
posted: 15.7.2005
Nguyễn Mạnh
Quang Bản “xóm đạo” của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn
được sử dụng trong bài viết này là bản in lần thứ 3 do nhà xuất Bản
Tân Văn (Đông Kinh, Nhật Bản) phát hành với giá 25 Mỹ kim. Sách dầy 612 trang, được chia là 16 chuơng.
Nhân vật chính trong cuốn sách này là thày giáo Thông. Chủ đề của sách
được coi như là xoay quanh hai vấn đề: 1.- Quan niệm chính trị trong
đời sống tôn giáo của tín hữu Ki-tô Bắc Kỳ di cư trong xóm đạo và biện pháp trừng trị bằng đánh đòn và
đấu tố công khai những phần tử bị cho là “rối đạo” hay thủ phạm
gây hại cho uy tín của Giáo Hội. 2.- Ba mối tình chân thành
và tha thiết của Thông với hai cô gái hàng xóm và một cựu nữ sinh lớp
nhất của Thông.
Những người am hiểu về hệ thống tổ chức quyền
lực của Giáo Hội La Mã đều công nhận rằng một họ đạo hay làng đạo
hoặc xóm đạo (Parish) tại một địa phương ở miền Nam Việt Nam trong những
năm 1954-1975 vừa là một “quốc gia
trong một quốc gia” vừa là “trung tâm quyền lực chỉ đạo các
chính quyền thế tục trong vùng” và “vị linh mục quản trị họ đạo đương
nhiên trở thành một vị lãnh chúa trong vùng”. Xóm đạo Tân Hạ là một trường hợp điển
hình cho sự kiện này. Xóm đạo Tân Hạ nguyên là một trại định cư
được thành lập vào khỏang cuối 1954 và thời gian xẩy ra những câu chuyện
trong sách Xóm Đạo là những năm 1957-1960. Trại định cư này có khoảng hơn
ba ngàn dân Bắc Kỳ di cư mà hầu hết là tín hữu Ki-tô. Lúc đầu, có một
vài gia đình bên lương, nhưng rồi họ cũng dọn đi khỏi trại vì một số
lý do, trong đó có lý do bị kỳ thị và bị khinh rẻ là dân ngọai đạo: “Vào thời đó, lương
giáo còn có bức tường vô hình ngăn cách rõ rệt, cho nên dù chẳng ai động
chạm hay gây phiền toái cho họ, mà họ vẫn tự cảm thấy lạc lõng gần
như bị bỏ rơi, không thân thiết được với người chung quanh. Chính vì
thế, những gia đình Phật giáo này đã lần lượt bỏ đi, dọn xuống Sàigòn
hoặc lên Củ Chi lập nghiệp, và cho đến nay,
bước sang năm thứ tư thì toàn trại chỉ còn có một hộ duy nhất không
theo Công Giáo, đó là vợ chồng ông Đoàn Cảnh, sống với ba người con
trong căn nhà sát bờ sông, hàng xóm gần nhất của Thông.” (Tr 297-298) “Dạo trước ông
bà Thứ còn ở đây, chả bao giờ ông bà ấy nói chuyện với gia đình em.
Hàng xóm láng giềng mà lạnh nhạt lắm,
cứ y như người dưng nước lã! Có lần mẹ em bưng sang biếu ông bà ấy
một đĩa xôi, ông bà ấy giả lại, bảo là người có đạo không được
phép ăn đồ cúng !” (Tr 306) “Ông bà Thứ (có
đạo) bảo em (Trâm, ngọai đạo) là người có đạo không ăn chung với
người ngoại đạo. Mướp là của anh, nhưng em nấu rồi, em cho lại anh.
Trường hợp ấy là mướp bên lương hay bên đạo.” (Tr 307). Cuối cùng, toàn trại hơn ba ngàn dân mà chỉ còn lại
có một gia đình ông Đoàn Cảnh gồm 2 vợ chồng và ba người con ở lại,
nhưng rồi đến năm 1959, gia đình này cũng dọn đi khỏi.(Tr 473-474) I.- SINH HỌAT CHÍNH TRỊ Quan niệm và sinh hoạt chính trị của giáo dân Việt
“Mấy ngàn giáo
dân ở đây, không ai bảo ai, nhưng trong lòng mỗi người đều ngấm ngầm
mang một ý niệm về trật tự : Nhất Chúa, nhì Cha, thứ ba Ngô Tổng Thống.”
(Tr 18 và tr 37) Câu văn trên đây cho chúng ta thấy rõ một điểm
đặc biệt và hết sức quan trọng không thể bỏ qua được. Điểm quan trọng
này là Chúa không bao giờ nói và hành động gì cả.
Vậy thì đối với tín hữu Kitô, Chúa được hiểu
ngầm là Giáo Hội La Mã, và Cha là người thay mặt Giáo Hội tức là thay
mặt Chúa tại họ đạo. Câu nói trên đây phản ảnh trung thực chủ trương
cố hữu về chính trị của Giáo hội
La Mã là “tôn giáo chỉ đạo chính quyền”. Chủ
trương này đã có từ thế kỷ 4 vào khi Hội Nghị Niceae khởi nhóm vào
ngày 20/5/325, và được Giáo Hoàng Léo I (440-461)
tái khẳng định qua lời tuyên bố của ông rằng: “Quyền hành của Giáo Hoàng phải bao trùm
lên tất cả quyền hành của các nhà cầm quyền thế tục.”. Lời
tuyên bố lịch sử này được sách sử ghi lại như sau:
"Leo đã mạnh mẽ
nhắc lại lời xác quyết rằng quyền hành của vị giám mục ở kinh
thành Kể từ đó, quyền hành của Giáo Hội vươn tới
đâu thì chính quyền tại nơi đó phải
nằm dưới quyền chỉ đạo của Giáo Hội qua Hội Đồng Giám Mục tại
quốc gia bản địa, và các chính quyền địa phương trong quốc gia này phải nằm dưới quyền chỉ đạo tối cao
của ông giám mục quản trị giáo phận và dưới quyền vị linh mục quản
nhiệm họ đạo tại địa phương đó. Quan trọng hơn nữa, tất cả các cơ
cấu chính quyền trung ương và tại các địa phương đều được tổ chức
theo mô thức của Giáo Hội đã đề ra, đặc biệt nhất là tổ chức
quân đội, công an, mật vụ để rình mò dò xét tín đồ và những người
thuộc các tôn giáo khác hầu có thể đàn áp kịp thời theo đúng với chủ
trương cố hữu của Giáo Hội La Mã đã vạch ra: “Một chế độ
quân phiệt mới được khai sinh: Các nước
có người cầm quyền là tín đồ của Giáo Hội La Mã phải được bảo vệ
bằng những tín đồ của Giáo Hội La Mã (Quân Thập Ác). Phải tiến hành
những cuộc thánh chiến và chiến tranh là nhiệm vụ thần thánh. Tàn bạo
đối với những kẻ thù của Chúa
Jesus ở trong hay ở ngoài các vùng đất do Giáo Hội La Mã kiểm soát là sự
trả thù của Thượng Đế. Vị tướng chỉ huy chiến dịch tiêu diệt dân
tà giáo Albigences tuyên bố: "Bất kể gì là nam hay nữ, già hay trẻ,
chức vụ lớn hay nhỏ, trước lưỡi gươm, họ đều như nhau." Hiệp
sĩ ngoan đạo Gia-tô tên là Roland, khi chỉ huy đạo quân tiêu diệt người
Moors (Hồi Giáo) đã hô lớn khẩu hiệu "Tà giáo là những người xấu
xa. Tín đồ Gia-tô là những người công chính ngay thẳng." (A new
militarism was born: This Christian heartland, Christendom, must be defended by Christian
arms. Wars could be holy, would have to be waged, would be a holy duty. Cruelty to enemies
of Jesus within and without the heartland could be God’s vengeance. “Neither sex nor
age nor rank have we spared.” Was the statement of the general who conducted the war
against the medieval heretics called Albigenses. “We have put all alike to the sword.”
The cry was on the lips of Roland, the perfect Christian and the model knight, as he
fought at Roncevaux against the hated Moors: “Pagans are wrong. Christians are right.”
[2] Theo chủ trương này, tại miền Nam Việt Nam trong những
năm 1954-1975, chính quyền Sàigòn phải nằm dưới quyền chỉ đạo tối
cao của Hội Đồng Giám Mục ở miền Nam Việt Nam. Riêng trong thời Việt
Nam Đệ Nhất Cộng Hòa, các ông Giám-mục Ngô Đình Thục và Phạm Ngọc
Chi nắm quyền chỉ đạo cho chính quyền Ngô Đình Diệm hành xử. Cũng vì vậy mà tín đồ Gia-tô Nguyễn Văn Chức
đã gửi Thủ Tướng Ngô Đình Diệm lá thư đề ngày 25/2/1955 thỉnh cầu chính quyền thành lập quân đội miền "Năm 1232, Giáo
Hoàng Gregory IX (1227-1241) thiết lập tòa án xử bọn dị giáo, gọi là
Inquisition… Cha con tố các nhau, vợ
chồng tố cáo nhau, anh em tố cáo nhau, bạn hữu tố cáo nhau, hàng xóm
láng giềng tố cáo nhau, v.v. trước tòa án của Giáo Hội. Giáo Hoàng
Paul IV (1555-59) tuyên bố: "Nếu bố tô là dị giáo đồ, tôi cũng sẽ
chụm củi thiêu sống ông ta luôn" [4]
Các chính quyền địa phương dưới quyền lãnh đạo
tối cao của Giáo Hội phải triệt để theo gương đó mà hành xử. Chính
quyền Ngô Đình Diệm cũng phải theo mô thức này để thiết lập một bộ
máy mật vụ, công an và cảnh sát như
thiên la địa võng để “bảo vệ chế độ”
và “diệt tận gốc, trốc tận rễ”
các thành phần thuộc các đảng phái quốc gia và những phần tử bị
tình nghi là bất lợi cho Giáo Hội hay bất lợi cho chế độ. Bộ máy mật
vụ này được sử gia Joseph Buttinger ghi lại như sau: "Với lòng say
mê bắt chước phuơng cách tổ chức của Cộng Sản, ông Nhu cho thiết lập
nhiều tổ chức kiểm soát nhân dân. Các tổ chức này đã làm cho chế
độ bị thù ghét bởi ngay cả những người mà sự ủng hộ của họ hết
sức cần thiết cho chế độ. Đó là những người nắm quyền chỉ huy
quân đội. Những tổ chức công an, mật vụ và cảnh sát nhận lệnh trực
tiếp từ ông Nhu. [Ký giả] Halberstam nói rằng có tới 13 tổ chức cảnh
sát, công an và mật vụ khác nhau. Tổ chức mật vụ quan trọng nhất của
ông Nhu là một tổ chức gài những chỉ điểm viên vào trong các cơ quan của
chính quyền do Bác-sĩ Trần Kim Tuyến làm giám đốc. Tổ chức này có danh
xưng tàng hình là Sở Nghiên Cứu Xã Hội và Chính Trị Phủ Tổng Thống.
