705-gdlogo.gif (49914 bytes)

posted: 08.7.2005

TỪ " CỔNG TỈNH" ĐẾN CỔNG THƠ

                                                Trần Mạnh Hảo

           Tập trường ca "Cổng tỉnh" của Trần Dần do nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành 1994 đã được tặng thưởng của Hội đồng thơ Hội nhà văn Việt Nam 1995. Ngày phát giải thưởng, mặc dù Trần Dần đang ốm nặng, phải nằm liệt giường, nửa mê nửa tỉnh, thậm chí không còn khả năng nói, vn nhờ người cõng đến trụ sở Hội nhà văn để lĩnh thưởng. Xem ra, cách lĩnh giải của Trần Dần qủa là hi hu, cảm động và bi tráng. Qua đó, đủ biết "Cổng tỉnh" qủa tâm huyết với tác giả và đã mang lại hạnh phúc cho ông biết là chừng nào. Một số người cho rằng "Cổng tỉnh" rất khó đọc nếu không muốn nói là không đọc được. Ngược lại, một vài bạn làm thơ cách tân chủ nghĩa khen tác phẩm này hết lời. Đối với một sáng tác phẩm, việc khen chê hai chiều ngược nhau là điều bình thường, thậm chí còn là một tín hiệu đáng mừng na.

          Trần Dần viết xong "Cổng tỉnh"năm 1959, năm thử thách cam go nhất đời ông. Năm đó, nói theo kiểu Phùng Quán, nếu không vịn câu thơ mà đứng lên, có l Trần Dần s không thể nào gượng dậy được na. Trước khi nhờ người cõng đi lĩnh giải, gần bốn mươi năm về trước, qủa là Trần Dần đã nhờ vả những trang bản thảo "Cổng tỉnh" cõng tâm hồn ông vượt qua phong ba o táp của cuộc đời. Ai ngờ, thi ca tưởng có lúc gieo tai bay vạ gió cho ông, lại hóa thành cái phao cứu nạn. Chừng như Trần Dần đã viết "Cổng tỉnh" trong cơn mê sảng của nỗi cô đơn, của niềm khắc khoải đau đời. Có điều, cơn mê sảng của tác giả có thức tỉnh được niềm say mê của người đọc hay không thì còn là chuyện khác. Trong mục thể loại của "Cổng tỉnh", tác giả đề danh xưng có một không hai: "thơ-tiểu thuyết (Dạ khúc trường thiên)" ! Thực ra, tác phẩm này không có nhân vật và một cốt truyện xuyên suốt từ đầu đến cuối, nên không thể gọi nó là "thơ-tiểu thuyết"được. Chúng tôi đành tạm xếp nó vào thể loại trường ca."Cổng tỉnh" là tập hợp những đoản thi như những ghi chép, những phác thảo tâm trạng tác giả trước cuộc sống rêu mốc, mòn mỏi, ngột ngạt, tàn bạo, lưu manh, tù đầy và khát vọng đòi giải phóng của một tỉnh lẻ là thành phố Nam Định - quê hương tác giả trước 1945. Tác phẩm nhiều nghìn câu thơ, dày 176 trang gồm nhiều mảng tâm trạng đứt nối ghép vào nhau với thể thơ không vần này qủa là rất khó đọc. Nhìn chung, phương pháp sáng tác của tác giả vẫn là chủ nghĩa hiện thực, tuy có sử dụng một ít bút pháp tượng trưng gây ấn tượng, hoàn toàn không có dính dáng gì với chủ nghĩa siêu thực và chủ nghĩa cấu trúc cả. Trong lịch sử văn học nước ta, "Cổng tỉnh" qủa là một trường ca không vần dày c kỷ lục. Thực ra, thơ không vần không phải là cái qúa mới mẻ. Nó đã xuất hiện từ thượng cổ, trước khi ra đời thơ có vần như trong kinh Vệ Đà AĐộ giáo và kinh Thánh của Do Thái Giáo cũng như kinh Coran của Hồi Giáo vậy. Trong văn học viết của Việt Nam, thơ không vần xuất hiện khí muộn, chỉ sau cuộc Cách mạng tháng tám 1945. Hai người làm thơ không vần đầu tiên là Trần Mai Ninh và Nguyễn Đình Thi; Tiếp đến Văn Cao, Hu Loan, Trần Dần...Đầu những năm sáu mươi, ở miền Nam Thanh Tâm Tuyền rồi đến những Trần Vàng Sao, Lê Văn Ngăn, Ngô Kha...là những tác giả thường làm thơ không vần. Ở miền Bắc, phần nào thơ của Thanh Tùng, Trúc Thông... cuối những năm sáu mươi là thơ không vần. Làn sóng thứ tư của thơ không vần xuất hiện những năm tám mươi của thế kỷ này là Thanh Thảo, Ý Nhi... Làn sóng thứ năm của loại thơ này gần đây gồm nhiều nhà thơ trẻ: Nguyễn Quang Thiều và Giáng Vân, Dương Kiều Minh và Nguyn Lương Ngọc...Thực ra, thơ không vần là loại thơ rất khó làm hay và cũng rất d ln vào thơ dịch.

