705-gdlogo.gif (49914 bytes)

posted: 14.7.2005

Tiễn Biệt Nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn!

Tối hôm qua, 13.7.05, nhờ có những khoảnh khắc thong dong, tôi lượn qua mấy vòng trên các xa lộ thông tin điện tử quen thuộc mới biết tin nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn vừa ra đi.

Bản tin trên trang nhà điện tử E-văn:

// Nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn qua đời - Thứ Hai 11/7/2005

Sau một thời gian lâm trọng bệnh, nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn đã từ trần lúc 14h50 ngày 9/7 tại TP HCM. Linh cữu của nhà văn được quàn tại chùa Long Hoa (TP HCM). Lễ động quan được tiến hành lúc 7h sáng 12/7, sau đó đưa đi hỏa táng tại Bình Hưng Hòa.

Hoàng Ngọc Tuấn sinh năm 1947 tại Huế, lớn lên phiêu bạt vào Nam sinh sống chủ yếu bằng ngòi bút. Ông được xem là một người khá lập dị, sống không gia đình riêng và rất kín đáo. Đời tư của ông thì không mấy ai biết đến, nhưng ông lại có một số tác phẩm khá nổi tiếng và được giới trẻ Sài Gòn yêu thích từ trước 1975 như: Hình như là tình yêu, Cô bé treo mùng...

Sau 1975, nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn là lớp hội viên đầu tiên của Hội Nhà văn TP HCM. Năm 2000, lần đầu tiên Tuyển tập tác phẩm Hoàng Ngọc Tuấn (3 tập) được NXB Trẻ và nhà sách Trẻ xuất bản. Ông còn cộng tác với các trang văn hóa nghệ thuật, thể thao của nhiều báo tại TP HCM dưới các bút danh: Nhị Ngọc, Hoàng Ngọc, Huấn Toàn, Mây Biếc... //

hoang ngoc tuan
Ảnh: Nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn
Nguồn: Tuổi trẻ
*
*    *

Dĩ nhiên, đó là một tin buồn. Nhưng cái buồn của tôi còn kéo đi xa hơn về kỷ niệm…

Tôi chưa hề quen biết với nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, nhưng văn chương của HNT thì không xa lạ gì từ thuở còn ở trung học. Thế hệ của anh so với tôi, lớn hơn chưa tới nửa con giáp, nên qua văn chương lại dễ thấy gần gũi nhau.  Tôi không phải là ‘dân’ đi vào nghiệp văn chương ở thuở mới lớn vì đã trót đi theo nghề nghiệp kỹ thuật ‘chân lấm tay bùn’, nhưng cũng khá sính văn chương chỉ vì thích đọc.  Có lẽ thế hệ của Hoàng Ngọc Tuấn là thế hệ của Mường Mán.  Thế hệ của tôi là thế hệ của Tần Hoài Dạ Vũ, Trần Dzạ Lữ, Từ Hoài Tấn, Võ Quê…, và hai người sau thuở nhỏ ở cùng làng nên còn là hai người bạn.

Từ Hoài Tấn từ rất trẻ đã có tiếng về làm thơ, có một số bài thơ tôi rất thích, có một vài câu thơ tôi cứ nhớ hoài, như: “Mỗi sớm mai thức dậy làm người. Sum suê cành tuổi trẻ…”. Đó là những câu thơ của cậu thiếu niên vào lứa tuổi 15, 16 thôi.

*
*    *

Cách nay trên thập niên, có dạo nổi hứng, tôi nhét khăn gói vào xe ô-tô lái một mạch về vùng Los Angeles, đến chùa Việt Nam ở với thầy Mãn Giác cả tuần lễ.   Có một buổi chiều thầy pha trà cho uống, hai thầy trò ngồi đàm đạo hoài không hết chuyện, tôi chợt nhớ tới mấy câu thơ của Từ Hoài Tấn, và nói với thầy: Thầy nè, trong thi ca có những trùng hợp ngẫu cảm kỳ lạ! Tôi đem mấy câu thơ của Từ Hoài Tấn đọc cho thầy nghe, rồi so sánh với mấy câu thơ của thầy: “Sáng nay thức dậy choàng thêm áo. Vũ trụ muôn đời vẫn mới tinh…”  Có ai cùng với tôi, nhận ra sự đồng cảm giữa hai không-thời-gian khác biệt trong tâm hồn của hai thi sĩ - một già một trẻ này không?  Có lúc thích chí với bài thơ của thầy Mãn Giác, tôi còn mượn tiếng nước ngoài ghép lại thành một từ với ý niệm mới, chưa từng thấy trong tự điển, tôi gọi sự đồng-ngẫu-cảm trong thi ca là một “télé-poésie”. Đúng hay sai không cần biết, nhưng ý niệm này mới lạ và nó chiều chuộng cái mẫn cảm riêng biệt của tôi.  Có một cụ già  khi đề cập tới bài thơ của thầy Mãn Giác, đã buông lời chê: Cái ông này lạ thật, đã đi tu rồi mà còn thích áo mới…; ngày xưa người xuất gia thì mặc áo vá, nằm ngủ chỉ có chiếc chiếu manh, ăn cơm chỉ với rau cải vuờn, tương chao mới tu đắc đạo, chứ đi tu mà đòi thay áo mới hoài làm sao đắc đạo !   Ôi thiên hạ, thiên hạ… như bầy đàn, còn thi ca như những vì sao trên trời, làm sao tôi không cười ngất thú vị trước những lời nhận xét như vậy?