Ông Nhu cho tổ chức những buổi họp "tự kiểm thảo" theo kiểu Cộng
Sản ở trong Đảng Cần Lao Nhân Vị, và tổ chức Thanh Niên Cộng Hoà mặc
đồng phục mà ông là "Vị Lãnh Đạo Tối Cao". Ông bắt chước các
phương pháp phát xít để kiểm soát nhân dân. Cái gọi là "Lực Lượng
Đặc Biệt" của chế độ và những cung cách mà ông Nhu sử dụng lực
lượng này vào năm 1963 giống y như vai trò "Đạo Quân Thần Tốc"
của chế độ Đức Quốc Xã. Mặt khác, việc thiết lập các tổ mật vụ
gài trong các tổ chức này và trong chính quyền, ý đồ tổ chức nhân dân
thành những tổ (nhóm nhỏ) mà tổ trưởng phải chịu trách nhiệm về
lòng trung thành của các tổ viên, việc tổ chức các cuộc họp tố Cộng,
việc sử dụng kỹ thuật tuyên truyền và việc quấy phá nhân dân vốn đã
mệt nhoài vì những cuộc mit tinh và biểu tình ủng hộ lãnh tụ vĩ đại
và chế độ, tất cả đều là bắt chước theo Cộng Sản. Không có một
mánh mung chuyên chế độc tài nào là ông Nhu không sử dụng và ông ta
luôn luôn làm ra vẻ những mánh mung này là do chính ông vừa mới sáng chế
ra. Chỉ có một thứ vũ khí mà ông không bao giờ nghĩ tới để sử dụng
trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa Cộng Sản. Thứ vũ khí đó là
chế độ dân chủ." ("It
was Nhu who, with his passion for imitating Communist methods, created the various
instruments of government control over the population that made the Diem regime hated even
by people on whose support it depended: the leaders of the armed forces. The regime 's
secret services and special information and police forces took their orders from Nhu.
Halberstam says that at one time there existed no less than thirteen different secret
police organizations. The most important of Nhu's secret services was an organization of
informers inside the administration headed by Dr. Tran Kim Tuyen, whose euphemistic title
was Director of Political and Social Research Service of the Presidency. Nhu held
Communist-type "self-criticism" sessions in the semisecret Personalist Party,
and with his uniformed Republican Youth, of which he was "Supreme Leader", he
imitated fascist methods of popular control. The regime's so-called Special Forces, and
the manner in which Nhu used them in 1963, were reminiscent of the role of the Storm
Troopers under the Nazis. On the other hand, the setting up of secret cells in existing
organizations and in the administration, the attempt to organize all citizens into small
groups whose leaders were made reponsible for the members' loyalty, the rallies to
denounce Communists, the propaganda techniques, and the perpetual harassment of a tired
population with meetings and "spontaneous" demonstrations in favor of the regime
and its great leader, all these were borrowed from the Communists. There were not one
totalitarian strategem that Nhu did not employ, always pretending that it was his own
latest invention. The only weapons he never thought of using in the struggle against
Comminism were the weapons of democracy")[5]
Bộ máy công an mật vụ này còn được gọi là “các cơ quan an ninh tình báo” và được
cụ Đõ Mậu mô tả như sau: “Họ có năm cơ
quan an ninh tình báo mà bốn nổi và một chìm: Nổi là Công An Cảnh Sát,
An Ninh Quân Đội, Lực Lượng Đặc Biệt và Sở Nghiên Cứu Chính Trị,
còn chìm là hệ thống Đảng Viên Cần Lao và các bộ phận mật vụ tình
báo phụ thuộc. Tất cả như thiên la địa võng, như tai vách mạch rừng
bao vây lấy nhân sự và các hoạt động chống đối. Họ có Ngô Đình Nhu
tuy bất lực trong việc quản trị quốc gia nhưng lại xuất sắc trong các
âm mưu và thủ đọan tiêu diệt đối lập, nhất là bản chất vốn lạnh
lùng và tàn ác không một chút do dự. Họ lại có những cấp thuộc hạ
thi hành mệnh lệnh một các mù quáng và có những phương tiện của quốc
gia muốn sử dụng, muốn tiêu xài bao nhiêu cũng được.” [6] Theo các nhà viết sử, chưa kể những thành phần
trong Đảng Cần Lao, Tổ Chức Thanh Niên Cộng Hòa, Phong Trào Cách Mạng Quốc
Gia và Phong Trào Liên Đới Phụ Nữ, con số nhân sự được sử dụng có
trả lương để cung ứng cho các các tổ chức mật vụ, công an, an ninh
quân đội và cảnh sát trên đây lên đến hơn 100,000 (một trăm ngàn) người.
Con số này được sách Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi ghi nhận như sau: “Nhìn lại cuộc
chiến từ đầu Xuân 1963, tình hình miền Nam quả thực đã đi vào tuyệt
lộ, mặc dầu lúc bấy giờ quân đội đã được gia tăng hùng hậu và Mỹ
viện trợ vẫn ào ạt đổ vào. Bernard Fall cho biết rằng vào đầu năm
1963, dưới chế độ Diệm, con số chính xác của quân đội VNCH gồm có 225.000
binh sĩ chính quy, 100.000 Bảo An, 90.000
Địa Phương Quân, 85.000 Dân Vệ… tất cả là 500.000 người. Với
một nửa triệu quân, chưa kể 100.000 nhân viên công an, cảnh sát, cảnh
sát dã chiến, nhân viên an ninh xã, ấp, chưa kể sự hiện diện của 16.000
binh sĩ Mỹ, đoàn cố vấn người Úc, thế mà lực với lực lượng hùng
hậu đó tình hình miền Nam đã vô phương cứu chữa nếu không có quân đội
đồng minh nhập cuộc sau này…” [7] Cũng vì phải triệt để tuân hành chủ thuyết “thần quyền chỉ đạo thế quyền”,
cha Xuân, vị linh mục quản nhiệm Xóm Đạo Tân Hạ, đương nhiên trở
thành người đại diện cho Hội Đồng Giám Mục miền Nam Việt Nam và cũng
là đại diện Giáo Hội La Mã tại địa phương của ông, và đương nhiên
là ông nắm quyền chỉ đạo tối cao chính quyền địa phương tại vùng
này. Cũng vì thế mà ông quận trưởng tại đây phải tìm hết đủ mọi
cách để lấy lòng cha Xuân: “Thật ra Thông
nghĩ đúng. Ông quận trưởng sáng nay đến thăm giáo xứ thánh Giuse, tức
là ấp Tân Hạ, không phải vì tình hình chính trị trong ấp làm ông bận
tâm. Chẳng qua là vì ông có việc phải xuống xã để đọc diễn văn
trong lễ khai mạc khóa Nhân Vị, rồi trên đường về, ông tạt vào thăm
trại định cư một chút mà thôi. Nói là ông thăm trại định cư, nhưng
thật ra ông chỉ gặp cha Xuân và cha Hảo. Cũng giống như nhiều vị công
chức cao cấp khác, ông quận trưởng tự cảm thấy rằng, thời này là thời
đạo Thiên Chúa, bởi gia đình Ngô Tổng Thống rất sùng đạo! Cái ghế của
ông có vững hay không, tương lai của ông có leo lên được nữa hay không,
đều tùy thuộc ở cách xử sự khéo léo của ông, chứ không phải nhờ
tài năng hay đức độ. Nhà ông đời đời theo Phật giáo. Nhưng người khôn
ngoan lúc này phải biết thức thời, bỏ đạo Phật để rửa tội theo Công
Giáo thì mới được Ngô Tổng Thống tín nhiệm! Ông tin như thế, cho nên
ông tìm đến làm thân với các vị linh mục, những người mà ông cho là
cửa ngõ thênh thang nhất để giắt ông trên đường danh vọng. Một tiếng
nói, một đề nghị của một linh mục, sẽ có sức mạnh gấp trăm lần
ý kiến của quan (cấp trên?)! Tương tự như thế, một lời dèm pha của một
linh mục, có thể làm ông bay chức trong nháy mắt! Cái thành kiến ấy nằm
sâu trong đầu ông, cho nên ông đã từng trợ giúp vật liệu cho cha Xuân
xây cất nhà thờ, từng xuống dự lễ đêm Noel, quì mỏi gối chung với
giáo dân ở trại, và hai năm liên tiếp, ngồi ghế quận trưởng, cứ mỗi
độ xuân về, ông đều không quên sai lính chở xuống nhà xứ tặng một
cành mai thật lớn!…” (Tr 152-153) Cũng vì thế mà người đảm nhiệm chức vụ trưởng
ấp cũng phải do cha Xuân (chánh xứ) hay cha Hảo (phó xứ) chỉ định. Cha
Hảo nói: “Trưởng ấp Trấn
mới từ chức! Ông biết tin chưa? Ông xem trong Hội Thánh Giuse của ông có
ai muốn ra làm trưởng ấp thay ông Trấn thì cho tôi biết!” (tr 163) Nếu chính quyền trung ương Sàigòn đã có quân đội
cùng với bộ máy mật vụ, công an để bảo vệ chính quyền và thi hành
những mệnh lệnh của Giáo Hội La Mã qua Hội Đồng Giám Mục của miền
Nam Việt Nam thì chính quyền địa phương trong xóm đạo của cha Xuân cũng
phải tổ chức những đạo binh để bảo vệ xóm đạo, đúng như chủ
trương của Giáo Hội: “Trong hệ thống
giáo hội, các đoàn thể lập ra rất nhiều: Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể.
