẳng vào gốc rễ văn hóa của Việt Nam.

Trong lich sử nước Việt, chúng ta được biết đến các vua Trần Ích Tắc và Lê Chiêu Thống đã bị xú danh thiên cổ trong các sách sử chỉ vì hành động cỏng rắn cắn gà nhà, đi hạ mình cầu cạnh với ngọai bang hùng mạnh phương bắc để cầu xin họ cứu lại cho ngai vàng, và gần đây là Nguyễn Ánh trong cơn tuyệt vọng đã rơi vào cạm bẩy của cố đạo Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) để dẫn đến việc đất nước bị gần 100 năm nô lệ giặc tây.

So sánh các sự kiện ấy, cũng cùng một hành động nông nổi; ta thấy gì? Thực đáng thương cho hai vị vua cuối của nhà Trần và nhà Lê chỉ vì họ sinh ra bất phùng thời và thất bại đành mang tiếng xấu; trong khi ấy Nguyễn Ánh lại gặp phải bọn tây dương với phương tiện dồi dào và vũ khí tiến bộ, đang rình rập thôn tính thuộc địa đã đưa ông lên ngôi hòang đế lập ra triều Nguyễn kéo dài 143 năm (nhưng hết 71 năm chịu sự bảo hộ của tây), thì lại được ca tụng. Đến khi Nguyễn Ánh nhận ra được bộ mặt xảo trá của thực dân Pháp và cố đạo thì đã muộn rồi. 

Người ta tự hỏi tại sao các cố đạo gián điệp lại đi giúp Nguyễn Ánh diệt nhà Tây Sơn vốn được dân chúng ủng hộ? Câu trả lời thực đơn giản, bởi giúp kẻ cùng đường thì mới đạt nhiều lợi nhuận hơn trong việc ngả giá, và hậu quả tai hại vô lường đã để lại cho các thế hệ con cháu phải gánh chịu là tình trạng chia rẽ dân tộc sâu đậm dù khi đất nước được thống nhất như ta đã thấy hiện nay.   

Nước Pháp có truyền thống tuân phục Vatican từ lâu đời, khi Giáo Hòang Saint Rèmi rữa tội cho vua   Clovis vào năm 498 TL., nên từ đó đã được phong là “trưởng Nữ của Giáo Hội” (Eldest Daughter of the Church).

Ở Á đông, bất hạnh làm sao cho Việt nam lại bị cố đạo Vatican và thực dân Pháp dòm ngó đến, và trở thành một nước có đạo quân Ca-tô lớn sau Phi-luật-tân. Trong cùng thới kỳ ấy nước Nhật vào thế kỷ 16, khi nhìn thấy được những âm mưu thâm độc của bọn cố đạo Ca-tô và sự phản phúc của các họ đạo (dalmyo), nên sau khi Tây- ban-nha chiếm đóng Phi-luật-tân, sứ quân Hideyoshi (1536-1598), liền ra lệnh đóng đinh 9 cố đạo và 17 tân tòng chết trên giá gỗ. Đến thời sứ quân Tokugawa Iemitsu (trị vì từ 1623 đến 1641), ông còn quyết liệt hơn ra lệnh vào năm 1635 triệt để cấm các tàu bè của bọn tây dương lui tới Nhật buôn bán hoặc truyền đạo. Năm 1639 lại ra lệnh trục xuất bọn cố đạo dòng Jesuits Bồ-đào-nha và tận diệt các họ đạo, nhờ vậy mà Nhật không bị nhiểu lọan bởi đám Ca-tô tân tòng như ở Việt nam.