*
*    *

Thuở nhỏ, tôi có nhiều kỷ niệm với Võ Quê và Từ Hoài Tấn.  Võ Quê từ Quảng Trị vào ở chơi với gia đình chú anh trong mùa hè, nên chúng tôi thường gặp nhau. Nhà người chú của Võ Quê ở gần nhà người chú tôi, nên có những đêm hè trăng sáng, hai đứa rủ nhau trèo lên sân thượng, nằm ngắm trăng, trò chuyện cho đến lúc mệt rồi ngủ luôn giữa trời, dưới ánh trăng vằng vặc. Có lần Võ Quê ngâm cho tôi nghe bài thơ “bài ca ngày trở lại” của anh mới sáng tác, có những câu: “Mười năm chiến chinh rồi đó. Lớn lên súng đạn vào đời. Mấy năm nằm trong lòng Mẹ. Bây giờ khôn lớn rồi thôi….” Và, khôn lớn rồi làm gì và đi đâu (!?), để … “Mai về lần qua ngõ trúc. Cải vàng còn bướm vờn hoa. Trẻ thơ còn say nắng hạ. Hay buồn buồn hơn bao giờ.”   Không ngờ những câu thơ trút ruột kín đáo và âm thầm này đã làm chiếc thuyền đưa Võ Quê bí mật đi theo cách mạng trước (hoặc sau) Mậu Thân 1968…

Từ Hoài Tấn (THT) chơi thân với Mường Mán (MM), nên tôi cũng có giao thiệp đôi chút với Mường Mán. Hai chàng này viết văn làm thơ khá sớm. Trong những dịp nghỉ hè ở làng, thỉnh thoảng Từ Hoài Tấn ghé nhà tôi để mượn sách và có vẻ anh chàng nuôi ý định muốn ngốn hết tủ sách của gia đình do ba tôi và các người anh đi trước mua chồng chất dày thêm mỗi ngày, tủ sách không còn chỗ để. Thấy thái độ “ham” tủ sách nhà tôi của THT, tôi đâm “bực”, nên lại muốn biết tủ sách của hắn có những gì mà tôi chưa có.  Cứ thế, hai bên bắt đầu trao đổi với nhau. Có một mùa hè lúc còn rất nhỏ, THT và MM thực hiện một tạp chí viết tay với nét chữ rất đẹp, lấy tên là “Cuồng Biển”.  Theo trí nhớ của tôi, cái công phu của người ngồi nắn nót viết để đóng thành tạp chí cỡ trên trăm trang, với có đủ phụ bản màu tự vẻ… thì xem chừng giá trị và nghệ thuật của nó còn cao hơn là tạp chí bằng chữ in nữa.  Tôi đọc xong thấy nể liền, bắt đầu ngứa mắt, ngứa nghề, nên rủ một thằng bạn khác (Hồ Văn H.) cùng là dân kỹ thuật nên viết lách không giống ai, làm một tạp chí khác cũng viết bắng tay, lấy tên là “Sóng Ngầm” để đối chọi với “Cuồng Biển”…; nhưng xem chừng mệt quá, nên “Sóng Ngầm” được hai, ba số gì đó thì nó chui ngầm xuống biển luôn.