Hội Nghĩa Binh, Hội Con Đức Mẹ, Công Giáo Tiến Hành, Đạo
Binh Xanh, Hội Các Bà Dòng Ba, v.v.. thực chất chỉ nhằm mục đích
đoàn ngũ hóa giáo dân, cũng nhắc nhở nhau, giúp nhau về mặt tín ngưỡng
mà thôi. Lối tổ chức này rất hữu hiệu, cho nên rút kinh nghiệm ấy, hệ
thống Cộng Sản trên toàn cầu về sau cũng bắt chước đoàn ngũ hóa đảng
viên và nhân dân, y như thệ thống tổ chức Công Giáo.” (tr 203). Các tổ chức đòan thể trên đây tuy là mang danh xưng
nặng tính cách tôn giáo, nhưng thực chất là những đoàn thể chính trị
của Xóm Đạo. Các đoàn thể này vừa có nhiệm vụ công an và tình báo
làm tai mắt cho nhà thờ vừa có nhiệm vụ quân sự để bảo vệ chính
quyền đạo phiệt Gia-tô tay sai của Giáo Hội tại địa phương, vừa có
nhiệm vụ đánh phá và tiêu diệt mọi cá nhân, đoàn thể hay thế lực
nào bị coi là bất lợi cho đạo Kitô vào khi tình hình bất ổn. Bình thường, Giáo Hội đã ra lệnh cho tất
cả mọi giáo khu hay xóm đạo phải có hệ thống mật vụ công an để
theo dõi tín đồ hầu khám phá ra có kẻ nào bị coi là “rối đạo” hay “có tinh thần chống lại Giáo Hội”
để trừng trị kịp thời. Chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng đã phải triệt để thi hành lệnh này của
Giáo Hội, nghĩa là phải thiết lập các tổ chức công an, mật vụ để rình
mò dò xét nhân dân và để bảo vệ chính quyền đúng theo chủ trương của
Giáo Hội. Tương tự như chính quyền trung ương, tại Xóm Đạo
Tân Hạ, cha Xuân và cha Hào cũng phải triệt để thi hành lệnh này của
Giáo Hội, nghĩa là cũng phải tổ chức một hệ thống do thám có nhiệm vụ
rình mò dò xét người dân trong xóm đạo và trừng trị những kẻ bị coi
là “rối đạo” hay có tinh thần “chống Giáo Hội” : “Thông đi nhanh
ra mở cửa. Vừa đặt chân ra thềm, anh bỗng giật mình sửng sốt bên
hông nhà Quyên, khuất giữa đám cây cối um tùm, nhất lọat vang lên những
tiếng sột soạt, rồi tiếng bước chân của cả chục người kéo nhau ù
té bỏ chạy. Anh lao ra đầu hè nhìn theo. Dưới anh trăng mờ, anh nhận ra
một lũ trẻ khá đông đang túa ra nhiều hướng, luồn lách trong vườn sắn
và dẫm đạp lên những luống khoai lang mới trồng của Quyên. Anh giận
ứ lên tới cổ. Bà quản Vọng chắc hẳn đã rêu rao bản tin hấp dẫn về
Thông và nhất là chuyện Quyên bị cha Xuân đánh năm roi về tội “ngoại
tình”, nên trẻ con mới tò mò kéo đến núp đầy ở ngoài hiên trông
vào. Chúng nó tập trung từ lúc nào, dĩ nhiên Thông không biết. Cũng có
thể chính bà quản (Vọng) đã sai chúng tới đây rình rập để về báo
cáo chi tiết cho bà biết mà trình cha! Lũ trẻ thì vốn thích nghich ngợm
và hiếu kỳ. Bà chẳng cần bảo, chúng cũng tự ý rủ nhau theo dõi. Huống
chi bây giờ lại được bà khuyến khích!” “Thông thấy nghẹt
thở như người sắp lên cơn xuyễn.
Kể từ ngày hôm nay, mọi bước anh đi đều sẽ có kẻ dòm ngó. Anh thấy
sống như thế này không được! Tội nghiệp anh và nhất là tội nghiệp
cho Quyên! Anh đứng lặng trên thềm nhìn ra con đường trước mặt. Lũ trẻ
gặp nhau xa xa, tíu tít kể chuyện, nhưững anh không nhận rõ mặt đứa nào.
Chúng cứ đứng ở đó, dưới gốc cây bông vải, nhìn lại phía Thông, ra
chiều tiếc rẻ cuộc vui chơi chưa tàn! Thông thở mạnh quay vào nhà
Quyên. Anh buốt nhói hình dung ra từ nãy đến giờ, bọn trẻ ở ngoài
hiên, trong đó dĩ nhiên có cả học
trò của anh, đã nhìn thấy anh kéo quần Quyên xuống và đắp khăn ướt lên
mông nàng! Anh không còn là hình ảnh thần tượng của chúng nữa. Anh đã
trở thành kẻ tội phạm, là con chiên rối đạo theo lời mô tả của bà
quản Vọng!” (tr 98-99). II.- SINH HOẠT TÔN GIÁO Cũng như tín đồ Da-tô ở các giáo khu Phát Diệm,
Bùi Chu và trong các làng đạo ở rải rác trên toàn lãnh thổ Việt Nam
trong thời kỳ 1862-1954, tín đồ Da-tô người Bắc di cư vào Nam ở xóm đạo Tân Hạ trong những năm 1954-1963
rất là sùng đạo. Sùng đạo đến độ hầu như tâm tư của họ không
lúc nào là không nghĩ đến Chúa và hầu như thời giờ trong ngày khi nào
ngưng làm việc là dành cho việc cầu nguyện. Sự kiện này được tác giả
ghi nhận như sau: “Từ thuở chưa có
trí khôn, cũng giống như bao nhiêu người Công Giáo khác, anh (Thông) đã
được nuôi dưỡng trong bầu không khí thượng tôn tín ngưỡng, bằng những
giáo điều bất di bất dịch, theo thời gian ngấm dần vào trí óc anh, khiến
anh làm cái gì cũng sợ tội, sợ Chúa trừng phạt.” (Tr. 71) “Toàn trại này,
dường như ai cũng sùng đạo như nhau, và sự sùng đạo ấy được thể
hiện qua việc cầu nguyện và đi lễ. Buổi sáng, năm giờ chuông đổ lần
thứ nhất, họ đã lục tục đánh thức cả nhà cùng dậy. Việc đầu
tiên khi chưa bước chân xuống đất, là phải làm dấu thánh giá và đọc
vài kinh nhật tụng. Sau đó, đánh răng rửa mặt, thay quần áo đi lễ. Trên
đường đến nhà thờ, họ không bỏ phí thì giờ, lấy tràng hạt ra vừa
lần chuỗi vừa cầu xin. Vào nhà thờ đọc kinh chung cả tiếng đồng hồ
rồi mới tham dự thánh lễ mà dường như vẫn chưa thấy đủ, họ còn
quì nán lại đọc kinh thêm cho đến lúc tới giờ đi làm. Buổi trưa,
đúng giờ ngọ, chuông nhà thờ lại cất lên, nhắc họ dù đang làm gì,
dù đang ở đâu, cũng phải tạm ngưng tay để làm dấu thánh giá và cầu
nguyện. Tối về, cơm nước xong lại
vội vã đến nhà thờ. Và khoảng 9 giờ tối, trước khi đi ngủ, mọi
gia đình đều tụ tập trước bàn thờ để đọc thêm một loạt kinh nữa
trước khi lên giường! Nói chung, một ngày không biết bao nhiêu lần nhớ
đến Chúa. Ăn củ khoai cũng làm dấu thánh giá. Nửa đêm mất ngủ
cũng ngồi lên lần tràng hạt! Vui cũng cám ơn Chúa, mà buồn cũng coi là
thánh giá Chúa trao cho mình gánh vác! Niềm tin mãnh liệt như thế, cho nên
chẳng lạ gì….” (tr 148)
Với tình trạng như trên, sớm hay muộn, giáo dân cũng
sẽ bị điều kiện hóa đến độ không còn khả năng sử dụng lý trí
vào việc phân tách và lý luận để tìm hiểu sự việc, chỉ biết tuyệt
đối tin tưởng vào Tòa Thánh Vatican, chỉ biết triệt để vâng lời và
tuân hành lệnh truyền của các đấng bề trên,
chỉ biết tin tưởng vào những giá trị và sự linh nghiệm của
những tín lý quái đản trong đạo Kitô. Hành xử như vậy, họ được Giáo Hội phỉnh nịnh là những
tín đồ Gia-tô “thuần thành”
hay “ngoan đạo” của Giáo Hội.
Ngoài ra, họ còn được dạy dỗ: “có bổn phận phải
giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong giáo xứ,
không nên để cho người ngoại đạo được biết!” (tr 320). Nói một cách khác là họ phải hành xử theo châm
ngôn “tốt khoe ra, xấu xa đậy lại.” Độc giả có thể kiểm chứng
tình trạng này bằng cách tìm đọc bất kỳ một ấn phẩm nào có liên hệ
đến Giáo Hội La Mã hay các chính quyền đạo phiệt Gia-tô tay sai của
Tòa Thánh Vatican do những tín đồ Gia-tô “ngoan đao” biên sọan, thí dụ
như bộ sách Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan của Linh Mục Vũ Đình Họat,
bộ Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo của Linh-mục Bùi Đức Sinh, bộ sách Việt
Nam Giáo Sử của Linh-mục Phan Phát Huồn, v.v…
Tổ chức do thám của xóm đạo Tân Hạ do bà quản Vọng chỉ huy rất hữu hiệu.