Đạo lý đông phương xưa nay luôn đề cao những giá trị chánh nhân quân tử, phân định chính tà, hay rạch ròi vương bá đạo, đế cao lòng yêu nước thương nòi. Ngày nay xem ra những thứ ấy đã bị các giá trị Ki-tô của tây phương đẩy vào đống rác lịch sử từ lâu. Cái mê hồn thuyết đầy huyền hoặc do Constantine I xào nấu ban đầu cộng với quyền lực và tiền bạc của Vatican qua 17 thế kỷ đã làm cho tân tòng bản địa mất hướng và thất lạc lương tri, trở thành những tên cuồng tín làm bất cứ điều gì Vatican sai khiến. Họ không còn sáng suốt để phân biệt chân giả; mất đi cái khái niệm tổ quốc và nòi giống tổ tiên. Trái lại họ sinh lòng kiêu ngạo tự đắc với đức tin mới và quay lại khinh rẽ nhứng tín ngưỡng truyền thống cao đẹp của tổ tiên vì họ đã biến thành một bộ phận người máy của quốc tế chuyên phục vụ cho tổ quốc mới của họ là Vatican. Họ chỉ biết trung thành và làm nô lệ cho Vatican và ngọai bang để được hưởng mọi ưu đãi vật chất và địa vị trong xã hội nhược tiểu mà vinh thân phì gia. Họ lại tìm thấy sự ngất ngây đồng bóng của cuồng tín trong khi phục vụ cho Vatican, dù có bõ mạng, để được tiếng tử đạo. Trong cái mê muội ấy họ vẫn lấy làm hãnh diện khi phản quốc miễn sự phản quốc ấy làm sáng danh chúa và Vatican; vô hình chung họ tiếp tay phục vụ cho quyền lợi của tây phương xâm lược. Đó là cái lý “cứu cánh biện minh cho phương tiện” ngày nay trong chính trị.

Các thuộc địa của Anh sau khi được độc lập không mắc phải cái “sinh tử phù” của Ca-tô giáo là vì đế quốc Anh, vốn chuộng Tin-lành mà giáo hội này chưa có một tổ chức quốc tế hữu hiệu lâu đời như Vatican. Các xã hội cũ của thuộc địa Anh không bị phân hóa đời đời bởi các đạo quân thứ năm cuồng tín thô bạo và vong bản do Vatican để lại.

Nhìn lại lịch sử Việt nam cận đại sau thời kỳ Pháp cai trị và đòi quay trở lại (1883-1954) ta học được gì? Mọi chuyện bây giờ đã lắng xuống làm cho những âm mưu đen tối của Vatican và ngọai bang càng lộ rõ ra. Sau trận Điện Biên Phủ 1954 bọn thực dân Pháp cuốn gói về nước nhưng các thế lực tây phương dưới áp lực của Vatican vẫn không chịu buông tay bỏ bao công lao cấy được những làng đạo làm đòan quân thứ năm, liền tìm mọi cách dựng lên hai chế độ Ca-tô ở miền Nam dù bọn này chỉ là thiểu số bằng Hiệp định Geneve chia đôi đất nước hòng kéo dài sự bám trụ. Sách lược của thực dân tây phương cũ hay mới đều nhắm vào việc làm suy yếu các nược tiểu bằng chia cắt lãnh thổ và ly gián nội bộ. Dân chủ chọn lựa và chủ quyền quốc gia nằm ở chỗ nào khi ngọai bang và Vatican đã cấu kết nhau áp đặt lãnh đạo mà không đếm xĩa gì đến ước muốn của đại đa số dân chúng?

Rồi ta thấy tập đòan này đã làm mọi cách để di cư một triệu dân Ca-tô ở miền bắc vào nam, ưu tiên là các vùng Bùi Chu, Phát Diệm vì hai lẽ: 1) Vì bọn này có thành tích làm tay sai cho Pháp khét tiếng nên sợ Việt Minh trả thù. 2) Đem một lực lượng cuồng tín như thế để làm nòng cốt cho chính quyền của con chiên Ngô Đình Diệm, do Vatican dựng lên mà thời ấy chẳng có uy tín và lực lượng hậu thuẩn ngòai bọn tín đồ cùng đạo. Không lạ gì mà khối Ca-tô di cư ấy được bố trí ở Hố Nai, Gia Kiệm, cửa ngõ vào Sàigòn để làm phên dậu.

