
posted: 13.7.2005
(Đã đăng trên web Talawas ngày 9.7.05,
Giao điểm nhận từ tác giả gửi đến ngày 13.7.05)
BIỂN LỬA GIỮA HOA SEN Trần
Kiêm Đoàn
Giở lại lịch sử Phật giáo, một câu chuyện cổ sơ, mòn nhẵn, nhưng
bao giờ cũng mới. Mới không phải vì
sự hùng biện của ngôn từ, mà vì sự im lặng. Sự lặng im đầy chánh
pháp.
Theo Cảnh Đức Truyền Đăng Lục thì vị tổ đầu tiên của thiền
Tông Trung Hoa là Đạt Ma Tổ Sư. Cuộc
đối thọai giữa Tổ Đạt Ma và vua Lương Vũ Đế (502-549) được truyền
tụng hơn 15 thế kỷ qua đã trở thành một biểu tượng về tinh thần phá
chấp khi nói đến Thiền trong đạo Phật. Truyền Đăng Lục ghi cuộc đối
đáp này như sau: Lương Vũ Đế hỏi Tổ Đạt
Ma: -Trẫm từ khi lên ngôi đến
nay đã cho xây chùa, dựng tượng, in kinh, độ tăng rất nhiều. Vậy trẫm
có công đức gì chăng? Tổ Đạt Ma đáp: - Chẳng có công đức gì cả.
- Tại sao làm Phật sự nhiều
như thế lại không có công đức? - Bởi vì đó chỉ là những
tiểu quả mà thôi. Đấy chỉ là cái nhân giả lập như bóng theo hình, có
mà chẳng thật. - Vậy phải làm thế nào mới
được xem là công đức? - Phải tự mình rèn cho trí
trong sạch, tâm thanh tịnh, tánh rỗng lặng, thân an vui, như thế mới là
Công Đức. Công đức ở nơi tự tánh, chứ chẳng phải do vật chất bên
ngoài mang đến. Vua hỏi tiếp: - Chân lý tối cao của bậc
thánh là gì ? - Khi tỉnh ra, thông suốt rồi
thì không có gì gọi là thánh cả. - Người trước mặt trẫm
là ai? - Chẳng biết! Vua Lương Vũ Đế không
lãnh hội được, cuộc đối thoại chấm dứt. Tổ Đạt Ma biết căn cơ
không hợp, lặng lẽ lên núi Tung Sơn, chùa Thiếu Lâm, trọn ngày ngồi thiền
đối diện với bức tường trong suốt
chín năm.
Khi không còn đối thoại thì rút vào im lặng là đạo lý của tư
duy. Nói để mà nói, tranh tụng hơn
thua con gà hay cái trứng có trước, là sự rỗng mòn của nếp nghĩ và cũng
là ngõ cụt về những ý thức mới.
Bao nhiêu sách vở hơn nghìn năm sau vẫn chưa nói hết được phần
tinh túy nhất của sự im-lặng-muôn-trùng-tiếng-nói nầy.
Trong thế giới Thiền, phải chăng ngôn ngữ chỉ là quy ước nghèo
nàn, thô lậu; có khi ồn ào mà vô nghĩa, bất lực trong sự chuyển tải
những suối nguồn tư tưởng thâm diệu của con người?!
Khi nói đến thiền ngôn và thiền ngữ trong nghệ thuật Thiền, thiền
sư Khánh Hữu, trụ thế ba trăm năm sau sơ tổ Đạt Ma, đã làm bài kệ Chân Ngôn Ký, có đọan đại ý nói rằng:
Đáng xấu hổ thay những người tự nhận
mình là Phật tử lại dùng miệng lưỡi dung tục để nói chuyện Thiền
môn phi Phật pháp. Đáng thương thay những người chưa nhảy qua miệng giếng
tri thức đã lạm bàn chuyện mây trời. Và tội nghiệp thay những kẻ ngậm
lời quỷ sứ phun mặt chân nhân.
Cái hiện trạng đáng xót xa "Ngậm
lời quỷ sứ phun mặt chân nhân" hình như không chỉ xẩy ra nghìn
năm trước mà vẫn lập lại hoài cả nghìn năm sau và thời nào cũng có...
Người viết bài nầy vốn là kẻ vô can thế mà bỗng cảm thấy dị
ứng trước một hiện tượng nóng bỏng, xin tạm gọi là "Hiện tượng luận bàn về thầy/sư
ông/thiền sưThích Nhất Hạnh"!
"Vô can" vì tôi chẳng có một liên hệ cá nhân nào với thầy
Nhất Hạnh, ngoài việc đọc một số sách của Thầy đã xuất bản trong
vòng năm chục năm qua như muôn nghìn người khác.
Xa hơn thế nữa, tôi đã viết bài tham luận "Sự Thống Nhất Cần Thiết của Tính Thuần
Việt và Hán Việt Trong Ngôn Ngữ Phật
Giáo Việt Nam" để nói lên thái độ không tán đồng về việc thầy
Nhất Hạnh chủ xướng đổi từ Phật thành "Bụt". Theo chỗ hiểu của tôi thì Bụt là một
hiền thánh, một vị "Tiên Đất" thuần túy Việt Về mặt đạo pháp, tôi vẫn
còn xa lạ với khuynh hướng hành Thiền đậm tính "trú xứ" của
Làng Mai. Và về sau nầy, tôi cũng không
còn thú đọc những tác phẩm giảng pháp theo mô thức "văn nói"
do các thiện giả ghi lại đã làm nhạt bớt tính sáng tạo văn chương, vốn
rất uyển chuyển và tài hoa của thầy Nhất Hạnh. Nói tóm lại là khi tự soát xét lại
chính mình, tôi không có lý do để đứng về phía đả kích gay gắt hay
phía ca ngợi nhiệt thành thầy Nhất Hạnh. Được
học tập từ nền văn hóa Việt
Un đúc từ lịch sử dựng nước và giữ nước gian nan; chịu đựng những thăng trầm suốt dòng
lịch sử nghìn năm Bắc thuộc, trăm năm Tây đô hộ và bao năm chinh chiến...
