
posted: 08.7.2005
TỪ
" CỔNG TỈNH" ĐẾN CỔNG THƠ
Trần
Mạnh Hảo Tập
trường ca "Cổng tỉnh" của Trần Dần do nhà xuất bản Hội nhà
văn ấn hành 1994 đã được tặng
thưởng của Hội đồng thơ Hội nhà văn Việt Nam 1995. Ngày phát giải thưởng,
mặc dù Trần Dần đang ốm nặng, phải nằm liệt giường, nửa mê nửa tỉnh,
thậm chí không còn khả năng nói, vẫn nhờ người
cõng
đến trụ sở Hội nhà văn để lĩnh thưởng. Xem ra, cách lĩnh giải của
Trần Dần qủa là hi hữu, cảm
động và bi tráng. Qua đó, đủ biết "Cổng tỉnh" qủa tâm huyết
với tác giả và đã mang lại hạnh phúc cho ông biết là chừng nào. Một
số người cho rằng "Cổng tỉnh" rất khó đọc nếu không muốn
nói là không đọc được. Ngược lại, một vài bạn làm thơ cách tân chủ
nghĩa khen tác phẩm này hết lời. Đối với một sáng tác phẩm, việc
khen chê hai chiều ngược nhau là điều bình thường,
thậm chí còn là một tín hiệu đáng mừng nữa. Trần
Dần viết xong "Cổng tỉnh"năm 1959, năm thử thách cam go nhất đời
ông. Năm đó, nói theo kiểu Phùng Quán, nếu không vịn câu thơ
mà đứng lên, có lẽ Trần Dần
sẽ
không thể nào gượng dậy được nữa. Trước
khi nhờ người cõng
đi lĩnh giải, gần bốn mươi năm về trước, qủa là Trần Dần đã nhờ vả
những
trang bản thảo "Cổng tỉnh" cõng tâm hồn
ông vượt qua phong ba bão táp của
cuộc đời. Ai ngờ, thi ca tưởng có lúc gieo tai bay vạ gió cho ông, lại
hóa thành cái phao cứu nạn. Chừng như Trần Dần đã viết
"Cổng tỉnh" trong cơn mê sảng của nỗi cô
đơn, của niềm khắc khoải đau đời. Có điều, cơn mê sảng của tác giả
có thức tỉnh được niềm say mê của người đọc hay không thì còn là
chuyện khác. Trong mục thể loại của "Cổng tỉnh", tác giả đề
danh xưng có một không hai: "thơ-tiểu thuyết (Dạ khúc trường thiên)"
! Thực ra, tác phẩm này không có nhân vật và một cốt truyện xuyên suốt
từ đầu đến cuối, nên không thể gọi nó là "thơ-tiểu thuyết"được.
Chúng tôi đành tạm xếp nó vào thể loại trường ca."Cổng tỉnh"
là tập hợp những
đoản thi như những
ghi chép, những
phác thảo tâm trạng tác giả trước cuộc sống rêu mốc, mòn mỏi, ngột
ngạt, tàn bạo, lưu manh, tù đầy và khát vọng đòi giải phóng của một
tỉnh lẻ là thành phố Nam Định - quê hương
tác giả trước 1945. Tác phẩm nhiều nghìn câu thơ,
dày 176 trang gồm nhiều mảng tâm trạng đứt nối ghép vào nhau với thể
thơ không vần này qủa là rất khó đọc. Nhìn chung, phương
pháp sáng tác của tác giả vẫn là chủ
nghĩa hiện thực, tuy có sử dụng một ít bút pháp tượng trưng gây ấn tượng,
hoàn toàn không có dính dáng gì với chủ
nghĩa siêu thực và chủ nghĩa cấu trúc cả. Trong lịch sử văn
học nước ta, "Cổng tỉnh" qủa là một trường ca không vần dày
cỡ
kỷ lục. Thực ra, thơ không vần không phải là cái gì qúa mới
mẻ. Nó đã
xuất hiện từ thượng cổ, trước khi ra đời thơ có vần như trong kinh Vệ
Đà AᮠĐộ giáo và
kinh Thánh của Do Thái Giáo cũng như kinh Coran của Hồi Giáo vậy. Trong văn
học viết của Việt Nam, thơ không vần xuất hiện khí muộn, chỉ sau cuộc
Cách mạng tháng tám 1945. Hai người làm thơ không vần đầu tiên là Trần
Mai Ninh và Nguyễn
Đình
Thi; Tiếp đến Văn Cao, Hữu Loan, Trần
Dần...Đầu những
năm sáu mươi, ở miền Nam Thanh Tâm Tuyền rồi đến những Trần Vàng
Sao, Lê Văn Ngăn, Ngô Kha...là những tác giả
thường làm thơ không vần. Ở miền Bắc, phần nào thơ của Thanh Tùng,
Trúc Thông... cuối những năm sáu
mươi là thơ không vần. Làn sóng thứ tư của thơ không vần xuất hiện
những
năm tám mươi của thế kỷ này là Thanh Thảo, Ý Nhi... Làn sóng thứ năm của
loại thơ này gần đây gồm nhiều nhà thơ trẻ: Nguyễn Quang Thiều
và Giáng Vân, Dương Kiều Minh và Nguyễn Lương
Ngọc...Thực ra, thơ không vần là loại thơ rất khó làm hay và cũng rất dễ lẫn vào thơ
dịch.