Nhờ vậy mà những kẻ bị cho là “rối
đạo” hay bị cho là thủ phạm
gây hại uy tín cho Giáo Hội đều bị
trừng trị thẳng tay bằng hình thức
“đánh đòn” hay “đấu tố”, bất kể nạn nhân là trẻ em vị thành niên hay đã
ở vào tuổi trưởng thành. Theo truyền thống, việc đấu tố này đã có từ
thời Trung Cổ, có lẽ từ năm 1232, khi Giáo Hội cho thiệt lập Tòa Án Dị
Giáo (Inquisitions) để điều tra, truy lùng, tra tấn và xử tử những người
nằm dưới quyền thống trị của Giáo Hội nếu bị nghi ngờ là “rối đạo” hay “có tình ý riêng tư” khác với tín
lý, giáo luật, lễ nghi và tập tục Gia-tô. Truyền thống này được các
nhà truyền giáo Âu Châu du nhập vào các xóm đạo ở miền Bắc từ mấy
thế kỷ trước rồi lại được những tín hữu Da-tô Bắc Kỳ di cư mang
theo vào miền “Rồi cha (Xuân) sai
người gọi Quyên lên, bắt nằm xuống đánh năm roi vào đít và ra lệnh
từ nay không được tiếp xúc với Thông nữa!” (Tr 15). Còn thày giáo Thông được
coi như là có địa vị cao hơn ở trong xóm đạo thì chỉ bị cha Xuân mắng
nhiếc nhẹ ở trong văn phòng mà thôi: “Cha cũng quí mến
Thông, vì anh là giáo viên, là người dạy hát cho ca đoàn và hăng say trong
mọi công tác nhà thờ, thế mà khi nghe Thông giãi bày mối quan hệ của
anh với Quyên, cha đã lớn tiếng mắng át đi và đuổi anh ngay ra khỏi phòng
làm việc của cha. .. Thông không buồn vì cha Xuân đánh người yêu của
mình. Đó chỉ là cách dạy dỗ rất tự nhiên mà giáo dân chấp nhận, cũng
như những ông trùm, bà quản ngày ngày cầm roi quất vùn vụt xuống lưng
đám trẻ ngủ gật trong nhà thờ mà cha mẹ những đứa bé ấy không bao
giờ than phiền! Điều đáng buồn duy nhất của Thông là anh không được
phép đối thoại với cha Xuân, không được trình bày mọi suy nghĩ và uẩn
khúc trong lòng anh, bởi anh cứ mở miệng là bị cha gạt phắt đi, rồi câu
trước câu sau, bảo anh ra nhà thờ cầu nguyện và ăn năn đền tội!”
(Tr 15) Trường hợp những chuyện có liên hệ giữa một
tu sĩ hay tu sinh và một em bé gái vị
thành niên thì mọi trách nhiệm sẽ được đổ lên đầu em bé gái nạn
nhân này và biện pháp trừng trị phải được áp dụng là đấu tố, đấu
trường sẽ là sân nhà thờ, và thời điểm sẽ được tổ chức vào ngay
khi vừa mới tan lễ trong một ngày Chủ Nhật. Điển hình cho sự kiện
này là chuyện ông Thầy Bốn Phan dụ dỗ và phá hoại cuộc đời trong trắng
của bé Mai mới 16 tuổi. Chúng ta thấy trong trường hợp này, mọi trách
nhiệm về tôi áci đều đổ lên đầu em bé Mai và bé Mai phải bị trừng
trị bằng biện pháp đấu tố, nghĩa là trừng trị bằng cách vừa đánh
vừa sỉ nhục theo kiểu bề hội đồng. Họat
cảnh đấu tố này được tác giả kể lại cho chúng ta nghe như sau: “Một buổi sáng
chủ nhật, lễ vừa xong, Thông nhập chung đoàn tín hữu ùn ùn kéo ra cửa
chính. Anh đứng lại trên thềm xi măng, nói chuyện với vài phụ huynh học
sinh. Bỗng nghe tiếng ồn ào bên hông nhà thờ, phía dành cho phụ nữ. Anh
vội vàng chạy sang xem thì thấy một nhóm khá đông các bà đang hung hăng
xúm lại xỉa xói: “Con quỷ lăng loàn! Đánh chết nó đi!” Một bà khác
rít lên: “Xé xác nó ra! Đuổi cổ nó khỏi nhà thờ! Nó dám quyến rũ
thầy!” Bà khác lại
thêm: “Con đĩ nhuốc nhơ! Làm ô
danh Chúa!” Cùng với những
lời chửi mắng ấy, hàng chục bàn tay xúm vào xé toang hết áo quần của
Mai. Mai vừa khóc vừa cố thoát thân. Nhưng họ vây chặt tứ bề, không
một ai lên tiếng ngăn cản. Tất cả
đều đồng ý với nhau là phải ra tay trừng trị đứa con gái khốn nạn
đã quyến rũ Thầy Phán khả kính của họ, làm thày lung lay con đường tu
hành! Từng miếng vải tung lên. Chiếc áo dài trắng, cái quần đen, cái
áo lót, trong nháy mắt biến thành những mảnh vụn quăng đầy chung quanh!
Thông đứng lặng trên thềm, không biết phản ứng thế nào. Mai thì ngồi
thụp xuống, hai tay che ngực, toàn thân chì còn cái quần lót nhỏ xíu. Một
bà dơ chân đạp mạnh vào lưng, khiến cô ngã lăn ra. Các bà khác
xúm lại, người thì chửi, người thì nắm tóc, rit lên đay nghiến. Thông
nhìn quanh tìm một cái gì cho Mai che thân, nhưng không có. Chờ cho các bà
nguôi ngoai phần nào, anh mới tiến lại từ tốn lên tiếng: “Thôi, các
bà xử phạt như thế đủ rồi! Xin các bà tha cho cô ấy! Các bà nhất loạt
quay lại. Ai cũng nể Thông, nhưng vẫn còn ấm ức. Một bào bảo: “Tha
thế nào được hở thày! Nó là con quỷ cái! Nó quyến rũ thầy Phán!” Thông nắm vững
tình thế. Anh biết lúc này không phải là lúc anh nên tranh cãi với các
bà, dù rằng lý luận các bà là thứ lý luận ngang phè phè. Giữa thầy
Phán và con bé 16 (mười sáu) tuổi, ai quyến rũ ai! Tôn giáo nào cũng vậy,
ông cha hay ông sư (sịc) mê gái, người ta cứ lôi đứa con gái ra
mà đánh chửi, đổ hết mọi tội lỗi lên đầu nó, bởi nó là hiện
thân của quỉ cám dỗ bậc tu hành! Cái người đáng để các bà xé
hết quần áo chính là thầy Phán! Nhưng các bà lại không làm như thế,
mà chỉ dồn trọn căm hờn vào một phía tòng phạm! Thông điềm tĩnh bảo:
“Cô ấy biết lỗi rồi! Từ nay không dám thế nữa! Các bà cho tôi xin!” Vừa nói, Thông
vừa rẽ đám đông tiến lại, cởi cái áo sơ mi anh đang mặc, khoác cho
Mai và bảo cô chạy về nhà! Nhiều bà nhìn theo, tiếc rẻ than: “Thầy
không để cho nó thêm một trận! Đồ mất nết!” Thông từ tốn
giãi bày: Lần đầu như thế là được rồi! Tôi dám chắc là từ nay cô
ấy phải chừa! Lần sau mà còn tái phạm, thì xin các bà cứ thẳng tay,
tôi không can! Vả lại, mình đang đứng bên cạnh nhà thờ, tức là
trong khuôn viên nhà Chúa, để cô ấy lõa lồ như thế không phải!
Tội chết! Vốn nể tài ăn
nói gọn gàng của Thông, các bà gật gù đồng ý, bảo nhau giải tán.” (Trang 42-44). Tương tự như trường hợp của bé Mai trên đây,
bé Phương 16 tuổi, bị cha ghẻ là Quỳnh đã từng giữ chức hội trưởng
Hội Thánh Giuse và đương kim trưởng ấp Ấp Tân Hạ, phao tin có liên hệ
tình cảm với Cha Hảo. Thế là khi hay tin, cha Xuân, bà Quản Vọng và các
bà trong Hội Con Đức Mẹ liền chuẩn bị môt màn đấu tố bé Phương giống y như họ đã tổ chức
đấu tố bé Mai trước đó: “Nhưng ai cản mặc
ai, bà quản vẫn quyết chí phải trừng trị con Phương. Cái uy của bà chỉ
được biểu lộ ở những trường hợp này! Con gái trong trại mà đứa nào
cũng ngoan như bốn cô con gái ế chồng của bà thì lấy ai cho bà đánh chửi!
Bà hung lên nói: “Bà nào không muốn dúng tay vào thì cứ việc lảng
đi chỗ khác! Cha xứ đã giao việc này cho tôi, tôi không làm đến nơi đến
chốn là có lỗi với cha, với Chúa!” Thế là các bà đồng thanh quyết
định sáng chủ nhật này, sau lễ thứ hai do cha Hảo chủ tế, các bà sẽ ra tay công khai. Sân nhà thờ
sẽ biến thành pháp trường y như trước đây các bà đã áp dụng với
Mai.” (tr 226) B.- BA MỐI TÌNH
CỦA THÔNG Trong thời gian 1954-1960, Thông đem lòng thương yêu
ba thiếu nữ là Quyên, Trâm và Mai. Cả ba thiếu nữ này đều là dân Bắc
Kỳ di cư và cả ba vừa trẻ hơn Thông một vài tuổi vừa xinh đẹp mặn
mà. Mối tình thứ nhất.-
Maria Vũ Thị Quyên vừa là người đồng đạo Bắc Kỳ di cư vừa là một
thiếu nữ độc thân tại chỗ ở chung một dẫy nhà và sát vách với thầy
giáo Thông. Trước khi di cư vào Nam, khi mới 16 tuổi, Quyên đã bị
tên Phùng Văn Quý, một người đồng đạo, trưởng đồn một đồn lính, cưỡng ép lấy
làm vợ có làm phép cưới ở nhà thờ. Cưới rồi, Quyên ở lại với gia
đình chồng và người chồng ở trong đồn với một người vợ khác, chẳng
bao giờ về sống với Quyên. Có lần Quyên lên đến tận đồn thăm chồng,
nhưng bị chồng hắt hủi đuổi về. Sau đó, đồn bị Việt Minh tấn công,
chồng Quyên bị bắt đem đi cải tạo, rồi hoạt động cho Việt Minh, không
về với gia đình. Sau tháng 7 năm 1954, buồn chán tình đời, Quyên theo bà
dì di cư vào Nam rồi được đưa đến
định cư ở trại Tân Hạ và ở chung nhà với gia đình bà dì. Vì sự ganh ghét của mấy đứa em con bà
dì, Quyên không thể tiếp tục ở chung với bà dì và xin trại cấp phát
cho một căn nhà ở riêng. Vì cũng độc thân, cho nên Thông cũng được cấp
phát một căn ở khu này và tình cờ lại ở sát vách bên cạnh nhà Quyên.