            Với Trần Dần, ý thức cách tân thơ đã xuất hiện từ khi ông còn trẻ, lúc tham gia nhóm Dạ Đài. Sau khi theo kháng chiến chống Pháp, Trần Dần và nhóm bạn bè ông bị cái thang thơ của Maiacốpxki ám. Đến nỗi, các ông thi nhau leo thang trong thơ, thậm chí một chữ cũnng leo, hai chữ cũng leo. Đến "Cổng tỉnh", về hình thức, Trần Dần đã thoát được cái thang thơ kia. Nhưng về tinh thần quyết liệt đến rớm máu, ý thức nhập cuộc, ý thức cách mạng đến cuồng nhiệt, đến quằn quại thì ông vẫn còn ch?u ảnh hưởng bởi Maiacốpxki. Có thể nói, rất khó tìm thấy một tập trường ca nào của thế hệ các nhà thơ chống Pháp lại tâm huyết, lại hết lòng với Cách Mạng, với Đảng cộng sản như "Cổng tỉnh" của Trần Dần như các câu:"Hỡi thế giới tàn bạo / Đảng cử tôi về vật chết mày đây" (143), hoặc " Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã về / Ta sắp có quê hương"(144)...v...v... Trần Dần trong cảm giác tối tăm cùng cực của cái tỉnh lỵ vừa Tây vừa Nhật đàn áp khủng bố ấy, đã rất hân hoan hô các khẩu hiệu cách mạng với các tên tuổi lãnh tụ như  Lênin, Đimitrốp, Tenlơman, Mao Trạch Đông, Nguyễn Ái Quốc như ở các trang 70, 98, 100. Nhiều khi, ý thức cách mạng cuồng nhiệt của tác giả chưa theo kịp ý thức nghệ thuật, khiến tác phẩm còn khá nhiều câu đại ngôn, lên gân thô tháp như :"Nhằm họng súng xốc đến / Tôi s chém chết mày trên tội ác mày gây / Đưa tôi sấm búa, đưa tôi sét liềm" (147). Ông lên án chế độ Tây Nhật phát xít với lòng căm hận gớm ghê:"Người ta giết gái trai từng phố một / Giết cả phố chạ người / Lại giết phố Bà Đanh"(18). Ở trang 12, tác giả gọi lá cờ tam tài một thời từng đại diện cho tự do, bác ái và bình đẳng là " cờ tam thể" như ngọn cờ của loài mèo vậy. Bởi vì :” Tôi biết ra nước đã mất rồi"(17)