đã để lại cho người Việt một lối sống mềm dẽo, lối xử thế khôn
khéo. Dân tộc nào cũng có mặt
"giương" để chiến đấu và mặt "thủ" để sinh tồn. Đấy
là lối ứng xử tinh tế, biết tiến, biết thoái và biết lách mình né
tránh kẻ mạnh đúng lúc để có lợi, để yên thân, để tránh sự
đương đầu trực diện với một đối thủ mạnh hơn. Nếp sinh hoạt tinh thần đó là tiền đề
tạo ra nguồn tâm lý tiểu xảo. Về mặt tích cực, tâm lý tiểu xảo
là vũ khí để sống còn của dân tôc Việt
Cái giá phải trả của tâm lý tiểu xảo trong lĩnh vực nhân văn là
người Việt tuy thông minh và sáng tạo, tự hào có bốn nghìn năm văn hiến,
nhưng chưa un đúc được một triết gia, một nhà tư tưởng hay một triết
lý dân tộc độc lập có tầm cỡ trong lịch sử tư tưởng thế giới. Nếp nghỉ nhỏ chỉ tạo ra được
những sản phẩm nhỏ. Thói quen tiểu
xảo là chuyên đè bẹp người bằng phương tiện nhỏ nhen và vô minh. Không có thiện xảo mà chỉ có thuần
tiểu xảo thì chính tác nhân tiểu xảo đó là kẻ trước tiên tự dìm
mình xuống trước mặt đối thủ của mình và vô hình chung hạ thấp
nhân cách của mình.
Trong rất nhiều trường hợp Thầy Nhất Hạnh đã bị nhìn từ một
góc độ tâm lý tiểu xảo như thế.
Một người chỉ cần mang cái "nghiệp" của người cầm bút
thôi cũng đủ bị đặt trên dàn phóng của sự khen chê rồi. Huống hồ người đó còn là một nhà sư
có tăng đoàn và đường lối riêng, một luận sư mang khuynh hướng cải cách,
một khuôn mặt nổi bật trong cộng đồng tôn giáo thế giới như thầy Nhất
Hạnh thì biển đời khen chê làm sao tránh khỏi.
Những bình luận, nhận định, phân tích, chỉ trích, tán dương... xuất
hiện quanh chuyến đi Việt Nam của thầy Nhất Hạnh là một phản ứng tất
yếu, một hình thái sinh hoạt tinh thần lành mạnh và cần thiết.
Lời khen chê xưa nay vốn là chuyện đời thường. Nhưng khi sự lộng ngôn và hý luận lại
khoác áo "trung ngôn và chính luận" lập đi lập lại một cách dai
nhách vì thiếu chất tươi của tri thức như bò sữa gặm cỏ cháy thì quả
là chuyện "lạ thường" trong một xã hội bình thường! Diễn đàn thông tin và nghị luận và quần
chúng đang bị coi thường quá đáng. Với
trình độ dân trí của người Việt Hải Ngoại sau mấy thập niên tiếp cận
với văn hóa Âu Mỹ, những khuynh hướng "ngu dân" coi thường quần
chúng tự nó đã chôn vùi vai trò và tác dụng của chính nó. Hẳn nhiên, quần chúng thầm lặng của thế
kỷ 21 đã quá đủ già dặn về cả hai mặt thông tin và tri thức để cười
rất "thiền" với những kẻ đáng thương như lời sư Khánh Hữu!
Trong một bối cảnh văn hóa lành mạnh, hiện tượng luận bàn về
thầy Nhất Hạnh đáng lẽ phải trổ hoa, đâm chồi nẩy lộc về nhiều mặt
như tôn giáo, triết học, giáo dục... thì thực tế lại đang phát triển
theo chiều ngược lại.
Sự "thoái trào" của ý thức và tâm thức đáng tiếc nầy xẩy
ra vì sự dung tục quá đáng, đôi khi đến chỗ cực đoan của phương pháp
luận bàn. Nói về tu mà dùng lời tục;
nói về thiền mà thiếu mất một phong thái và một ngữ cảnh về thiền;
nói về Phật giáo mà bám riết vào tinh thần chấp trước cực đoan phi Phật
giáo... là đem sự ồn ào vọng động để truy tìm cái chân tánh rỗng lặng
của nhà Phật. Phải chăng đây là sự nghịch lý mà một số người đang
vô tình hay cố ý theo đuổi?!
Như đã trình bày ở trên, tôi không phải là "fan", là đệ
tử của thầy Nhất Hạnh nên rất có thể sẽ không làm bằng lòng những
phía cực đoan. Do vậy, những dòng viết
về thầy Nhất Hạnh sau đây là những hiểu biết rất khiêm tốn và đồng
thời cũng chỉ là những cảm nghĩ riêng của cá nhân mình để mong chia sẻ
với những người Việt có tâm hồn, khối
người Việt tha hương tỉnh táo nhìn thế sự qua cái nhìn khách quan và thầm
lặng. * * *
Huế là một thành phố nhỏ nhắn miền Trung, một kinh đô cũ của
nước Việt
Mấy trăm cơ sở chùa chiền tu viện của Huế không mang dáng vẻ
phô trương mà ẩn mình trong mầu thiên nhiên của núi sông cây cỏ. Các tu
sĩ Phật giáo ở Huế cũng hòa vào đời sống đạm bạc của quần chúng
mà đặc biệt là quần chúng bình dân theo đạo Phật. Các tu sĩ nhỏ tuổi
thường được gọi một cách thân mật là "Chú". Các tu sĩ trẻ xưng là "Thầy" và
quý Thầy cao niên xưng là "Ôn" ( Ôn = Ôông, khác với ôn đới, ôn hoà). Những danh xưng
đầy vẻ "đạo cao" như Thiền
Sư, Sư Ông, Đại Đức, Thượng Tọa, Hòa Thượng... không hiện diện
trong tương quan sinh hoạt thực tế hàng ngày của đời sống Phật giáo Huế. Và những chức vụ "đức trọng"
như Thượng thủ, Pháp chủ, Tăng thống, Pháp sư, Tôn sư, Tổ sư... lại càng
xa lạ với tinh thần Phật giáo hơn. Một
nét khiêm cung và tình cảm điển hình trong văn hóa Phật giáo Huế là các
thiện nam, tín nữ thường chỉ biết đến các bậc tu hành đạo cao đức
trọng qua danh tiếng của ngôi chùa và tiếng "Ôn" rất điềm đạm
và từ ái như: Ôn Từ Đàm, Ôn Từ Hiếu, Ôn Linh Mụ, Ôn Tây Thiên, Ôn
Châu Lâm, Ôn Trà Am...
Thầy Thích Nhất Hạnh là một tu sĩ Phật giáo xuất thân từ Huế.
Với một bối cảnh tôn giáo như thế, trong bài viết nầy, người
viết xin được dùng danh xưng "Thầy" rất gần gũi thay vì phải
dùng những danh từ tôn xưng xa lạ với truyền thống Phật giáo, như đã
trình bày ở trên khi nói về thầy Thích Nhất Hạnh và quý tu sĩ Phật giáo
khác.
Thầy Thích Nhất Hạnh là một trong những tu sĩ Phật giáo Việt
Năm 1966, thầy Nhất Hạnh rời Việt
Năm 2004, thầy Nhất Hạnh về Việt
Bốn mươi năm: Một chặng đường lửa
dậy!