Trai không, gái chiếc đang ở tuổi xuân phơi phới lại ở gần cạnh nhau,
nhất là cả hai cùng ở vào hòan cảnh cha mẹ và anh em đều ở lại miền
Bắc thì làm sao tránh khỏi cảnh “trộm
nhìn nhau ……!” . Rồi hàng ngày ra vào gặp nhau, làm sao lại không
chào hỏi nhau? Sự đời, “trước lạ sau
quen”, “ bán anh em xa mua láng giềng gần”.
Rồi hai bên cùng liếc hai lòng cùng ưa, và cuối cùng thì: “Thông nắm tay
Quyên, lôi nàng vô hẳn bên trong. Anh cứ sợ nhà hàng xóm bên kia đường
còn có người thức và thấy Quyên qua nhà anh giữa nửa đêm. Cử chỉ ấy
làm Quyên bật cười. Chờ Thông thắp đèn lên, nàng nhìn bức vách dán giấy
báo ngăn giữa nhà và bảo: “Nếu anh sợ người ta nom thấy thì mình
khoét bức vách ăn thông giữa nhà anh và em. Như thế thì từ nay em khỏi
phải đi vòng ra phía trước!” (trang
78). Tình yêu giữa Thông và giữa Quyên hết sức tha thiết
và đã đi đến mức “cho nhau đến cái tận
cùng!” Tha thiết đến độ phải
tính đến chuyện khoét vách cho dễ dàng đến với nhau để cùng chui vào trong mùng nằm kề bên nhau cho cái giường
bớt rộng, cho đời bớt hiu quạnh lạnh lùng. Nhưng dù đã kín đáo đến như vậy cũng vẫn bi đạo
quân do thám cúa bà quản Vọng theo dõi và báo cáo lên cha Xuân khiến cho
Thông bị cha Xuân gọi lên báo cho biết chuyện
chẳng lành sẽ xẩy đến cho anh: “Anh bị tẩy
chay, phải bị trừng phạt, và bước đầu tiên là hôm mãn trường, cha chánh
xứ gọi anh vào, báo cho anh biết trước, là niên khóa tới sẽ không còn
có anh trong ban giảng huấn của trường tiểu học nữa! (tr 5). “Anh đã khóc lóc
trong tòa giải tội, đã xin gặp riêng cha chính xứ để giãi bày. Nhưng vị
linh mục lớn tiếng mắng anh và khăng khăng bắt anh phải chấm dứt liên
hệ tình cảm với người đàn bà ấy.” (tr 6) Nghĩ rằng cha phó trẻ hơn, cấp tiến hơn và cởi
mở hơn, hy vong người sẽ thông cảm cho mối tình tha thiết của anh đối
với Quyên, cho nên Thông mới đến gặp Cha phó
để giãi bày tâm sự, nhưng rồi cũng chỉ là ảo tưởng: “Cha Hảo giơ tay ngắt
lời Thông: “Cha hiểu ý anh. Nhưng luật là luật. Làm sao anh biết là Bắc
Rồi hai người bàn với nhau là Quyên phải làm
đơn gửi lên Giáo Hoàng Pius XII (1939-1958) để xin được giải hôn với người
chồng cũ để được làm lễ thành hôn một cách đường đường chính
chính với Thông ở ngay trong nhà Tân Hạ. Nếu không được, hai người sẽ
cùng bỏ đi khỏi Tân Hạ để chính thức lấy nhau và sống với nhau trọn
đời trọn kiếp. Rồi Quyên làm đơn đưa cho Thông nhờ Cha Hảo chuyển
theo hệ thống hành chánh của Giáo Hội. Cha Hảo nhận đơn không chút do dự.
Việc này đã làm cho cả Thông và Quyên đều hy vọng. Qua mấy ngày sau, gặp
Thông, cha Hảo cho biết, theo quy tắc tổ chức quyền lực của Giáo Hội,
đơn của Quyên phải gửi qua cha chánh xứ là cha Xuân chuyển lên Tòa Giám
Mục, rồi từ nơi này chuyển lên Tòa Thánh Vatican, chứ cha Hảo chỉ là
cha Phó, không có quyền chuyển thư của Quyên lên Tòa Giám Mục. Thông biết
rằng nếu gửi thư qua cha Xuân tất nhiên không những đã không được mà
lại còn bị trừng phạt thêm nữa. Thế rồi không biết sao, việc này cha Xuân cũng biết.
Quyên lại bị cha Xuân gọi lên trình diện và bị đánh đòn một lần nữa.
“Bây giờ thông mới
sực đoán ra là nàng bị Cha Xuân đánh đòn. Thông bưng đèn lại gần sát
mép giường, rồi vén vạt áo Quyên lên, đồng thời kéo cạp quần nàng
xuống trễ một chút. Anh nhận ra trên làn da trắng mịn có những vết roi
nhỏ nổi lên như sắp bật máu. Anh thấy
não lòng muốn khóc. Việc cha xứ dạy dỗ con chiên bằng roi bằng vọt là
chuyện quá bình thường, từ xưa đến này chưa bao giờ làm anh mảy may
oán vọng vì anh coi là một điều rất tự nhiên và hợp lý, như chính anh
lâu lâu vẫn đánh những đứa học trò lười biếng và ngỗ nghịch trong
lớp. Nhưng hôm nay, anh thấy có cái gì không đúng khi cha xứ phạt Quyên.
Cha đã mắng anh, đã bắt anh dọn lên nhà xứ để cách biệt Quyên, và
anh đã chấp nhận biện pháp chia lìa
đó thì tại sao cha còn đánh Quyên? Anh nén tiếng thở dài và lần đầu
tiên anh thoáng cảm thấy nhen nhúm trong đầu một ý tưởng phản kháng lối
hành xử bất công của cha xứ!” (tr 95-96) Thông cũng bị gọi lên trình diện cha Xuân và được
lệnh “phải dọn lên nhà xứ để cách biệt
Quyên”, nếu không nghe lời có thể sẽ bị rút phép thông công. Thông
nghe lời cha Xuân “Thà phụ tình Quyên”
để khỏi bị mang tiếng là “vượt ra
ngoài vòng tôn giáo”. Khi trở về, gặp
Thông Quyên hỏi: “Anh tính sao bây giờ?” Thông thở dài: “Thì phải nghe lời cha,
chứ còn tính gì nữa!” (tr 90). Nghe Thông trả lời, Quyên buồn man mác, cố gắng
nói khích nhiều lần, nhưng không có cách nào lay chuyển được “tinh thần sống đạo” của Thông.
Cuối cùng, vô kế khả thi, Quyên đành phải
lía bỏ xóm đạo Tân Hạ, cuốn gói ra đi mang theo niềm đau khôn
nguôi đến nơi đất mới. “Quyên nén tiếng
thời dài. Thôi! Từ nay nàng phải tự lo cho mình, không còn trông mong gì
ở Thông nữa. Nàng lặng lẽ bán sập
vải, rồi một buổi sáng ra quốc lộ 1 đón xe đi Hóc Môn, chỉ mang theo
có một cái va li nhỏ.” (Tr 130). Quyên đi rồi, có lẽ Thông chỉ buồn một chút, rồi
cố gắng lấy lại tinh thần để sống đạo theo nếp sống bình thường
của người dân trong xóm đạo. Có thể là tâm sự của Thông lúc bấy giờ giống như nhà thơ Thâm Tâm trong thời Tiền
Chiến:
Mối tình thứ
hai.- Mối tình này là mối tình giữa Thông, một chàng trai ngoan đạo,
với cô Đoàn Thị Trâm, một có gái ngọai đạo hàng xóm cách nhau chỉ một
hàng giậu thưa, giống như cô gái hàng xóm của
nhà thơ Nguyễn Bính:
Quyên đi rồi, Cha Xuân cũng không cần bắt buộc
Thông phải dọn lên nhà xứ ở chung với cha Hảo. Cũng vào lúc đó, gia đình
ông bà Thứ dọn đi Cái Sắn và tỏ ý muốn biếu Thông căn nhà của họ.
Thấy căn nhà rộng rãi lại có vườn cây trái đầy đủ, Thông vui mừng
nhận lời ông bà Thứ và dọn đến ở căn nhà này. Ở sát căn nhà này là gia đình ông Đòan Cảnh, một
gia đình ngọai giáo độc nhất còn ở lại trại định cư Tân Hạ. Gia đình
này vẫn còn mang vết thương đau nhói trong lòng gây ra do cung cách đối xử
hàng ngày của ông bà Thứ đối với họ vì họ là người ngọai đạo dù
là người hàng xóm cách nhau chỉ có một hàng rào. Về đây ở được mấy ngày, Thông biết rõ ông
bà Đoàn Cảnh có người con gái đầu lòng là Trâm mới 22 tuổi với hai
người con trai là thằng Anh 20 tuổi, đang chuẩn bị đi Sàigòn học lấy bằng
lái xe hơi, và thằng Thế 18 tuổi, đang chờ ngày nhận giấy gọi đi
trình diện thi hành nghĩa vụ quân dịch. Trâm là một thiếu nữ xinh đẹp mặn mà, có những
nét quyến rũ đặc biệt đới với phái nam. Vì là gia đình ngoại giáo độc
nhất còn lại sống ở trong trại Tân Hạ gồm toàn người công giáo, cho
nên dân trong xóm đạo không muốn quen thân với gia đình ông Đoàn Cảnh.
