705-gdlogo.gif (49914 bytes)

posted: 15.7.2005

TÔI ĐỌC “XÓM ĐẠO”
CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC NGẠN

Nguyễn Mạnh Quang

Bản “xóm đạo” của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn được sử dụng trong bài viết này là bản in lần thứ 3 do nhà xuất Bản Tân Văn (Đông Kinh, Nhật Bản) phát hành với giá 25 Mỹ kim.  Sách dầy 612 trang, được chia là 16 chuơng. Nhân vật chính trong cuốn sách này là thày giáo Thông. Chủ đề của sách được coi như là xoay quanh hai vấn đề:

1.- Quan niệm chính trị trong đời sống tôn giáo của tín hữu Ki-tô Bắc Kỳ di cư trong xóm đạo và   biện pháp trừng trị bằng đánh đòn và đấu tố công khai những phần tử bị cho là “rối đạo” hay thủ phạm gây hại cho uy tín của Giáo Hội.

2.- Ba mối tình chân thành và tha thiết của Thông với hai cô gái hàng xóm và một  cựu nữ sinh lớp  nhất của Thông.

A.- QUAN NIỆM CHÍNH TRỊ
TRONG ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO

Những người am hiểu về hệ thống tổ chức quyền lực của Giáo Hội La Mã đều công nhận rằng một họ đạo hay làng đạo hoặc xóm đạo (Parish) tại một địa phương ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 vừa là mộtquốc gia trong một quốc gia” vừa là “trung tâm quyền lực chỉ đạo các chính quyền thế tục trong vùng” và “vị linh mục quản trị họ đạo đương nhiên trở thành một vị lãnh chúa trong vùng”.  Xóm đạo Tân Hạ là một trường hợp điển hình cho sự kiện này.

Xóm đạo Tân Hạ nguyên là một trại định cư được thành lập vào khỏang cuối 1954 và thời gian xẩy ra những câu chuyện trong sách Xóm Đạo là những năm 1957-1960. Trại định cư này có khoảng hơn ba ngàn dân Bắc Kỳ di cư mà hầu hết là tín hữu Ki-tô. Lúc đầu, có một vài gia đình bên lương, nhưng rồi họ cũng dọn đi khỏi trại vì một số lý do, trong đó có lý do bị kỳ thị và bị khinh rẻ là dân ngọai đạo:

Vào thời đó, lương giáo còn có bức tường vô hình ngăn cách rõ rệt, cho nên dù chẳng ai động chạm hay gây phiền toái cho họ, mà họ vẫn tự cảm thấy lạc lõng gần như bị bỏ rơi, không thân thiết được với người chung quanh. Chính vì thế, những gia đình Phật giáo này đã lần lượt bỏ đi, dọn xuống Sàigòn hoặc lên Củ Chi lập nghiệp, và cho đến  nay, bước sang năm thứ tư thì toàn trại chỉ còn có một hộ duy nhất không theo Công Giáo, đó là vợ chồng ông Đoàn Cảnh, sống với ba người con trong căn nhà sát bờ sông, hàng xóm gần nhất của Thông.” (Tr 297-298)

Dạo trước ông bà Thứ còn ở đây, chả bao giờ ông bà ấy nói chuyện với gia đình em. Hàng xóm láng giềng mà lạnh nhạt lắm, cứ y như người dưng nước lã! Có lần mẹ em bưng sang biếu ông bà ấy một đĩa xôi, ông bà ấy giả lại, bảo là người có đạo không được phép ăn đồ cúng !” (Tr 306)

Ông bà Thứ (có đạo) bảo em (Trâm, ngọai đạo) là người có đạo không ăn chung với người ngoại đạo. Mướp là của anh, nhưng em nấu rồi, em cho lại anh. Trường hợp ấy là mướp bên lương hay bên đạo.” (Tr 307).

Cuối cùng, toàn trại hơn ba ngàn dân mà chỉ còn lại có một gia đình ông Đoàn Cảnh gồm 2 vợ chồng và ba người con ở lại, nhưng rồi đến năm 1959, gia đình này cũng dọn đi khỏi.(Tr 473-474)

I.- SINH HỌAT CHÍNH TRỊ

Quan niệm và sinh hoạt chính trị của giáo dân Việt Nam nói chung và ở trong xóm đạo Tân Hạ nói riêng được tác giả khẳng định:

Mấy ngàn giáo dân ở đây, không ai bảo ai, nhưng trong lòng mỗi người đều ngấm ngầm mang một ý niệm về trật tự : Nhất Chúa, nhì Cha, thứ ba Ngô Tổng Thống.” (Tr 18 và tr 37)

Câu văn trên đây cho chúng ta thấy rõ một điểm đặc biệt và hết sức quan trọng không thể bỏ qua được. Điểm quan trọng này là Chúa không bao giờ nói và hành động gì cả.

Thiên Chúa mà biết nói năng,
Ắt là Giáo Hội cái răng không còn!

Vậy thì đối với tín hữu Kitô, Chúa được hiểu ngầm là Giáo Hội La Mã, và Cha là người thay mặt Giáo Hội tức là thay mặt Chúa tại họ đạo. Câu nói trên đây phản ảnh trung thực chủ trương cố hữu về chính  trị của Giáo hội La Mã  “tôn giáo chỉ đạo chính quyền”. Chủ trương này đã có từ thế kỷ 4 vào khi Hội Nghị Niceae khởi nhóm vào ngày 20/5/325, và được Giáo Hoàng Léo I (440-461)   tái khẳng định qua lời tuyên bố của ông rằng: “Quyền hành của Giáo Hoàng phải bao trùm lên tất cả quyền hành của các nhà cầm quyền thế tục.”. Lời tuyên bố lịch sử này được sách sử ghi lại như sau:             

"Leo đã mạnh mẽ nhắc lại lời xác quyết rằng quyền hành của vị giám mục ở kinh thành Rome phải đứng trên các ông giám mục Ki-tô khác. Điều này cũng không quá mới ngọai trừ hai trạng từ mạnh mẽnhắc lại trên đây. Hơn thế nữa, ông giáo hoàng này còn xác quyết rằng “Quyền hành của Giáo Hoàng phải bao trùm lên tất cả quyền hành của các nhà cầm quyền thế tục."  (“Leo has strongly and repeatedly asserted that the primacy of Roman’s bishop over all other Christian bishops. Not too much new  there except perhaps the two adverbs. But more than that, he has declared the authority of the Roman bishop over all temporal rulers as well.”) [1]  

Kể từ đó, quyền hành của Giáo Hội vươn tới đâu thì chính quyền tại nơi đó  phải nằm dưới quyền chỉ đạo của Giáo Hội qua Hội Đồng Giám Mục tại quốc gia bản địa, và các chính quyền địa phương trong quốc gia này  phải nằm dưới quyền chỉ đạo tối cao của ông giám mục quản trị giáo phận và dưới quyền vị linh mục quản nhiệm họ đạo tại địa phương đó. Quan trọng hơn nữa, tất cả các cơ cấu chính quyền trung ương và tại các địa phương đều được tổ chức theo mô thức của Giáo Hội đã đề ra, đặc biệt nhất là tổ chức quân đội, công an, mật vụ để rình mò dò xét tín đồ và những người thuộc các tôn giáo khác hầu có thể đàn áp kịp thời theo đúng với chủ trương cố hữu của Giáo Hội La Mã đã vạch ra:

 “Một chế độ quân phiệt mới được khai sinh: Các nước có người cầm quyền là tín đồ của Giáo Hội La Mã phải được bảo vệ bằng những tín đồ của Giáo Hội La Mã (Quân Thập Ác). Phải tiến hành những cuộc thánh chiến và chiến tranh là nhiệm vụ thần thánh. Tàn bạo đối  với những kẻ thù của Chúa Jesus ở trong hay ở ngoài các vùng đất do Giáo Hội La Mã kiểm soát là sự trả thù của Thượng Đế. Vị tướng chỉ huy chiến dịch tiêu diệt dân tà giáo Albigences tuyên bố: "Bất kể gì là nam hay nữ, già hay trẻ, chức vụ lớn hay nhỏ, trước lưỡi gươm, họ đều như nhau." Hiệp sĩ ngoan đạo Gia-tô tên là Roland, khi chỉ huy đạo quân tiêu diệt người Moors (Hồi Giáo) đã hô lớn khẩu hiệu "Tà giáo là những người xấu xa. Tín đồ Gia-tô là những người công chính ngay thẳng." (A new militarism was born: This Christian heartland, Christendom, must be defended by Christian arms. Wars could be holy, would have to be waged, would be a holy duty. Cruelty to enemies of Jesus within and without the heartland could be God’s vengeance. “Neither sex nor age nor rank have we spared.” Was the statement of the general who conducted the war against the medieval heretics called Albigenses. “We have put all alike to the sword.” The cry was on the lips of Roland, the perfect Christian and the model knight, as he fought at Roncevaux against the hated Moors: “Pagans are wrong. Christians are right.” [2]

Theo chủ trương này, tại miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, chính quyền Sàigòn phải nằm dưới quyền chỉ đạo tối cao của Hội Đồng Giám Mục ở miền Nam Việt Nam. Riêng trong thời Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa, các ông Giám-mục Ngô Đình Thục và Phạm Ngọc Chi nắm quyền chỉ đạo cho chính quyền Ngô Đình Diệm hành xử.  Cũng    vậy mà tín đồ Gia-tô Nguyễn Văn Chức đã gửi Thủ Tướng Ngô Đình Diệm lá thư đề ngày 25/2/1955 thỉnh cầu  chính quyền thành lập quân đội miền Nam gồm toàn những tín đồ Ki-tô để bảo vệ chính quyền[3]. Cũng vì theo đuổi chủ trương này, Giáo Hội La Mã mới cho thiết lập Tòa Án Dị Giáo cùng với hệ thống công an sử dụng ngay những người trong gia đình để rình mò dò xét lẫn nhau rồi báo cáo cho các cơ quan có thẩm quyền xử lý. Sự kiện này được ông Phan Đình Diệm, Hội Trưởng Hội Đức Giêsu Kitô Phục Sinh, viết như sau:

"Năm 1232, Giáo Hoàng Gregory IX (1227-1241) thiết lập tòa án xử bọn dị giáo, gọi là Inquisition…  Cha con tố các nhau, vợ chồng tố cáo nhau, anh em tố cáo nhau, bạn hữu tố cáo nhau, hàng xóm láng giềng tố cáo nhau, v.v. trước tòa án của Giáo Hội. Giáo Hoàng Paul IV (1555-59) tuyên bố: "Nếu bố tô là dị giáo đồ, tôi cũng sẽ chụm củi thiêu sống ông ta luôn" [4]