Kinh Pháp Hoa nói về lửa: "Ba cõi không an, chẳng khác nhà lửa". Lửa tham sân si; lửa nghi hoặc chấp trước;
lửa kiêu mạn; lửa ái dục... cứ ngấm ngầm ngày đêm thiêu đốt tâm thức
của chúng sanh.
Lửa tam muội, lửa ta bà, lửa từ bi, lửa hận thù, lửa vô minh, lửa
khai sáng và lửa duyên nghiệp... vẫn trùng trùng dấy lên trong từng nhấp
nháy của cuộc sống. Có những ngọn
lửa dập tắt được, những vẫn có những ngọn lửa vô hình không dập
tắt được. Người ta vẫn phải sống
với lửa hàng ngày. Con người tồn tại
vì con người biết sống với lửa. Không để bị lửa đốt cháy mà biến
lửa thành một hơi ấm, một phương tiện thiện xảo cho đời sống thể
chất lẫn tinh thần.
Hoa sen là một bìểu tượng của tinh thần Phật Giáo. Đó là ý niệm "gần bùn mà chẳng
hôi tanh mùi bùn". Đó là hình ảnh
bàn tay mở ra hứng lấy những khổ đau, hận thù, sinh diệt triền miên. Nếu
chỉ có mùa đông lạnh lẽo mà không có lửa hạ, sẽ không có hoa sen. Nếu
không có khổ đau của chúng sinh thì đức Phật và đạo Phật không có
lý do ra đời và tồn tại để giải bớt khổ đau. Vì thế, hình tượng hoa sen trong biển lửa
là hình ảnh dấn thân của người Phật tử giữa cuộc đời đầy tương
tranh và đau khổ. Biển lửa giữa hoa
sen là biểu tượng của sự trang bị tinh thần và trí tuệ Phật tánh, bồ
tát hạnh, sẵn sàng dấn thân vào đau khổ để diệt mầm đau khổ và tiếp
cận với tương tranh để hóa giải tương tranh.
Thầy Nhất Hạnh trở về Việt
Vào những năm đầu thập niên 1960, bên cạnh đời sống tu sĩ, thầy
Nhất Hạnh còn là một nhà văn, nhà thơ có khuynh hướng cải cách và gần
gũi với tuổi trẻ qua hình thức mang
triết lý tư tuởng Phật giáo và nếp sống thiền vị vào những tác phẩm
sáng tạo văn chương. Những tác phẩm văn học của thầy Nhất Hạnh như Tình Người (bút hiệu Tâm Quán), Nẽo Về của
Ý, Nói Với Tuổi Hai Mươi, Bông Hồng Cài Áo, Đạo Phật Hiện Đại Hóa...
đã gây một tiếng vang và có tác động tích cực vào đại chúng Việt
Nam trong nội bộ Phật giáo cũng như ngoài xã hội, đặc biệt là giới
trí thức và tuổi trẻ miền Nam đương thời.
Cuộc chiến tranh Việt
Sáng lập trường Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội năm 1965 là một
khuynh hướng dấn thân rất mới của tuổi trẻ theo kiểu Kiboutz của Do
Thái. Đó là trường huấn luyện
thanh niên thiện nguyện với chiều hướng phục vụ làng xã Việt Nam bằng
sức bật, kiến thức, tài năng và tấm lòng của tuổi trẻ, chung tay xây
dựng đất nước khi chiến tranh chấm dứt.
Bên cạnh đó là những tác phẩm văn chương mang tiếng nói tha thiết
kêu gọi hòa bình của thầy Nhất Hạnh, một cách vô hình chung, bị coi như
một sự cổ xúy và đồng lõa với phong trào phản chiến đang nổ ra trên
toàn thế giới và tại các thành thị miền
Tháng 5 năm 1966, thầy Nhất Hạnh
được đại học Cornell ở Mỹ mời diễn thuyết hòa bình. Với tuổi 39, đây là bước khởi đầu
cho những loạt diễn thuyết và gặp gỡ các nhân vật thời danh như Robert
McNamara, Eugene McCarthy, Martin Luther King và được hội kiến với đức Giáo
Hoàng Paul VI vào ngày 16 tháng 7 năm 1966. Vì
những cuộc vận động hoà bình nầy, Chính
phủ miền
Đối với chính quyền Việt
Nói lên điều nầy, chủ tâm người viết chỉ mong nói đến "thầy Nhất Hạnh như thầy Nhất Hạnh". Nghĩa là tránh quan điểm phong thánh hay
"tả quy" dễ dãi để tâng bốc quá đà hay miệt thị đầy định
kiến đối với một nhân vật nào đó xuất phát từ sự chủ quan đầy cảm
tính vì sự ngưỡng mộ hay tâm lý chống báng nặng cảm tính nhất thời.
Trong mắt nhìn của những người tìm hiểu khách quan, bản thân và sự
nghiệp của thầy Nhất Hạnh được ghi nhận như sau:
Đứng về mặt tôn giáo, thầy
Nhất Hạnh là một nhà tu; một nhà nghiên cứu Phật học có chiều sâu với
một phương pháp luận kết hợp hài hòa giữa tính lô-gích phương Tây và
tính trực cảm phương Đông.
Đứng về mặt văn học nghệ thuật, thầy Nhất Hạnh là một nhà văn,
một nhà thơ. Đặc biệt thầy Nhất Hạnh
là một tác giả Việt Nam đầu tiên ở nước ngoài đã viết cả trăm tác
phẩm văn chương và khảo luận về tôn giáo, xã hội, triết học bằng tiếng
Việt mà trong đó đã có đến vài chục tác phẩm viết trực tiếp hay
được dịch ra bằng tiếng Anh. Trong số sách bằng tiếng Anh về lĩnh vực
tôn giáo được xuất bản lưu hành khấp thế giới, có khoảng 10 cuốn
sách tiếng Anh của thầy Nhất Hạnh thuộc và hàng sách bán chạy (best
seller). Có những cuốn đã phát hành
khắp thế giới với hàng triệu ấn bản.