           Cảm giác vong thân, vong bản, vong quốc của kiếp nô lệ mất nước là nỗi đau buồn, niềm cay đắng khôn nguôi của " Cổng tỉnh". Trong nỗi cô đơn, tủi hờn cùng cực khi chưa t´m ra chân lý cách mạng, Trần Dần đã viết được khá nhiều câu thơ hay. Đôi mắt nhà thơ chợt như mang hình chiếc lá bàng cháy đỏ, như thể cái hồn của thiên nhiên cũng đang chạy đèn cù với nỗi đứt ruột của gió bấc mà quanh quẩn mãi với kiếp người:"Gió đánh hàng bàng lá chết chạy vòng quanh"(12). " Lá bàng rơi như những miếng tiết đỏ / Một con mắt bông băng rách kẽ nhìn trời"(19). Tôi ngờ rằng cái lá bàng trong thơ Trần Dần chừng như vẫn chưa tìm được nơi rụng xuống. Bởi nó vẫn chạy vòng quanh ấn tượng và nỗi lòng người đọc. Thơ hay, trước hết cốt ở cái lòng thành thật. Nhưng chỉ có tấm lòng thôi chưa đủ, mà còn cần phải có tài năng, có cái nhìn và cách diễn tả độc đáo, hàm súc, dư ba. Hãy xem cách phát hiện ra mùa thu của Trần Dần rất ấn tượng, rất dữ dội và độc đáo, hệt như một phác thảo của Monet :"Tôi đã nghe vạc thét đầu trời run rẩy sang thu"(169).Cái cảm giác đau đớn và bi tráng của tiếng vạc, như tiếng xé mảnh lụa trời đến thét lên cho hồn mùa thu run rẩy chớm hé, tôi ngờ rằng là một khám phá mới của Trần Dần. Mùa thu dịu dàng lại được sinh ra từ tiếng thét báo hiệu của con vạc, cũng là tiếng thét báo hiệu một mùa thu mới, mùa thu cách mạng. Nhà thơ như con vạc đón thu về  tiễn thu đi bằng một tù và gió, cũng là chiếc tù và của trời đất vậy:"Gió thổi tù và ruột phố tàn thu"(134). Chừng như Trần Dần là tình nhân của gió. Cũng như hai nhạc s Đặng Thế Phong và Văn Cao - những người đồng hương với ông trong các ca khúc tiền chiến, hơn một lần Trần Dần đã nghe gió khóc:"Gió thổi hu hu quảng trường nheo nhóc lá / Để quanh quất n ốm nằm rên / Bên vô tự n già"(45). Thật khó ai viết được những câu thơ hay hơn thế về nỗi buồn đau của quê hương chúng ta trong hội nô lệ trước 1945 như Trần Dần đã viết. Trong xã hội mất nước, hồn người cơ hồ cuong bị cái mênh mông, cái hư vô ép như ép dầu, ép m, khiến đoàn tàu lửa như đi vào nơi hành quyết:"Một giờ từ xa tiếng thét đoàn tàu / Thét như bị mênh mông chọc tiết"(103). Trần Dần còn có một số câu thơ khá hay viết về thân phận mồ côi của tuổi trẻ trong xã hội cũ không có lối thoát:"Tôi càng lớn tôi càng sài đẹn / Đầu ô càng tía ánh đèn khuya / Tôi càng đứng bơ vơ đầu Cổng tỉnh / Tôi lang thang trong các tối xô bồ / Lồng lộn dưới vòm sao nhớn nhác"(101). Những câu thơ bầm dập và gây gổ một cách cảm động ấy như còn lồng lộn mãi trong lòng người đọc nỗi chật chội và ngột ngạt của kiếp người. Nhà thơ đã học được phép biến mình thành cái chòi đêm uất hận, lầm lỳ một dáng quảng trường Maiacốpxki, một tượng đài của  nắm đấm:"Tôi đứng lầm lầm như một cái chòi đêm"(6). Đến bông hoa súng của ông cũng phải ch?u đựng tưởng qúa sức mình, mín môi như thể sắp bật máu:"Hoa súng ngậm làn môi tím rịm"(14). Viết về sự đớn đau của con người, Trần Dần đã có một giọng thơ dữ dội, gân guốc, hùng vĩ đến kinh dị vẫn hay, vẫn lạ đầy xúc cảm:"Thì hãy lấy mùi soa đêm chùi đôi mắt khổ / Hơn là mỏi răng nhai ràu rạu vỉa hè"(6). Dường như những vỉa thơ của ông đang được ngòi bút máy xúc nhai ràu rạu trên trang giấy, hơn là những vỉa hè thuở ấy? Không, Trần Dần tuồng như viết bằng nắm đấm, bằng hành động húc đầu vào chân tường thời đại hung dữ kia hơn là viết bằng ngòi bút. Nếu cô đơn là khí trời thì dường như nhà thơ đã đông đặc được nó lại thành hình khối:"Hãy chỉ cho tôi chnào / Tôi đổ bớt được tôi đi"(103). Viết về nỗi cô đơn của mình với những ám ảnh triết học, đồng vọng sự phân thân đến quằn quại, câu thơ như đã dồn người đọc vào góc tối nhất của thân phận mình để lột xác, để tìm cách hóa thân. Trần Dần phần nào đã thành công trong những ám tượng siêu hình. Vâng, nhà thơ đã tìm được nơi để "Tôi đổ bớt được tôi đi" là chính trang giấy ẩn chứa những câu thơ tài hoa lấp lánh ấy. Bằng cảm xúc và thẩm mỹ của nghệ thuật, của cái đẹp hằng sống, chúng ta đã"đổ bớt" được mình cho kẻ khác và ngược lại. Tôi yêu những câu thơ gân lại như sành như sứ nhưng vn tươi non lồng lộng lúa đòng này của Trần Dần :" Tôi đứa trẻ không nhà buồm gió cuộn tôi đi / Tôi đi gia trời sao nghìn dặm bạc"(22). Dường như tâm hồn chúng ta chợt hóa thành câu thơ của Trần Dần để mãi mãi là "đứa trẻ không nhà" đang bị cuốn theo chiều gió " buồm " lang bạt?

