705-gdlogo.gif (49914 bytes)

posted: 08.7.2005

CÓ “SATAN” HAY KHÔNG ??
Hay
SATAN TỪ ĐÂU MÀ RA ??

--Trần Chung Ngọc

Satan Satan là một sản phẩm đặc thù của Ki-tô Giáo, do chính Thiên Chúa của Ki-tô-Giáo  “sáng tạo” ra, sáng tạo ra với một nhiệm vụ vô cùng quan trọng: “đỡ đòn”, “gánh tội” cho Thiên Chúa, hay dùng từ hoa mỹ hơn: “cứu Chúa”.  Thiên Chúa “toàn năng” sáng tạo ra tất cả mọi thứ trên trời, dưới đất, nhưng tất cả những sự xấu ác ở trên đời đều được Ki Tô Giáo “sút ban” một cách rất gọn gàng và luôn luôn lọt vào “gôn” của Satan không hề sai xẩy.  Không có Satan, Ki-tô Giáo sẽ lúng túng, không biết đổ lên đầu ai bao nhiêu sự xấu ác ở trên thế giới mà theo thuyết sáng tạo của Ki-tô Giáo, đều do Thiên Chúa sáng tạo ra.  Đổ lên đầu Thiên Chúa ư?  Họ không dám.   Vì Thánh John đã viết, giáo hoàng John Paul II cũng nhắc lại trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng, và Ki-tô Giáo nói chung cũng luôn luôn quảng cáo rằng, John 3:16: “ Thiên Chúa quá thương yêu thế gian nên....”  [God loves you, Jesus loves you etc...]  Đó là thực chất vai trò của Satan mà nền thần học Ki-tô Giáo đã tạo dựng lên.

Vì Satan là cái xấu, cái ác đã được nhân cách hóa (evil personified), nên trong Ki-tô Giáo, Thánh có thể là Satan, Satan có thể là Thánh, nếu xét về đạo đức của một số không nhỏ “Đức Thánh Cha” trước đây và gần đây, và của cả “Thánh mẫu Teresa”..  Có thể có người, nhất là các tín đồ Công Giáo, cho rằng tôi nói bậy, viết bậy.  Không phải đâu là không phải đâu.  Tôi không bao giờ viết vu vơ.  Nếu họ không tin thì họ có thể đọc đoạn sau đây trong cuốn Những Dối Trá và Huyền Thoại Của Thánh Kinh (Deceptions and Myths of the Bible) của Lloyd M. Graham, trang 463-468:

   Chúng tôi đã nói về sự bất lương của học thuật Ca-Tô.  Không ở đâu rõ ràng bằng luận điệu bào chữa, che đậy cho các giáo hoàng đồi trụy. 

   Những tội ác của các giáo hoàng là do những người khác làm và “không thể tránh được”, sự thiêu sống những kẻ dị giáo là một “điều cần thiết của thời đại”,  những sự trụy lạc của giáo hoàng chỉ là “yêu thích sự vui vẻ lành mạnh”.  Những hồ sơ ghi chép sự việc đương thời đã hoàn toàn phủ bác những luận điệu trên, và những điều ghi chép này không phải là do những kẻ thù của giáo hội viết, mà phần lớn là do những sử gia của chính giáo hội gồm có những giáo hoàng và hồng y: giáo hoàng Victor II, Pius II, hồng y Baronius, giám mục Liutprand, linh mục Salvianus, và các sử gia như Milman, Gerbert, Burchard, Guicciardini, Vacandard, Draper, và nhiều người khác.  Đây chính là những người có đầy đủ thẩm quyền đưa ra cái mặt đen tối và ô nhục của giáo hội.  Những gì mà chúng tôi trình bày ở đây chỉ là lượm lặt trong thời gian 1500 năm, nhưng chúng tôi nghĩ rằng cũng đủ để bác bỏ mọi điều tự nhận của giáo hội, cho rằng giáo hội đã được thánh linh tuyển chọn và hướng dẫn..

   Trong thời đại đen tối (the dark ages) những giáo hoàng được thánh linh hướng dẫn này đã giết nhau với nhịp độ 10 giáo hoàng bị giết trong vòng 12 năm (891-903) và 40 trong vòng hơn 100 năm.  Sergius III là một kẻ giết nhiều người; theo hồng y Baronius và Vulgarius, ông ta đã giết hai vị giáo hoàng tiền nhiệm.  Năm 708, Toto, một nhà quý tộc đứng đầu một đám thuộc hạ ô hợp, đã vận động để cho anh hắn được bầu làm giáo hoàng.  Đó là giáo hoàng Constantine II, người sau đó bị Christopher, thủ tướng của ông ta, móc mắt ra.  Rồi Christopher cùng con của hắn âm mưu chống giáo hoàng Gregory và cũng cho người móc mắt Gregory.  Hai đứa cháu của giáo hoàng Leo III là Pascal và Campulus đều là linh mục.  Chúng toa rập với nhau mưu đồ thay thế Leo III, thuê một đám giết mướn để giết Leo III khi ông ta đi dạo phố.  Việc không thành, chúng đích thân ra tay, kéo Leo III vào một tu viện và giết ông ta tại đó.  Chắc độc giả cho rằng đó là chuyện thuần túy giả tưởng, chỉ để phỉ báng.  Nhưng không phải vậy, đó là dựa theo những hồ sơ ghi lại sự việc của nhà viết tiểu sử các giáo hoàng.

   Đó chỉ là chuyện thường của thời đại.  Giáo hoàng Leo V bị một người cũng tên là Christopher hạ bệ, rồi đến lượt tên này cũng bị hạ bệ và cái tên sát nhân giết mấy giáo hoàng tiền nhiệm đã nói ở trên, Sergius III, lên thay. Trong thời đại này, không phải là Thánh Linh tuyển chọn giáo hoàng mà là, theo Hồng y Baronius, những cô gái điếm (scortas).  Đó là “luật lệ của những cô gái điếm hạng sang” (rule of the courtesans), đôi khi còn được gọi là “chế độ điếm trị” (Pornocracy), hay là triều đại của các cô gái điếm (reign of the whores).  Trong số điếm này có một người mà Baronius gọi là “con điếm vô liêm sỉ”, Theodora, và đứa con gái vô liêm sỉ không kém là Marozia.  Cả hai mẹ con đều có con với giáo hoàng Sergius III, và cả hai đều đưa những đứa con hoang của mình lên ngai giáo hoàng - John XI và John XII.  John XI bị cầm tù và John XII đã “biến dinh Lateran (nơi giáo hoàng ở, trong Vatican. TCN) thành một ổ điếm”.  Không có một tội ác nào mà John XII không làm - giết người, khai gian, thông dâm, loạn luân với hai em, đâm chém và thiến kẻ thù v..v.. Hắn ta chết trong tay của một người chồng bị xúc phạm (vì bị bắt quả tang đang thông dâm với vợ người này.)