Các chính quyền địa phương dưới quyền lãnh đạo tối cao của Giáo Hội phải triệt để theo gương đó mà hành xử. Chính quyền Ngô Đình Diệm cũng phải theo mô thức này để thiết lập một bộ máy  mật vụ, công an và cảnh sát như thiên la địa võng để “bảo vệ chế độ” và “diệt tận gốc, trốc tận rễ” các thành phần thuộc các đảng phái quốc gia và những phần tử bị tình nghi là bất lợi cho Giáo Hội hay bất lợi cho chế độ. Bộ máy mật vụ này được sử gia Joseph Buttinger ghi lại như sau: 

"Với lòng say mê bắt chước phuơng cách tổ chức của Cộng Sản, ông Nhu cho thiết lập nhiều tổ chức kiểm soát nhân dân. Các tổ chức này đã làm cho chế độ bị thù ghét bởi ngay cả những người mà sự ủng hộ của họ hết sức cần thiết cho chế độ. Đó là những người nắm quyền chỉ huy quân đội. Những tổ chức công an, mật vụ và cảnh sát nhận lệnh trực tiếp từ ông Nhu. [Ký giả] Halberstam nói rằng có tới 13 tổ chức cảnh sát, công an và mật vụ khác nhau. Tổ chức mật vụ quan trọng nhất của ông Nhu là một tổ chức gài những chỉ điểm viên vào trong các cơ quan của chính quyền do Bác-sĩ Trần Kim Tuyến làm giám đốc. Tổ chức này có danh xưng tàng hình là Sở Nghiên Cứu Xã Hội và Chính Trị Phủ Tổng Thống. Ông Nhu cho tổ chức những buổi họp "tự kiểm thảo" theo kiểu Cộng Sản ở trong Đảng Cần Lao Nhân Vị, và tổ chức Thanh Niên Cộng Hoà mặc đồng phục mà ông là "Vị Lãnh Đạo Tối Cao". Ông bắt chước các phương pháp phát xít để kiểm soát nhân dân. Cái gọi là "Lực Lượng Đặc Biệt" của chế độ và những cung cách mà ông Nhu sử dụng lực lượng này vào năm 1963 giống y như vai trò "Đạo Quân Thần Tốc" của chế độ Đức Quốc Xã. Mặt khác, việc thiết lập các tổ mật vụ gài trong các tổ chức này và trong chính quyền, ý đồ tổ chức nhân dân thành những tổ (nhóm nhỏ) mà tổ trưởng phải chịu trách nhiệm về lòng trung thành của các tổ viên, việc tổ chức các cuộc họp tố Cộng, việc sử dụng kỹ thuật tuyên truyền và việc quấy phá nhân dân vốn đã mệt nhoài vì những cuộc mit tinh và biểu tình ủng hộ lãnh tụ vĩ đại và chế độ, tất cả đều là bắt chước theo Cộng Sản. Không có một mánh mung chuyên chế độc tài nào là ông Nhu không sử dụng và ông ta luôn luôn làm ra vẻ những mánh mung này là do chính ông vừa mới sáng chế ra. Chỉ có một thứ vũ khí mà ông không bao giờ nghĩ tới để sử dụng trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa Cộng Sản. Thứ vũ khí đó là chế độ dân chủ."  ("It was Nhu who, with his passion for imitating Communist methods, created the various instruments of government control over the population that made the Diem regime hated even by people on whose support it depended: the leaders of the armed forces. The regime 's secret services and special information and police forces took their orders from Nhu. Halberstam says that at one time there existed no less than thirteen different secret police organizations. The most important of Nhu's secret services was an organization of informers inside the administration headed by Dr. Tran Kim Tuyen, whose euphemistic title was Director of Political and Social Research Service of the Presidency. Nhu held Communist-type "self-criticism" sessions in the semisecret Personalist Party, and with his uniformed Republican Youth, of which he was "Supreme Leader", he imitated fascist methods of popular control. The regime's so-called Special Forces, and the manner in which Nhu used them in 1963, were reminiscent of the role of the Storm Troopers under the Nazis. On the other hand, the setting up of secret cells in existing organizations and in the administration, the attempt to organize all citizens into small groups whose leaders were made reponsible for the members' loyalty, the rallies to denounce Communists, the propaganda techniques, and the perpetual harassment of a tired population with meetings and "spontaneous" demonstrations in favor of the regime and its great leader, all these were borrowed from the Communists. There were not one totalitarian strategem that Nhu did not employ, always pretending that it was his own latest invention. The only weapons he never thought of using in the struggle against Comminism were the weapons of democracy")[5]

Bộ máy công an mật vụ này còn được gọi là “các cơ quan an ninh tình báo” và được cụ Đõ Mậu mô tả như sau:

Họ có năm cơ quan an ninh tình báo mà bốn nổi và một chìm: Nổi là Công An Cảnh Sát, An Ninh Quân Đội, Lực Lượng Đặc Biệt và Sở Nghiên Cứu Chính Trị, còn chìm là hệ thống Đảng Viên Cần Lao và các bộ phận mật vụ tình báo phụ thuộc. Tất cả như thiên la địa võng, như tai vách mạch rừng bao vây lấy nhân sự và các hoạt động chống đối. Họ có Ngô Đình Nhu tuy bất lực trong việc quản trị quốc gia nhưng lại xuất sắc trong các âm mưu và thủ đọan tiêu diệt đối lập, nhất là bản chất vốn lạnh lùng và tàn ác không một chút do dự. Họ lại có những cấp thuộc hạ thi hành mệnh lệnh một các mù quáng và có những phương tiện của quốc gia muốn sử dụng, muốn tiêu xài bao nhiêu cũng được.” [6]

Theo các nhà viết sử, chưa kể những thành phần trong Đảng Cần Lao, Tổ Chức Thanh Niên Cộng Hòa, Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia và Phong Trào Liên Đới Phụ Nữ, con số nhân sự được sử dụng có trả lương để cung ứng cho các các tổ chức mật vụ, công an, an ninh quân đội và cảnh sát trên đây lên đến hơn 100,000 (một trăm ngàn) người. Con số này được sách Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi ghi nhận như sau:

Nhìn lại cuộc chiến từ đầu Xuân 1963, tình hình miền Nam quả thực đã đi vào tuyệt lộ, mặc dầu lúc bấy giờ quân đội đã được gia tăng hùng hậu và Mỹ viện trợ vẫn ào ạt đổ vào. Bernard Fall cho biết rằng vào đầu năm 1963, dưới chế độ Diệm, con số chính xác của quân đội VNCH gồm có 225.000 binh sĩ chính quy, 100.000 Bảo An,  90.000 Địa Phương Quân, 85.000 Dân Vệ… tất cả là 500.000 người. Với một nửa triệu quân, chưa kể 100.000 nhân viên công an, cảnh sát, cảnh sát dã chiến, nhân viên an ninh xã, ấp, chưa kể sự hiện diện của 16.000 binh sĩ Mỹ, đoàn cố vấn người Úc, thế mà lực với lực lượng hùng hậu đó tình hình miền Nam đã vô phương cứu chữa nếu không có quân đội đồng minh nhập cuộc sau này…”  [7]  

Cũng vì phải triệt để tuân hành chủ thuyết “thần quyền chỉ đạo thế quyền”, cha Xuân, vị linh mục quản nhiệm Xóm Đạo Tân Hạ, đương nhiên trở thành người đại diện cho Hội Đồng Giám Mục miền Nam Việt Nam và cũng là đại diện Giáo Hội La Mã tại địa phương của ông, và đương nhiên là ông nắm quyền chỉ đạo tối cao chính quyền địa phương tại vùng này. Cũng vì thế mà ông quận trưởng tại đây phải tìm hết đủ mọi cách để lấy lòng cha Xuân:

Thật ra Thông nghĩ đúng. Ông quận trưởng sáng nay đến thăm giáo xứ thánh Giuse, tức là ấp Tân Hạ, không phải vì tình hình chính trị trong ấp làm ông bận tâm. Chẳng qua là vì ông có việc phải xuống xã để đọc diễn văn trong lễ khai mạc khóa Nhân Vị, rồi trên đường về, ông tạt vào thăm trại định cư một chút mà thôi. Nói là ông thăm trại định cư, nhưng thật ra ông chỉ gặp cha Xuân và cha Hảo. Cũng giống như nhiều vị công chức cao cấp khác, ông quận trưởng tự cảm thấy rằng, thời này là thời đạo Thiên Chúa, bởi gia đình Ngô Tổng Thống rất sùng đạo! Cái ghế của ông có vững hay không, tương lai của ông có leo lên được nữa hay không, đều tùy thuộc ở cách xử sự khéo léo của ông, chứ không phải nhờ tài năng hay đức độ. Nhà ông đời đời theo Phật giáo. Nhưng người khôn ngoan lúc này phải biết thức thời, bỏ đạo Phật để rửa tội theo Công Giáo thì mới được Ngô Tổng Thống tín nhiệm! Ông tin như thế, cho nên ông tìm đến làm thân với các vị linh mục, những người mà ông cho là cửa ngõ thênh thang nhất để giắt ông trên đường danh vọng. Một tiếng nói, một đề nghị của một linh mục, sẽ có sức mạnh gấp trăm lần ý kiến của quan (cấp trên?)! Tương tự như thế, một lời dèm pha của một linh mục, có thể làm ông bay chức trong nháy mắt! Cái thành kiến ấy nằm sâu trong đầu ông, cho nên ông đã từng trợ giúp vật liệu cho cha Xuân xây cất nhà thờ, từng xuống dự lễ đêm Noel, quì mỏi gối chung với giáo dân ở trại, và hai năm liên tiếp, ngồi ghế quận trưởng, cứ mỗi độ xuân về, ông đều không quên sai lính chở xuống nhà xứ tặng một cành mai thật lớn!…”  (Tr 152-153)

Cũng vì thế mà người đảm nhiệm chức vụ trưởng ấp cũng phải do cha Xuân (chánh xứ) hay cha Hảo (phó xứ) chỉ định. Cha Hảo nói:

Trưởng ấp Trấn mới từ chức! Ông biết tin chưa? Ông xem trong Hội Thánh Giuse của ông có ai muốn ra làm trưởng ấp thay ông Trấn thì cho tôi biết!” (tr 163)

Nếu chính quyền trung ương Sàigòn đã có quân đội cùng với bộ máy mật vụ, công an để bảo vệ chính quyền và thi hành những mệnh lệnh của Giáo Hội La Mã qua Hội Đồng Giám Mục của miền Nam Việt Nam thì chính quyền địa phương trong xóm đạo của cha Xuân cũng phải tổ chức những đạo binh để bảo vệ xóm đạo, đúng như chủ trương của Giáo Hội:

Trong hệ thống giáo hội, các đoàn thể lập ra rất nhiều: Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể. Hội Nghĩa Binh, Hội Con Đức Mẹ, Công Giáo Tiến Hành, Đạo Binh Xanh, Hội Các Bà Dòng Ba, v.v.. thực chất chỉ nhằm mục đích đoàn ngũ hóa giáo dân, cũng nhắc nhở nhau, giúp nhau về mặt tín ngưỡng mà thôi. Lối tổ chức này rất hữu hiệu, cho nên rút kinh nghiệm ấy, hệ thống Cộng Sản trên toàn cầu về sau cũng bắt chước đoàn ngũ hóa đảng viên và nhân dân, y như thệ thống tổ chức Công Giáo.” (tr 203).