Vì thế mà Trâm gần như hoàn toàn bị cô lập. Cũng vì thế mà đã 22 tuổi
rồi mà Trâm vẫn không có một chàng trai nào ở trong xóm đạo này ngó tới.
Nếu sống ở một nơi khác không bị kỳ thị như ở Tân Hạ, chắc là
Trâm đã có chồng từ lâu rồi. Sống ở bên cạnh nhà Trâm và hàng ngày
ra vào nhìn thấy Trâm, nhan sắc của Trâm đã làm cho Thông mạnh dạn tìm
cách làm quen với Trâm: “Ranh giới giữa
nhà cô (Trâm) và Thông chỉ là cách hàng rào cắm bằng những thân cây sắn
khô để những giây đậu đũa leo lên. Trâm rẽ luống lang, tiến dần lại
phía Thông, nhưng dĩ nhiên không trông thấy anh đang đứng khuất dưới giàn
mướp. Cô mặc áo cánh mầu nâu non, quần đen, tóc thả xuống ngang lưng.
Cô có cái dáng thanh thanh, cao vừa tầm và trên khuôn mặt trái soan, nổi bật
nhất là đôi mắt rất tinh anh. Cô cắp cái rổ vào cạnh sườn, đứng tần
ngần nhìn luống lang dưới chân, rồi lại tỏ ý lưỡng lự ngó những
giây đậu đũa leo thưa thớt trên hàng rào. Ăn rau lang luộc thường xuyên,
chắc cô đã chán ngấy. Mà hái đậu thì đậu chưa lớn hẳn khiến cô thấy
tiếc! Thông đóan như thế cho nên anh đưa tay ngắt vội ba quả mướp đẹp
nhất và tiến lại phía Trâm. Anh đưa ba trái mướp ra và ung dung bảo: “Biếu
cô, gọi là cây nhà lá vườn! Cô nấu bát canh mời hai bác xơi.” Trâm giật mình
nhìn Thông, ánh mắt không giấu nổi nét bối rối pha lẫn vui mừng. Cô cảm
động lắm! Cảm động không phải vì giá trị của món quà, mà vì tuy ở
sát nhà nhau nhưng rất ít khi Thông nói chuyện với cô, hoặc bất cứ người
nào trong gia đình cô. Ngày ngày thấy cô trong vườn hay ngoài sân, bất đắc
dĩ không tránh mặt được thì mức xã giao
tối đa của Thông vẫn chỉ là gật đầu mỉm cười hoặc thăm hỏi một
hai câu thủ tục tối cần mà thôi. Hôm nay, tự dưng Thông phá lệ, tặng
cô tới ba trái mướp, khiến cô ngơ ngác, không hiểu tại sao.” (Trang
303 - 304) Gái đẹp cô đơn gặp trai phong nhã, làm sao mà con
tim không thổn thức và nuôi hy vọng! Biết rằng Trâm đã chịu đèn,
Thông mạnh dạn đến thăm gia đình
ông Đòan Cảnh để tiến tới: “Thông ho nhẹ một
tiếng rồi lớn giọng: “Ông bà có nhà không? Tôi là Thông đây!”(Trang
310) “Cháu dọn về đây
đã nửa năm rồi mà bận việc quá, chỉ mới sang chào ông bà có một lần.
Hàng xóm láng giềng mà như thế thì cũng không phải tí nào, xin ông bà thứ
lỗi cho!…” (Trang 311) Dù cho ông Đoàn Cảnh không thù ghét gì Thông nhưng
vì vết thương do ông bà Thứ và những người trong xóm đạo đã gây cho
gia đình ông vẫn còn sưng tấy trong lòng cho nên ông vẫn không có thiện
cảm với đạo Ki-tô, cái đạo mà ông biết rằng đã mang thực dân Pháp
vào chiếm đất nước. Tuy nhiên, là con người có văn hóa, ông vẫn giữ
thái độ không niềm nở đối với Thông, chứ không có hành động nào lỗ
mãng cả. Nhờ vậy mà Thông và Trâm vẫn còn đi lại thân tình với nhau
và sự quan hệ giữa hai người càng ngày càng thêm gắn bó . Ngay cả bà Cảnh
cũng như hai đứa em của Trâm là thằng Anh và thằng Thế cũng có thiện cảm
đối với Thông. Thế rồi, khi ngồi câu cá với Thông, không biết
có phải cố ý gợi cho Thông chuẩn bị tư tưởng để ứng đối khi tiếp xúc với ông Đòan Cảnh
hay chỉ là sự ngay tình chất phác của một đứa con trai nhà quê mới lớn,
thằng Anh đã nói với Thông: “Bố em bảo là đạo
Công Giáo mang thực dân Pháp vào chiếm nước ta! Có như thế không anh
Thông?” Thông giảng: “ Tại bố em
không đọc lịch sử nên mới nghĩ như vậy. Đạo Công Giáo truyền sang nước
ta từ năm 1533, tức là từ đời các vua Lê. Các giáo sĩ đầu tiên đến
Ninh Cường và Trà Lũ giảng đạo, có âm mưu chính trị gì đâu! Hơn 300
năm sau thực dân Pháp mới xâm chiếm Việt Nam, là lúc mà đạo Công Giáo
đã vững vàng. Chính triều đình và phong
trào Văn Thân giết 130 ngàn giáo dân, đã gây nên cái hố chia rẽ càng
ngày càng trầm trọng! Hai đứa em Trâm, thằng Anh và thằng Thế, tuổi
còn trẻ, rất dễ thu nhận những điều Thông nói.” (Tr 355) Càng thấy Trâm say mê Thông, ông Đòan Cảnh càng
tính kế đi khỏi xóm đạo Tân Hạ để ly cách hai người và hy vọng thời gian sẽ giúp cho Trâm lần lần quên
Thông. Nhân chuyến đi đưa thằng Anh về Sàigòn học lái xe, ông bà Đoàn
Cảnh ở lại Sàigòn một hai ngày tìm mua căn nhà thích hợp với túi tiền
để đem gia đình ông về Sàigòn với hy vọng sẽ giải quyết được vấn
đề này và cũng là giải thóat được tình trạng phải ở trong cái cộng
đồng của những người cùng cảnh ngộ di cư vào Nam mà lại khinh rẻ và
coi ông như người dân hạ đẳng chỉ vì gia đinh ông không theo đạo Ki-tô. Thế là chỉ còn có thằng
Thế và Trâm ở lại nhà. Được sự đồng tình của Thế, không bỏ lỡ
cái cơ hội ngàn năm một thuở này, ngay chiều tối ông bà Đòan Cảnh và
thằng Anh đi Sàigòn, Trâm liền lẻn đến nhà Thông, giống như nàng Kiều
lẻn nhà sang thăm Kim Trọng:
Trong Xóm Đạo, ông bà Đòan Cảnh đi Sàigòn, Trâm
đến nhà Thông giữa lúc màn đêm vừa
buông xuống. Lòng Thông tràn ngập niềm vui, nhất là trong cảnh đêm khuya
nhà vắng, chỉ có hai người với một
ngọn đèn dầu. “Thông loay hoay
tính xem mình có nên chạy sang gặp Trâm hay không, thì may quá có tiếng ho
nhẹ và giọng Trâm gọi nhỏ ở ngoài hè: “Anh Thông ơi! Em đây!” Thông
chạy nhanh ra, vén mành mờ Trâm và bảo:
“Anh định ra đầu nhà gặp em!”. Trâm ngồi xuống ghế nói: “Bố mẹ
em đi vắng cả. Ở lại Sàigòn chắc một hai hôm mới về! Nhà chỉ có thằng
Thế!” Thông khép cửa chính rồi ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh Trâm…Một
luồng gió bất ngờ thổi qua cửa sổ làm tắt ngọn đèn…Chắc trời sắp
mưa…”tr 439) “Em có phải về
không? Mười một giờ rưỡi rồi đấy! Sợ Thế nó chờ cửa!” Trâm hất
mái tóc ra phía sau, lắc đầu não nề thở mạnh: “Em ngồi luôn đây đến
sáng mai cũng được! Em chỉ còn được gần anh có mấy hôm nữa thôi! Chẳng
biết em đi rồi, anh có còn nhớ đến em hay là lại quên ngay!” Thông luồn
tay dưới nách Trâm, đỡ cô (Trâm) đứng dậy và đề nghị: “Nếu không
cần về thì lại giường nằm với anh. Ngồi ngoài này muỗi cắn chết!”
Trâm ngoan ngõan, tiến
lại giường, với tay buông mùng trong khi Thông vặn nhỏ đèn trên bàn xuống
cho đến khi chỉ còn một vết sáng li ti.” (tr 443) “Tạnh mưa rồi đấy
anh ạ. Tạnh hẳn rồi! Thôi em về kẻo thằng Thế nó chờ!” Thông cũng
ngồi lên tỏ vẻ ngạc nhiên: “Về làm gì? Sao không ngủ luôn ở đây với
anh!” … “Anh nói thật mà. Ngủ lại đây dễ gì chúng ta có dịp này!”