   Theo sử liệu, hồng y Francone cho người thắt cổ giáo hoàng Benedict VI, sau đó lên làm giáo hoàng Boniface VII, “một con quỷ khủng khiếp vượt mọi con người về tội ác”, theo sử gia Gerbert.  Hắn ta cũng chẳng tệ hơn gì giáo hoàng Boniface VIII.. Thật vậy!  Để chiếm được cái mũ tiara (mũ ba tầng của giáo hoàng. TCN) hắn đã thủ tiêu giáo hoàng dở hơi Celestine V.  Nhưng hắn cũng chẳng hưởng được sự chiến thắng lâu dài vì ngay sau đó hắn bị những người La Mã truất phế.  Trong triều đại của một giáo hoàng kế vị, Clement V, sau khi chết hắn còn bị mang ra xét xử  và được xem là phạm mọi tội ác, kể cả tội hành dâm với đồng nam (pederasty) và giết người.  Và khi Clement chết thì người kế vị hắn, John XXII, phanh phui ra rằng Clement đã quá nhân từ (Tác giả chơi chữ: “Clement had been so very clement” vì clement có nghĩa là nhân từ) nên đã cho người cháu một số tiền tương đương với 5 triệu dô-la, tiền của giáo hoàng.   Vào thời gian này, triều đình của giáo hoàng được chuyển đến Avignon, và thánh Phê-rô nay cùng lúc có hai người kế thừa, một người ở Avignon và một người ở Rô-Ma.  Nhưng vậy mà cũng chưa đủ vì có khi có tới ba giáo hoàng cùng một lúc - Gregory XII, Alexander V, và John XXIII.  Về sau John XXIII bị từ khước, tên thánh bị hủy bỏ, và gần đây tên này (John XXIII) được giáo hoàng kế vị Pius XII lấy lại.

   Sự đồi bại của John XXIII lên đến độ mà Sigmund ở Hung Gia Lợi phải triệu tập một hội đồng điều tra hắn ta.  Kết quả của cuộc điều ta là đưa ra năm mươi bốn (54) khoản mô tả John XXIII là “độc ác, không tôn trọng những điều thiêng liêng, không trong trắng, nói láo, không tuân theo luật lệ và đầy những thói xấu.”  Khi còn là hồng y, John XXIII đã là người “vô nhân đạo, bất công và tàn bạo.”  Khi lên làm giáo hoàng, ông ta là “kẻ đàn áp người nghèo, khủng bố công lý; là cột trụ của tội ác, hình tượng của những kẻ buôn bán chức tước và thánh tích; ham mê trò quỷ thuật, cặn bã của thói xấu, đắm mình trong nhục dục; là tấm gương của sự ô nhục, một kẻ phát minh ra những tội ác.”  Hắn giữ chắc ngôi vị giáo hoàng bằng “bạo lực và gian lận và bán phép giải tội, chức vụ, bí tích và những đồ ăn cướp được.”  Hắn “xúc phạm thánh thần, thông dâm, giết ngưòi, hiếp dâm và ăn cắp.”..  Một vài những giáo hoàng như vậy vô đạo đức, tục tĩu đến độ phải đi đày.  Ít nhất là có hai giáo hoàng bị móc mắt và cắt lưỡi, rồi buộc vào đuôi lừa kéo lê ngoài đường phố.  Một số khác bị khinh ghét đến độ người ta quật xác chúng lên và ném xuống sông Tiber.  Sau một ngàn bốn trăm năm dưới quyền lực của Ki Tô Giáo, đạo đức xuống thấp đến độ giáo hoàng Pius II than rằng “hiếm mà có một ông hoàng ở Ý không phải là đứa con hoang.”  Lời tuyên bố này cũng áp dụng cho những ông hoàng của giáo hội (nghĩa là những giáo hoàng, hồng y, giám mục v..v..) như là của chính quyền dân sự.

   Tệ hại như vậy nhưng sự tệ hại hơn còn chưa tới - với giòng họ Borgias, đặc biệt là Rodrigo.  Trong những giáo hoàng xấu xa độc ác thì hắn xứng đáng đứng đầu.  Bằng cách hối lộ 15 hồng y với số tiền tương đương với 3 triệu đô-la, hắn chiếm được sự tuyển lựa một con người tệ hại nhất trong lịch sử - chính hắn, lên làm giáo hoàng với tên Alexander VI.  Sử gia Guicciardini mô tả hắn như sau: “..có những thói quen cực kỳ tục tĩu, vô liêm sỉ và không có một ý thức nào về sự thật, nuốt lời, không có tình cảm tôn giáo, tham lam vô độ, nhiệt tình tham vọng, độc ác quá sự độc ác của những giống người man rợ, tham muốn đưa con lên địa vị cao bằng mọi thủ đoạn: hắn có nhiều con, và một trong những đứa này - cũng đáng ghê tởm như  cha của nó.”   Đó là con người nổi tiếng, Cesare Borgia, người đã giết người anh rể là John, và hai hồng y khác để chiếm được cái áo hồng y..

   Khi còn là hồng y, cái kẻ chơi bời phóng đãng và sát nhân này đã biến chỗ ở của mình trong Vatican thành một ổ điếm.  Theo sử gia đương thời là Burchard, hắn đắm mình trong những cuộc hoan lạc trong những phòng của hắn, ngay trên phòng của giáo hoàng, và những cô gái điếm hạng sang “nhảy múa trần chuồng trước những tôi tớ của Chúa và vị đại diện của Chúa (nghĩa là giáo hoàng. TCN).”..  Đó là sự hoan lạc được giải thích như là “lòng yêu thích sự vui vẻ lành mạnh.”

   Đó là những ông hoàng của giáo hội trong những ngày đó.  Trong thời Trung Cổ, tập thể các hồng y cũng đồi bại như là một tập thể mà người ta có thể kiếm được trong suốt giòng lịch sử.  Chiếm được một ngôi vị hồng y chỉ là vấn đề có tiền và ảnh hưởng quen thuộc.  Đức tính, sự hiểu biết, và khả năng không dự phần nào trong đó.   Thật vậy, những đứa trẻ mười bốn mười lăm tuổi đôi khi cũng được đưa lên ngôi vị hồng y.  Giáo hoàng Paul III cho hai đứa cháu (gọi Paul III bằng ông) làm hồng y.. Paul IV cũng cho một đứa cháu gọi Paul IV bằng bác lên làm hồng tuy chính ông ta nói “cánh tay của nó ngập máu đến tận khuỷu tay.”

   Vậy mà đó là những người, với sự trợ giúp của Thánh Linh, tuyển chọn giáo hoàng..

   Tại sao cái lịch sử ô nhục này không được tín đồ biết đến như là lịch sử các giáo hoàng mà họ cho là tốt?  Tại sao các tín đồ Công Giáo không được dạy rằng chính những con người như trên đã đưa đến sự cải cách chứ không phải là do “con quỷ Luther đó.”?  Giáo phái Tin Lành nổi giậy không chỉ vì Luther mà vì sự phản đối tội ác và sự đồi bại của giáo hội Công Giáo trong nhiều thế kỷ.  Tên Sa-Tăng Phê-rô đã xúc phạm đến toàn thể Âu Châu..

   (We have spoken of the dishonesty of Catholic scholarship.  Nowhere it is more evident than in its whitewash of wicked popes.   Their crimes were all done by others and “unavoidable,” their burning of heretics, a “necessity of the times,” their debaucheries, but “love of good cheer.”. Contemporary records completely refute these claims, and the records were not written by the Church’s enemies, but mainly by its own historians, popes and cardinals: Victor II, Pius II, Cardinal Baronius, Bishop Liutprand, Father Salvianus, and historians, Milman, Gerbert, Burchard, Guicciardini, Vacandard, Draper, and others.  These are the authority for the dark and shameful side.  What we offer here is but a hop, skip and jump over some 1500 years, but sufficient, we think, to disprove any claim to divine selection and guidance.