Để thẩm định giá trị hành động hay tác dụng ý thức của một
nhân vật, một con người thì điều cần yếu trước tiên phải có là sự
công bằng và cách nhìn tỉnh táo. Sự tâng bốc hay bài xích cá nhân mang
tính cực đoan, định kiến và bảo thủ sẽ trở thành mồi lửa rơm bùng
lên đốt cháy một cách nhanh nhất giá trị và sự đáng tin cậy của nhận
định chính nó. Trong chiều hướng đó,
thử theo dõi và ghi nhận những nét nổi bật trong chuyến đi về thăm Việt
Ngày 11 tháng 01 năm 2005, thầy Nhất Hạnh cùng với tăng thân Làng
Mai rời Pháp về Việt Nam trong một chuyến thăm viếng và truyền pháp kéo
dài 3 tháng (12-01-2005 đến 11-4-2005). Đây
không đơn giản là một cuộc hành hương hay một chuyến viếng thăm tập
thể tuỳ nghi hay tùy thích của cả hai phía Việt
Nội dung và tinh thần cơ bản của các buổi giảng pháp, các khóa tu
học của thầy Nhất Hạnh và tăng thân làng Mai trong suốt 3 tháng du hành
khắp cả ba miền Bắc Trung Nam không có gì khác lạ với tinh thần thiền
Làng Mai và sinh hoạt tu học do Thầy hướng dẫn tại Pháp và các nước
ngoài.
Đến đây, tưởng cũng nên dừng lại một chút để điểm qua khái
niệm Thiền học truyền thống Việt Nam và Thiền Làng Mai của thầy Nhất
Hạnh có gì khác biệt...
Thiền Việt
Vài
nét về Thiền Việt:
Thiền hay thiền na (Phạn ngữ: Dhyãna; Nhật ngữ: Zen; Anh ngữ:
Meditation) là một tên gọi tương đối gần gũi với đạo Phật để chỉ
một hình thức tu dưỡng tinh thần bằng nhiều phương pháp khác nhau, nhưng
hình thức phổ quát nhất vẫn là sự trở
về suy tư và soi rọi chính mình trong
tĩnh lặng.
Lịch
sử Thiền gắn liền với lịch sử tri thức của con người. Đây là một hình thức tĩnh tâm an dưỡng
được nhiều tôn giáo sử dụng để đạt trạng thái tỉnh giác nội tại. Nếu tôn giáo là câu trả lời tạm thời
cho những câu hỏi, những thắc mắc chưa có lời giải đáp dứt khoát của
con người thì Thiền chính là một phương tiện trực tiếp để con người
tự mình đi tìm một cách trả lời tương đối hợp với căn cơ của chính
mình. Bởi vậy, nếu có bao nhiêu lối
nhìn, lối suy tư về cuộc sống thì có bấy nhiêu khái niệm hay cách định
nghĩa "Thiền là gì?"
Qua nhiều
chặng đường hình thành và phát triển đời sống tâm linh của con người,
hình thức tĩnh tâm - Meditation - đến với các tôn giáo khác như đạo Chúa,
đạo Hồi, đạo Ấn, đạo Do Thái... như một thí nghiệm đến rồi đi,
không ở lâu. Riêng với đạo Phật thì
hình thức tĩnh tâm đó đã gắn liền và dung hợp với bản chất
"tâm không, tự độ" điển hình của đạo Phật. Do đó, thiền tu, thiền hành, thiền định...đã
biến thành một hình thức tu trì xương sống của Phật giáo.
Trong đạo Phật, người tập Thiền nhờ định tâm, định trí mà đạt
đến một trạng thái sâu lắng của tâm thức.
Tâm và thức của người hành thiền phải trải qua nhiều chặng,
trong đó lòng tham dục và các pháp bất thiện sẽ bị rủ bỏ dần dần
nhờ sự lắng đọng chuyên tâm suy tưởng của hành giả. Cuối cùng, người hành thiền sẽ đến
được trạng thái tỉnh giác và an lạc.
Thiền phương Đông hình thành và phát triển trong khoảng thế kỷ thứ
6, 7 khi Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ mang pháp Thiền của đạo Phật sang
Trung Hoa. Nhà Phật học danh tiếng người
Đức, H.W. Schumann đã nhận xét: "Thiền
tông có một người cha Ấn Độ nhưng đã chẳng trở nên trọn vẹn nếu
không có người mẹ Trung Quốc..."
Thiền Trung Hoa là một sự hoà quyện giữa Thiền tông và Lão giáo
nên từ Sơ Tổ Đạt Ma đến Lục tổ Huệ Năng (638-713), Thiền Trung Hoa phát
triển sâu rộng trong giới vua quan, quý tộc, học giả, trí thức mà ít
thâm nhập vào quần chúng bình dân.
Thiền Việt Nam rất khác với tinh thần Thiền học Trung Hoa và Nhật
Bản vì Phật giáo Việt Nam là một nền Phật giáo nhập thế, không tách
rời hẳn với khung cảnh chính trị, văn hoá và xã hội đồng thời. Tuy vẫn duy trì được phần tinh yếu của
nguyên lý "tùy duyên bất biến" trong đạo Phật, nhưng nhiều thiền
sư trong lịch sử như Khuông Việt, Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Tuệ Trung Thượng
Sĩ... vẫn góp phần xây dựng đất nước một cách tích cực trong vai trò
lãnh đạo tinh thần và tham vấn trong công cuộc trị nước an dân.
Trong bối cảnh truyền thừa của Phật giáo Á châu, chưa đất nước
nào mà khái niệm Phật giáo Tiểu thừa và Đại thừa lại có sự gắn kết
và hỗ tương hài hoà trong công cuộc hoằng pháp độ sanh trong suốt cả
chiều dài lịch sử như Phật giáo Việt Nam.
Đại thừa nhập thế, nhưng vẫn thường xuyên đi và về để tiếp
cận với dòng suối trong mát đầu nguồn của tinh thần Tiểu thừa, nguyên
thủy. Có thể nói bước tiến xã hội hóa và Việt
Đạo Phật truyền vào Việt
Vài
nét về Làng Mai và "Thiền Làng Mai"
Ngay khi có tin thầy Nhất Hạnh và phái đoàn tăng thân làng Mai về
thăm viếng và mở những buổi pháp thuyết và pháp đàm tu học tại Việt
Nam, giới Phật tử tại quê nhà cũng như khắp năm châu phản ứng lạc
quan cũng nhiều mà bi quan cũng lắm. Giới
lạc quan thì cho rằng, thầy Nhất Hạnh sẽ là một thiện duyên để góp
phần khơi dòng nguồn suối sức mạnh hóa giải vốn tiềm tàng từ bên trong nội bộ Phật giáo. Từ đó, Phật tử xuất gia cũng như tại
gia có thể tùy duyên phân thân hình thức nhưng tinh thần thì vẫn hòa hợp. Giới bi quan thì cho rằng, sự về thăm quê
hương của thầy Nhất Hạnh chỉ có lợi cho thế quyền chứ chẳng mang lại
lợi ích gì cho Phật giáo. Sự hoài
nghi không vọng động là một biểu hiện ý thức lành mạnh tạo sự quân
bình cho dòng tri thức của xã hội có điều kiện tiến hóa. Ngược lại, chỉ có sự cực đoan và cuồng
tín -- tiêu biểu là sự khen hoặc
chê quá đà và vội vã, thậm chí đôi khi thô thiển trong ngôn từ và thô
bạo trong luân điểm -- mới tàn phá
và chận đứng dòng tiến hóa cần thiết của tri thức mà thôi.