(tr 446) “Trâm lắc đầu đứng
dậy: “em về! Dễ đến quá nửa đêm rồi còn gì?” Dứt lời, Trâm lầm
lũi tiến ra cửa. Thông bưng đèn bước
theo, cố níu kéo: “Về thật ư?”. Trâm không đáp, đưa tay tháo then cửa
rồi đẩy ánh cửa…” (tr 448) Về đến nhà, cửa đóng cài then, Thế ngủ say,
Trâm gọi mãi, Thế vẫn không dậy. Trong khi đó, ngoài trời, mưa vẫn rơi
và gió vẫn thổi, khiến cho Trâm lạnh run lên, đành phải quay lại nhà
Thông: “Trâm co ro bước vào,
gượng cười phân trần: “Nhà tắt đèn tối om, thằng Thế nó ngủ say
quá, em gọi đến cả mười tiếng nó vẫn không dậy được! Thằng khỉ!
Đã dặn là đừng cài then cửa… Thôi đành sang ngủ nhờ bên anh vậy!”
Thông khép cửa cài then rồi cùng tiến lại
giường. Anh vui vẻ nói: “Tại vì nó cũng đoán là em sẽ ở lại bên
này với anh, nên nó mới cài then trong!” Trâm
xấu hổ đập vào vai Thông khiến cái chụp đèn thủy tinh trên tay anh
súyt nữa văng xuống đất. Hai người lên giường nằm sát bên nhau. Thông
thò tay ra, vặn nhỏ hẳn ngọn xuống, chỉ để chút ánh sáng thật mờ
trong nhà. Rồi anh xoay người nằm nghiêng, đặt một bàn tay trên vai Trâm.
Bên ngoài, lại có tiếng mưa rơi nhè nhẹ, tạo thành đợt âm thanh rì
rào đều đặn trên mái tranh…” (tr 450). Còn gì sung sướng cho
bằng! Trai gái yêu nhau còn ở trong tình trạng lén lút mà lại có một đêm
đến với nhau.
Mối tình của Thông và Trâm qủa thật là tha thiết
và cả hai cũng đều tính đến chuyện:
Thế nhưng, không biết là có phải tạo hóa cơ cầu
hay trớ trêu. Hầu như những mối tình chân thành tha thiết đầy thơ và mộng của một cặp uyên ương nào cũng thường
có những gì khó khăn trắc trở. Ở đây chúng ta thấy, khó khăn ở Thông
và cũng là của tất cả tín hữu Gia-tô “ngoan đạo”. Khó khăn này là
bức tường thành tôn giáo mà những tín đồ Kitô “ngoan đạo” không thể
nào vượt qua được. Giáo Hội La Mã đòi hỏi khi một người thuộc một tôn giáo khác muốn thành hôn với tín đồ
của Giáo Hội thì người đó phải từ
bỏ tôn giáo cổ truyền của gia đình, phải theo học một khóa học giáo
lý và phải rửa tội theo đạo Da-tô rồi
mới được tiến hành làm lễ cưới. Đây là giáo luật mà bất cứ môt
tín hữu Da-tô ngoan đạo nào cũng phải tuân hành. Là một tín hữu Da-tô thuộc lọai ngoan đạo
lại là một ông thày giáo gương mẫu ở trong xóm đạo, làm sao Thông lại
có thể không tuân hành giáo luật này? Khó khăn ở Trâm là ông Đoàn Cảnh hết lòng tha
thiết với nền đạo lý tam giáo cổ truyền. Không phải ông khó khăn
trong việc hôn nhân này của Trâm, mà ông chỉ đòi hỏi một sự công bằng
cho những người Việt Thế rồi ông mua được một túp lều ở vùng ven
đô gần Trường Đua Phú Thọ (Sàigòn) và gia đình ông di chuyển về đó. Không đầy một tháng sau khi dọn về Sàigòn, ông
bà Đòan Cảnh đã kiếm được một chỗ làm công cho Trâm trong quán cơm
Thăng Long ở Đường Trần Hưng Đạo.
Quán cơm này chuyên nấu những món ăn của miền Bắc do ông Mạnh làm chủ.
Một phần vì nể tình ông Đoàn Cảnh là người cùng làng, một phần muốn
dùng Trâm như một người làm công thân tín vừa làm công việc trong bếp
vừa canh chừng để ý những người làm công khác nếu có gì tắt mắt
gian vặt thì báo cho ông bà Mạnh hay. Vì vậy Trâm được trả số tiền một
ngàn một tháng, cao hơn với những người làm công khác dù là họ đã
làm ở quán cơm này khá lâu hơn Trâm. Với số tiền này, vào những năm
1959-1960, gia đình ông Đòan Cảnh cũng đủ sống cho qua ngày ở Sàigòn. Khi mới dọn về Sàigòn, Trâm đã hai lần viết thư
cho Thông và tha thiết dặn Thông thế nào cũng lên Sàigòn thăm Trâm. Nhưng
Thông phải đợi đến hè (có lẽ là mùa hè năm 1960) mới có thể đi
thăm Trâm được. Tính ra cả 3 tháng trời. Nhất nhật bất kiến như tam
thu hề! Ấy thế mà Thông phải đợi đến hơn ba tháng mới đi thăm Trâm.
Như vậy là sức chịu đựng của Thông cũng khá kiên cường. Thông đến nhà Trâm, không gặp Trâm mà chỉ gặp
ông bà Đoàn Cảnh và thằng Anh. Ông Đoàn Cảnh vẫn lạnh lùng với Thông
như trước. Bà Đòan Cảnh tuy bề ngoài tỏ ra vồn vã, nhưng trong lòng
thì không muốn cho Thông gặp Trâm nữa, cho nên khi Thông hỏi địa chỉ của
Trâm làm thì bà nói thác là không nhớ.
Nhưng sau đó, thằng Thế xuất hiện. Vì ngây thơ và không hiểu
tâm ý của bà Đòan Cảnh, thằng Thế mới ghi địa chỉ chỗ làm của
Trâm trao cho Thông. Lần theo địa chỉ, Thông đến quán cơm Thăng Long
hai lần để tìm Trâm. Lần đầu, ông Mạnh cố ý không để cho Trâm gặp
Thông cho nên đã tìm cách tránh né, nói thác là Trâm mắc bận, rồi sau đó
lại nói là đã đi chợ rồi. Không gặp mặt và không được nói chuyện
với Trâm, phân vân không biết lòng
Trâm thế nào,Thông quyết định phải đến tìm gặp Trâm để biết rõ thực
hư. Ít lâu sau (không biết là mấy tuần hay mấy tháng), nhân chuyến đi Sàigòn
mua quà tiễn đưa cha Xuân đổi đi một họ đạo khác, Thông lại tìm đến thăm Trâm nữa! Lần nà, ông Mạnh
tỏ ra ân cần và thành thực có ý muốn giúp Thông gặp Trâm. Thế nhưng, “Người
xưa nay đã khác xưa rồi!” (Vũ Hoàng Chương). Vì Long, con trai đầu lòng của ông Mạnh đã
đem lòng yêu thương Trâm và Trâm cũng tha thiết yêu Long vì Long cũng là một
thanh niên có học vừa mới đậu Tú Tài II, vừa là con nhà giầu, vừa
không có bức tường thành tôn giáo ngăn cấm giữa hai người. Vì thế mà
Trâm không muốn gặp Thông. Bị Trâm từ chối không gặp mặt, Thông ra
đi, lòng đau như cắt, nhớ hai câu thơ của Lưu Trọng Lư:
Mối tình thứ ba.-
Khác với hai mối tình trước, mối tình thứ ba này không phải do Thông chủ
động mà là do Mai chủ động. Mai là một cô học trò lớp nhất xinh đẹp
nhất trong những đám nữ sinh học trò của Thông và cũng là một thiếu nữ
kiều diễm nhất trong xóm đạo Tân Hạ. Cùng vì sắc đẹp hết sức quyến
rũ này mà ông thày Bốn Phán (chỉ còn hai năm nữa thì thành linh mục) đã
mê mẩn, quên cả tình yêu đối với Thiên Chúa để được cùng Mai “cho nhau đến cái tột cùng”. Cũng vì thế
mà Mai đã bị Cha Xuân ra lệnh cho bà Quản Vọng tổ chức một màn đấu
tố theo kiểu xử tội tà giáo mà các Tòa Án Dị Giáo của Giáo Hội trong
thời Trung Cổ thường sử dụng. Cách đó không lâu, các
bà dân Chúa trong Hội Con Đức Mẹ dưới quyền điểu khiền khiển của bà
quản Vọng xúm nhau đánh bề hội đồng
và lột hết quần áo để thân thể của Mai lõa lồ giữa thanh thiên bạch
nhật ở ngay sân nhà thờ. Việc làm ác độc và dã man này xẩy ra trước mắt hàng ngàn người thân quen trong xóm đạo.