Với Trần Dần,
ý thức cách tân thơ đã xuất hiện
từ khi ông còn
trẻ,
lúc tham gia nhóm Dạ Đài. Sau khi theo kháng chiến chống Pháp, Trần Dần
và nhóm bạn bè ông bị cái thang
thơ của Maiacốpxki ám. Đến nỗi, các
ông thi nhau leo thang trong thơ, thậm chí một chữ cũnng leo,
hai chữ
cũng
leo. Đến "Cổng tỉnh", về hình thức, Trần Dần đã thoát được
cái thang thơ kia. Nhưng về tinh thần quyết liệt đến rớm máu, ý thức
nhập cuộc, ý thức cách mạng đến cuồng nhiệt, đến quằn quại thì ông vẫn còn ch?u
ảnh hưởng bởi Maiacốpxki. Có thể nói, rất khó tìm thấy một
tập trường ca nào của thế hệ các nhà thơ chống Pháp lại tâm huyết,
lại hết lòng với Cách Mạng, với Đảng cộng sản như "Cổng tỉnh"
của Trần Dần như các câu:"Hỡi thế giới
tàn bạo / Đảng cử tôi về vật chết mày đây" (143), hoặc " Đồng
chí Nguyễn
Ái Quốc đã
về / Ta sắp có quê hương"(144)...v...v... Trần Dần trong cảm giác tối
tăm cùng cực của cái tỉnh lỵ vừa Tây vừa Nhật đàn áp khủng bố ấy,
đã
rất hân hoan hô các khẩu hiệu cách mạng với các tên tuổi lãnh tụ như Lênin, Đimitrốp, Tenlơman, Mao Trạch Đông,
Nguyễn
Ái Quốc như ở các trang 70, 98, 100. Nhiều khi, ý thức cách mạng cuồng
nhiệt của tác giả chưa theo kịp ý thức
nghệ thuật, khiến tác phẩm còn khá nhiều câu đại ngôn, lên gân thô
tháp như :"Nhằm họng súng xốc đến / Tôi sẽ chém chết
mày trên tội ác mày gây / Đưa tôi sấm búa, đưa tôi sét liềm"
(147). Ông lên án chế độ Tây Nhật phát xít với lòng căm hận gớm ghê:"Người
ta giết gái trai từng phố một / Giết cả phố chạ người / Lại giết
phố Bà Đanh"(18). Ở trang 12, tác giả gọi lá cờ tam tài một thời từng
đại diện cho tự do, bác ái và bình đẳng là " cờ tam thể" như
ngọn cờ của loài mèo vậy. Bởi vì :” Tôi biết
ra nước đã
mất rồi"(17) Cảm
giác vong thân, vong bản, vong quốc của kiếp nô lệ mất nước là nỗi
đau buồn, niềm cay đắng khôn nguôi của " Cổng tỉnh". Trong nỗi cô
đơn, tủi hờn cùng cực khi chưa t´m ra chân lý cách mạng, Trần Dần đã viết
được khá nhiều câu thơ hay. Đôi mắt nhà thơ chợt như mang hình chiếc
lá bàng cháy đỏ, như thể cái hồn của thiên nhiên cũng đang chạy
đèn cù với nỗi
đứt ruột của gió bấc mà quanh quẩn mãi với kiếp
người:"Gió đánh hàng bàng lá chết chạy vòng quanh"(12). " Lá
bàng rơi như những
miếng tiết đỏ / Một con mắt bông băng rách kẽ nhìn trời"(19).