   During the Dark Ages these divinely guided popes murdered one another at such a rate there were ten in twelve years (891-903) and forty in little more than one hundred.  Sergius III was a wholesaler; according to Cardinal Baronius and also Vulgarius, he murdered his two predecessors.  In 708 Toto, a noble at the head of a rabble following, had his brother apointed pope.  This was Constantine II whose eyes were put out by Christopher, his chief official.  Then Christopher and his son plotted against Pope Gregory for they too had their eyes put out.  The two nephews of Leo III, Pascal and Campulus, themselves clerics, conspired to replace Leo and set a band of paid assassins upon him as he rode through the streets.  When the hirelings failed, the two nephews dragged the pope into a monastery and complete the work.  Pure fiction, downright slander, you say.  But no, it is from the record of the papal biographer.

   This was the order of the day.  Pope Leo the V was deposed by another Christopher, who was in turn deposed and succeeded by the aforesaid criminal Sergius III, who murdered his predecessors.  At this time it was not the Holy Ghost that selected the popes but what cardinal Baronius called scortas, whores.  This was the “rule of the courtesans,” sometimes called Pornocracy, or reign of the whores.  Among them was one Baronius called the “shameless whore,” Theodora, and her equally shameless daughter Marozia.  Both had sons by Sergius III, and both put their illegitimates on the papal throne - John XI and John XII.   The first was imprisoned, the second “turned the Lateran Palace into a brothel.”  There was no crime he didn’t commit - murder, perjury, adultery, incest with his two sisters, bleeding and castrating his enemies, etc.  He died, we are told, at the hand of an outraged husband.

   According to the record, Cardinal Francone had Benedict VI strangled, after which he became Boniface VII, “a horrid monster surpassing all other mortals in wickedness,” according to Gerbert.  He was no worse however than Boniface VIII..  Yes indeed!  To gain his tiara he had the halfwit Celestine V disposed of.  He did not long enjoy his victory for soon he was driven out by the Romans.  Under a successor, Clement V, he was tried posthumously and found guilty of every crime including pederasty and murder.  And when Clement died, his successor, John XXII, revealed that Clement had been so very clement he had given his nephew the equivalent of five million dollars of papal money.  It was at this time the papal court was moved to Avignon, and now St. Peter had two successors, one at Avignon and one at Rome.  But even this was not enough; there were at one time three - Grogory XII, Alexander V, and John XXIII.   Later, John XXIII was repudiated, the title was annulled and recently assumed by the successor of Pius XII.

   So corrupt was the latter, Sigmund of Hungary called a council to investigate him.  The result was fifty-four articles described him as “wicked, irreverend, unchaste, a liar, disobedient and infected with many vices.”  As a cardinal he had been “inhuman, unjust and cruel.”  As pope he was “an oppressor of the poor, persecutor of justice, pillar of the wicked, statue of the simoniacs, addicted to magic, the dregs of vice..wholly given to sleep and carnal desires, a mirror of infamy, a profound inventor of wickedness.”  He secured the Papacy by “violence and fraud and sold indulgences, benefices, sacraments and bulls.”  He practiced “sacrilege, adultery, murder, rape and theft.”.. Some of these popes so outraged decency they were exiled.  At least two of them had their eyes and tongue cut out, then were dragged through the streets tied to the tail of an ass.  Still others were so despised their corpses were exhumed and thrown into the Tiber.  After fourteen hundred years of Christianity morals had sunk so low that Pius II tells us: “scarcely a prince in Italy had been born in wedlock.”  A statement as applicable to the princes of the church as of the states.

   Bad as all this was, the worst was yet to come - the Borgias, particularly Rodrigo.  Of all the wicked popes he deserves the crown.  By bribing fifteen cardinals with the equivalent of three million dollars he secured the election of one of the worst men in history - himself, Alexander VI.  Guicciardini, the historian, describes him thus: “..private habits of the utmost obscenity, no shame or sense of truth, no fidelity to his engagements, no religious sentiments, insatiable avarice, unbridled ambition, cruelty beyond the cruelty of barbarous races, burning desire to elevate his sons by any means: of whom there were many, and among them one - not any less detestable than his father.”  This was the notorious Cesare Borgia who to gain a cardinalate murdered his brother John, his sister’s husband, and two cardinals..

   While still a cardinal this rake and murderer turned his quarters in the Vatican into a brothel.  According to Burchard, the papal historian at the time, he indulged in nightly revels in his rooms above the pope’s, and courtesans “danced naked before the servants of the Lord and the Vicar of Christ.”  And his sister, Lucrezia, distributed prized to those who “had a carnal intercourse with courtesans the largest number of times.”  This is the gaiety explained as “love of dood cheer.”

   Such were the Princes of the Church in those days.  During the Middle Ages the College of cardinals was as corrupt a body as could be found in all history.  Securing a cardinalate was but a matter of money and influence.  Neither character, learning nor aptitude played any part in it.   Indeed boys of fouteen and fifteen were sometimes invested with the office.  Paul III appointed two of his teen-age grand children to this high office.. Paul IV made his nephew a cardinal, though, as he said, “his arm is dyed in blood to the elbow.”

   Yet these were the men who, with the help of the Holy Ghost, selected the popes..

   Now why isn’t this disgraceful record known as well as that of the the good popes?  Why aren’t Catholics told it was such men as these that caused the Reformation and not “that devil Luther?”  Protestantism sprang not from Luther exclusively but from centuries of protestation against the crime and corruption of the Catholic Church.  Satan Peter had outraged all Europe..)

Nếu người nào đọc đoạn trên mà không cho rằng các “đức Thánh Cha” và các “Hồng y” trong lịch sử Công Giáo như đã viết ở trên là Satan thì chính người đó phải có đầu óc của một Satan.  Nhưng tại sao tác giả lại gọi thánh Phê-rô (Peter), vị giáo hoàng đầu tiên của Công Giáo, theo như giáo thuyết của Công Giáo, là Satan trong câu cuối?  Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này trong một đoạn sau.

Riêng đối với loài người, thì chúng ta có thể nói Satan là đại ân nhân.  Tại sao?  Vì Satan đã xúi khôn Eve, và Eve đã nghe lời xúi khôn của Satan, ăn vài quả trên trái cây hiểu biết, rồi đưa cho chồng mình là Adam cùng ăn, kết quả là hai người thoát ra được cảnh tối tăm, vừa mù vừa ngu, từ đó mở mắt ra để biết phân biệt thế nào là thiện, thế nào là ác.  Thật vậy, theo kế hoạch “thiết kế thông minh” (Intelligent design) của Thiên Chúa, thì người đầu tiên mà Thiên Chúa của Ki Tô Giáo “thông minh sáng tạo” ra theo “hình ảnh Thiên Chúa” và “giống như Thiên Chúa” là một người vừa mù vừa ngu: Adam.  Cựu Ước viết rõ: chỉ sau khi nghe lời Satan, hiện thân làm một con rắn xúi khôn, cưỡng lời Thiên Chúa, ăn một trái trên cái cây hiểu biết, để có được trí tuệ, thì Adam và Eve mới sáng mắt ra, biết là mình đang ở lỗ. [Genesis 2: 9: ..In the middle of the garden (Eden) were the tree of life and the tree of knowledge of good and evil..  Genesis 3: 6-7: Then the woman [Eve] saw that the fruit of the tree (of knowledge) was good for food and pleasing to the eye, and also desirable for gaining wisdom, she took some and ate it.  She also gave some to her husband, who was with her, and he ate it.  Then the eyes of both of them were opened, and they realized they were naked...]  Nếu người nào cho rằng Satan, vì mang loài người ra khỏi cảnh vừa mù vừa ngu, mà không phải là đại ân nhân của loài người, và muốn ở lại trong cảnh vừa mù vừa ngu theo như ý định của Thiên Chúa, thì xin lên tiếng.