          Ngoài những câu thơ hay vừa trích, chúng tôi thấy Trần Dần có khá nhiều dụng công trong nghệ thuật dùng chữ, dùng hình ảnh mới lạ theo cách rất riêng của ông. Ví dụ:"Sao nhu nhú mọc"(16). "Ồi ồi gió thổi"(21). "Ngụm đèn xanh"(30). "Sông khuya tũm v"(8). "Oa oa mây hở một đàn cò"(15)...Nếu sự cách tân ch nghĩa của ông cứ như vậy tqủa là rất thú vị. Nhưng khi nó đi qúa đà, s gây cho người đọc cảm giác khó chịu. "Cổng tỉnh" có khá nhiều câu thơ lập dị đến kỳ cục. Ví dụ :"Tôi cắn chết nhiều ngày mưa"(6). "Ai mửa sao đêm đầy các ngõ"(12). "Phố thắt cổ có ngọn đèn hoang / Phố hoang có ngọn đèn thắt cổ"(18). "Bê một mâm đầm non đi đàm phán"(88). " Các ngươi phải luôn tay thọc tiết các kinh thành"(96). " Một sư đoàn nhe răng cắn một viện bảo tàng"(135)...Có khi, tác giả ng mình cách tân, nhưng kỳ thực là những chữ sáo, câu sáo. Ví dụ:"Khung cửa nhớ thương"(5). "Tim so mọc hững hờ"(6). "Xách va li tim đi"(7). "Làm đôi lứa cho tim"(17)."Vũ trụ dâng sao"(66). "Chùi tim mỏn đá"(74)."Lá đỏ con tim .../ Đêm lách chách thềm tim"(134). "Búp tim non"(135). "Tôi tháo qủa tim học trò.../ Rèn cho tôi qủa tim yêu"(142)...Thực ra, thơ chính là nhng câu nói có vần điệu, có hình ảnh, hình tượng, giàu cảm xúc. Nhưng nếu chỉ là những câu nói suông như lời nói hàng ngày thì còn là thơ na. Rất tiếc, nhng câu thơ hay của "Cổng tỉnh" còn qúa ít so với những câu nói trần trụi, nói chay, nói lấy được, bất chất nhng thuộc tính của thi ca là cảm xúc phải thông qua hình ảnh. Do vậy, một số ít câu thơ hay bị chìm nghỉm trong biển cả của nhng câu nói tầm thường. Người đọc đi tìm thơ có cảm giác như đang ngụp lặn mò ngọc trai giữa bể, thành ra ngại đọc. Không sở nguyện cách tân, muốn đưa thơ tiếp cận với mọi chiều kích xù thậm chí nhớp nháp của đời sống mà loại bỏ những thuộc tính muôn đời của thơ được. Chẳng hạn khi Trần Dần viết ở trang 48 một câu hệt lời nói tục tằn ngoài đời, không thể gọi là thơ:"Bóp vú con gái bà Lý ở dưới bếp". Chúng tôi xin đưa ra một số ví dụ về những câu nói phi thơ trong hàng nghìn câu như vậy trong "Cổng tỉnh":"Đám đông cũng từ từ giải tán"(13). "Trước rạp bán đấu giá vải bạt tăng lều"(20) . "Một thằng con Tây đá túi bụi bà lão ăn mày"(26). "Hai chú toóng xanh / Ta phụ trách cả hai ông nh ấy"(70). "Bng nghe kìm nhai ràu rạu thịt đùi / Đau lắm phải không đùi?"(160)...v...v...Căn bệnh nói suông, nói tràn lan này qủa tình đang là dịch hạch giết chết thơ của hàng loạt những nhà thơ bất tài thường lòe đời bằng thơ không vần, thơ vô nghĩa rồi dán ẩu nn siêu thực vào, đã góp phần không nhỏ xua đuổi người đọc ra khỏi ngôi đền thiêng thi ca. Chẳng l, đặc trưng cuối cùng của thơ ca chỉ còn ở ch xuống dòng liên tù hay sao?