Tôi ngờ rằng cái lá bàng trong thơ Trần Dần chừng như vẫn chưa tìm được
nơi rụng xuống. Bởi nó vẫn chạy
vòng quanh ấn tượng và nỗi lòng người
đọc. Thơ hay, trước hết cốt ở cái lòng thành thật. Nhưng chỉ có tấm
lòng thôi chưa đủ, mà còn cần phải có tài năng, có cái nhìn và cách
diễn
tả độc đáo, hàm súc, dư ba. Hãy xem cách phát hiện ra mùa thu của Trần
Dần rất ấn tượng, rất dữ dội và
độc đáo, hệt như một phác thảo của Monet :"Tôi đã nghe vạc
thét đầu trời run rẩy sang thu"(169).Cái cảm giác đau đớn và bi
tráng của tiếng vạc, như tiếng xé mảnh lụa trời đến thét lên cho hồn
mùa thu run rẩy chớm hé, tôi ngờ rằng là một khám phá mới của Trần Dần.
Mùa thu dịu
dàng lại được sinh ra từ tiếng thét báo hiệu của con vạc, cũng là tiếng
thét báo hiệu một mùa thu mới, mùa thu cách mạng. Nhà thơ như con vạc đón
thu về và tiễn thu đi bằng
một tù và gió, cũng là chiếc
tù và của trời đất vậy:"Gió thổi tù và ruột phố tàn
thu"(134). Chừng như Trần Dần là tình nhân của gió. Cũng như hai
nhạc sỹ
Đặng Thế Phong và Văn Cao - những người
đồng hương với ông trong các ca khúc tiền chiến, hơn một lần Trần Dần
đã
nghe gió khóc:"Gió thổi hu hu quảng trường nheo nhóc lá / Để quanh quất
ngõ
ốm nằm rên / Bên vô tự ngõ
già"(45). Thật khó ai viết được những câu thơ
hay hơn thế về nỗi buồn
đau của quê hương chúng ta trong xã hội nô
lệ trước 1945 như Trần Dần đã viết.
Trong xã
hội mất nước, hồn người cơ hồ cuong bị cái mênh
mông, cái hư vô ép như ép dầu, ép mỡ, khiến
đoàn tàu lửa như đi vào nơi hành quyết:"Một giờ từ xa tiếng thét
đoàn tàu / Thét như bị mênh
mông chọc tiết"(103). Trần Dần còn có một số câu thơ khá hay viết
về thân phận mồ côi của tuổi trẻ trong xã hội cũ không có
lối thoát:"Tôi càng lớn tôi càng sài đẹn / Đầu ô càng tía ánh đèn
khuya / Tôi càng đứng bơ vơ đầu Cổng tỉnh / Tôi lang thang trong các tối
xô bồ / Lồng lộn dưới vòm sao nhớn nhác"(101). Những câu thơ
bầm dập và gây gổ một cách cảm động ấy như còn lồng lộn mãi trong
lòng người đọc nỗi chật chội
và ngột ngạt của kiếp người. Nhà thơ đã học
được phép biến mình thành
cái chòi đêm uất hận, lầm lỳ một dáng quảng trường Maiacốpxki, một
tượng đài của nắm đấm:"Tôi
đứng lầm lầm như một cái chòi đêm"(6). Đến bông hoa súng của
ông cũng
phải ch?u đựng tưởng qúa sức mình, mín môi như thể sắp bật máu:"Hoa
súng ngậm làn môi tím rịm"(14).