Các tổ chức đòan thể trên đây tuy là mang danh xưng nặng tính cách tôn giáo, nhưng thực chất là những đoàn thể chính trị của Xóm Đạo. Các đoàn thể này vừa có nhiệm vụ công an và tình báo làm tai mắt cho nhà thờ vừa có nhiệm vụ quân sự để bảo vệ chính quyền đạo phiệt Gia-tô tay sai của Giáo Hội tại địa phương, vừa có nhiệm vụ đánh phá và tiêu diệt mọi cá nhân, đoàn thể hay thế lực nào bị coi là bất lợi cho đạo Kitô vào khi tình hình bất ổn.  Bình thường, Giáo Hội đã ra lệnh cho tất cả mọi giáo khu hay xóm đạo phải có hệ thống mật vụ công an để theo dõi tín đồ hầu khám phá ra có kẻ nào bị coi là “rối đạo” hay “có tinh thần chống lại Giáo Hội” để trừng trị kịp thời. Chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng  đã phải triệt để thi hành lệnh này của Giáo Hội, nghĩa là phải thiết lập các tổ chức công an, mật vụ để rình mò dò xét nhân dân và để bảo vệ chính quyền đúng theo chủ trương của Giáo Hội.

Tương tự như chính quyền trung ương, tại Xóm Đạo Tân Hạ, cha Xuân và cha Hào cũng phải triệt để thi hành lệnh này của Giáo Hội, nghĩa là cũng phải tổ chức một hệ thống do thám có nhiệm vụ rình mò dò xét người dân trong xóm đạo và trừng trị những kẻ bị coi là “rối đạo” hay có tinh thần “chống Giáo Hội” :

“Thông đi nhanh ra mở cửa. Vừa đặt chân ra thềm, anh bỗng giật mình sửng sốt bên hông nhà Quyên, khuất giữa đám cây cối um tùm, nhất lọat vang lên những tiếng sột soạt, rồi tiếng bước chân của cả chục người kéo nhau ù té bỏ chạy. Anh lao ra đầu hè nhìn theo. Dưới anh trăng mờ, anh nhận ra một lũ trẻ khá đông đang túa ra nhiều hướng, luồn lách trong vườn sắn và dẫm đạp lên những luống khoai lang mới trồng của Quyên. Anh giận ứ lên tới cổ. Bà quản Vọng chắc hẳn đã rêu rao bản tin hấp dẫn về Thông và nhất là chuyện Quyên bị cha Xuân đánh năm roi về tội “ngoại tình”, nên trẻ con mới tò mò kéo đến núp đầy ở ngoài hiên trông vào. Chúng nó tập trung từ lúc nào, dĩ nhiên Thông không biết. Cũng có thể chính bà quản (Vọng) đã sai chúng tới đây rình rập để về báo cáo chi tiết cho bà biết mà trình cha! Lũ trẻ thì vốn thích nghich ngợm và hiếu kỳ. Bà chẳng cần bảo, chúng cũng tự ý rủ nhau theo dõi. Huống chi bây giờ lại được bà khuyến khích!”

Thông thấy nghẹt thở như  người sắp lên cơn xuyễn. Kể từ ngày hôm nay, mọi bước anh đi đều sẽ có kẻ dòm ngó. Anh thấy sống như thế này không được! Tội nghiệp anh và nhất là tội nghiệp cho Quyên! Anh đứng lặng trên thềm nhìn ra con đường trước mặt. Lũ trẻ gặp nhau xa xa, tíu tít kể chuyện, nhưững anh không nhận rõ mặt đứa nào. Chúng cứ đứng ở đó, dưới gốc cây bông vải, nhìn lại phía Thông, ra chiều tiếc rẻ cuộc vui chơi chưa tàn! Thông thở mạnh quay vào nhà Quyên. Anh buốt nhói hình dung ra từ nãy đến giờ, bọn trẻ ở ngoài hiên, trong  đó dĩ nhiên có cả học trò của anh, đã nhìn thấy anh kéo quần Quyên xuống và đắp khăn ướt lên mông nàng! Anh không còn là hình ảnh thần tượng của chúng nữa. Anh đã trở thành kẻ tội phạm, là con chiên rối đạo theo lời mô tả của bà quản Vọng!” (tr 98-99).

II.- SINH HOẠT TÔN GIÁO

Cũng như tín đồ Da-tô ở các giáo khu Phát Diệm, Bùi Chu và trong các làng đạo ở rải rác trên toàn lãnh thổ Việt Nam trong thời kỳ 1862-1954, tín đồ Da-tô người Bắc di cư vào Nam ở  xóm đạo Tân Hạ trong những năm 1954-1963 rất là sùng đạo. Sùng đạo đến độ hầu như tâm tư của họ không lúc nào là không nghĩ đến Chúa và hầu như thời giờ trong ngày khi nào ngưng làm việc là dành cho việc cầu nguyện. Sự kiện này được tác giả ghi nhận như sau:

Từ thuở chưa có trí khôn, cũng giống như bao nhiêu người Công Giáo khác, anh (Thông) đã được nuôi dưỡng trong bầu không khí thượng tôn tín ngưỡng, bằng những giáo điều bất di bất dịch, theo thời gian ngấm dần vào trí óc anh, khiến anh làm cái gì cũng sợ tội, sợ Chúa trừng phạt.”  (Tr. 71)

Toàn trại này, dường như ai cũng sùng đạo như nhau, và sự sùng đạo ấy được thể hiện qua việc cầu nguyện và đi lễ. Buổi sáng, năm giờ chuông đổ lần thứ nhất, họ đã lục tục đánh thức cả nhà cùng dậy. Việc đầu tiên khi chưa bước chân xuống đất, là phải làm dấu thánh giá và đọc vài kinh nhật tụng. Sau đó, đánh răng rửa mặt, thay quần áo đi lễ. Trên đường đến nhà thờ, họ không bỏ phí thì giờ, lấy tràng hạt ra vừa lần chuỗi vừa cầu xin. Vào nhà thờ đọc kinh chung cả tiếng đồng hồ rồi mới tham dự thánh lễ mà dường như vẫn chưa thấy đủ, họ còn quì nán lại đọc kinh thêm cho đến lúc tới giờ đi làm. Buổi trưa, đúng giờ ngọ, chuông nhà thờ lại cất lên, nhắc họ dù đang làm gì, dù đang ở đâu, cũng phải tạm ngưng tay để làm dấu thánh giá và cầu nguyện. Tối về, cơm  nước xong lại vội vã đến nhà thờ. Và khoảng 9 giờ tối, trước khi đi ngủ, mọi gia đình đều tụ tập trước bàn thờ để đọc thêm một loạt kinh nữa trước khi lên giường! Nói chung, một ngày không biết bao nhiêu lần nhớ đến Chúa. Ăn củ khoai cũng làm dấu thánh giá. Nửa đêm mất ngủ cũng ngồi lên lần tràng hạt! Vui cũng cám ơn Chúa, mà buồn cũng coi là thánh giá Chúa trao cho mình gánh vác! Niềm tin mãnh liệt như thế, cho nên chẳng lạ gì….” (tr 148)       

Với tình trạng như trên, sớm hay muộn, giáo dân cũng sẽ bị điều kiện hóa đến độ không còn khả năng sử dụng lý trí vào việc phân tách và lý luận để tìm hiểu sự việc, chỉ biết tuyệt đối tin tưởng vào Tòa Thánh Vatican, chỉ biết triệt để vâng lời và tuân hành lệnh truyền của các đấng bề trên,   chỉ biết tin tưởng vào những giá trị và sự linh nghiệm của những tín lý quái đản trong đạo Kitô. Hành xử như vậy,  họ được Giáo Hội phỉnh nịnh là những tín đồ Gia-tô “thuần thành” hay “ngoan đạo” của Giáo Hội. Ngoài ra, họ còn được dạy dỗ:

có bổn phận phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo được biết!” (tr 320).

Nói một cách khác là họ phải hành xử theo châm ngôn “tốt khoe ra, xấu xa đậy lại.” Độc giả có thể kiểm chứng tình trạng này bằng cách tìm đọc bất kỳ một ấn phẩm nào có liên hệ đến Giáo Hội La Mã hay các chính quyền đạo phiệt Gia-tô tay sai của Tòa Thánh Vatican do những tín đồ Gia-tô “ngoan đao” biên sọan, thí dụ như bộ sách Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan của Linh Mục Vũ Đình Họat, bộ Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo của Linh-mục Bùi Đức Sinh, bộ sách Việt Nam Giáo Sử của Linh-mục Phan Phát Huồn, v.v…

III.- BIỆN PHÁP TRỪNG TRỊ TÀN NHẪN 
NHỮNG KẺ BỊ CHO LA RỐI ĐẠO HAY GÂY HẠI
CHO UY TÍN CỦA GIÁO HỘI LA MÃ

Tổ chức do thám của xóm đạo Tân Hạ  do bà quản Vọng chỉ huy rất hữu hiệu. Nhờ vậy mà những kẻ bị cho là “rối đạo” hay bị cho  là thủ phạm gây hại uy tín cho Giáo Hội  đều bị trừng trị thẳng tay  bằng hình thức “đánh đòn” hay “đấu tố”, bất kể  nạn nhân là trẻ em vị thành niên hay đã ở vào tuổi trưởng thành.