          Một căn bệnh nan y của nhng nhà thơ tự nhận mình cách tân thơ là bệnh ưa nói tục, viết tục, đưa ngành phụ khoa vào thơ một cách không được vệ sinh cho lắm. Rất tiếc, Trần Dần trong "Cổng tỉnh" cũng mắc chứng bệnh này, tuy không kinh hãi bằng ông D.T. với "nhớt đêm" và ông H.H với " Mi ni mông lông / Cởi quần chửi thề". Nên nhớ rằng, trước cả tổ sư Freud mào đầu cho chủ nghĩa siêu thực và chủ nghĩa hiện đại, lấy sự ức chế nhục dục làm khởi nguồn cho thẩm mvăn học, Hồ Xuân Hương của chúng ta đã đi trước phương Tây trên lĩnh vực này từ lâu. Có điều, Hồ Xuân Hương diễn tả được mọi cấm kỵ của trần gian bằng lối nói ví von, ngụ ngôn, bằng hình ảnh thiên nhiên biểu tượng một cách rất văn học, văn hóa, chứ không tả chân một cách trực tiếp như qúy vị "cách tân" đâu. Chúng tôi, không còn cách nào khác, buộc lòng phải trích ra đây một số câu được gọi là thơ của " Cổng tỉnh", cũng nhằm giúp các bạn trẻ làm thơ tránh đi vào căn bệnh phi thơ này. Ví dụ, Trần Dần không cần thiết phải tả chân cảnh băng huyết của một người đàn bà theo kiểu tự nhiên chủ nghĩa và có vẻ mất vệ sinh này:"Cổng tỉnh một người băng huyết / Một em gái nhỏ vào đời / Chậu máu mảnh chai ghè / Bà mụ lèm nhèm đêm mưa giường dột"(127). Tôi ngờ rằng khi viết những dòng này, tác giả qủa bị ức chế (réfoulement) :"Mưa máu cô đầm trần / Xi-líp ướt tăng-xê"(89). "Hôn mút lưỡi một hộp đêm nheo nhớt trần truồng"(32). "Mi mắt đồng trinh màng xé lụa trần truồng"(21). "Nhìn lên thấy đôi mắt màng trinh"(154). "Vú thơm Hêrôđiát trần truồng /... phố đùi dài"(136). "Tôi phải nhảy trần truồng đàn vũ n"(137). "Cô xa-phăm cởi truồng.../ Bà chủ đầm lai thay xú-chiêng-goóc"(157). " Liêm liếm Tê-rê-dơ rờn sóng rắn"(25). "Môi nhầy tay đùi coọc-xê lụa bạch.../ Ươn ướt yếm đồng trinh"(155). Ngoài ra, tác giả còn viết khá nhiều câu thô tục nhắc đến đùi non, vú mẩy, màng trinh...và nhng hành động nhụ dục cấm kỵ khác ở các trang : 21,22,23,24,25,48,93,116,124,126,142,144,156...mà chúng tôi không thể trích ra sự tôn trọng độc giả. Chúng tôi nghĩ rằng, nếu sự biên tập có trách nhiệm và kỹ càng hơn, "Cổng tỉnh" sẽ tránh được những câu chính ra không nên có kia, giúp tác phẩm bớt đi những hạn chế khá trầm trọng này. Đây ng là bài học cho những người có tham vọng cách tân thi ca hiện đại. Bởi sự thô tục, khiêu dâm trong văn học ít khi đi kèm với văn hóa, với thi ca. Hãy học cha ông khi Nguyễn Du tả Thúy Kiều tắm:" ràng trong ngọc trắng ngà / Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên". Bức tranh khỏa thân của văn học Việt Nam này xuất hiện ngay trong hội Nho giáo"nam n thụ thụ bất thân", nơi đàn bà bị coi thường, rẻ rúng, mà vn tuyệt đẹp và hấp dn, sang trọng và kiêu sa, tục mà không tằn, khiêu mà không dâm. Thơ, nói gì thì nói, trước hết và sau cùng phải hay đã đành, nghĩa là phải độc đáo và sang trọng.