Viết về sự đớn đau của con người, Trần Dần đã có một
giọng thơ dữ
dội, gân guốc, hùng vĩ đến kinh dị mà vẫn hay, vẫn lạ vì đầy xúc
cảm:"Thì
hãy lấy
mùi soa đêm chùi đôi mắt khổ / Hơn là mỏi răng nhai ràu rạu vỉa
hè"(6). Dường như những vỉa
thơ của ông đang được ngòi bút máy xúc nhai ràu rạu trên trang giấy, hơn
là những
vỉa hè thuở ấy? Không, Trần Dần tuồng như viết bằng nắm đấm, bằng
hành động húc đầu vào chân tường thời đại hung dữ kia hơn
là viết bằng ngòi bút. Nếu cô đơn là khí trời thì dường
như nhà thơ đã
đông đặc được nó lại thành hình khối:"Hãy chỉ cho
tôi chỗ nào
/ Tôi đổ bớt được tôi đi"(103). Viết về nỗi cô đơn
của mình với những ám ảnh
triết học, đồng vọng sự phân thân đến quằn quại, câu thơ như đã dồn người
đọc vào góc tối nhất của thân phận mình để lột
xác, để tìm cách hóa thân. Trần Dần
phần nào đã
thành công trong những
ám tượng siêu hình. Vâng, nhà thơ đã tìm được
nơi để "Tôi đổ bớt được tôi đi" là chính trang giấy ẩn chứa
những
câu thơ tài hoa lấp lánh ấy. Bằng cảm xúc và thẩm mỹ của nghệ
thuật, của cái đẹp hằng sống, chúng ta đã"đổ
bớt" được mình cho kẻ khác và ngược lại. Tôi yêu những câu thơ
gân lại như sành như sứ nhưng vẫn tươi
non lồng lộng lúa đòng này của Trần Dần :" Tôi đứa trẻ không
nhà buồm
gió cuộn tôi đi / Tôi đi giữa trời
sao nghìn
dặm bạc"(22). Dường như tâm hồn chúng ta chợt hóa thành câu thơ của
Trần Dần để mãi mãi là
"đứa trẻ không nhà" đang bị cuốn
theo chiều gió " buồm "
lang bạt? Ngoài
những
câu thơ hay vừa trích, chúng tôi thấy Trần Dần có khá nhiều dụng công
trong nghệ thuật dùng chữ, dùng hình ảnh mới
lạ theo cách rất riêng của ông. Ví dụ:"Sao nhu nhú mọc"(16).
"Ồi ồi gió thổi"(21). "Ngụm đèn xanh"(30). "Sông
khuya tì tũm vỡ"(8).
"Oa oa mây hở một đàn cò"(15)...Nếu sự cách tân chữ nghĩa của
ông cứ như vậy thì qủa là
rất thú vị.
Nhưng khi nó đi qúa đà, sẽ gây cho
người đọc cảm giác khó chịu. "Cổng
tỉnh" có khá nhiều câu thơ lập dị đến kỳ
cục. Ví dụ :"Tôi cắn chết nhiều ngày mưa"(6). "Ai mửa sao
đêm đầy các ngõ"(12).
"Phố thắt cổ có ngọn đèn hoang / Phố hoang có ngọn đèn thắt cổ"(18).
"Bê một mâm đầm non đi đàm phán"(88). " Các ngươi phải luôn
tay thọc tiết các kinh thành"(96). " Một sư đoàn nhe răng cắn một
viện bảo tàng"(135)...Có khi, tác giả ngỡ mình cách
tân, nhưng kỳ thực là những chữ sáo,
câu sáo. Ví dụ:"Khung cửa nhớ thương"(5). "Tim so mọc hững hờ"(6).
"Xách va li tim đi"(7). "Làm đôi lứa cho tim"(17)."Vũ trụ dâng
sao"(66). "Chùi tim mỏn đá"(74)."Lá đỏ con tim .../ Đêm
lách chách thềm tim"(134). "Búp tim non"(135). "Tôi tháo qủa
tim học trò.../ Rèn cho tôi qủa tim yêu"(142)...Thực ra, thơ chính là những câu
nói có vần điệu, có hình ảnh, hình tượng,
giàu cảm xúc. Nhưng nếu chỉ là những câu nói
suông như lời nói hàng ngày thì còn gì là thơ
nữa.
Rất tiếc, những
câu thơ hay của "Cổng tỉnh" còn qúa ít so với những câu
nói trần trụi, nói chay, nói lấy được, bất chất những thuộc
tính của thi ca là cảm xúc phải thông qua hình ảnh. Do
vậy, một số ít câu thơ hay bị chìm nghỉm
trong biển cả của những câu
nói tầm thường. Người đọc đi tìm thơ có
cảm giác như đang ngụp lặn mò ngọc trai giữa bể,
thành ra ngại đọc. Không vì sở nguyện
cách tân, muốn đưa thơ tiếp cận với mọi chiều kích xù xì thậm
chí nhớp nháp của đời sống mà loại bỏ những thuộc
tính muôn đời của thơ được. Chẳng hạn khi Trần Dần viết ở trang 48
một câu hệt lời nói tục tằn ngoài đời, không thể gọi là thơ:"Bóp
vú con gái bà Lý ở dưới bếp". Chúng tôi xin đưa ra một số ví dụ
về những
câu nói phi thơ trong hàng nghìn câu như
vậy trong "Cổng tỉnh":"Đám đông cũng từ từ
giải tán"(13). "Trước rạp bán đấu giá vải bạt tăng lều"(20)
. "Một thằng con Tây đá túi bụi bà lão ăn mày"(26).