Đặc biệt, đối với giáo hội Công Giáo thì một hiện thân của Satan là Thánh Phê-rô, vị Giáo Hoàng đầu tiên của Hội Thánh Công Giáo mà 264 Giáo Hoàng về sau, kể cả Giáo Hoàng Bê-nê-đít-to 16 ngày nay, đều là những người kế nghiệp truyền thừa (Mã-Thi-Ơ 16: 23: Chúa Giê-su quay lại bảo Phê-rô: “Sa-tan! Hãy lui ra đằng sau ta...”).   Tại sao Chúa lại gọi Phê-rô là Satan?  Dễ hiểu thôi.   Vì Satan đã xin được phép của Thiên Chúa để sàng Phê-rô như sàng lúa mạch (Luke 22: 31:  “Simon, Simon (tên khác của Phê-rô), behold, Satan  has demanded permission [có cuốn Bible viết là “has asked”] to sift you like wheat” và Chúa đã biết trước là Phê-rô sẽ chối Chúa 3 lần trước khi gà gáy (Luke 22:34: Peter, before the rooster crows today, you will deny three times that you know me).  Suy từ những lời mạc khải không thể sai lầm trong Kinh Thánh như trên, chúng ta biết rằng, không có việc gì Satan làm mà không xin phép và đã được Thiên Chúa Ô-Kê (OK).  Suy rộng ra chút nữa, không có việc gì giáo hội Công giáo làm mà không có sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần vì giáo hội luôn luôn khẳng định như vậy.   Nhưng xét đến lịch sử đầy tội ác của Giáo hội Công Giáo đối với nhân loại [Giáo hoàng John Paul II đã chính thức xưng thú 7 núi tội lỗi của Giáo hội Công Giáo đối với nhân loại] thì các học giả lại có một lối nhìn khác. Lloyd M. Graham, trong cuốn Deceptions & Myths of the Bible, The Citadel Press Book, New York, 1995, đã đưa ra một nhận định không phải là vô lý:

      "Như vậy là Giáo hội Công Giáo được thành lập bởi Phêrô, người mà, chỉ bốn câu sau trong Thánh Kinh, Giê-su công khai gọi là Satan.  Vậy, nếu Giáo hội Công Giáo được thành lập bởi Phêrô thì giáo hội đó đã được thành lập bởi Satan - một sự kiện mà chúng ta đã nghi ngờ từ lâu.” [Xét đến lịch sử đạo đức của giới chăn chiên, từ giáo hoàng trở xuống, và những tội ác của giáo hội Công giáo đối với nhân loại]

   (Thus the Catholic Church is founded on Peter whom, four verses later, Jesus openly calls Satan.  Thus if the Catholic Church is founded on Peter, it is founded on Satan - a fact we have long suspected.)

Ki-tô Giáo sống nhờ Satan.  Không có Satan, Ki-tô-Giáo đương nhiên phải dẹp tiệm.  Các Linh Mục sẽ thất nghiệp, hoàn tục về nhà lấy vợ và đuổi gà cho vợ, lành thiện hơn là khoác áo chùng thâm đi cưỡng bách tình dục, nôm na là hiếp dâm, đám con nít phụ tế, hay nữ tín đồ, hay các sơ.  Tại sao? Vì nhiệm vụ đầu tiên của linh mục đối với một đứa trẻ mới chào đời trong một gia đình Công Giáo là ba bốn lần đuổi quỷ Satan ra khỏi đứa trẻ, trong nghi lễ “rửa tội”, để nhường chỗ cho Thiên Chúa alias Chúa Thánh Thần, được linh mục gọi từ bên Tàu hay bên Ta về, vào ngự trong người của đứa trẻ còn đang bú sữa mẹ, chẳng biết gì về tội với lỗi (xin đọc sách Giáo Lý Công Giáo, bản dịch của Hoài Chiên và Nguyễn Khắc Xuyên).  Nhưng Satan có quyền uy hơn Thiên Chúa hay Chúa Thánh Thần, cho nên giới linh mục thấp kém, tự trang bị bằng một thứ quyền uy giả tạo để lừa bịp đám tín đồ thấp kém, nên làm sao có thể bịp nổi Satan và có thể đuổi Satan ra khỏi những đứa trẻ được.  Vì vậy, từ Giáo Hoàng xuống tới các con chiên, có nhiều người sau khi rửa tội, nghĩa là đã được Chúa Thánh Linh vào ngự trong người,  lại còn bậy bạ hơn trước khi rửa tội và phạm nhiều tội ác mà quỷ Satan cũng phải ngả mũ chào thua, nhường đặc quyền phạm những tội ác vô tiền khoáng hậu này cho Thiên Chúa, theo lý thuyết điên rồ toán học Tam Vị Nhất Thể của Công Giáo.  Lịch sử Công Giáo đã nói rõ lên điều này.  Thật vậy, chúng ta không thấy, hay chưa thấy, Satan lên tiếng xưng thú tội lỗi với nhân loại, nhưng chúng ta đã thấy Hội Thánh Công Giáo lên tiếng xưng thú 7 núi tội lỗi của Hội Thánh đối với nhân loại ngày 12 tháng 3, năm 2000, tại Thánh Đường Phê-rô, tên vị tông đồ mà Chúa Giê-su gọi là Satan.

Trong Ki-tô Giáo, vai trò và quyền uy của Satan vượt trội vai trò cứu thế và quyền uy của Thiên Chúa.  Tại sao?  Vì theo niềm tin của các tín đồ Ki-tô Giáo thì những người không biết đến Thiên Chúa là những người bị Satan che mắt, và Tân ước cũng viết rõ là người nào tin Chúa thì may ra, may ra thôi chứ không phải là đương nhiên, với xác suất gần bằng số không, sẽ được Chúa cho lên thiên đường (mù); còn những người không tin Chúa sẽ bị đầy xuống hỏa ngục vĩnh viễn.  Thế giới ngày nay có hơn 6 tỷ người, trong đó có chưa tới 1/3, nghĩa là dưới 2 tỷ người, thuộc loại tin Chúa, và Ki-tô Giáo đang suy thoái trên khắp hoàn cầu, số người bị Satan che mắt càng ngày càng tăng, số người được Thiên Chúa mở mắt càng ngày càng giảm, cho nên Satan đang thắng lớn.  Mặt khác, về phương diện xã hội, ông Bush toàn năng đang tính xuất cảng “dân chủ” của ông ấy đến toàn thế giới.  Một quy tắc của dân chủ là đa số thắng thiểu số.  Vậy Ki-tô Giáo đang thua đậm về phương diện tôn giáo cũng như xã hội.

Ki-tô Giáo đặt cho Satan rất nhiều tên. Satan được biết dưới những tên như sau mà tôi không biết dịch ra sao nên xin để nguyên:  The Devil, Beelzebub, Lucifer, Mephistopheles, Prince of Darkness, Accursed Dragon, Foul Spirit, Satanic Power, Master of Deceit, Apolyon, Semihazah, Azazel, Belial, Sammael, The Tempter, Evil One, God of This World, Father of Lies.  Có thể còn nhiều tên khác mà tôi không biết đến. 