Rồi cái khối này dựa vào ngọai bang trở nên kiêu căng, lộng hành, khuynh lóat, tranh chiếm những đặc quyền, đặc lợi vơ vét tài nguyên đất nước, ăn trên ngồi trước nắm mọi chức vụ then chốt với sự tiếp tay của gia đình Diệm, theo lệnh của Vatican bày ra chiêu bài mới Quốc-Cộng, cốt che đậy cuộc chiến tranh tôn giáo bẩn thĩu, với chút hy vọng đảo ngược được thế cờ và Ca-tô hóa miền nam cho nhanh chóng. Tất cả những điều này đã làm cho lòng dân càng óan hận, vô tình đã làm lợi cho đối phương miền bắc ngay từ đầu vì đã mất đi chính nghĩa.

Mặc dù được tân đế quốc Mỹ ồ ạt đổ tiền của, vũ khí chống đở nhưng than ôi, đã mất chính nghĩa thì còn làm nên cơm cháo gì nữa, chỉ tội cho quân dân miền nam trở nên nạn nhân của cuộc chiến nhơ bẩn không lối thóat kéo dài 20 năm. Chuyện gì phải đến đã đến vào năm 1975. Lại một lần nữa khối quân lính cán bộ miền nam, mà đại bộ phận nòng cốt là Ca-tô lại tháo chạy ra nước ngòai tị nạn, nhưng kỳ này thì không được tổ chức chu đáo tươm tất có chuẩn bị như 1954.

II. Chuyện Nay:

Dù muốn nói xuyên tạc cách nào đi chăng nữa thì không ai phủ nhận được thành quả chiến thắng của dân tộc Việt Nam qua hai cuộc chiến cận đại làm rung chuyển thế giới tây phương và Vatican. 1954 đã đuổi được bọn thực dân Pháp và 1975 đã đuổi được tân đế quốc Mỹ cùng các cố đạo Vatican ra khỏi lãnh thổ; từ đấy đất nước hòan tòan được độc lập kể từ 1858, và hòan tòan quyết định được vận mệnh của mình. Các tập đòan xâm lược và Vatican không thể nào ngờ được một đất nước bé nhỏ như thế mà hai lần đuổi được bọn thực dân cố đạo có sức mạnh gấp trăm ngàn lần? Đó là một điểm son trong lịch sử Việt Nam không thể phủ nhận được. Lịch sử trong vài thế hệ sau khi nhắc đến thời kỳ tay sai tây phương và Vatican của các chế độ miền nam từ 1954-1975 chắc chắn chỉ ghi vài dòng ngắn chê trách mà thôi.

A) Khối người Việt lưu vong ở Hải Ngọai:

Dĩ nhên trong cuộc nội chiến tương tàn nào, kẻ chiến thắng lúc ban đầu cũng phạm nhiều sơ sót gây ra vô số hậu quả thương đau cho kẻ bại trận. Nhưng xét cho cùng với thời gian sự chia rẽ thù hằn cũng sẽ tiêu tan với thời gian và do tinh thần yêu nước; mọi người sẽ chung sức làm cho đất nước tiến bộ giàu mạnh hơn. Chuyện đó đã xảy ra ở Trung quốc, ở Nga, ở Đức vv… nhưng không hề xảy ra với Việt Nam. Ví sao vậy? Tại cũng vì cái tập đòan cố đạo nham hiễm Vatican. Ngày nào mà Vatican còn thì cái âm mưu thống trị bằng Ca-tô vẫn còn.

Giống như sau 1954, tập đòan tây phương và Vatican nào đã chịu bõ cuộc, thì sau 1975 cũng thế. Khi đám dân di tãn ra hải ngọai với rất nhiều lý do khác nhau đã ổn định thì bọn tàn dư của các chế độ Ca-tô lại lục tục tập hợp nhau, nhất là dư đảng Cần Lao dưới sự điều động của các phù thủy Vatican. Các ông áo chùng đen, áo chòang đỏ bắt đầu tung tiền ra cho đám con chiên cũ còn sống sót nắm bắt lại những tổ chức, các hội đòan nhập nhằng nữa đạo nữa đời như xưa nơi đất khách để xách động chống phá chế độ phi-Ca-tô trong nước. Họ còn dùng nguồn kinh tài đồ sộ nắm hết các thị trường truyền thanh, truyền hình, báo chí, văn nghệ để dễ tuyên truyền thao túng các cộng đồng Việt tị nạn hãi ngọai theo đúng chính sách của Vatican. Mọi chuyện mọi việc đều không được phản ảnh trung thực mà bị xuyên tạc và thổi phồng theo cảm tính để gây thêm nỗi căm thù trong cộng đồng nhỏ bé ở hải ngọai. Con ếch cứ đòi to như con bò. Bởi họ chỉ làm mưa làm gió trong các cộng đồng Việt nhỏ bé chứ chẳng dám hó hé gì đến các cộng đồng khác nhất là da trắng.