Ấy thế mà chẳng có một người dân Chúa nào đứng ra nói một lời can
gián và che chở cho Mai. Trong cái đám đông dân Chúa ấy, chắc chắn là
có cả cha mẹ sinh đẻ ra Mai. Nhưng không
hiểu TẠI SAO họ lại không nhào ra bảo vệ đứa con gái thân thương non
dại mới 16 tuổi đầu của họ đanh bị khổ nạn tai kiếp như vây? Chờ
cho các bà chửi cho đã miệng, đánh đập cho đã chân tay rồi, Thông mới
dám đứng ra xin can và cởi áo của Thông cho Mai khoác đỡ để cho cả họ đạo khỏi nhìn thấy những
gì mà các em bé từ tuổi lên mười cần phải che kín. Sau vụ bị đấu tố
dã man này, khi về nhà, Mai lại còn bị bà mẹ đánh cho một trận đòn
nên thân rồi dẫn đi Sàigòn phó mặc cho gia đình một người bà con dân
Chúa cũng thiếu lương tâm như các bà trong Hội Con Đức Mẹ ở Tân Hạ,
coi Mai như con ở: “Thầy biết không,
cái hôm bà Quản Vọng và các bà trong
Hội Con Đức Mẹ đánh em ở sân nhà thờ, rồi thầy cho em mượn cái áo,
mặc vội chạy về nhà, mẹ em trói
vào cột, đánh em một trận gẫy mấy cái
roi. Sáng hôm sau, mẹ em đưa em xuống Sàigòn, gửi nhà bác em ở đường
Mayers (Hiền Vương). Trọ nhờ nhà bác em thì cũng như đi ở, làm người
giúp việc cho nhà người ta mà thôi. Nấu nướng, quét dọn, giặt giũ, hầu
hạ cả nhà từ sáng tinh mơ đến gần nửa đêm mà bác em ác lắm,
cứ suốt ngày mắng xa xả vào mặt em! Độ hai tháng sau, bố em mới xuống thăm em và đóng tiền cho em
học may ở hiệu Thiên Trang. Bố em không mắng em nữa, chỉ nhắc em sớm tối
đọc kinh cầu nguyện. Học xong, bà chủ
hiệu thấy em khéo tay nên thuê em ở lại luôn cho đến bây giờ!”( tr
336-337). Cuốn gói ra đi khỏi xóm đạo, thân gái 16 tuổi,
không cha không mẹ kéo lê cuộc đời ở trong nhà một người bà con thiếu tình thương và bất lương như trên
thì cũng chẳng khác gì sống cuộc đời
cò bơ cò bất ở giữa lòng thủ đô Sàigòn. Ở trong tình trạng như vậy
mà Mai không bị phỉnh gạt đưa vào ổ điếm cũng là hết sức may mắn,
nếu không phải trời thương những kẻ khốn cùng. Dù sao đi nữa thì vết
thương bị làm nhục trước mắt hàng ngàn người thân quen trong xóm đạo cũng không bao giờ có thể xóa nhòa được
ở trong lòng Mai: “Đối với đàn
bà con gái, biện pháp lột quần áo là tột cùng của sự xỉ nhục, cần
gì phải đấm đá! Bằng chứng là Mai đã xấu hổ đến nỗi phải bỏ
xứ mà đi. Mai lúc này đau buồn lắm, bởi thày Phán từ khi rời trại,
cũng không liên lạc với cô. Thành ra cô chẳng những đánh mất cái chỗ
đứng thong dong ở trại định cư, mất hết bạn bè, mà còn mất luôn cả
cái người đàn ông đã gây nên thảm cảnh cho cô tại sân nhà thờ sáng
hôm đó!” (tr 49). Cũng may, không biết có phải vì là một em bé gái vừa
rất xinh đẹp, vừa dễ thương, Mai đã được ông bà chủ
nhà may Thiên Trang, chuyên may áo dài phụ nữ ở Đường Yên Đổ thâu
nhận vào học nghề và đối xử với Mai với tất cả tấm lòng nhân ái
như một người em út trong gia đình. Ở đây cả mấy năm, Mai vẫn âm thầm
liên lạc với bé Phương con ông Quỳnh, một nhân vật nổi trong xóm đạo.
Ông Quỳnh vừa giữ chức hội trưởng Hội Thánh Giuse Lao Công vừa là Trưởng
Ấp Tân Hạ. Đã một lần Mai gửi một gói quà trong đó có hai xấp vải để
may quần áo (tr 280) và trả lại Thông
cái áo sơ mi mà Thông đã cởi ra cho Mai mặc
khi bị đấu tố ở sân nhà thờ. Mai cũng gửi kèm theo lá thư với những lời lẽ ân cần đối với Thông
và tỏ lòng cảm kích về cái ân tình mà Thông đã đứng ra xin cho Mai
trong khi không có một người nào kể cả cha mẹ Mai cũng không thèm nhào
ra để can gián và che chở cho nàng giữa cảnh quằn quại trong trận đòn
đấm đá giáng lên thân thể và những lời chửi rủa trù ẻm ác độc của
các bà trong Hội Con Đức Mẹ. Nhìn món quà của Mai gửi biếu và đọc những lời
lẽ Mai viết trong thư, không biết Thông có cảm thấy đê mê đi vào cõi mộng
hay không? Có một điều chắc chắn là món quà và lời lẽ của Mai trong
thư đã gây cho Thông một niềm thương nhớ khôn nguôi: “Thông lại liên tưởng đến Mai và tội
nghiệp cho Mai từ hôm ra đi, không dám về trại thăm nhà.” ( tr 325). Vì vậy mà sau
đó nhân chuyến đi thăm cha Hảo ở Sàigòn, Thông đã thủ sẵn địa chỉ
ở trong túi. Sau khi thăm cha Hảo, Thông thuê xe xích lô đến nhà may Thiên Trang. May mắn thay! Khi Thông
đến tiệm thì gặp Mai liền. Khi thấy Thông xuất hiện trước cửa nhà may, Mai
ngỡ ngàng tưởng là bố mẹ Mai “nhờ
Thông đến gặp Mai có việc gì quan trọng”
(tr 328). Thông nói rõ mục đích chuyến đi về Sàigòn là đến thăm Mai. Lời
nói này làm cho Mai sung sướng như muốn điên lên. Không do dự, Mai liền rủ
Thông cùng đi dạo phố, rồi xin phép bà chủ nghỉ ngày hôm đó để dẫn
Thông đi tham quan Sàigòn. Nói xong, Mai vào trong
sửa sọan, trang điểm, mặc áo dài và trở ra kéo Thông đi đón
xe taxi đến vườn Tao Đàn, rồi tới
Sở Thú. Sánh vai đi bên nhau, hai người nói chuyện lan man, chán chê rồi rủ
nhau vào tiệm ăn. Sau bữa cơm hội ngộ, Thông ra về, Mai vẫn còn lưu luyến
như muốn kéo mặt trời đứng lại. Trước kia, Mai chỉ mơ màng ao ước sẽ được Thông
cưới làm vợ, nhưng không nghĩ rằng chuyện này lại có thể xẩy ra được.
Nhưng hôm nay, việc Thông đến thăm Mai bất ngờ và nói rõ chủ đích đã
làm cho niềm hy vọng mong manh đã có sẵn trong lòng Mai giờ đây trở
thành mãnh liệt và thương nhớ Thông khôn cùng.
Không cầm lòng được, Mai quyết định làm một chuyến về
Tân Hạ để thăm Thông. “Thông sửng sốt
nhận ra Mai xách valise nhỏ đang đứng trước mặt anh. Cô học trò cũ từ
Sàigòn hiện về bất thình lình như một bóng ma trong chuyện liêu trai, khiến
Thông đứng lặng môt chút rồi mới ú ớ kêu lên: “Giêsu Maria! Lạy
Chúa tôi! Em về bao giờ thế? Thầy cứ tưởng là ai?. Vào ngồi chơi một
tí đã!” “Em vừa về đến
nơi! Chỉ sợ không gặp thầy. Suốt quãng đường ngồi trên xe, em chỉ sợ
về mà không gặp thầy. Hoặc là trong nhà thầy có cô nào rồi! Bây giờ
em mới yên trí! Cám ơn Chúa!” (tr 77-78) Điều không may cho Mai, vào lúc này Thông đang tràn
trề hy vọng tính chuyện tiến đến hôn nhân với Trâm, cho nên bề ngòai Thông
tỏ ra hân hoan sung sướng tiếp Mai ở trong nhà, nhưng trong lòng
thì phập phồng lo sợ. Vì thế mà Thông đề nghị đưa Mai về thăm ba má. Lời đề nghị của Thông khiến cho Mai
khó chịu: “Mai nghiêm mặt lắc
đầu quả quyết: “Em về thăm thầy, chứ em không muốn về thăm nhà. Em
xin thưa thật với thầy là, dù cho bây giờ bố mẹ em có gọi em về , hoặc
xuống tận Sàigòn mà đón em về, em cũng không về nữa, bao nhiêu lần em
đã xin về mà bố mẹ em nhất định không cho! Bây giờ em không cần nữa!”
(trang 480). Lời đề nghị của Thông khiến cho Mai cảm thấy hối hận đã “về thăm Thông để gánh lấy hắt hủi. Mai ngồi im, đầu cúi thấp xuống mái tóc
rủ che gần kín khuôn mặt” khiến cho “Thông càng áy náy” tìm cách an ủi nói
cho Mai biết Thông vẫn trân qúy những lá thư của Mai đã gửi cho Thông
(tr 482). Mai đề nghị Thông để Mai đi tắm rồi sẽ tính. Tắm xong, Mai ra
ngòai, hai người cùng nói chuyện, bàn qua bàn lại, rồi cùng chui vào trong
mùng trên cùng một cái giường bên nhau, nói chuyện đường dài: “Dứt lời, anh đứng
dậy, bưng đèn vào buồng. Mai leo lên trước. Thông vặn nhỏ đèn xuống
và chui lên theo. Nói chuyện được thêm
khoảng một tiếng nữa thì Mai mệt quá lăn ra ngủ thiếp đi. Cô nằm ngửa,
mái tóc đen dầy xõa sang một bên. Trong làn ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn
dầu chiếu qua lớp vải mùng trắng đục, Thông vẫn nhìn thấy rõ ngực
Mai nhấp nhô lên xuống theo nhịp thờ đều đặn… Rồi anh làm dấu
Thánh Giá, đọc vài câu kinh ngắn trước khi nhẹ nhàng đi vào giấc ngủ.”
(tr 496-497). Tác giả chỉ nói có thế thôi. Thực sự, không ai
biết được, hai người đã làm gì ở trong
cái mùng:
Vì không muốn về thăm bố mẹ và cũng không muốn
để cho người trong xóm đạo biết về thăm Thông, Mai thức dậy sớm để
chuẩn bị về Sàigòn và Thông cũng dậy sớm để tiễn Mai đi. “Hai người sánh bước
song song trên con đường đất dài hun hút ngăn đôi trại định cư và
cánh đồng làng. Ngang qua căn nhà cũ của ông bà Đòan Cảnh, Thông quay đầu
nhìn vào…. Anh chợt nẩy ra ý định Chủ Nhật này sẽ xuống tìm Trâm, rồi
nhân tiện vào thăm Mai để trả cái
ơn Mai đã bất ngờ về thăm anh và ngủ chung với anh một đêm thật
thanh thản.” (tr 499) Rồi khi bị Trâm từ chối không chịu gặp, thất vọng, từ giã nhà hàng Thăng Long, Thông lang thang như kẻ mất hồn, đi về phía Quốc Hội, thả bộ |