Theo truyền thống, việc đấu tố này đã có từ thời Trung Cổ, có lẽ từ năm 1232, khi Giáo Hội cho thiệt lập Tòa Án Dị Giáo (Inquisitions) để điều tra, truy lùng, tra tấn và xử tử những người nằm dưới quyền thống trị của Giáo Hội nếu bị nghi ngờ là “rối đạo” hay “có tình ý riêng tư” khác với tín lý, giáo luật, lễ nghi và tập tục Gia-tô. Truyền thống này được các nhà truyền giáo Âu Châu du nhập vào các xóm đạo ở miền Bắc từ mấy thế kỷ trước rồi lại được những tín hữu Da-tô Bắc Kỳ di cư mang theo vào miền Nam. Mức độ nặng hay nhẹ của tội lỗi là tùy theo bản chất của vấn đề. Được coi là nặng, là những chuyện xẩy ra có liên hệ đến danh dự các ông tu sĩ, và được coi là   nhẹ, là những chuyện xẩy ra chỉ có liên hệ tới giáo dân thuộc loại bạch đinh với nhau mà thôi. Trường hợp này, người nào bị coi là lép vế hơn thì sẽ bị trừng phạt nặng hơn. Thông thường phái nữ thường bị coi là lép vế hơn.  Theo luật bất thành văn này, chuyện tình giữa thày giáo Thông và cô Maria Vũ Thị Quyên,  cô Quyên là người bị coi là lép vế hơn thày giáo Thông, do đó cô Quyên phải bị trừng trị nặng hơn. Cũng vì thế mà cô Quyên mới bị cha Xuân cho gọi lên văn phòng đánh đòn để răn đe:

Rồi cha (Xuân) sai người gọi Quyên lên, bắt nằm xuống đánh năm roi vào đít và ra lệnh từ nay không được tiếp xúc với Thông nữa!  (Tr 15).

Còn thày giáo Thông  được coi như là có địa vị cao hơn ở trong xóm đạo thì chỉ bị cha Xuân mắng nhiếc nhẹ ở trong văn phòng mà thôi:

Cha cũng quí mến Thông, vì anh là giáo viên, là người dạy hát cho ca đoàn và hăng say trong mọi công tác nhà thờ, thế mà khi nghe Thông giãi bày mối quan hệ của anh với Quyên, cha đã lớn tiếng mắng át đi và đuổi anh ngay ra khỏi phòng làm việc của cha. .. Thông không buồn vì cha Xuân đánh người yêu của mình. Đó chỉ là cách dạy dỗ rất tự nhiên mà giáo dân chấp nhận, cũng như những ông trùm, bà quản ngày ngày cầm roi quất vùn vụt xuống lưng đám trẻ ngủ gật trong nhà thờ mà cha mẹ những đứa bé ấy không bao giờ than phiền! Điều đáng buồn duy nhất của Thông là anh không được phép đối thoại với cha Xuân, không được trình bày mọi suy nghĩ và uẩn khúc trong lòng anh, bởi anh cứ mở miệng là bị cha gạt phắt đi, rồi câu trước câu sau, bảo anh ra nhà thờ cầu nguyện và ăn năn đền tội!” (Tr 15)

Trường hợp những chuyện có liên hệ giữa một tu sĩ  hay tu sinh và một em bé gái vị thành niên thì mọi trách nhiệm sẽ được đổ lên đầu em bé gái nạn nhân này và biện pháp trừng trị phải được áp dụng là đấu tố, đấu trường sẽ là sân nhà thờ, và thời điểm sẽ được tổ chức vào ngay khi vừa mới tan lễ trong một ngày Chủ Nhật. Điển hình cho sự kiện này là chuyện ông Thầy Bốn Phan dụ dỗ và phá hoại cuộc đời trong trắng của bé Mai mới 16 tuổi. Chúng ta thấy trong trường hợp này, mọi trách nhiệm về tôi áci đều đổ lên đầu em bé Mai và bé Mai phải bị trừng trị bằng biện pháp đấu tố, nghĩa là trừng trị bằng cách vừa đánh vừa sỉ nhục theo kiểu bề hội đồng.  Họat cảnh đấu tố này được tác giả kể lại cho chúng ta nghe như sau:

“Một buổi sáng chủ nhật, lễ vừa xong, Thông nhập chung đoàn tín hữu ùn ùn kéo ra cửa chính. Anh đứng lại trên thềm xi măng, nói chuyện với vài phụ huynh học sinh. Bỗng nghe tiếng ồn ào bên hông nhà thờ, phía dành cho phụ nữ. Anh vội vàng chạy sang xem thì thấy một nhóm khá đông các bà đang hung hăng xúm lại xỉa xói: “Con quỷ lăng loàn! Đánh chết nó đi!”

Một bà khác rít lên: “Xé xác nó ra! Đuổi cổ nó khỏi nhà thờ! Nó dám quyến rũ thầy!”

Bà khác lại thêm: “Con đĩ nhuốc nhơ!  Làm ô danh Chúa!”

Cùng với những lời chửi mắng ấy, hàng chục bàn tay xúm vào xé toang hết áo quần của Mai. Mai vừa khóc vừa cố thoát thân. Nhưng họ vây chặt tứ bề, không một ai lên tiếng  ngăn cản. Tất cả đều đồng ý với nhau là phải ra tay trừng trị đứa con gái khốn nạn đã quyến rũ Thầy Phán khả kính của họ, làm thày lung lay con đường tu hành! Từng miếng vải tung lên. Chiếc áo dài trắng, cái quần đen, cái áo lót, trong nháy mắt biến thành những mảnh vụn quăng đầy chung quanh! Thông đứng lặng trên thềm, không biết phản ứng thế nào. Mai thì ngồi thụp xuống, hai tay che ngực, toàn thân chì còn cái quần lót nhỏ xíu. Một bà dơ chân đạp mạnh vào lưng, khiến cô ngã lăn ra. Các bà khác xúm lại, người thì chửi, người thì nắm tóc, rit lên đay nghiến. Thông nhìn quanh tìm một cái gì cho Mai che thân, nhưng không có. Chờ cho các bà nguôi ngoai phần nào, anh mới tiến lại từ tốn lên tiếng: “Thôi, các bà xử phạt như thế đủ rồi! Xin các bà tha cho cô ấy!

Các bà nhất loạt quay lại. Ai cũng nể Thông, nhưng vẫn còn ấm ức. Một bào bảo: “Tha thế nào được hở thày! Nó là con quỷ cái! Nó quyến rũ thầy Phán!”

Thông nắm vững tình thế. Anh biết lúc này không phải là lúc anh nên tranh cãi với các bà, dù rằng lý luận các bà là thứ lý luận ngang phè phè. Giữa thầy Phán và con bé 16 (mười sáu) tuổi, ai quyến rũ ai! Tôn giáo nào cũng vậy, ông cha hay ông sư (sịc) mê gái, người ta cứ lôi đứa con gái ra mà đánh chửi, đổ hết mọi tội lỗi lên đầu nó, bởi nó là hiện thân của quỉ cám dỗ bậc tu hành! Cái người đáng để các bà xé hết quần áo chính là thầy Phán! Nhưng các bà lại không làm như thế, mà chỉ dồn trọn căm hờn vào một phía tòng phạm! Thông điềm tĩnh bảo: “Cô ấy biết lỗi rồi! Từ nay không dám thế nữa! Các bà cho tôi xin!”

Vừa nói, Thông vừa rẽ đám đông tiến lại, cởi cái áo sơ mi anh đang mặc, khoác cho Mai và bảo cô chạy về nhà! Nhiều bà nhìn theo, tiếc rẻ than: “Thầy không để cho nó thêm một trận! Đồ mất nết!”

Thông từ tốn giãi bày: Lần đầu như thế là được rồi! Tôi dám chắc là từ nay cô ấy phải chừa! Lần sau mà còn tái phạm, thì xin các bà cứ thẳng tay, tôi không can! Vả lại, mình đang đứng bên cạnh nhà thờ, tức là trong khuôn viên nhà Chúa, để cô ấy lõa lồ như thế không phải! Tội chết!

Vốn nể tài ăn nói gọn gàng của Thông, các bà gật gù đồng ý, bảo nhau giải tán.” (Trang 42-44).

Tương tự như trường hợp của bé Mai trên đây, bé Phương 16 tuổi, bị cha ghẻ là Quỳnh đã từng giữ chức hội trưởng Hội Thánh Giuse và đương kim trưởng ấp Ấp Tân Hạ, phao tin có liên hệ tình cảm với Cha Hảo. Thế là khi hay tin, cha Xuân, bà Quản Vọng và các bà trong Hội Con Đức Mẹ liền chuẩn bị môt màn đấu tố  bé Phương giống y như họ đã tổ chức đấu tố bé Mai trước đó:

Nhưng ai cản mặc ai, bà quản vẫn quyết chí phải trừng trị con Phương. Cái uy của bà chỉ được biểu lộ ở những trường hợp này! Con gái trong trại mà đứa nào cũng ngoan như bốn cô con gái ế chồng của bà thì lấy ai cho bà đánh chửi! Bà hung lên nói: “Bà nào không muốn dúng tay vào thì cứ việc lảng đi chỗ khác! Cha xứ đã giao việc này cho tôi, tôi không làm đến nơi đến chốn là có lỗi với cha, với Chúa!” Thế là các bà đồng thanh quyết định sáng chủ nhật này, sau lễ thứ hai do cha Hảo chủ tế, các bà sẽ ra tay công khai. Sân nhà thờ sẽ biến thành pháp trường y như trước đây các bà đã áp dụng với Mai.” (tr 226)

B.-  BA MỐI TÌNH CỦA THÔNG

Trong thời gian 1954-1960, Thông đem lòng thương yêu ba thiếu nữ là Quyên, Trâm và Mai. Cả ba thiếu nữ này đều là dân Bắc Kỳ di cư và cả ba vừa trẻ hơn Thông một vài tuổi vừa xinh đẹp mặn mà. 