Họ phải luôn tìm mọi chiêu bài để tiếp tục hiện hữu. Còn nhớ ngày nào của thập niên ’80, họ ngồi ấm êm ở Mỹ, ở Pháp, ở Úc mà cứ kêu gào về nước lập chiến khu, kháng chiến, giải phóng vv…đã làm bao kẻ ngây thơ mắc mưu gây quỉ, có người bỏ mạng oan uổng. Đến lúc mọi người thấy tòan là bịp chán ngán thì nay họ đổi sang đòi tự do tôn giáo, đòi trả lại đất đai tài sản cho giáo hội Ca-tô, đòi tôn trọng nhân quyền. Tự do tôn giáo theo kiểu ngay ở hải ngọai nếu các tăng sĩ Phật giáo từ trong nước sang hành đạo thì bọn cuồng tín côn đồ liền biểu tình chống phá trước cổng chùa; nhưng khi có cha cố từ trong nước đến gây quỉ thì tuyệt nhiên chẳng ai biểu tình trước nhà thờ; ngược lại còn được đón tiếp linh đình. Đòi nhân quyền theo kiểu muốn dân Việt trở thành bầy gia súc trong các họ đạo khuôn mẫu ở châu Mỹ La-tinh. Đa số người Việt ở các cộng đồng hải ngọai đều đã nhận ra bộ mặt thật của bọn mafia chính trị này, nên dần xa lánh. Đặc điểm của bọn người này rất dễ nhận diện: con chiên Ca-tô, đầu óc đã bị nhồi sọ một chiều chống cộng chết bỏ, hết đức Mẹ vào nam thì nay đức Mẹ vượt biên, cái gì dính líu đến Việt Nam ngày nay đều là xấu xa, vẫn còn lạc hậu, quê mùa cứ như còn ở thế kỷ 18, 19. Không thể nào đối thọai lý lẽ lịch sự với họ được; bởi nói ngược ý của họ có nghĩa là bị đe dọa, bị luật rừng. Họ cứ nghĩ dân trí của đồng bào bây giờ cứ còn ở vào thời kỳ 1950; thực đáng thương là họ không nhận ra rằng họ đã bị thời cuộc bỏ rơi quá xa.  

Bọn này trước đây vốn hét ra lửa mữa ra khói ở miền nam bỗng chốc chỉ là lũ nộm phường tuồng, nên chuyện “to be or not to be” là phải múa may quay cuồng để ăn tiền tài trợ. Ngày xưa dân ta có câu: “Ăn cơm chúa, múa tối ngày” là thế! Ở các xã hội tây phương ai cũng biết rằng nếu không bị homeless thì chẳng ai có thì giờ dư đi làm các chuyện ruồi bu, như biểu tình chống phá, hung hãn cuồng tín u mê như vài đám bị giật dây biểu tình nhân chuyến viếng thăm của ông thủ tướng Khải vừa qua. Mà cũng lạ lắm, với bản chất vong thân họ càng hả hê khi nhục mạ được đất nước, bôi xấu được tổ quốc, và vui mừng hòa theo với kẻ thù của dân tộc. 

Đây là sách lược nham hiễm “hai mặt giáp công” của Vatican; một mặt các cố đạo Ca-tô phối hợp với tây phương liên tục áp lực với chính phủ độc lập ở Việt Nam để thiết lập lại mối khống chế phong kiến cũ hầu kiểm sóat mọi họat động truyền giáo Ca-tô trong nước, nhận lệnh trực tiếp từ Vatican; và đòi nhà nước trả lại mọi tài sản của Ca-tô đã chiếm được từ thời thực dân Pháp và hai chế độ Ca-tô ở miền nam. Mặt kia thì cứ nuôi dưỡng bọn tay sai lưu vong chuyên chống phá Việt Nam một cách cuồng điên ở hải ngọai để làm áp lực cho việc thương thuyết hầu chiếm thế thượng phong.