Trong khi sinh hoạt của thầy Nhất Hạnh bị "cấm vận" trong
nước từ trước 1975 thì thầy đã kiên trì tìm một hướng đi riêng từ
bên ngoài đất nước.
Một hướng đi mà nhân loại đang cần và trong hoàn cảnh nào cũng
được tôn vinh, đó là con đường của tình thương và tinh thần đấu
tranh cho lẽ phải để hóa giải hận thù bằng phương pháp không bạo động. Mahatman Gandhi, Martin Luther King, Đạt Lai Lạt
Ma, Desmond Tutu... là những nhà tranh đấu đòi tự do và quyền làm người
cho khối người bị áp bức bằng phương tiện bất bạo động mà nhân loại,
không phân biệt mầu da hay chủng tộc, hằng ngưỡng mộ. Thầy Nhất Hạnh đã theo con đường của
những nhà đấu tranh bất bạo động đi trước bằng môt tinh thần uyển
chuyển và sáng tạo rất Đông phương, đặt căn bản trên tinh thần cốt
tủy từ bi, trí tuệ của Phật giáo. Làng
Mai được thành lập trong tinh thần tu dưỡng và khai sáng đó.
Làng Mai là một trung tâm thiền tập tọa lạc tại miền Tây
Những năm đầu, nhiều cây hồng ăn trái (persimon) đã được trồng
lên cho nên trung tâm thiền tập này được gọi là Làng Hồng. Nhưng sau đó,
1250 cây mai thuộc loại pruniers d'Agen, rất ngọt và đậm đà, đã được
trồng bằng tiền túi của thiếu nhi gốc Việt Nam về tu học, cho nên
Làng Hồng đã đổi tên thành Làng Mai - tiếng Pháp là Village des pruniers ,
tiếng Anh là Plum Tree Village, gọi tắt là Plum Village. Tên chữ của Làng
là Đạo Tràng Mai Thôn.
Mấy năm đầu thì Làng Mai chỉ có hai xóm: Xóm Thượng và Xóm Hạ.
Nhưng vì nhu cầu càng ngày càng lớn của thiền sinh, làng Mai mở thêm các
xóm như: Xóm Thượng, Xóm Hạ, Xóm Trung, Xóm Đoài và Xóm Mới. Xóm Thượng
đã trở thành chùa Pháp Vân, tên chữ là Thệ Nhật Sơn Pháp Vân Tự .
Xóm Hạ đã trở thành chùa Cam Lộ, tên chữ là Mai Hoa Thôn Cam Lộ Tự .
Xóm Mới đã trở thành chùa Từ Nghiêm, tên chữ là Thiên Ý Thôn Từ
Nghiêm Tự . Xóm Mới có thêm Xóm Mới Đầu Thôn và Xóm Mới Lưng Đồi để
đủ cung ứng nơi cư trú cho thiền sinh tới thực tập càng lúc càng đông.
Ngoài ra, Xóm Mới cũng mới có thêm một ngọn đồi và một con suối gọi
là Đồi Dương Xuân và Suối Dương Xuân, một niềm vui lớn cho các vị thường
trú. Chùa Pháp Vân là thiền viện của các vị xuất gia nam, chùa Từ
Nghiêm là thiền viện của các vị xuất gia nữ.
Trong số các thầy và các sư cô, có nhiều vị gốc Anh, gốc Pháp, gốc
Hòa Lan, gốc Mỹ, gốc Ái Nhĩ Lan, Úc... Làng Mai cũng là trú sở của Viện
Cao Đẳng Phật Học, nơi đào tạo các vị giáo thọ xuất gia và tại gia. Tại đạo Tràng Mai Thôn, ngoài chúng xuất
gia, cũng có chúng tại gia thường trú, tu học rất tinh chuyên.
Mỗi năm Đạo Tràng Mai Thôn tổ chức những khóa tu mùa Hè, mùa Thu,
mùa Đông, v.v... Số thiền sinh về tham dự hàng năm có thể lên tới nhiều
ngàn người. Đa số là người ngoại quốc, tới từ khoảng ba mươi quốc
gia. Đạo Tràng Mai Thôn đã trở nên một thiền viện quốc tế. Tại Làng
Mai, thầy Nhất Hạnh đích thân giảng dạy và hướng dẫn các khóa tu học
cùng với sự phụ tá của gần hai chục vị giáo thọ thường trú, phần
lớn là giới xuất gia. (Theo Làng Mai
Website)
Với sự ra đời của làng Mai, thầy Nhất Hạnh đã tiếp nối phát
huy tinh thần đại chúng hóa của Phật giáo Việt Nam, đưa tinh hoa của Thiền tông và Tịnh độ
đến gần với mọi người không phân biệt chủng tộc hay hoàn cảnh xuất
thân.
Đối với xã hội Âu Mỹ, đời
sống đua chen vật chất và vòng quay quá nhanh của cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật đã làm cho tinh thần cũng như thể chất con người thường xuyên
lắc lư theo đà quán tính của cuộc sống hàng ngày. Sự ra đời của máy
vi tính, điện thọai cầm tay và phương tiện truyền thông tinh vi, nhanh như
ánh sáng khiến cho con người mất chỗ trú ẩn.
Con người bị đào bới tận gốc rễ từ trong nếp suy tư, giữa
ý thức và vô thức. Cả vũ trụ vật
lý nầy đều bị đào xới và ô nhiễm. Núi,
rừng, sông, biển... cùng lắm thì cũng chỉ là chỗ trú thân và trú chân
chứ không thể nào là chỗ an trú của tinh thần.
Thiền bỗng trở thành một giải pháp. Đa số, người Âu Mỹ ngồi Thiền không
phải để tìm sư giải thóat thành Phật mà để࠴hành Người, một con ngườn
an lạc, đỡ bị bức xúc hay căng thẳng. Thế thôi.