Mối tình thứ nhất.- Maria Vũ Thị Quyên vừa là người đồng đạo Bắc Kỳ di  cư vừa là  một thiếu nữ độc thân tại chỗ ở chung một dẫy nhà và sát vách với thầy giáo Thông. Trước khi di cư vào Nam, khi mới 16 tuổi,  Quyên đã bị   tên Phùng Văn Quý, một người đồng đạo,  trưởng đồn một đồn lính, cưỡng ép lấy làm vợ có làm phép cưới ở nhà thờ. Cưới rồi, Quyên ở lại với gia đình chồng và người chồng ở trong đồn với một người vợ khác, chẳng bao giờ về sống với Quyên. Có lần Quyên lên đến tận đồn thăm chồng, nhưng bị chồng hắt hủi đuổi về. Sau đó, đồn bị Việt Minh tấn công, chồng Quyên bị bắt đem đi cải tạo, rồi hoạt động cho Việt Minh, không về với gia đình. Sau tháng 7 năm 1954, buồn chán tình đời, Quyên theo bà dì di cư vào Nam rồi được đưa  đến định cư ở trại Tân Hạ và ở chung nhà với gia đình bà dì.  Vì sự ganh ghét của mấy đứa em con bà dì, Quyên không thể tiếp tục ở chung với bà dì và xin trại cấp phát cho một căn nhà ở riêng. Vì cũng độc thân, cho nên Thông cũng được cấp phát một căn ở khu này và tình cờ lại ở sát vách bên cạnh nhà Quyên. Trai không, gái chiếc đang ở tuổi xuân phơi phới lại ở gần cạnh nhau, nhất là cả hai cùng ở vào hòan cảnh cha mẹ và anh em đều ở lại miền Bắc thì làm sao tránh khỏi cảnh “trộm nhìn nhau ……!” . Rồi hàng ngày ra vào gặp nhau, làm sao lại không chào hỏi nhau? Sự đời, “trước lạ sau quen”, “ bán anh em xa mua láng giềng gần”. Rồi hai bên cùng liếc hai lòng cùng ưa, và cuối cùng thì:

Thông nắm tay Quyên, lôi nàng vô hẳn bên trong. Anh cứ sợ nhà hàng xóm bên kia đường còn có người thức và thấy Quyên qua nhà anh giữa nửa đêm. Cử chỉ ấy làm Quyên bật cười. Chờ Thông thắp đèn lên, nàng nhìn bức vách dán giấy báo ngăn giữa nhà và bảo: “Nếu anh sợ người ta nom thấy thì mình khoét bức vách ăn thông giữa nhà anh và em. Như thế thì từ nay em khỏi phải đi vòng ra phía trước!”  (trang 78).

Tình yêu giữa Thông và giữa Quyên hết sức tha thiết và đã đi đến mức “cho nhau đến cái tận cùng!” Tha thiết  đến độ phải tính đến chuyện khoét vách cho dễ dàng đến với nhau để cùng chui  vào trong mùng nằm kề bên nhau cho cái giường bớt rộng, cho đời bớt hiu quạnh lạnh lùng. Nhưng dù đã  kín đáo đến như vậy cũng vẫn bi đạo quân do thám cúa bà quản Vọng theo dõi và báo cáo lên cha Xuân khiến cho Thông bị cha Xuân gọi lên báo cho biết  chuyện chẳng lành sẽ xẩy đến cho anh:

“Anh bị tẩy chay, phải bị trừng phạt, và bước đầu tiên là hôm mãn trường, cha chánh xứ gọi anh vào, báo cho anh biết trước, là niên khóa tới sẽ không còn có anh trong ban giảng huấn của trường tiểu học nữa! (tr 5).

“Anh đã khóc lóc trong tòa giải tội, đã xin gặp riêng cha chính xứ để giãi bày. Nhưng vị linh mục lớn tiếng mắng anh và khăng khăng bắt anh phải chấm dứt liên hệ tình cảm với người đàn bà ấy.” (tr 6)

Nghĩ rằng cha phó trẻ hơn, cấp tiến hơn và cởi mở hơn, hy vong người sẽ thông cảm cho mối tình tha thiết của anh đối với Quyên, cho nên Thông mới đến gặp Cha phó   để giãi bày tâm sự, nhưng rồi cũng chỉ là ảo tưởng:

Cha Hảo giơ tay ngắt lời Thông: “Cha hiểu ý anh. Nhưng luật là luật. Làm sao anh biết là Bắc Nam sẽ không có ngày thống nhất? Trong tình hình hiện tại, anh chỉ cần nhớ một điều là cô Quyên đã có phép hôn phối tại nhà thờ. Như thế, nghĩa là cô Quyên không thể lấy ai được, một khi chồng cô ấy còn sống. Và giả dụ chồng cô ấy có lỡ lấy người khác đi chăng nữa, điều đó cũng không thay đổi được luật Hội Thánh. Bí tích hôn phối anh đã biết: Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không có quyền phân rẽ.” (Tr 14.)

Rồi hai người bàn với nhau là Quyên phải làm đơn gửi lên Giáo Hoàng Pius XII (1939-1958) để xin được giải hôn với người chồng cũ để được làm lễ thành hôn một cách đường đường chính chính với Thông ở ngay trong nhà Tân Hạ. Nếu không được, hai người sẽ cùng bỏ đi khỏi Tân Hạ để chính thức lấy nhau và sống với nhau trọn đời trọn kiếp. Rồi Quyên làm đơn đưa cho Thông nhờ Cha Hảo chuyển theo hệ thống hành chánh của Giáo Hội. Cha Hảo nhận đơn không chút do dự. Việc này đã làm cho cả Thông và Quyên đều hy vọng. Qua mấy ngày sau, gặp Thông, cha Hảo cho biết, theo quy tắc tổ chức quyền lực của Giáo Hội, đơn của Quyên phải gửi qua cha chánh xứ là cha Xuân chuyển lên Tòa Giám Mục, rồi từ nơi này chuyển lên Tòa Thánh Vatican, chứ cha Hảo chỉ là cha Phó, không có quyền chuyển thư của Quyên lên Tòa Giám Mục. Thông biết rằng nếu gửi thư qua cha Xuân tất nhiên không những đã không được mà lại còn bị trừng phạt thêm nữa.

Thế rồi không biết sao, việc này cha Xuân cũng biết. Quyên lại bị cha Xuân gọi lên trình diện và bị đánh đòn một lần nữa.

Bây giờ thông mới sực đoán ra là nàng bị Cha Xuân đánh đòn. Thông bưng đèn lại gần sát mép giường, rồi vén vạt áo Quyên lên, đồng thời kéo cạp quần nàng xuống trễ một chút. Anh nhận ra trên làn da trắng mịn có những vết roi nhỏ nổi lên như sắp bật máu.  Anh thấy não lòng muốn khóc. Việc cha xứ dạy dỗ con chiên bằng roi bằng vọt là chuyện quá bình thường, từ xưa đến này chưa bao giờ làm anh mảy may oán vọng vì anh coi là một điều rất tự nhiên và hợp lý, như chính anh lâu lâu vẫn đánh những đứa học trò lười biếng và ngỗ nghịch trong lớp. Nhưng hôm nay, anh thấy có cái gì không đúng khi cha xứ phạt Quyên. Cha đã mắng anh, đã bắt anh dọn lên nhà xứ để cách biệt Quyên, và anh đã chấp nhận  biện pháp chia lìa đó thì tại sao cha còn đánh Quyên? Anh nén tiếng thở dài và lần đầu tiên anh thoáng cảm thấy nhen nhúm trong đầu một ý tưởng phản kháng lối hành xử bất công của cha xứ!” (tr 95-96)

Thông cũng bị gọi lên trình diện cha Xuân và được lệnh “phải dọn lên nhà xứ để cách biệt Quyên”, nếu không nghe lời có thể sẽ bị rút phép thông công. Thông nghe lời cha Xuân “Thà phụ tình Quyên” để khỏi bị mang tiếng là “vượt ra ngoài vòng tôn giáo”.

Khi trở về,  gặp Thông  Quyên hỏi:

Anh tính sao bây giờ?”  Thông thở dài: “Thì phải nghe lời cha, chứ còn tính gì nữa!” (tr 90).

Nghe Thông trả lời, Quyên buồn man mác, cố gắng nói khích nhiều lần, nhưng không có cách nào lay chuyển được “tinh thần sống đạo” của Thông. Cuối cùng, vô kế khả thi, Quyên đành phải   lía bỏ xóm đạo Tân Hạ, cuốn gói ra đi mang theo niềm đau khôn nguôi đến nơi đất mới.

Quyên nén tiếng thời dài. Thôi! Từ nay nàng phải tự lo cho mình, không còn trông mong gì ở Thông  nữa. Nàng lặng lẽ bán sập vải, rồi một buổi sáng ra quốc lộ 1 đón xe đi Hóc Môn, chỉ mang theo có một cái va li nhỏ.” (Tr 130).

Quyên đi rồi, có lẽ Thông chỉ buồn một chút, rồi cố gắng lấy lại tinh thần để sống đạo theo nếp sống bình thường của người dân trong xóm đạo. Có thể là tâm sự của Thông lúc bấy giờ  giống như nhà thơ Thâm Tâm trong thời Tiền Chiến:

Hãy vui lên các anh ơi!
Nàng đi tôi gọi hồn tôi trở về! (Thâm Tâm)

Mối tình thứ hai.- Mối tình này là mối tình giữa Thông, một chàng trai ngoan đạo, với cô Đoàn Thị Trâm, một có gái ngọai đạo hàng xóm cách nhau chỉ một hàng giậu thưa, giống như cô gái hàng xóm  của nhà thơ Nguyễn Bính:

Nhà nàng ở cạnh nhà nàng
Cách nhau cái giậu mùng tơi xanh rờn. (Nguyễn Bính).

Quyên đi rồi, Cha Xuân cũng không cần bắt buộc Thông phải dọn lên nhà xứ ở chung với cha Hảo. Cũng vào lúc đó, gia đình ông bà Thứ dọn đi Cái Sắn và tỏ ý muốn biếu Thông căn nhà của họ. Thấy căn nhà rộng rãi lại có vườn cây trái đầy đủ, Thông vui mừng nhận lời ông bà Thứ và dọn đến ở căn nhà này.

Ở sát căn nhà này là gia đình ông Đòan Cảnh, một gia đình ngọai giáo độc nhất còn ở lại trại định cư Tân Hạ. Gia đình này vẫn còn mang vết thương đau nhói trong lòng gây ra do cung cách đối xử hàng ngày của ông bà Thứ đối với họ vì họ là người ngọai đạo dù là người hàng xóm cách nhau chỉ có một hàng rào.