Mường Mán ngoài tài làm thơ còn viết văn, và cũng viết truyện tình khá hay, và như cái bút hiệu đã cưu mang một ý nghĩa nào đó, nên anh không chỉ dừng lại, loanh quanh bên những truyện tình, còn muốn lục lọi, đào xới những mãnh đất về lịch sử và con người đất nước thân thuộc…  Thí dụ như  trong một bài văn nào đó, Mường Mán đã viết về một xóm cư dân nhỏ, tiếp giáp với làng An Truyền là nơi thuở nhỏ anh từng quan sát cảnh sống của họ.  Làng An Truyền không những nổi tiếng về khoa bảng về đủ mọi ngành nghề, kể cả về quân sự mà còn nổi tiếng là một làng giàu có.  Ngày xưa từng có người nổi tiếng giàu của đến nỗi vua nhà Nguyễn phải gã con gái cho…; nhưng ở cuối làng lại có một vùng tiếp giáp, gọi là Giáp Đông dân lại sống cơ cực và âm thầm chịu đựng; họ cực còn hơn dân vùng Giáp Nam đầu làng (còn gọi là Truyền Nam) là một khu vực tập trung của dân Công giáo La Mã, ở quanh ngôi nhà thờ có kiến trúc như nhà thờ Notre Dame thu nhỏ.   Không hiểu sao thanh niên ở vùng này không học hành ra gì cả, nhưng mỗi gia đình khi nào cũng được nhận nhiều thực phẩm từ đâu gửi tặng như bột bắp, bột mì, sửa bột, dầu ăn… thường ở mức thặng dư.  Giữa làng, còn gọi là thôn An Truyền (tên cúng cơm là làng “Chuồn”) phía giáp đông cuối làng có chùa, giữa có đình làng rất to được các bô lão và thanh niên tổ chức lễ tế hàng năm, sinh hoạt truyền thống này được ghi vào sử sách....    Trong bài văn viết về xóm Giáp Đông ấy, tôi nhớ hoài câu: “Giáp Đông là giáp đông còi; con đam con rạm mà coi như vàng…” ...  Văn chương của Mường Mán sắc sảo, ý tứ thâm trầm, đặc biệt dễ nhận thấy tác giả vận dụng tối đa kỹ thuật viết.  Trong khi văn chương của Hoàng Ngọc Tuấn thì mượt mà, đầy cảm xúc, văn chương của tuổi “ngắt lá”, tuổi của mấy cô mới lớn dễ “hồng lên đôi má”, tuổi với những cái nhìn vụng trộm, tình trong như đã mặt ngoài còn e.  Những cuốn sách mở đầu của anh với “Ở một nơi ai cũng quen nhau”, “Hình như là tình yêu”, “Nhà có hoa Mimosa vàng” v.v… và các tác phẩm về sau…  “hình như” mỗi tác phẩm của Hoàng Ngọc Tuấn chuyên chở một dòng sông mới của tình yêu…

Trước ngày Tết Mậu Thân 1968, tôi đã có sẵn vé phi cơ quân sự do người anh đầu từ trong Nam gửi ra cho, đi từ Huế vào Sài Gòn ăn Tết với gia đình. Loay hoay sao đó với chuyện tình “con nít”, nên khi về sân bay Phú Bài trễ giờ, con tàu bay mất rồi. Tết năm đó tôi ở lại ăn Tết ở Huế với bạn bè, bà con, và sống với một tháng chiến tranh thê lương nhất trong dòng lịch sử của Thuận Hóa. Mùa Xuân Mậu Thân đã tiễn biệt luôn một số người bạn “kín đáo” đã đi theo bên “tê” (cách mạng), nhưng thường nhật sống với nhau thì chia xẻ tình cảm vô tư, vui nhộn trong những đêm hát hò, trai gái… trong căn nhà vuờn ở trọ gần Cồn Hến, Vỹ Dạ… Những người bạn lên rừng xanh thực hiện giấc mộng của Che Guevara, hay vùi thây nơi chốn hoang vu đều mang ý nghĩa biệt ly.  Tôi vẫn cứ hồn nhiên ham vui và lo ăn học, nhưng bắt đầu ý thức sự mất mát toàn diện về những người thân yêu chung quanh mình, nên năm đó tôi đã thực hiện Giai Phẩm Xuân Nông Lâm Súc 68, với một bài viết để ghi nhớ bạn bè: “Dấu chim bay”, với câu kết nhớ là: “Ôi những kỷ niệm hồng với D. với T. , giờ như dấu chim bay”.   Bài viết này cũng là bước ngoặt, đánh dấu một sự chuyển biến trong tôi.  Một hai năm sau vào Sài Gòn ở với gia đình để tiếp tục việc học, tôi gần như đoạn lìa với thơ văn, tôi chuyển sở thích đề tài để chỉ còn quan tâm tới những bài viết về phát triển xã hội, kinh tế, chính tri…  khô khan, nhưng thực đơn tinh thần lâu ngày đã quen mất rồi.

*
*    *

Nghe tin nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn từ trần, tôi ghi lại vội vàng một vài kỷ niệm thơ mộng của thời thơ ấu, như một nén hương thắp cho anh - một người tôi chưa từng gặp mặt, nhưng chợt nghĩ chúng ta cùng xuất thân “ở một nơi ai cũng quen nhau”, huống hồ văn chương của anh đã có một thời len lấn trong trái tim tôi, thì đây chính là nén hương tri ân anh vậy.

Nguyễn Văn Hóa

Thursday, July 14, 2005

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com