Trung quốc, một cường quốc với nền văn minh lâu dài đã thành công trong đối sách này với Vatican và tây phương. Hai năm sau ngày thống nhất, chính quyền Trung quốc ra lệnh vào năm 1951 trục xuất tất cả cố đạo tây phương ra khỏi nước, cắt đứt ngọai giao với Vatican rồi cấm các chức sắc thiểu số Ca-tô nhận lệnh từ Vatican, vốn là hệ thống gián điệp tình báo chiến lược hiêu quả của tây phương, và biến Ca-tô thành một tôn giáo Ki-tô quốc gia thuần túy trong nước mà thôi. Từ đấy nội bộ đất nước của Trung quốc không hề bị xáo trộn. Mà nay sự tiến bộ của Trung quốc về mọi mặt nào có kém ai. Điều đáng thất vọng là Trung quốc làm được vịệc cắt bỏ cái nhọt ung thư trên thân nhưng Việt Nam lại không thể, chỉ vì vẫn còn chịu nhiều áp lực tứ phía.

Sau 30 năm bỏ nước ra đi, đa số dân chúng di tản đã mõi mệt với các trò tuyên truyền thù hận xưa cũ đã nối lại tâm tình quê hương với đất nước nay đã khá hơn xưa rất nhiều lại càng làm cho bọn đầu nậu này thêm tức tối. Người ta chỉ còn hy vọng là cái thế hệ hư hỏng này qua đi thì đất nước mới có ngày hòa hợp và thế hệ trẻ của cộng đồng sẽ mạnh dạn đóng góp tài sức để xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh không khác gì các nước trong vùng.

B) Chính quyền trong nước:

Không ai có thể phủ nhận được thế chính thống của chính phủ hiện nay ở Việt Nam. Dĩ nhiên không phải vì may mắn, mà do sự lãnh đạo khôn ngoan, biết vận dụng chánh nghĩa lôi kéo được đồng bào về phía mình mà họ đã đánh đuổi được bọn xâm lược. Họ đã thống nhất và dành được chủ quyền trọn vẹn cho tổ quốc, và đã đem lại hòa bình an sinh cho đất nước 30 năm nay. Cho dù dưới chủ nghĩa gì, họ vẫn xứng đáng ở cương vị lãnh đạo quốc gia. Biết vận dụng được chủ nghĩa để tranh thủ được thắng lợi lâu dài, giải phóng được dân tộc khỏi sự áp bức của thực dân là một khéo léo chính trị mà không ai cũng có thể làm được.

Tuy vậy, trong men say chiến thắng năm 1975 chính sách của họ đối xử với đồng bào miền nam thiếu chuẩn bị đã gây nhiều đau khổ cho phía chiến bại. Điều đó không thể bào chữa chối cãi được. Nhưng điều óai oăm ở đây vẫn là những oan khiên lịch sử. Phía chiến bại thông thường rồi cũng hòa nhập vào dòng sông vận mệnh của dân tộc, và mọi sự sẽ êm ả theo thời gian trừ phi có sự phá rối xen vào của ngọai bang. Bằng chứng vẫn là những biến động của các thời kỳ 1954 và 1975 còn tồn tại cho đến nay. Bài học ấy tin chắc chính phủ Vệt Nam luôn ghi nhớ.