Bên cạnh Thiền Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Hoa, Tây Tạng, Đài Loan,
Đại Hàn... thì Thiền học Việt Nam theo mô thức Làng Mai (cũng gọi là
Thiền Làng Mai) cũng đước hàng ngàn, hàng vạn người Âu Mỹ quan tâm
tìm hiểu và theo học. Trong hiện trạng sinh hoạt văn hóa và tâm linh tại
các nước Âu Mỹ, phải khách quan để thấy rằng, thầy Nhất Hạnh là một
trong những hiện tượng hiếm hoi về sự thành công của một nhà sư Phật
giáo Việt Nam trong cộng đồng thế giới. Ttrong gần 40 năm qua, thầy Nhất
Hạnh đã liên tục mở những khóa tu học cho cả Việt
Đặc biệt tại Mỹ, những buổi nói chuyện về các đề tài Thiền
học và cách ứng xử với cuộc sống hàng ngày trước mắt bằng tinh thần
Thiền học do thầy Nhất Hạnh thuyết giảng và hướng dẫn tại nhiều
nơi trên đất Mỹ thường thu hút đông đảo người nghe. Những hội trường rộng mênh mông không
còn chỗ trống. Nét đặc trưng của các
khóa tu học hay thuyết giảng về Thiền của thầy Nhất Hạnh là tính chất
đơn giản và thực dụng, rất hợp với căn cơ của người Mỹ và người
Việt trong xã hội công nghiệp Âu Mỹ. Thính
chúng không cần phải có một căn bản giáo lý hay một quá trình tu học vẫn
theo dõi và hiểu được.
Từ một cơ sở lý thuyết cao siêu, trừu tượng và đặt trọng tâm
vào tự lực tự chứng của Thiền học, thầy Nhất Hạnh đã đưa ra những
phép tu, phương pháp thực hành và lề lối suy niệm rất đơn giản vào đại
chúng.
Sau đây thử ghi lại một trong năm bài tập thiền tập có hướng dẫn
rất dễ làm theo phương pháp của thầy Nhất Hạnh. Ai cũng có thể tập thử để thấy tính
chất thực tiễn của thiền. Bốn bài đầu có tác dụng nuôi dưỡng. Bài
thứ năm có tác dụng trị liệu, tất cả được trích trong sách Sen Búp Từng
Cánh Hé.
Bài tập thứ nhất: 1. Thở vào, tâm tĩnh lặng.
Thở ra, miệng mỉm cười. Tĩnh lặng. Mỉm
cười. 2. Thở vào, an trú trong hiện
tại. Thở ra, giây phút đẹp tuyệt vời.
Hiện tại. Tuyệt vời.
Nhiều người bắt đầu thực tập
thiền bằng bài tập này. Có nhiều người dù đã thực tập bài tập này
trong nhiều năm vẫn còn tiếp tục thực tập, bởi vì nó tiếp tục đem tới
nhiều lợi lạc cho hành giả.
Thở vào, ta chú tâm tới hơi thở: Hơi thở vào tới đâu ta cảm thấy
tĩnh lặng tới đó, giống như khi ta uống nước mát; nước đi tới đâu
thì ruột gan ta mát tới đó. Trong thiền tập, hễ tâm tĩnh lặng thì thân
cũng tĩnh lặng, bởi vì hơi thở có ý thức đem thân và tâm về một mối.
Khi thở ra ta mỉm cười, để thư giãn tất cả các bắp thịt trên mặt
(có khoảng 300 bắp thịt trên mặt ta). Thần kinh ta cũng được thư giãn
khi ta mỉm cười. Nụ cười vừa là kết quả của sự tĩnh lặng do hơi
thở vào đem lại, mà cũng vừa là nguyên nhân giúp ta trở nên thư thái
và cảm thấy sự an lạc phát hiện rõ ràng thêm. Hơi thở thứ hai đem ta
về giây phút hiện tại, cắt đứt mọi ràng buộc với quá khứ và mọi
lo lắng về tương lai, để ta có thể an trú trong giây phút hiện tại. Sự
sống chỉ mặt trong giây phút hiện tại, vì vậy ta phải trở về giây
phút ấy để tiếp xúc với sự sống. Hơi thở này giúp ta trở về sự sống
chân thật. Biết mình đang sống và biết mình có thể tiếp xúc với tất
cả mọi mầu nhiệm của sự sống trong ta và xung quanh ta, đó là một
phép lạ. Chỉ cần mở mắt hoặc lắng nghe là ta tiếp nhận được những
mầu nhiệm của sự sống. Vì vậy cho nên giây phút hiện tại có thể là
giây phút đẹp nhất và tuyệt vời nhất, nếu ta thực tập sống tỉnh thức
bằng hơi thở. Ta có thể thực tập hơi thở thứ nhất nhiều lần trước
khi đi sang hơi thở thứ hai. Bài này có thể thực tập bất cứ ở đâu:
trong thiền đường, trên xe lửa, trong nhà bếp, ngoài bờ sông, trong công
viên, trong các tư thế đi, đứng, nằm, ngồi và ngay cả lúc đang làm việc
(Theo Website Làng Mai)…
Phật giáo Việt
Lịch sử đạo Phật đã chứng minh rằng, pháp nạn do tác động của
hoàn cảnh và thế lực khách quan, cho dù bạo liệt đến đâu, cũng dễ tìm ra phương thức giải trừ. Nhưng pháp nạn do tác động nội tại
"sư tử trùng thực sư tử nhục" sẽ tạo nên một sự khủng hoảng
thật xót xa:
Môi hở thì lạnh tới răng.
Trùng trong sư tử tự ăn thịt mình.
Sự bất đồng nội bộ thường là nguyên nhân của sự phân hóa có
khi vô phương hóa giải nếu không có một nguồn suối sức mạnh dấy lên
và tỏa chiết từ bên trong.
Hiện trạng Phật giáo Việt
Phật giáo Việt
Về mặt cấu trúc, hệ thống thế quyền nhà nước Việt
Trên thực tế thì hầu hết quý
Tăng Ni và Phật Tử chọn một thái độ tu hành thầm lặng. Một sự thầm lặng tích cực trong tinh thần
"tùy duyên bất biến" của Phật giáo, xả bỏ những hệ lụy
nhân sinh và chính trị để an tịnh tiến bước trên đường Đạo. Như trong thư của thầy Thích Viên Định
(GHPGVNTN) gửi thầy Thích Nhất Hạnh đề ngày 19-01-05 cũng đã xác định
khuynh hướng nầy: " Như chư tăng ở Già
Lam - Gò Vấp, hơn 70, 80 vị, cùng ở chung, cùng ăn chung, cùng tụng kinh, bố-tát
chung, cùng hoà hợp, nhưng trong đó có vị theo Giáo hội Phật giáo Việt
Nam Thống nhất, có vị theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam của Mặt-trận,
có sao đâu. Chùa Giác Hoa ở Bình Thạnh cũng vậy, trên 40 tăng chúng cùng
tu học, có vị này vị khác chứ có theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống
nhất hết đâu, nhưng vẫn hoà hợp bố tát, có chia rẽ gì đâu." Trong lĩnh
vực tôn giáo và tâm linh, sự phân hóa không đồng nghĩa với vết cắt hình
tướng vật lý. Khi một vết cắt đã có, nếu nó không hiện diện bên
ngoài thì nó sẽ lắng vào bề sâu. Người
theo đạo Phật nói chung, sau những biến cố của đất nước và đạo pháp,
nhất là trong thời buổi mà các phương tiện truyền thống đại chúng
quá nhanh chóng và tinh xảo nầy, không ai còn dễ dãi "giao khoán"
đức tin Tam Bảo của mình vào tay bất cứ một thế lực nào. Ngoại trừ những nhóm mưu cầu đặc quyền
đặc lợi (interest groups) từ tôn giáo, Phật Tử Việt
Phật tử trong nước cũng như ngoài nước đã trực hay gián tiếp biểu
tỏ 3 thái độ: (1) Theo Giáo Hội Phật
Giáo Thống Nhất, (2) theo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam , hoặc (3) bên nào
cũng theo hay không theo bên nào cả mà tự lập nhóm chyên tu hay cá nhân tu
hành độc lập tại gia.. Nếu
không có một người dân nào muốn làm dân một non sông hận thù và chia cắt
thì cũng chẳng có một người Phật tử nào lại muốn quý Tăng Ni trong hàng
giáo phẩm quay lưng lại với nhau.