"Hai chú toóng xanh / Ta phụ trách cả hai ông mãnh ấy"(70).
"Bỗng
nghe kìm
nhai ràu rạu thịt
đùi /
Đau lắm phải không đùi?"(160)...v...v...Căn bệnh nói suông, nói tràn
lan này qủa tình
đang là dịch
hạch giết chết thơ của hàng loạt những nhà thơ
bất tài thường lòe đời bằng thơ không vần, thơ vô nghĩa rồi dán ẩu
nhãn
siêu thực vào, đã góp phần
không nhỏ xua đuổi người đọc ra khỏi ngôi đền thiêng thi ca. Chẳng lẽ, đặc
trưng cuối cùng của thơ ca chỉ còn ở chỗ xuống
dòng liên tù tì hay
sao? Một
căn bệnh nan y của những nhà thơ
tự nhận mình
cách tân thơ là bệnh ưa nói tục, viết tục, đưa ngành phụ khoa vào thơ
một cách không được vệ sinh cho lắm. Rất tiếc, Trần Dần trong "Cổng
tỉnh" cũng
mắc chứng bệnh này, tuy không kinh hãi bằng
ông D.T. với "nhớt đêm" và ông H.H với " Mi ni mông lông / Cởi
quần chửi thề". Nên nhớ rằng, trước cả tổ sư Freud mào đầu cho
chủ nghĩa siêu thực và chủ nghĩa hiện đại, lấy sự ức chế nhục dục
làm khởi nguồn cho thẩm mỹ văn học,
Hồ Xuân Hương của chúng ta đã đi trước
phương Tây trên lĩnh vực này từ lâu. Có điều, Hồ Xuân Hương diễn tả được
mọi cấm kỵ của trần gian bằng lối nói ví von, ngụ ngôn, bằng hình ảnh
thiên nhiên biểu tượng một cách rất văn học, văn hóa, chứ không tả
chân một cách trực tiếp như qúy vị
"cách tân" đâu. Chúng tôi, không còn cách nào khác, buộc lòng phải
trích ra đây một số câu được gọi là thơ của " Cổng tỉnh",
cũng nhằm giúp các bạn trẻ làm thơ tránh đi vào căn bệnh phi thơ này.
Ví dụ, Trần Dần không cần thiết phải tả chân cảnh băng huyết của một
người đàn bà theo kiểu tự nhiên chủ nghĩa và có vẻ mất vệ sinh
này:"Cổng tỉnh một người băng huyết / Một em gái nhỏ vào đời /
Chậu máu mảnh chai ghè / Bà mụ lèm nhèm đêm mưa giường dột"(127).
Tôi ngờ rằng khi viết những dòng
này, tác giả qủa bị ức chế
(réfoulement) :"Mưa máu cô đầm trần / Xi-líp ướt tăng-xê"(89).
"Hôn mút lưỡi
một hộp đêm nheo nhớt trần truồng"(32). "Mi mắt đồng trinh màng
xé lụa trần truồng"(21). "Nhìn lên thấy
đôi mắt màng trinh"(154). "Vú thơm Hêrôđiát trần truồng /... phố
đùi dài"(136). "Tôi phải nhảy trần truồng đàn vũ nữ"(137).
"Cô xa-phăm cởi truồng.../ Bà chủ đầm lai thay xú-chiêng-goóc"(157).