Vì Satan đang thắng thế trong thế giới này, thắng về đủ mọi mặt, nên một số tên trong danh sách trên phản ánh rất đúng thực chất của Ki-tô Giáo trên thế giới. Trước hết là danh hiệu có vẻ đúng: “Thiên Chúa của Thế Giới này” [God of this world].  Như vậy, trong thế giới này, người nào thờ Thiên Chúa và tình nguyện làm tôi tớ Chúa thực ra chỉ là thờ Satan và làm tôi tớ Satan.  Còn người nào ở trong thế giới này mà lại đi thờ Thiên Chúa của thế giới sau, nghĩa là của thế giới sau khi chết, có thể chính là Diêm Vương, thì đó lại là chuyện khác.  Một tên khác mà có lẽ ông Bush có thể nhận họ nhận hàng, đó là “Cha Của Những Lời Nói Láo” [Father of Lies] vì chính quyền của ông Bush đã nói láo nhiều điều: Sadam Hussein có vũ khí giết người hàng loạt (Weapons of Mass Destruction), có dính líu trong vụ “nai-oăn-oăn” (9-11), để đưa dân Mỹ vào cuộc chiến ở Iraq.  Một tên khác có thể áp dụng cho đa số các Linh mục và Mục sư, đó là “Bậc Sư của Lừa Dối” [Master of Deceit] vì mấy ông này đã lừa dối, kéo đám tín đồ thấp kém vào những niềm tin “không thể tin được”.  Và cuối cùng là “Kẻ Cám Dỗ” [The Tempter] vì nếu không bị cám dỗ thì làm gì có những cảnh như Thánh Chiến, hoặc săn lùng phù thủy, thiêu sống người như Tòa Thánh Vấn (Holy Inquisition) đã giúp cho hàng trăm ngàn người vô tội khỏi bị thiêu đốt bởi ngọn lửa cực kỳ nóng hơn ngọn lửa thường để thiêu sống người, ngọn lửa vĩnh hằng dưới hỏa ngục mà Chúa ưu ái dành cho những người không tin Chúa.v..v..., và gần đây trên 1000 linh mục can tội xâm phạm tình dục bất hợp pháp trẻ con và nữ tín đồ, kể các sơ, các sơ thường tự nhận là hiền thê của Chúa Giê-su [Em hiền như ma sơ]. 

Trong lịch sử Do Thái, chỉ có một mình Giê-su là không bị Satan cám dỗ.  Tân Ước viết rằng, Mã-Thi-Ơ 4: 8-9:  Satan dẫn Chúa lên trên một ngọn núi rất cao, chỉ cho Ngài tất cả các nước trên thế gian và hứa nếu Giê-su chịu thờ lạy Satan thì Satan sẽ cho Chúa tất cả các nước trên thế gian, nhưng Chúa Giê-su đã khảng khái từ chối: “Em chạ”.  Người đời đọc Kinh Thánh, dùng mọi phương tiện khoa học tân tiến nhất, từ trực thăng đến vệ tinh nhân tạo, để kiếm ra ngọn núi cao, từ đó Giê-su có thể nhìn thấy tất cả các nước trên “cái thế gian mà ngày nay chúng ta đều biết là có hình cầu” này, cả 2000 năm nay mà vẫn không kiếm ra.  Chẳng có lẽ những lời mạc khải của Thiên Chúa trong Kinh Thánh lại là những lời nói láo, là của Satan, Father of Lies?  Thật là khó hiểu. 

Nếu Giê-su chịu thờ lạy Satan thì có phải bây giờ Chúa đã được cả nước Việt Nam thay vì chỉ được có 5-7%, và được cả nước Tàu thay vì chỉ được chưa tới 1%, tuy rằng không có ngọn núi nào ở Trung Đông mà từ đó Giê-su có thể thấy được nước Việt Nam và nước Tàu. Giê-su quả thật là vụng tính, làm khổ giáo dân Việt Nam, suốt ngày đấm ngực than trời là sao chỉ có vài phần trăm dân Việt tin theo Giê-su, và cả trăm năm nay, theo Charlie Nguyễn, suốt ngày cầu kinh, kinh Nhựt Khóa: “Xin Chúa đoái thương dân tộc Việt Nam đang còn ngồi trong trong bóng tối tăm ngoại giáo.., đang ở nơi tối tăm thờ lậy bụt thần ma quỉ” (ma quỉ đây chính là tổ tiên của giáo dân)?  Nhưng đấm ngực và cầu kinh cũng vô dụng, vì số giáo dân vẫn chỉ có vài phần trăm.  Chúa điếc đặc, đâu có nghe thấy gì, nếu không thì Chúa đã trổ tài “toàn năng” của Chúa ra, đáp ứng lời cầu nguyện của giáo dân đâu có khó khăn gì.  Thật ra thì, khi Pháp thua thì Chúa đã chạy vào Nam theo Mẹ, và khi Mỹ thua thì Chúa đã chạy theo giáo dân di cư lang thang đi khắp hoàn cầu.  Chúa phải chờ khi nào ông Ngô Đình Diệm trở lại cầm quyền ở Việt Nam với các phụ tá như giám mục Puginier, giáo sĩ Alexandre de Rhodes v..v.. thì Chúa mới giúp cho dân Việt Nam ra khỏi bóng tối của ngoại giáo. Người Việt Nam có những tính kỳ lạ.  Theo đạo có gạo mà ăn, nhưng ăn no rồi thì lại bỏ Chúa.  Cầu Chúa cho lấy được vợ Công giáo, lấy được vợ rồi cũng lại “bái bai” Chúa.  Thật là vô ơn nhưng cũng thật là sáng suốt.

Trước đây tôi đã viết một bài, đưa ra vài bí quyết chống Satan.  Tôi định viết tiếp đưa ra thêm một số bí quyết khác, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, lại thôi.  Số là đọc lại Kinh Thánh, thấy Satan đã bị Thiên Chúa đánh bại từ lâu rồi, nên đưa ra thêm bí quyết chống Satan thật là vô nghĩa.  Thật vậy, Thánh Kinh đã viết rất rõ:

1.    Thượng đế đã tước hết uy quyền thống trị của Satan, công khai phô bày cho mọi người biết Chúa Cứu thế đã chiến thắng nó tại cây thập tự. (Colossians 2:15)

2.  Đã đến lúc thế gian bị xét xử, và Sa-tan, kẻ thống trị thế gian bị trục xuất  (John:12: 31)

Như vậy, Chúa đã dùng cái chết của mình trên cây thập tự để chiến thắng Satan rồi, tại sao chúng ta còn phải bận tâm nhắc tới Satan làm gì.  Nhưng như trên đã nói, không có Satan, Ki-tô Giáo không sống được.  Vì không có Satan thì lấy cái gì để mà đổ lên đầu những tội lỗi của KiTô Giáo, của Thiên Chúa, đấng sáng tạo ra tất cả?  Nếu Satan, kẻ thống trị thế gian, chứ không phải là Thiên Chúa thống trị thế gian, đã bị Chúa quật chết vì chính cái chết của Chúa trên thập tự, thì giới lãnh đạo Ki-tô Giáo cũng phải quật mồ nó lên, để cho nó sống lại. Chúa có thể không sống lại, theo như hầu hết các học giả ngày nay, nhưng Satan thì bắt buộc phải cho nó sống lại.  Ai cho?  Đến đây, nếu không biết được ai cho thì không nên đọc tiếp bài này.  Vì Satan đã sống lại cho nên tôi lại xin nghiên cứu chút chút về vai trò của Satan trong Ki-tô Giáo.   