Cư sĩ Nguyên Trung trong bài viết: "Tâm
Lý Tiểu Xảo và Tinh Thần Hóa Giải của Phật Giáo Việt
"Trong suốt 20 năm qua, Phật giáo
Việt
Câu hỏi tự nó không đợi một câu trả lời mà cần một sự trầm
tư suy nghĩ...
MỘT
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỢP NHẤT vẫn là khát vọng chính đáng của
tất cả hàng Phật tử xuất gia cũng như tại gia.
Thầy Nhất Hạnh và chuyến viếng thăm
Việt
Giữa dòng suy tư và trong một hòan cảnh phân hóa vừa trình bày ở
trên, thầy Nhất Hạnh đã hướng dẫn 190 Tăng thân Làng Mai (quy tụ từ
30 quốc gia khác nhau) từ Pháp về Việt Nam trong một chuyến viếng thăm 3
tháng vừa mang tính chất hành hương, vừa mang tính chất thuyết giảng và
tu học, vừa mang tính chất thăm viếng.
Người ta sẽ rất ngạc nhiên nếu
không có phản ứng nào từ phía quần
chúng trong cũng như ngoài nước về chuyến viếng thăm nầy. Và, người ta
sẽ ngạc nhiên nhiều hơn nếu chỉ có một phản ứng xuôi chiều, nghĩa là
chỉ có ủng hộ hay chống đối. Người
ở trong cũng như người ở ngoài đạo Phật hằng quan tâm đến sinh họat
văn hóa và xã hội đều muốn biết và muốn nghe diễn tiến và tác dụng
của chuyến đi nầy một cách khách quan và trung thực. Tôn giáo, tự bản
chất, là một hiện thể ra đời để làm giảm bớt sự thống khổ về
tinh thần của nhân loại. Thế giới nầy lại là một hợp thể từ đơn
giản đến phức tạp; từ thấp đến cao. Vì
vậy, con đường của tôn giáo là con đường trung đạo. Sự cực đoan trong tôn giáo sẽ đi ngược
lại tinh thần tôn giáo. Thay vì tôn
giáo ra đời để hóa giải những tranh chấp, hận thù và đau khổ, thì
chính sự cực đoan sẽ làm cho tôn giáo vong thân, cùng gieo rắc hận thù
và đau khổ.
Sự cực đoan trong môi trường truyền thông qua hình thức ca tụng
quá đà hay lời lẽ đả kích thô bạo trong thông tin và bình luận về
tôn giáo chẳng những không mang lại một ý nghĩa lợi ích nào cho ai mà chỉ
tự trở thành chướng ngại đối với đa số quần chúng thầm lặng theo
dõi. Điều nầy cũng đây đó xẩy ra
một cách đáng tiếc trong chuyến về thăm Việt
Mỗi cá nhân hay nhóm phái đều có một góc nhìn riêng. Nói như thiền
sư Viên Minh: "Cũng chỉ là một dòng nước
mà con cá thì thấy đó là lẽ sống, ngạ quỷ thấy đó là máu mủ tanh
hôi, người thấy đó là dòng nước mát, bậc thiên nhân thấy đó là huyết
mạch của đất trời... và đến cái nhìn tánh không của Phật giáo thì
thấy đó chỉ là Không!" Trước một đối tượng, mỗi phía nhìn
một cách không những hoàn toàn khác nhau mà có khi còn đối chọi lẫn
nhau từ hiện tượng đến bản chất.
Cũng chỉ là vấn đề thầy Nhất Hạnh và tăng thân làng Mai về Việt
- Người quan tâm đến lễ nghi, quan cách
thì nhắc đến hình ảnh Phật tử cờ quạt đưa đón sắp hàng dài cả
cây số và đợi chờ từ khi trời chưa sáng để đón thầy Nhất Hạnh.
- Người thích chuyện Võ hiệp kiểu Quần Hùng Thiếu Lâm Tự thì
chú tâm đến chuyện thầy Nhất Hạnh gõ cửa đứng chờ mà các thầy Tuệ
Sỹ, Huyền Quang, Quảng Độ không mở.
- Người ưa chuyện "Đồ tể quăng dao thành Phật" thì kể
chuyện những đại lễ quy y tập thể của Phật tử thuộc nhiều thành phần
xã hội với thầy Nhất Hạnh.
- Người chuộng việc tham thiền thì nhắc nhở thiền làng Mai
:"Thở vào tâm rỗng lặng, thở ra miệng mĩm cười..." trong các
khoá tu học của thầy Nhất Hạnh.
- Người mến đạo Phật thì cho thầy Nhất Hạnh đã làm được việc
lớn là hòa hợp được hai khối tu sĩ thuộc
cả hai giáo hội Phật giáo Thống Nhất và Việt Nam ở càc chùa Từ Đàm,
Từ Hiếu, Linh Mụ, Linh Quang... vốn dĩ đã không hoà hợp suốt 20 năm nay,
lần đầu cùng ngồi lại bố tát (sinh hoạt tu học thường kỳ của giới
tu sĩ) với nhau và ra thông cáo chung sẽ hòa hợp bố tát lâu dài.
- Người đeo nặng căn cơ dục tính thì cứ đem thầy Nhất Hạnh với
sư cô Chân không làm đối tượng vu vạ, gán ghép theo tầm nhìn và cảm
quan phù hợp với nhãn quan tính dục riêng mình.
- Người có khuynh hướng chính trị cực hữu thì suy đoán rằng, thầy
Nhất Hạnh về nước là theo khuynh hướng thân cộng, làm lợi cho phía
nhà cầm quyền Việt nam.