Về đây ở được mấy ngày, Thông biết rõ ông bà Đoàn Cảnh có người con gái đầu lòng là Trâm mới 22 tuổi với hai người con trai là thằng Anh 20 tuổi, đang chuẩn bị đi Sàigòn học lấy bằng lái xe hơi, và thằng Thế  18  tuổi, đang chờ ngày nhận giấy gọi đi trình diện thi hành nghĩa vụ quân dịch.

Trâm là một thiếu nữ xinh đẹp mặn mà, có những nét quyến rũ đặc biệt đới với phái nam. Vì là gia đình ngoại giáo độc nhất còn lại sống ở trong trại Tân Hạ gồm toàn người công giáo, cho nên dân trong xóm đạo không muốn quen thân với gia đình ông Đoàn Cảnh. Vì thế mà Trâm gần như hoàn toàn bị cô lập. Cũng vì thế mà đã 22 tuổi rồi mà Trâm vẫn không có một chàng trai nào ở trong xóm đạo này ngó tới. Nếu sống ở một nơi khác không bị kỳ thị như ở Tân Hạ, chắc là Trâm đã có chồng từ lâu rồi. Sống ở bên cạnh nhà Trâm và hàng ngày ra vào nhìn thấy Trâm, nhan sắc của Trâm đã làm cho Thông mạnh dạn tìm cách làm quen với Trâm:

“Ranh giới giữa nhà cô (Trâm) và Thông chỉ là cách hàng rào cắm bằng những thân cây sắn khô để những giây đậu đũa leo lên. Trâm rẽ luống lang, tiến dần lại phía Thông, nhưng dĩ nhiên không trông thấy anh đang đứng khuất dưới giàn mướp. Cô mặc áo cánh mầu nâu non, quần đen, tóc thả xuống ngang lưng. Cô có cái dáng thanh thanh, cao vừa tầm và trên khuôn mặt trái soan, nổi bật nhất là đôi mắt rất tinh anh. Cô cắp cái rổ vào cạnh sườn, đứng tần ngần nhìn luống lang dưới chân, rồi lại tỏ ý lưỡng lự ngó những giây đậu đũa leo thưa thớt trên hàng rào. Ăn rau lang luộc thường xuyên, chắc cô đã chán ngấy. Mà hái đậu thì đậu chưa lớn hẳn khiến cô thấy tiếc! Thông đóan như thế cho nên anh đưa tay ngắt vội ba quả mướp đẹp nhất và tiến lại phía Trâm. Anh đưa ba trái mướp ra và ung dung bảo: “Biếu cô, gọi là cây nhà lá vườn! Cô nấu bát canh mời hai bác xơi.”

Trâm giật mình nhìn Thông, ánh mắt không giấu nổi nét bối rối pha lẫn vui mừng. Cô cảm động lắm! Cảm động không phải vì giá trị của món quà, mà vì tuy ở sát nhà nhau nhưng rất ít khi Thông nói chuyện với cô, hoặc bất cứ người nào trong gia đình cô. Ngày ngày thấy cô trong vườn hay ngoài sân, bất đắc dĩ không tránh mặt được thì mức xã  giao tối đa của Thông vẫn chỉ là gật đầu mỉm cười hoặc thăm hỏi một hai câu thủ tục tối cần mà thôi. Hôm nay, tự dưng Thông phá lệ, tặng cô tới ba trái mướp, khiến cô ngơ ngác, không hiểu tại sao.” (Trang 303 - 304)

Gái đẹp cô đơn gặp trai phong nhã, làm sao mà con tim không thổn thức và nuôi hy vọng! Biết rằng Trâm đã chịu đèn, Thông  mạnh dạn đến thăm gia đình ông Đòan Cảnh để tiến tới:

Thông ho nhẹ một tiếng rồi lớn giọng: “Ông bà có nhà không? Tôi là Thông đây!”(Trang 310)   

Cháu dọn về đây đã nửa năm rồi mà bận việc quá, chỉ mới sang chào ông bà có một lần. Hàng xóm láng giềng mà như thế thì cũng không phải tí nào, xin ông bà thứ lỗi cho!…” (Trang 311)

Dù cho ông Đoàn Cảnh không thù ghét gì Thông nhưng vì vết thương do ông bà Thứ và những người trong xóm đạo đã gây cho gia đình ông vẫn còn sưng tấy trong lòng cho nên ông vẫn không có thiện cảm với đạo Ki-tô, cái đạo mà ông biết rằng đã mang thực dân Pháp vào chiếm đất nước. Tuy nhiên, là con người có văn hóa, ông vẫn giữ thái độ không niềm nở đối với Thông, chứ không có hành động nào lỗ mãng cả. Nhờ vậy mà Thông và Trâm vẫn còn đi lại thân tình với nhau và sự quan hệ giữa hai người càng ngày càng thêm gắn bó . Ngay cả bà Cảnh cũng như hai đứa em của Trâm là thằng Anh và thằng Thế cũng có thiện cảm đối với Thông.

Thế rồi, khi ngồi câu cá với Thông, không biết có phải cố ý gợi cho Thông chuẩn bị tư tưởng để  ứng đối khi tiếp xúc với ông Đòan Cảnh hay chỉ là sự ngay tình chất phác của một đứa con trai nhà quê mới lớn, thằng Anh đã nói với Thông:

Bố em bảo là đạo Công Giáo mang thực dân Pháp vào chiếm nước ta! Có như thế không anh Thông?Thông giảng: “ Tại bố em không đọc lịch sử nên mới nghĩ như vậy. Đạo Công Giáo truyền sang nước ta từ năm 1533, tức là từ đời các vua Lê. Các giáo sĩ đầu tiên đến Ninh Cường và Trà Lũ giảng đạo, có âm mưu chính trị gì đâu! Hơn 300 năm sau thực dân Pháp mới xâm chiếm Việt Nam, là lúc mà đạo Công Giáo đã vững vàng. Chính triều đình và  phong trào Văn Thân giết 130 ngàn giáo dân, đã gây nên cái hố chia rẽ càng ngày càng trầm trọng! Hai đứa em Trâm, thằng Anh và thằng Thế, tuổi còn trẻ, rất dễ thu nhận những điều Thông nói.”  (Tr 355)

Càng thấy Trâm say mê Thông, ông Đòan Cảnh càng tính kế đi khỏi xóm đạo Tân Hạ để ly cách hai người và hy vọng  thời gian sẽ giúp cho Trâm lần lần quên Thông. Nhân chuyến đi đưa thằng Anh về Sàigòn học lái xe, ông bà Đoàn Cảnh ở lại Sàigòn một hai ngày tìm mua căn nhà thích hợp với túi tiền để đem gia đình ông về Sàigòn với hy vọng sẽ giải quyết được vấn đề này và cũng là giải thóat được tình trạng phải ở trong cái cộng đồng của những người cùng cảnh ngộ di cư vào Nam mà lại khinh rẻ và coi ông như người dân hạ đẳng chỉ vì gia đinh ông không  theo đạo Ki-tô. Thế là chỉ còn có thằng Thế và Trâm ở lại nhà. Được sự đồng tình của Thế, không bỏ lỡ cái cơ hội ngàn năm một thuở này, ngay chiều tối ông bà Đòan Cảnh và thằng Anh đi Sàigòn, Trâm liền lẻn đến nhà Thông, giống như nàng Kiều lẻn nhà sang thăm Kim Trọng:

“Vắng nhà được buổi hôm nay,
Lấy lòng gọi chút ra đây tạ lòng.”(Nguyễn Du)

Trong Xóm Đạo, ông bà Đòan Cảnh đi Sàigòn, Trâm đến  nhà Thông giữa lúc màn đêm vừa buông xuống. Lòng Thông tràn ngập niềm vui, nhất là trong cảnh đêm khuya nhà vắng,  chỉ có hai người với một ngọn đèn dầu.

Thông loay hoay tính xem mình có nên chạy sang gặp Trâm hay không, thì may quá có tiếng ho nhẹ và giọng Trâm gọi nhỏ ở ngoài hè: “Anh Thông ơi! Em đây!” Thông chạy nhanh ra, vén mành mờ Trâm  và bảo: “Anh định ra đầu nhà gặp em!”. Trâm ngồi xuống ghế nói: “Bố mẹ em đi vắng cả. Ở lại Sàigòn chắc một hai hôm mới về! Nhà chỉ có thằng Thế!” Thông khép cửa chính rồi ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh Trâm…Một luồng gió bất ngờ thổi qua cửa sổ làm tắt ngọn đèn…Chắc trời sắp mưa…”tr 439)

“Em có phải về không? Mười một giờ rưỡi rồi đấy! Sợ Thế nó chờ cửa!” Trâm hất mái tóc ra phía sau, lắc đầu não nề thở mạnh: “Em ngồi luôn đây đến sáng mai cũng được! Em chỉ còn được gần anh có mấy hôm  nữa thôi!  Chẳng biết em đi rồi, anh có còn nhớ đến em hay là lại quên ngay!” Thông luồn tay dưới nách Trâm, đỡ cô (Trâm) đứng dậy và đề nghị: “Nếu không cần về thì lại giường nằm với anh. Ngồi ngoài này muỗi cắn chết!”

Trâm ngoan ngõan, tiến lại giường, với tay buông mùng trong khi Thông vặn nhỏ đèn trên bàn xuống cho đến khi chỉ còn một vết sáng li ti.” (tr 443)

Tạnh mưa rồi đấy anh ạ. Tạnh hẳn rồi! Thôi em về kẻo thằng Thế nó chờ!” Thông cũng ngồi lên tỏ vẻ ngạc nhiên: “Về làm gì? Sao không ngủ luôn ở đây với anh!” … “Anh nói thật mà. Ngủ lại đây dễ gì chúng ta có dịp này!” (tr 446) 

Trâm lắc đầu đứng dậy: “em về! Dễ đến quá nửa đêm rồi còn gì?” Dứt lời, Trâm lầm lũi tiến  ra cửa. Thông bưng đèn bước theo, cố níu kéo: “Về thật ư?”. Trâm không đáp, đưa tay tháo then cửa rồi đẩy ánh cửa…” (tr 448) 

Về đến nhà, cửa đóng cài then, Thế ngủ say, Trâm gọi mãi, Thế vẫn không dậy. Trong khi đó, ngoài trời, mưa vẫn rơi và gió vẫn thổi, khiến cho Trâm lạnh run lên, đành phải quay lại nhà Thông:

Trâm co ro bước vào, gượng cười phân trần: “Nhà tắt đèn tối om, thằng Thế nó ngủ say quá, em gọi đến cả mười tiếng nó vẫn không dậy được! Thằng khỉ! Đã dặn là đừng cài then cửa… Thôi đành sang ngủ nhờ bên anh vậy!” Thông khép cửa cài then rồi cùng tiến lại giường. Anh vui vẻ nói: “Tại vì nó cũng đoán là em sẽ ở lại bên này với anh, nên nó mới cài then trong!”  Trâm xấu hổ đập vào vai Thông khiến cái chụp đèn thủy tinh trên tay anh súyt nữa văng xuống đất. Hai người lên giường nằm sát bên nhau. Thông thò tay ra, vặn nhỏ hẳn ngọn xuống, chỉ để chút ánh sáng thật mờ trong nhà. Rồi anh xoay người nằm nghiêng, đặt một bàn tay trên vai Trâm. Bên ngoài, lại có tiếng mưa rơi nhè nhẹ, tạo thành đợt âm thanh rì rào đều đặn trên mái tranh…” (tr 450).