Theo Ki-tô Giáo thì Satan là kẻ thù, kẻ đối đầu với Thiên Chúa (Satan is the adversary of God).  Do đó Satan là cái ác được nhân cách hóa (evil personified), để đối chiếu với cái thiện của Thiên Chúa.  Cái thiện của Thiên Chúa được viết rõ trong Cựu Ước.  Nếu chúng ta đọc kỹ Cựu Ước thì chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa thiện tới mức nào, một thứ thiện đã bị chính Cựu ước thiến đi. 

Rất nhiều tín đồ Ki-tô Giáo tin rằng Satan có thật, và theo nền thần học Ki Tô Giáo thì Satan là một thần linh (spirit) được Thiên Chúa sáng tạo ra (a spirit created by God).  Satan và những thần linh khác theo Satan mà Ki-tô Giáo gọi là những “thiên thần của nó” (Satan and his angels), đã nổi loạn chống Thiên Chúa cho nên bị đấng Sáng Tạo đuổi ra khỏi thiên đường. (cast out of Heaven by their Creator).  Có một học giả đặt vấn đề:  “Các nhà thần học có thể phân vân là tại sao Đấng Toàn Năng lại không tiêu diệt những “thiên thần sa ngã” này như là ông ta đã làm [tạo nên Hồng Thủy để tiêu diệt tất cả các sinh vật mà ông ta đã tạo nên] đối với những tạo vật khác của Ngài  mà Ngài cho rằng không được công chính (tất nhiên chỉ chừa lại gia đình của Noah)?” (The theologians might speculate as to why the Almighty did not annihilate the "fallen angels," as He is said to have done to his other creations when they failed to be righteous (save Noah and his family, of course))

 Chúng ta cũng thường thắc mắc, tại sao Thiên Chúa lại để cho Satan sống để làm khổ chúng ta mà lại đi giết những ông già bà cả và trẻ con vô tội.  Nhưng Thiên Chúa là Thiên Chúa, ông ta muốn làm gì thì làm, chúng ta không có quyền hỏi.   Quyền duy nhất của chúng ta, những Ki-tô hữu, là phải nghe lời Chúa Giê-su dạy: Hãy yêu Thiên Chúa hết sức hết linh hồn, yêu cho đến chết thì thôi, chết là hết chuyện, không còn thắc mắc.

Nhiều Ki-tô hữu tin rằng “con quỷ Satan” có thể “ám người”.  Ám người có nghĩa là xâm nhập vào thân thể con người và khiến con người bị ám hành động theo ý của Satan.  Và ngày nay, giáo hội Công giáo vẫn còn tiếp tục đuổi quỷ ra khỏi những người được coi là bị quỷ ám. (The Catholic Church still performs exorcisms on those considered to be possessed.)  Khi xưa, Chúa Giê-su lòng lành vô cùng đã từng đuổi quỷ ra khỏi những người bị quỷ ám, và trong một trường hợp, đã bắt con quỷ này nhập vào một đàn heo 2000 con rồi bắt đàn heo vô tội này nhảy xuống sông chết đuối hết.  Một trường hợp khác là Chúa Giê-su đã đuổi quỷ ra khỏi một người bị bệnh động kinh.  Khoa học ngày nay cho chúng ta biết bệnh động kinh là do cơ thể thiếu chất glutamic acid chứ chẳng có quỷ nào ám.  Và ngày nay, giáo hội gồm các “cha cũng như Chúa” cũng tự cho là mình có khả năng đuổi quỷ như Giê-su khi xưa.

Người ta tin rằng Satan có nhiều quyền lực, có thể hiện thân thành người hay thành vật. Chính Giáo hoàng John Paul II cũng tin như vậy, và Giáo hoàng đã tin thì tất nhiên con chiên cũng phải tin.  Học giả Công Giáo Joseph L. Daleiden viết như sau trong cuốn The Final Superstition, trg. 82:

   “Giáo Hoàng John Paul II tin vào nhiều điều mê tín mà đối với các tín đồ Gia Tô hiện đại họ cảm thấy ngượng ngùng.  Ngay gần đây, trong ba bài dạy giáo dân, ông vẫn tin rằng mỗi người đều có ít nhất là ba thiên thần bảo hộ và thảo luận về những nhiệm vụ khác nhau của các thiên thần trên thiên đường.  Giáo hoàng hét vào mặt cử tọa: “Hãy coi chừng bọn quỷ”.  Ông tin rằng quỷ Satan hiện thân dưới dạng một con sư tử, một con rắn, một con rồng, hoặc một con dê có sừng.”

   (Pope John Paull II believes in many superstitions that modern Catholics find embarassing.   Just recently he gave three lessons in which he maintained that each person has no less than three guardian angels and discussed the various roles of angels working inside paradise.  The pope shouted at the audience: “Watch out for the devil!”  He believes Satan appears in the shape of a lion, a snake, a dragon, or a goat with horns.)

Vì là một thần linh nên Satan không đực mà cũng không cái, giống như Thiên Chúa, nhưng thường chúng ta được dạy là Thiên Chúa cũng như Satan là giống đực. Đặc biệt là Thiên Chúa có thể làm cho bà Mary mang thai.  Còn Satan thì không, chỉ có thể hiện thân làm Linh mục và làm cho các sơ mang thai rồi đi phá thai như chúng ta đã biết qua sự phanh phui của báo chí gần đây.

Thường thường thì Satan liên hệ tới loài người như thế nào?   Lịch sử Ki-Tô Giáo nói nhiều về quan hệ tình dục giữa Satan và người.  Satan có thể hiện thân thành quỷ đực (incubus = male devil) [hay các anh đẹp trai. TCN], hay quỷ cái (succubus = female devil) [hay các cô gái đẹp. TCN] để quyến rũ người khác phái [Các anh các chị hãy coi chừng, nhất là khi bị tán tỉnh để “go all the way”!!].  Giáo hội Ki-tô tin rằng các phù thủy là con cái của con người ngủ với quỷ Satan.   Một tác giả trên Internet viết: “Tuy nhiên, khi còn bé tôi được các sơ dòng Đa Minh dạy nhiều chuyện về Satan, nhưng những chuyện về những nữ tu (sơ) bị quỷ đực mặc quần áo linh mục hãm hiếp thì chắc chắn là không được nói đến...[Trước vụ một số linh mục cưỡng hiếp các nữ tu trong 23 quốc gia bị báo chí phanh phui gần đây, người ta phải gãi đầu phân vân trước vấn đề Satan giả dạng linh mục hay linh mục là hiện thân của Satan?] Chúng tôi được dạy phải thường xuyên cầu nguyện, cầu khẩn sự bảo vệ của các Thánh và của Mẹ Thiên Chúa chống lại nanh vuốt của satan” (However, as a child being instructed in the ways of Satan by Dominican sisters, stories of nuns being raped by incubi in a priest's clothing were assuredly not told... We were taught to pray constantly, implore the intercession of the saints and the Holy Mother of God, that they might give us protection against the snares of Satan....)   Vậy các cô các cậu nào bị cám dỗ sắp sửa “go all the way” thì hãy tỉnh táo mà cầu nguyện gấp. Và nếu cầu nguyện không có kết quả và đã “go all the way” rồi thì cũng “xa va” (tiếng Pháp), hu-ke (who cares) Satan với chẳng Satan. Cứ “have fun” là được rồi, đừng có nghe lời xúi dại của mấy ông linh mục mà để cho các ông ấy giữ độc quyền về vấn đề này.