" Liêm liếm Tê-rê-dơ rì rờn
sóng rắn"(25). "Môi nhầy tay đùi coọc-xê lụa bạch.../ Ươn ướt
yếm đồng trinh"(155). Ngoài ra, tác giả còn viết khá nhiều câu thô tục
nhắc đến đùi non, vú mẩy, màng trinh...và những hành
động nhụ dục cấm kỵ khác ở các trang :
21,22,23,24,25,48,93,116,124,126,142,144,156...mà chúng tôi không thể trích ra vì sự tôn
trọng độc giả. Chúng tôi nghĩ rằng, nếu sự biên tập có trách nhiệm
và kỹ
càng hơn, "Cổng tỉnh" sẽ tránh
được những
câu chính ra không nên có kia, giúp tác phẩm bớt đi những hạn chế
khá trầm trọng này. Đây cũng là
bài học cho những
người có tham vọng cách tân thi ca hiện đại. Bởi vì sự thô
tục, khiêu dâm trong văn học ít khi đi kèm với văn hóa, với thi ca. Hãy học cha
ông khi Nguyễn
Du tả Thúy Kiều tắm:"Rõ ràng
trong ngọc trắng ngà / Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên". Bức
tranh khỏa thân của văn học Việt Nam này xuất hiện ngay trong xã hội Nho
giáo"nam nữ
thụ thụ bất thân", nơi đàn bà bị coi thường,
rẻ rúng, mà vẫn
tuyệt đẹp và hấp dẫn, sang trọng
và kiêu sa, tục mà không tằn, khiêu mà không dâm. Thơ, nói gì thì nói, trước
hết và sau cùng phải hay đã đành,
nghĩa là phải độc đáo và sang trọng. Ngoài
ra, đôi chỗ,
tác giả "Cổng tỉnh"còn có những nhầm
lẫn.
Ví dụ ở trang 7, tác giả tả cảm giác của nhân vật"tôi" trong
thời gian trước năm 1945 và không gian là thành phố Nam Định như
sau:"Mau mau lấy tình yêu
xích tên rồ dại lại / Kẻo nó nhảy từ gác mười tầng". Nên nhớ
rằng Nam Định
lúc đó và cả lúc tác giả ngồi viết"Cổng tỉnh" năm 1959, chưa
có ngôi nhà nào cao mười tầng cả. Ở trang 18, tả nhà thờ, tác giả viết:"Nhà
thờ ! Thôi đi con cá sấu nhà thờ / Thôi giọt lệ kính koong đi"(18).
Oan uổng cho nhà thờ Thiên Chúa giáo qúa. Có thể có những con cá
sấu đi nhà thờ, chứ sao lại vơ đũa cả nắm
nói nhà thờ là con cá sấu được (!). Mặc
dù "Cổng tỉnh" có những hạn chế
như trên, thậm chí có thể còn hơn thế nữa, chúng
tôi vẫn
kính trọng tâm huyết và thi tứ của Trần Dần, kính trọng cuồng vọng
cách tân thi ca đến quằn quại, đến tứa máu và đến xùi bọt mép theo
kiểu chịu
chơi hết cỡ của
Maiacốxki. Cảm giác của chúng tôi khi đọc "Cổng tỉnh" dù cái
được và cái chưa được là tác phẩm đã thoát khỏi
lối viết y chang thơ dịch đang tràn
lan khắp sách báo hiện nay mà nhiều lần chúng tôi đã gọi là NHỮNG NHÀ THƠ
VIỆT NAM TỰ DỊCH
THƠ MÌNH
RA TIẾNG VIỆT. Trần Dần phần nào đã biết cách dịch được
tâm hồn mình
ra tâm hồn người khác ở những câu thơ
hay chúng tôi vừa phân tích. Đấy chẳng phải là một thành công của
"Cổng tỉnh"đó sao? Mặc dù, về tổng thể, "Cổng tỉnh"
mới chỉ là một thể nghiệm vỡ vạc, quặng nhiều song chưa kịp tinh luyện,
cái hay còn như pha lê lẫn nhiều
cát bụi, tác giả phần nào đã hình thành giọng
điệu tâm hồn riêng, song le vẫn chưa tới
được bến bờ thi ca đích thực. Trần Dần tâm huyết với cách mạng và
tâm huyết với thơ, thậm chí sống chết với thơ. Chỉ một chút nữa thôi,
có thể ông đã bị chết
đuối trong xoáy vực thể nghiệm, toan lấy cách tân chứ không phải lấy
thi ca làm mục đích. May mà cuối cùng ông đã quay về với thơ, với cái đẹp vĩnh hằng của sự xúc động, với
tấm lòng thương cảm đến xót xa với quê hương và niềm hi vọng vào lẽ phải
trong ba câu rất hay kết thúc tác phẩm:"Tôi đi giữa đêm tan
ngày mọc / Xa xa là non sông dày dạy rạng đông / Tiếng chim chiêm chiếp
sáng"(175). Từ "Cổng tỉnh" của nỗi cô đơn
sáng tạo đầy sóng gió và bất trắc, cơ hồ như Trần Dần đã thấp
thoáng nhìn
thấy cổng thơ ?
Thành
phố Hồ Chí Minh ngày 23/4/1996 |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com