Còn gì sung sướng  cho bằng! Trai gái yêu nhau còn ở trong tình trạng lén lút mà lại có một đêm đến với nhau.

Cái đêm hôm ấy đem gì!
Bóng dương lồng bóng đồ mi trập trùng. (Cung Óan Ngâm Khúc)

Mối tình của Thông và Trâm qủa thật là tha thiết và cả hai cũng đều tính đến chuyện:

Mai mốt ta về sống với nhau,
Với nhau quấn quyện đến ngàn sau,
Ngàn sau ta vẫn còn tha thiết.
Tha thiết như ngày mới thương nhau.

Thế nhưng, không biết là có phải tạo hóa cơ cầu hay trớ trêu. Hầu như những mối tình chân thành tha thiết đầy thơ và mộng  của một cặp uyên ương nào cũng thường có những gì khó khăn trắc trở. Ở đây chúng ta thấy, khó khăn ở Thông và cũng là của tất cả tín hữu Gia-tô “ngoan đạo”. Khó khăn này là bức tường thành tôn giáo mà những tín đồ Kitô “ngoan đạo” không thể nào vượt qua được. Giáo Hội La Mã đòi hỏi khi một người thuộc một  tôn giáo khác muốn thành hôn với tín đồ của Giáo Hội thì người đó  phải từ bỏ tôn giáo cổ truyền của gia đình, phải theo học một khóa học giáo lý và phải rửa tội theo đạo Da-tô  rồi mới được tiến hành làm lễ cưới. Đây là giáo luật mà bất cứ môt tín hữu Da-tô ngoan đạo nào cũng phải tuân hành.  Là một tín hữu Da-tô thuộc lọai ngoan đạo lại là một ông thày giáo gương mẫu ở trong xóm đạo, làm sao Thông lại có thể không tuân hành giáo luật này?

Khó khăn ở Trâm là ông Đoàn Cảnh hết lòng tha thiết với nền đạo lý tam giáo cổ truyền. Không phải ông khó khăn trong việc hôn nhân này của Trâm, mà ông chỉ đòi hỏi một sự công bằng cho những người Việt Nam bị lép vế. Ông  không bắt người khác phải dứt khoát từ bỏ tôn giáo cổ truyền của gia đinh khi muốn thành hôn với con cái của ông thì ông cũng không muốn để ai bắt con cái của ông dứt khóat từ bỏ tôn giáo cổ truyền của gia đình ông để theo một tôn giáo khác khi thành hôn với người đó. Ông bằng lòng để cho Trâm lấy Thông, nhưng ông cấm Trâm không được theo đạo Gia-tô, và Trâm phải chọn giữa ông và đạo Gia-tô. Nếu Trâm theo đạo Da-tô để lấy Thông thì ông sẽ từ bỏ Trâm. Việc ông tính chuyện mua nhà ở Sàigòn rồi đem cả gia đình về đây ở cũng là có ý định làm cho Trâm cách biệt với Thông,  rồi “xa mặt sẽ cách lòng” và hy vọng Trâm và Thông sẽ không còn liên hệ tình cảm với nhau nữa.

Thế rồi ông mua được một túp lều ở vùng ven đô gần Trường Đua Phú Thọ (Sàigòn) và gia đình ông di chuyển về đó.

Không đầy một tháng sau khi dọn về Sàigòn, ông bà Đòan Cảnh đã kiếm được một chỗ làm công cho Trâm trong quán cơm Thăng Long  ở Đường Trần Hưng Đạo. Quán cơm này chuyên nấu những món ăn của miền Bắc do ông Mạnh làm chủ. Một phần vì nể tình ông Đoàn Cảnh là người cùng làng, một phần muốn dùng Trâm như một người làm công thân tín vừa làm công việc trong bếp vừa canh chừng để ý những người làm công khác nếu có gì tắt mắt gian vặt thì báo cho ông bà Mạnh hay. Vì vậy Trâm được trả số tiền một ngàn một tháng, cao hơn với những người làm công khác dù là họ đã làm ở quán cơm này khá lâu hơn Trâm. Với số tiền này, vào những năm 1959-1960, gia đình ông Đòan Cảnh cũng đủ sống cho qua ngày ở Sàigòn.

Khi mới dọn về Sàigòn, Trâm đã hai lần viết thư cho Thông và tha thiết dặn Thông thế nào cũng lên Sàigòn thăm Trâm. Nhưng Thông phải đợi đến hè (có lẽ là mùa hè năm 1960) mới có thể đi thăm Trâm được. Tính ra cả 3 tháng trời. Nhất nhật bất kiến như tam thu hề! Ấy thế mà Thông phải đợi đến hơn ba tháng mới đi thăm Trâm. Như vậy là sức chịu đựng của Thông cũng khá kiên cường.

Thông đến nhà Trâm, không gặp Trâm mà chỉ gặp ông bà Đoàn Cảnh và thằng Anh. Ông Đoàn Cảnh vẫn lạnh lùng với Thông như trước. Bà Đòan Cảnh tuy bề ngoài tỏ ra vồn vã, nhưng trong lòng thì không muốn cho Thông gặp Trâm nữa, cho nên khi Thông hỏi địa chỉ của Trâm làm thì  bà nói thác là không nhớ.  Nhưng sau đó, thằng Thế  xuất hiện. Vì ngây thơ và không hiểu tâm ý của bà Đòan Cảnh, thằng Thế mới ghi địa chỉ chỗ làm của Trâm trao cho Thông.

Lần theo địa chỉ, Thông đến quán cơm Thăng Long hai lần để tìm Trâm. Lần đầu, ông Mạnh cố ý không để cho Trâm gặp Thông cho nên đã tìm cách tránh né, nói thác là Trâm mắc bận, rồi sau đó lại nói là đã đi chợ rồi. Không gặp mặt và không được nói chuyện với Trâm, phân vân không biết  lòng Trâm thế nào,Thông quyết định phải đến tìm gặp Trâm để biết rõ thực hư. Ít lâu sau (không biết là mấy tuần hay mấy tháng), nhân chuyến đi Sàigòn mua quà tiễn đưa cha Xuân đổi đi một họ đạo khác, Thông lại  tìm đến thăm Trâm nữa! Lần nà, ông Mạnh tỏ ra ân cần và thành thực có ý muốn giúp Thông gặp Trâm.

Thế nhưng, “Người xưa nay đã khác xưa rồi!” (Vũ Hoàng Chương). Vì  Long, con trai đầu lòng của ông Mạnh đã đem lòng yêu thương Trâm và Trâm cũng tha thiết yêu Long vì Long cũng là một thanh niên có học vừa mới đậu Tú Tài II, vừa là con nhà giầu, vừa không có bức tường thành tôn giáo ngăn cấm giữa hai người. Vì thế mà Trâm không muốn gặp Thông. Bị Trâm từ chối không gặp mặt, Thông ra đi, lòng đau như cắt, nhớ hai câu thơ của Lưu Trọng Lư:

Giờ đây ta đốt nén hương,
Trên tay ta buộc giải tang cho tình. (Thú Đau Thương).

Mối tình thứ ba.- Khác với hai mối tình trước, mối tình thứ ba này không phải do Thông chủ động mà là do Mai chủ động. Mai là một cô học trò lớp nhất xinh đẹp nhất trong những đám nữ sinh học trò của Thông và cũng là một thiếu nữ kiều diễm nhất trong xóm đạo Tân Hạ. Cùng vì sắc đẹp hết sức quyến rũ này mà ông thày Bốn Phán (chỉ còn hai năm nữa thì thành linh mục) đã mê mẩn, quên cả tình yêu đối với Thiên Chúa để được cùng Mai “cho nhau đến cái tột cùng”. Cũng vì thế mà Mai đã bị Cha Xuân ra lệnh cho bà Quản Vọng tổ chức một màn đấu tố theo kiểu xử tội tà giáo mà các Tòa Án Dị Giáo của Giáo Hội trong thời Trung Cổ thường sử dụng.

Cách đó không lâu,  các bà dân Chúa trong Hội Con Đức Mẹ dưới quyền điểu khiền khiển của bà quản Vọng xúm nhau  đánh bề hội đồng và lột hết quần áo để thân thể của Mai lõa lồ giữa thanh thiên bạch nhật ở ngay sân nhà thờ. Việc làm ác độc và dã man này xẩy ra trước  mắt hàng ngàn người thân quen trong xóm đạo. Ấy thế mà  chẳng có một người  dân Chúa nào đứng ra nói một lời can gián và che chở cho Mai. Trong cái đám đông dân Chúa ấy, chắc chắn là có cả cha mẹ  sinh đẻ ra Mai. Nhưng không hiểu TẠI SAO họ lại không nhào ra bảo vệ đứa con gái thân thương non dại mới 16 tuổi đầu của họ đanh bị khổ nạn tai kiếp như vây? Chờ cho các bà chửi cho đã miệng, đánh đập cho đã chân tay rồi, Thông mới dám đứng ra xin can và cởi áo của Thông cho Mai khoác đỡ  để cho cả họ đạo khỏi nhìn thấy những gì mà các em bé từ tuổi lên mười cần phải che kín. Sau vụ bị đấu tố dã man này, khi về nhà, Mai lại còn bị bà mẹ đánh cho một trận đòn nên thân rồi dẫn đi Sàigòn phó mặc cho gia đình một người bà con dân Chúa cũng thiếu lương tâm như các bà trong Hội Con Đức Mẹ ở Tân Hạ, coi Mai như con ở:

Thầy biết không, cái hôm bà Quản Vọng và  các bà trong Hội Con Đức Mẹ đánh em ở sân nhà thờ, rồi thầy cho em mượn cái áo, mặc vội chạy về nhà,  mẹ em trói vào cột, đánh em một trận gẫy mấy cái roi. Sáng hôm sau, mẹ em đưa em xuống Sàigòn, gửi nhà bác em ở đường Mayers (Hiền Vương). Trọ nhờ nhà bác em thì cũng như đi ở, làm người giúp việc cho nhà người ta mà thôi. Nấu nướng, quét dọn, giặt giũ, hầu hạ cả nhà từ sáng tinh mơ đến gần nửa đêm mà bác em ác lắm, cứ suốt ngày mắng xa xả vào mặt em! Độ hai tháng sau, bố  em mới xuống thăm em và đóng tiền cho em học may ở hiệu Thiên Trang. Bố em không mắng em nữa, chỉ nhắc em sớm tối đọc kinh cầu nguyện. Học xong, bà chủ hiệu thấy em khéo tay nên thuê em ở lại luôn cho đến bây giờ!”( tr 336-337).