Lẽ dĩ nhiên Giáo hội Công giáo không bao giờ dạy tín đồ về Giáo Hoàng Innocent VIII và chủ trương bạo hành của ông ta đối với các phù thủy và những người lạc đạo.  Trong một sắc lệnh (Bull), Giáo hoàng khẳng định là những thiên thần ác (evil angels), nghĩa là các quỷ,  đã có liên hệ tình dục với rất nhiều người nam, nữ.  Trước ông ta, Thánh Thomas Aquinas cũng đào sâu khá chi tiết về vấn đề này.  Thomas Aquinas nhắc nhở chúng ta rằng, vì Satan không phải là người như chúng ta, cho nên nó có thể hiện thân làm đàn ông để quyến rũ đàn bà, và thành đàn bà để quyến rũ đàn ông, và truyền giống.  Nhưng Giáo hoàng và nhiều người ngoan đạo đã có cách đối phó: tiêu diệt những người mà Giáo hội cho là con cái của quỷ bằng cách dùng cực hình tra tấn rồi mang họ đi thiêu sống.  Kết quả là những hành động ác ôn côn đồ của các người thánh thiện và sùng tín trong Ki Tô Giáo trong thời Trung Cổ đối với những người mà họ cho là con cái của quỷ hay lạc đạo đã khiến cho những người phi-Ki-tô tin là có quỷ Satan thật, vì tác phong của các phán quan (Inquisitors) cũng chẳng khác gì tác phong của những ác quỷ. (The inquisitors were nothing short of diabolical).

Vật đổi sao rời, có lên thì phải có xuống, có thịnh thì phài có suy.  Giáo hội Công Giáo, dù được Thánh Linh theo sát để bảo vệ, theo như lời “giáo hội dạy rằng...”, và ngay cả ba ngôi Thiên Chúa, Thánh Linh, Giê-su, và lẽ dĩ nhiên cả Satan, cũng không ngoại lệ, thoát khỏi quy luật thiên nhiên này.

Thật vậy, khi quyền lực của các Giáo hội Ki-tô suy thoái thì quyền lực của Satan cũng phải suy thoái  theo vì Satan và Ki-tô Giáo theo nhau như bóng với hình.  Đọc lịch sử Công Giáo, chúng ta thấy rằng, Satan lên đến tột đỉnh danh vọng cùng lúc với giáo hội Công Giáo ở thế kỷ 13, khi mà quyền lực của Giáo hội cũng ở vị thế tuyệt đỉnh.  Theo một tài liệu thì vào thời Trung Cổ, người ta cho rằng chính Satan đã xây một bức tường thành Hadrian ngăn cách giữa Scotland và nước Anh, xây cầu ở Saint Cloud và Cầu Valentre ở Cahors, với cái giá là chiếm được linh hồn của người đầu tiên bước qua cầu (During the Middle Ages, the Devil was said to have built Hadrian's wall between Scotland and England, built bridges such as that at Saint-Cloud and the Pont de Valentre at Cahors, for the price of the soul of the first one who crossed the bridge, etc.)

Người ta thường cho rằng Satan biết giở nhiều trò ma thuật.   Nhưng chúng ta cũng không nên quên rằng, căn bản Giáo hội Công Giáo là một tôn giáo thiên về ma thuật (Satan could perform magic, but it must be remembered that the Christian religion is basically a religion of magic.)  Thật vậy, trong Công giáo có những “bí tích” để bảo vệ chúng ta khỏi bị Satan quấy nhiễu, thí dụ như trong “bí tích rửa tội”, các “Cha cũng như Chúa” thường đặt tay lên đầu nạn nhân vô tội, thường là những đứa trẻ chưa biết gì, lẩm bẩm vài câu La-tinh để đuổi Satan ra khỏi người nạn nhân, nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần vào ngự trị.  Ngoài ra các “Cha cũng như Chúa” này còn có thể biến bột bánh và rượu thành thịt và máu thực sự của Giê-su để cho các tín đồ ăn uống, và hứa suông với tín đồ là sẽ sống lại sau khi chết và sẽ có đời sống đời đời và có được những quyền lực kỳ diệu như Chúa, thí dụ như: truyền cho trái núi này rời đi, trái núi sẽ tự động bò đi, truyền cho cái cây chết héo queo giống như khi xưa Chúa Giê-su đã làm, cây sẽ chết ngay lập tức, cầm rắn độc chơi cũng không hề hấn gì dù có bị rắn cắn v..v.. những chuyện ma thuật trong Kinh Thánh.  

Dòng tu Satan (The Satanic Order) là sự sáng tạo của giáo hội, cần thiết để giáo hội tự tạo quyền lực trên thế giới.  Những người lạc đạo, phù thủy, và cả những người có trí tuệ như John Huss, Bruno v..v.. đều là những đệ tử của Satan, kẻ thù của Giáo hội, thách đố sự thống trị của giáo hội trên hoàn cầu.  Chúng cần phải tiêu diệt.  Áp dụng chính sách này của giáo hội, ở Việt Nam, giám mục Puginier chủ trương phải tiêu diệt giới văn thân, vì giới này gồm những người sáng suốt, có trí tuệ, không chịu theo đạo Chúa.  Trong thời Trung Cổ ở Âu Châu, số người theo Satan, nghĩa là những người không chấp nhận giáo lý của giáo hội, do đó biến thành kẻ thù của Giáo hội, càng ngày càng tăng, có nghĩa là  quyền lực của Satan càng ngày càng tăng, thì, để đối phó với Satan, quyền lực của giáo hội cũng càng ngày càng tăng, quyền lực này được biểu thị qua những hành động khủng khiếp của giáo hội để bắt bớ, tù đầy, tra tấn, thiêu sống nhiều trăm ngàn người mà Giáo hội cho rằng đã đi ra ngoài những điều dạy không thể sai lầm của giáo hội, trong khi thực ra họ chỉ là những người vô tội.  Ngày nay chúng ta đã biết, những điều giáo hội dạy mà giáo hội cho rằng không thể sai lầm vì dựa vào Kinh Thánh, thí dụ như thuyết “Sáng Tạo”, huyền thoại phục sinh, chuộc tội, tha tội, cứu rỗi v..v..lại chẳng có điều nào đúng cả.