- Và người thích đội nón quai... da, quyết đoán giản đơn thì đồng
hóa luôn thầy Nhất Hạnh là cộng sản cho nó... khớp với lập trường
quan điểm đã dấy lên và xẹp xuống từ 1963!
Đối
với khối người thầm lặng, tỉnh táo theo dõi tình hình, người ta không
ngạc nhiên về sự khen chê, đả kích nhưng lại ngạc nhiên và thất vọng
về sự đơn giản đến độ nghèo nàn, thấp kém của chiến thuật và nội
dung đả kích. Khai thác dữ kiện làm căn bản cho sự chống báng một nhà sư với tầm vóc như
thầy Nhất Hạnh mà người ta chỉ có thể đưa ra những "chứng lý"
ở trình độ ngồi lê đôi mách, thiên hạ đồn rằng trong các con hẽm Việt
Thất Vọng và Hy Vọng
Sau ba
tháng thăm viếng, lắng nghe, thuyết giảng không ngừng nghỉ... phái đoàn
thầy Nhất Hạnh và tăng thân làng Mai đã đưa ra một thông điệp nhất
quán và xác tín, rằng là: Chỉ có Tấm
Lòng, Tình Thương và Trí Tuệ mới đủ sức hóa giải những hiểu lầm,
nghi kỵ, phân hóa, đổ vỡ... do con người gây ra và con người hứng chịu. Cuối chuyến đi, thầy Nhất Hạnh đã
đưa ra những đề nghị: Sáu Điểm về
sự cởi mở của Đảng Cộng Sản Việt
Trước khi về Việt Nam, từ năm 1998, thầy Nhất Hạnh và đạo tràng
Mai Thôn chính thức được mời thuyết giảng tại Trung Quốc. Năm 2000, Trung Quốc Phật Giáo Hiệp Hội
đã gửi một phái đoàn đại diện tất cả 48 tỉnh hội Phật giáo Trung
Hoa lục địa do ông Dương Đồng Tường , thứ trưởng và vụ trưởng Quốc
Gia Tôn Giáo Vụ, hướng dẫn qua thăm Đạo Tràng Làng Mai. Sau đó là những cuộc thăm viếng và thuyết
giảng chình thức của phái đoàn thầy Nhất Hạnh tại Đại Hàn. Mãi đến năm 2004, sau gần một năm
thương thuyết gay go giữa chính quyền Việt
Nêu lên những dữ kiện kiểm chứng được trên đây, tôi không nhắm
mục đích phê phán hay biện minh cho ai cả. Đây
không phải là hành trạng mang tính "thâm cung bí sử" của một
nhà tu thường thấy trong các tuồng tích.
Đây là một thực tế rõ ràng mà mọi người đều có thể nhìn thấy,
theo dõi và kiểm chứng được, nếu cần. Chuyến
đi về nước của thầy Nhất Hạnh là cả một câu chuyện dài với nhiều
tình tiết. Có nhiều tình tiết là câu hỏi mà phải cần thời gian mới
thấy được đáp án. Những đáp
án trong đạo Phật vượt ra ngoài tầm nhìn hạn hẹp của các khẩu hiệu
chính trị nhất thời và sự suy diễn tùy tiện một chiều.
Sau 30 năm cuôc chiến Mỹ/Việt chấm dứt, hơn một nửa tổng dân số
84 triệu người Việt Nam trong và ngoài nước ra đời từ sau năm 1975. Thế
hệ tiền chiến Mỹ/Việt chỉ còn là vang bóng.
Thế hệ chiến tranh Mỹ/Việt đang lụi tàn dần theo ngày tháng và
thế hệ trẻ, thế hệ đàn em, thế hệ hậu chiến Mỹ/Việt đang từng
bước thay cho thế hệ đàn anh lên cầm vận mệnh của đất nước. "Tre tàn măng mọc" là quy luật nhân sinh tất yếu và khách quan. Thế giới
đang bước vào thế kỷ 21 với tốc độ siêu đẳng để đưa quần thể
loài người gần lại với nhau như một "làng địa cầu" mà có thể
xóm Đông là Việt Nam và xóm Tây là Mỹ quốc.
Cùng với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật nói chung, trong lĩnh vực
truyền thông, tin học, tốc độ nháy mắt và khối lượng khổng lồ của
mạng lưới thông tin liên lạc đã tác động tận gốc rễ của đời sống
tri thức. Những huyền thoại một thời
đang nhường bước cho hiện thực và dữ kiện.
Tri thức con người không còn dễ bị thuyết phục bằng niềm tin thuần
túy không cần kiểm chứng như thời quá khứ. Trong lĩnh vực tôn giáo và
thần học, nhân loại đang bước qua bóng tối của sự khải huyền
(mythologization) để bước vào ngưỡng cửa "giải huyền"
(demythologization) của thế kỷ 21 nhằm đánh tan những huyền thoại, phá bỏ
bức màn u tối của tình trạng vô minh để khai sáng. Người Việt
Theo thống kê mới nhất của cơ quan Truyền Thông Phật Giáo Á Châu
(Asian Buddhist Information. December, 2004. Volume VI- 2A) thì 95 phần trăm tuổi trẻ
thế hệ từ 15 đến 30 tuổi tại Trung Hoa, Việt Nam, Đại Hàn hoàn toàn
không quan tâm hay thiếu sự hiểu biết căn bản về Phật giáo. Thống kê này còn cho biết là tỷ số giới
trẻ "mù tịt tôn giáo" thấp hơn đối với các hệ thống tôn
giáo có tổ chức sinh hoạt chặt chẽ như Thiên Chúa giáo, Tin Lành... Trước
một thực trạng như thế, sự hiện diện của thầy Nhất Hạnh và Tăng
Thân Làng Mai là một sự dấn thân tiếp cận tích cực để góp phần tạo
điều kiện và phương tiện thuận lợi cho sự giới thiệu một hình thái
sinh hoạt Phật giáo đặc biệt của Đạo Tràng Làng Mai.
Nếu có chăng sự hoài nghi và thất vọng khởi lên từ phía nầy hay
phía khác thì đấy cũng là những phản ứng tâm lý thông thường và dễ
hiểu trong một hoàn cảnh tế nhị như hiện nay.
Thế nhưng niềm hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn cho Phật
giáo tại quê nhà cũng đồng thời dâng cao sau chuyến viếng thăm của thầy
Nhất Hạnh
Cầu nguyện cho Dân Tộc và Đạo Pháp có đủ thiện duyên để hóa
giải những xung đột và phi lý đang trùng trùng biến hiện trong biển lửa
giữa hoa sen. |