Cuốn gói ra đi khỏi xóm đạo, thân gái 16 tuổi, không cha không mẹ kéo lê cuộc đời ở trong nhà một người bà con  thiếu tình thương và bất lương như trên thì  cũng chẳng khác gì sống cuộc đời cò bơ cò bất ở giữa lòng thủ đô Sàigòn. Ở trong tình trạng như vậy mà Mai không bị phỉnh gạt đưa vào ổ điếm cũng là hết sức may mắn, nếu không phải trời thương những kẻ khốn cùng. Dù sao đi nữa thì vết thương bị làm nhục trước mắt hàng ngàn người thân quen trong xóm đạo  cũng không bao giờ có thể  xóa nhòa  được ở  trong lòng Mai:

Đối với đàn bà con gái, biện pháp lột quần áo là tột cùng của sự xỉ nhục, cần gì phải đấm đá! Bằng chứng là Mai đã xấu hổ đến nỗi phải bỏ xứ mà đi. Mai lúc này đau buồn lắm, bởi thày Phán từ khi rời trại, cũng không liên lạc với cô. Thành ra cô chẳng những đánh mất cái chỗ đứng thong dong ở trại định cư, mất hết bạn bè, mà còn mất luôn cả cái người đàn ông đã gây nên thảm cảnh cho cô tại sân nhà thờ sáng hôm đó!” (tr 49).  

Cũng may, không biết có phải vì là một  em bé gái vừa   rất xinh đẹp, vừa dễ thương, Mai đã được ông bà chủ nhà may Thiên Trang, chuyên may áo dài phụ nữ ở Đường Yên Đổ thâu nhận vào học nghề và đối xử với Mai với tất cả tấm lòng nhân ái như một người em út trong gia đình. Ở đây cả mấy năm, Mai vẫn âm thầm liên lạc với bé Phương con ông Quỳnh, một nhân vật nổi trong xóm đạo. Ông Quỳnh vừa giữ chức hội trưởng Hội Thánh Giuse Lao Công vừa là Trưởng Ấp  Tân Hạ. Đã một lần Mai gửi  một gói quà trong đó có hai xấp vải để may quần áo  (tr 280) và trả lại Thông cái áo sơ mi mà Thông đã cởi ra cho Mai mặc   khi bị đấu tố ở sân nhà thờ. Mai cũng gửi kèm theo lá thư  với những lời lẽ ân cần đối với Thông và tỏ lòng cảm kích về cái ân tình mà Thông đã đứng ra xin cho Mai trong khi không có một người nào kể cả cha mẹ Mai cũng không thèm nhào ra để can gián và che chở cho nàng giữa cảnh quằn quại trong trận đòn đấm đá giáng lên thân thể và những lời chửi rủa trù ẻm ác độc của các bà trong Hội Con Đức Mẹ.

Nhìn món quà của Mai gửi biếu và đọc những lời lẽ Mai viết trong thư, không biết Thông có cảm thấy đê mê đi vào cõi mộng hay không? Có một điều chắc chắn là món quà và lời lẽ của Mai trong thư đã gây cho Thông một niềm thương nhớ khôn nguôi: “Thông lại liên tưởng đến Mai và tội nghiệp cho Mai từ hôm ra đi, không dám về trại thăm nhà.” ( tr 325).

 Vì vậy mà sau đó nhân chuyến đi thăm cha Hảo ở Sàigòn, Thông đã thủ sẵn địa chỉ ở trong túi. Sau khi thăm cha Hảo, Thông thuê xe xích lô đến  nhà may Thiên Trang. May mắn thay! Khi Thông đến tiệm thì gặp Mai liền.

Khi thấy Thông xuất hiện trước cửa nhà may, Mai ngỡ ngàng tưởng là bố mẹ Mai “nhờ Thông đến  gặp Mai có việc gì quan trọng” (tr 328). Thông nói rõ mục đích chuyến đi về Sàigòn là đến thăm Mai. Lời nói này làm cho Mai sung sướng như muốn điên lên. Không do dự, Mai liền rủ Thông cùng đi dạo phố, rồi xin phép bà chủ nghỉ ngày hôm đó để dẫn Thông đi tham quan Sàigòn. Nói xong, Mai vào trong   sửa sọan, trang điểm, mặc áo dài và trở ra kéo Thông đi đón xe taxi  đến vườn Tao Đàn, rồi tới Sở Thú. Sánh vai đi bên nhau, hai người nói chuyện lan man, chán chê rồi rủ nhau vào tiệm ăn. Sau bữa cơm hội ngộ, Thông ra về, Mai vẫn còn lưu luyến như muốn kéo mặt trời đứng lại. 

Trước kia, Mai chỉ mơ màng ao ước sẽ được Thông cưới làm vợ, nhưng không nghĩ rằng chuyện này lại có thể xẩy ra được. Nhưng hôm nay, việc Thông đến thăm Mai bất ngờ và nói rõ chủ đích đã làm cho niềm hy vọng mong manh đã có sẵn trong lòng Mai giờ đây trở thành mãnh liệt và thương nhớ Thông khôn cùng.   Không cầm lòng được, Mai quyết định làm một chuyến về Tân Hạ để thăm Thông.

Thông sửng sốt nhận ra Mai xách valise nhỏ đang đứng trước mặt anh. Cô học trò cũ từ Sàigòn hiện về bất thình lình như một bóng ma trong chuyện liêu trai, khiến Thông đứng lặng môt chút rồi mới ú ớ kêu lên: “Giêsu Maria! Lạy Chúa tôi! Em về bao giờ thế? Thầy cứ tưởng là ai?. Vào ngồi chơi một tí đã!”   

“Em vừa về đến nơi! Chỉ sợ không gặp thầy. Suốt quãng đường ngồi trên xe, em chỉ sợ về mà không gặp thầy. Hoặc là trong nhà thầy có cô nào rồi! Bây giờ em mới yên trí! Cám ơn Chúa!” (tr 77-78)

Điều không may cho Mai, vào lúc này Thông đang tràn trề hy vọng tính chuyện tiến đến hôn nhân với Trâm, cho nên  bề ngòai Thông   tỏ ra hân hoan sung sướng tiếp Mai ở trong nhà, nhưng trong lòng thì phập phồng lo sợ. Vì thế mà Thông đề nghị đưa Mai về thăm ba má.  Lời đề nghị của Thông khiến cho Mai khó chịu:

Mai nghiêm mặt lắc đầu quả quyết: “Em về thăm thầy, chứ em không muốn về thăm nhà. Em xin thưa thật với thầy là, dù cho bây giờ bố mẹ em có gọi em về , hoặc xuống tận Sàigòn mà đón em về, em cũng không về nữa, bao nhiêu lần em đã xin về mà bố mẹ em nhất định không cho! Bây giờ em không cần nữa!” (trang  480).

Lời đề nghị của Thông khiến cho Mai cảm thấy  hối hận đã “về thăm Thông để gánh lấy hắt hủi. Mai ngồi im, đầu cúi thấp xuống mái tóc rủ che gần kín khuôn mặt” khiến cho “Thông càng áy náy” tìm cách an ủi nói cho Mai biết Thông vẫn trân qúy những lá thư của Mai đã gửi cho Thông (tr 482). Mai đề nghị Thông để Mai đi tắm rồi sẽ tính. Tắm xong, Mai ra ngòai, hai người cùng nói chuyện, bàn qua bàn lại, rồi cùng chui vào trong mùng trên cùng một cái giường bên nhau, nói chuyện đường dài:

Dứt lời, anh đứng dậy, bưng đèn vào buồng. Mai leo lên trước. Thông vặn nhỏ đèn xuống và chui lên theo.  Nói chuyện được thêm khoảng một tiếng nữa thì Mai mệt quá lăn ra ngủ thiếp đi. Cô nằm ngửa, mái tóc đen dầy xõa sang một bên. Trong làn ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn dầu chiếu qua lớp vải mùng trắng đục, Thông vẫn nhìn thấy rõ ngực Mai nhấp nhô lên xuống theo nhịp thờ đều đặn… Rồi anh làm dấu Thánh Giá, đọc vài câu kinh ngắn trước khi nhẹ nhàng đi vào giấc ngủ.” (tr 496-497).

Tác giả chỉ nói có thế thôi. Thực sự, không ai biết được, hai người đã làm gì ở trong   cái mùng:

Cùng nhau chung một chiếc giường,
Ôm nhau suốt cả đêm trường thần tiên.

Vì không muốn về thăm bố mẹ và cũng không muốn để cho người trong xóm đạo biết về thăm Thông, Mai thức dậy sớm để chuẩn bị về Sàigòn và Thông cũng dậy sớm để tiễn Mai đi.

Hai người sánh bước song song trên con đường đất dài hun hút ngăn đôi trại định cư và cánh đồng làng. Ngang qua căn nhà cũ của ông bà Đòan Cảnh, Thông quay đầu nhìn vào…. Anh chợt nẩy ra ý định Chủ Nhật này sẽ xuống tìm Trâm, rồi nhân tiện vào thăm Mai để trả cái ơn Mai đã bất ngờ về thăm anh và ngủ chung với anh một đêm thật thanh thản.” (tr 499)

Rồi khi bị Trâm từ chối không chịu gặp, thất vọng, từ giã nhà hàng Thăng Long, Thông lang thang như kẻ mất hồn, đi về phía Quốc Hội, thả bộ