Hy sinh trong đấu tranh xem ra còn dễ hơn bảo tồn được thành quả trong hòa bình, mà kẻ thù luôn là ba đầu sáu tay ranh ma vô cùng, chực chờ quay lại. Chúng nào chịu buông tha một cách dễ dàng như thế. Mới ngày nào nhà nước Việt Nam hồ hởi chuyện đánh đuổi được quân thù thì nay lại đón tiếp quân thù với túi đầy đô-la trở lại. Lần này chúng không xâm lăng bằng súng đạn nhưng bắng tiền bạc vật chất. Chỉ có mấy năm từ khi mở cứa theo kinh tế thị trường, tiền tài vật chất đã làm hoa mắt hàng ngũ cán bộ đảng viên và họ đã bị hủ hóa biến chất, kẻ thù cũ âm thầm luồn lách vào các tổ hợp kinh tài đầu tư theo lời mời gọi của nhà nước do tham nhũng hối lộ hòanh hành hầu như hết thuốc chữa. Điều này cũng do vì đất nước thiếu một thể chế bầu ứng cử nghiêm túc, một cơ chế pháp trị công minh và thiếu sự kiểm sóat chỉ trích của nhân dân qua tự do báo chí. 

Nay vì nhu cầu sống còn của một đất nước nhược tiểu, luôn vẫn phải đương đầu với cường quốc phương bắc, muốn dành một chân đứng để vươn lên trong chính và thị trường thế giới, đành phải mở cửa hòa nhập cầu thân với siêu cường, kẻ cựu thù. Qua chuyến viếng thăm Mỹ của thủ tướng Khải, phái đòan đã đạt được rất nhiều thỏa hiệp kinh tế, nhưng một chuyện không hề được công bố trong chuyến công du có lẽ là mời gọi các công ty dầu hỏa Hoa Kỳ sang tiếp tục khai thác các mõ dầu ở thềm lục địa Việt Nam đã bị bỏ dỏ từ 1975. Qua việc này chính phủ VIệt Nam hy vọng Mỹ sẽ làm cân bằng được lực lượng trong vùng trước sự lấn át thái quá của Trung quốc. Dĩ nhiên nước Mỹ là một quốc gia đói dầu lại gặp khó khăn ở Trung Đông chắc sẽ vui lòng cứu xét và Mỹ cũng mong muốn có sự hợp tác của Việt Nam để dễ bề bao vây ảnh hưỡng đang lên của Trung quốc. Và một khi ông chủ Mỹ giao hảo tốt đẹp với Việt Nam thì bọn ăn nhờ ở đậu chuyên đấu thầu nghề chống cộng sẽ thất nghiệp và sớm dẹp tiệm vì vòi trợ cấp sẽ bị cắt.

Dĩ nhiên trong cái thế ngọai giao mặc cả, các tập đòan thực dân và Vatican vẫn thấp thóang là những tay chơi trên chiếu bạc. Bằng chứng là trong một bài viết của thủ tướng Khải trên tờ Washington Times ngày 21 tháng 6, ông đã dành một đọan khá dài nói về quan hệ với Vatican và ông viết: “Trong những năm gần đây, quan hệ giữa Việt Nam và tòa thánh Vaticăng đã được cải thiện đáng kể, mở đường cho sự phát triển hơn nữa.” đủ thấy áp lực ngầm của tập đòan này đã đè nặng như thế nào. Rồi với Hoa Kỳ thì các “thừa sai” của các phe phái đạo Tin Lành cũng sẽ tich cực len lõi vào Việt Nam vừa rao truyền “Phúc Âm”, vừa lấm lét làm mật thám cho chủ. 

Mong rằng đảng cầm quyền trong nước hiện nay vốn đã có nhiều kinh nghiệm chính trị khôn ngoan không dễ gì bị sa lầy trong trận thế kinh tế tòan cầu, mắc mưu nham hiểm của các thế lực đen tối. Muốn cho Việt Nam hãnh diện vươn lên thì hãy làm mọi cách cho dân giàu nước mạnh, nâng cao mức sống và dân trí, để người Việt thóat khỏi những mặc cảm nghèo đói từ xưa. Chia xẽ tài vật một các công bằng cho tòan dân để không bị kẻ thù xúi dục gây xáo trộn lọan ly. Khi đã ăn no mặc đẹp, đời sống người dân sung túc thì các thế lực ngọai bang không còn cơ hội bố thí dẫn đến mua chuộc khống chế.

Mùa lễ Độc Lập của Hoa Kỳ, 2005.   

Trần Niệm Từ

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com