Chúng ta đã biết, trong thời Trung Cổ, quyền lực của Giáo hội Công Giáo ở Âu Châu lên đến tột đỉnh.  Nhưng có một điều giáo hội không thể ngờ tới: đó là, dù giáo hội đã dùng mọi quyền lực có trong tay và những phương pháp dã man nhất để ngăn chận, quyền lực của giáo hội càng ngày càng trở nên bất lực trước sự tiến bộ trí thức của con người.  Xã hội và văn hóa Âu Châu thay đổi, quyền lực chính trị và xã hội chuyển thành thế tục, vượt ra ngoài quyền lực của Giáo hội, bất động sản phủ khắp Âu Châu của Giáo hội bị thu hẹp, chỉ còn lại diện tích của 2 cái sân đá banh ở thủ đô La Mã trên nước Ý.   Kết quả là đến thế kỷ 18, ở Âu Châu, vì quyền lực của Giáo hội không còn, nên những người theo Satan cũng không còn, và chúng ta không còn thấy một vụ tra tấn, thiêu sống người nào nữa, ít ra là ở Âu Châu.  Tín đồ Công Giáo rất hãnh diện ca tụng rằng: Giáo hội đã thay đổi, văn minh hơn nhiều, không còn giết người nữa v..v.. Nhưng John Remsburg, trong cuốn Những Lời Tự Nhận Sai Lầm (của giáo hội Công Giáo) [False Claims], trang 24, đã giải thích tại sao giáo hội không còn giết được nữa:

      "Sự thật là nếu anh thấy bất cứ ở đâu  một tông phái của giáo hội KiTô, tôi không cần biết nó mang cái tên gì – Công Giáo hay  Tin Lành, Luther hay Tân giáo, Trưởng lão hay Giám Lý - anh sẽ thấy đó là một kẻ thù của tự do.  Trái đất của chúng ta đã bị bao phủ bởi tro bụi của nhiều triệu người bị giết, giết bởi giáo hội, chỉ vì họ dám có những quan điểm không được chính thống.

   "Nhưng bây giờ giáo hội không còn giết nữa," hình như tôi nghe nhà bảo vệ tín lý KiTô nói.  Không, một con hổ yếu sắp chết càng ngày càng bớt dữ đi.  Bây giờ Giáo hội không giết được nữa vì không còn quyền lực để mà giết.  Bó củi (để thiêu sống người) và thanh gươm (để giết người) đã bị tước khỏi những bàn tay đẫm máu của giáo hội, và bây giờ giáo hội chỉ còn dùng được hai vũ khí, thù hận và vu khống."

   (The fact is that wherever you find a fragment of the Christian Church,  I care not what name it bears - Catholic, or Protestant, Lutheran or Episcopal, Presbyterian or Methodist - you find an enemy to liberty.  Our earth is covered with the dust of murdered millions, murdered by the church,  and for no other crime than having dared to entertain opinions that were not orthodox.

   "But the church does not kill now," methinks I hear the Christian apologist exclaim.  No! a tiger weakened by the pangs of death grows less and less ferocious.  The church does not kill now because it does not have the power to kill.  The fagot and the sword have been wrested from her bloody hands, and hatred and slander are the only weapons left her now.)

Sự tiến bộ trí thức của con người đưa đến sự tiến bộ của khoa học, và sự tiến bộ của khoa học đưa đến sự suy sụp của Ki tô Giáo nói chung, Công Giáo nói riêng.  Khoa học đã “đuổi quỷ Satan” ra khỏi đầu óc con người hiểu biết ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở Tây phương.  Lẽ dĩ nhiên, Satan chưa chết hẳn, chỉ khi nào Ki tô Giáo chết hẳn thì Satan mới chết theo.  Vì vậy ngày nay chúng ta vẫn còn nghe thấy một mớ tín đồ Ki-tô Giáo có đầu mà không có óc đổ mọi sự xấu xa tội lỗi trên thế gian cho Satan.  Nhưng quyền năng của Thiên Chúa càng ngày càng giảm, và vì Satan lấy được quyền năng của mình từ Thiên Chúa, nên quyền năng của Satan cũng càng ngày càng giảm theo.  Rất có thể một ngày đẹp trời nào đó (un certain beau jour), cả Thiên Chúa lẫn Satan đều trở thành những ý tưởng xa lạ vô hiệu lực đối với trí tuệ con người. 

Nhưng chúng ta không nên quá chủ quan, vì ngày nay con người văn minh tiến bộ còn sợ những kẻ sùng tín và cuồng tín (pious and fanatic) hơn là sợ Satan.  Có người còn cho rằng những người sùng tín ủng hộ sự thay đổi hiến pháp của Hoa Kỳ, bắt trẻ con cầu nguyện trong trường học, chính là những con quỷ ngụy trang. (Some might even go so far as to identify these pious advocates of constitutional amendments for prayer in schools as devils in disguise.)  Chúng ta thấy những con cái Chúa đi giết người ở những nhà thương phá thai đâu có nhân danh Satan mà là nhân danh Chúa.  Nếu Satan và các thiên thần của nó (Satan and his angels) mà có mặt ở trên thế giới ngày nay, thì chúng sẽ không phải làm gì, chỉ khoanh tay ngồi nhìn, vì những người sùng tín, cuồng tín trên thế giới ngày nay đã thay chúng để làm tất cả những việc chúng muốn làm.

Quyền năng của Thiên Chúa, và do đó quyền năng của giáo hội, càng ngày càng suy thoái là một sự kiện bất khả phủ bác.  Trên tờ Chicago Tribune ngày 26 tháng 6, 2005, trong bài báo nhan đề Bất Động Sản Là Phước Lành (Của Công Giáo), Vì Đó là Tiền (Blesses Is Real Estate, For It Is Cash), Tim Jones viết về tình trạng Công Giáo trên đất Mỹ suy sụp đến độ rất nhiều bất động sản của giáo hội gồm các nhà thờ và trường học Công Giáo phải rao bán.   Những lời cầu nguyện không cứu được nhà thờ Holy Innocents và 18 nhà thờ khác ở phía Nam St. Louis, trong đó có một cái xây từ năm 1860.  Tất cả, chỉ riêng ở St. Louis, có 80 bất động sản gồm nhà thờ, trường học, nữ tu viện, đã được Giáo phận St. Louis rao bán (Not even prayer will save Holy Innocents, in south St. Louis, and 18 other churches – one built in 1860 – that have put on the sale block by the Roman Catholic Archdiocese of St. Louis.  The sale involves 80 parcels – schools, rectories, convents and churches).  17 xứ đạo ở Toledo, Ohio, đóng cửa. Ở Chicago, 23 trường học Công Giáo phải đóng cửa.  Boston, 60 nhà thờ phải bán đi để có tiền trả cho những nạn nhân của các linh mục loạn dâm.  Đồ đạc trong nhà thờ, ngay cả những cây thập giá bằng sắt trên có Chúa Giê-su cũng được mang ra bán đấu giá.  (Crucifixes were among the items at Holy Family’s auction). Tác giả cho biết, tình trạng này của Công Giáo xảy ra khắp nơi.  Và có nơi, giáo dân được linh mục an ủi: “Nhà thờ và gạch ngói không phải là đức tin, các con hãy mang đức tin đặt trong một xứ đạo khác” (A church building and bricks are not the faith, You take your faith and put it in another parish).

Công giáo Mỹ thì như vậy, còn Tin Lành Mỹ thì sao.  Thống kê cho biết số tín đồ càng ngày càng giảm, và Tin Lành đã nghĩ ra đủ mọi trò, kể cả những trò thuộc ngành thương mại, để vớt vát tình trạng.  Một trò dở ẹt là đi tìm tuyển mộ những người ngu ngơ như Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng v..v.. để dạy họ mạ lỵ lại chính tổ tiên của họ.  Một trò khác, cũng dở ẹt không kém, là trong vài ốc đảo Ki-tô, Tin Lành đã cố gắng đưa ra thuyết “Thiết Kế Thông Minh” (Intelligent Design) để giải thích mà không phải giải thích, vì tất cả chỉ là mù lòa tin bướng tin càn, nguồn gốc vũ trụ và con người.  Tôi sẽ luận về thuyết “Thiết Kế Thông Minh” này trong một bài khác.

 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com