          Ngoài ra, đôi chỗ, tác giả "Cổng tỉnh"còn có nhng nhầm ln. Ví dụ ở trang 7, tác giả tả cảm giác của nhân vật"tôi" trong thời gian trước năm 1945 và không gian là thành phố Nam Định như sau:"Mau mau lấy tình yêu xích tên rồ dại lại / Kẻo nó nhảy từ gác mười tầng". Nên nhớ rằng Nam Định lúc đó và cả lúc tác giả ngồi viết"Cổng tỉnh" năm 1959, chưa có ngôi nhà nào cao mười tầng cả. Ở trang 18, tả nhà thờ, tác giả viết:"Nhà thờ ! Thôi đi con cá sấu nhà thờ / Thôi giọt lệ kính koong đi"(18). Oan uổng cho nhà thờ Thiên Chúa giáo qúa. Có thể có những con cá sấu đi nhà thờ, chứ sao lại vơ đũa cả nắm nói nhà thờ là con cá sấu được (!).

           Mặc dù "Cổng tỉnh" có nhng hạn chế như trên, thậm chí có thể còn hơn thế na, chúng tôi vn kính trọng tâm huyết và thi tứ của Trần Dần, kính trọng cuồng vọng cách tân thi ca đến quằn quại, đến tứa máu và đến xùi bọt mép theo kiểu chịu chơi hết ccủa Maiacốxki. Cảm giác của chúng tôi khi đọc "Cổng tỉnh" dù cái được và cái chưa được là tác phẩm đã thoát khỏi lối viết y chang thơ dịch đang tràn lan khắp sách báo hiện nay mà nhiều lần chúng tôi đã gọi là NHỮNG NHÀ THƠ VIỆT NAM TỰ DỊCH THƠ MÌNH RA TIẾNG VIỆT. Trần Dần phần nào đã biết cách dịch được tâm hồn mình ra tâm hồn người khác ở những câu thơ hay chúng tôi vừa phân tích. Đấy chẳng phải là một thành công của "Cổng tỉnh"đó sao? Mặc dù, về tổng thể, "Cổng tỉnh" mới chỉ là một thể nghiệm vỡ vạc, quặng nhiều song chưa kịp tinh luyện, cái hay còn như pha lê ln nhiều cát bụi, tác giả phần nào đã hình thành giọng điệu tâm hồn riêng, song le vẫn chưa tới được bến bờ thi ca đích thực. Trần Dần tâm huyết với cách mạng và tâm huyết với thơ, thậm chí sống chết với thơ. Chỉ một chút nữa thôi, có thể ông đã bị chết đuối trong xoáy vực thể nghiệm, toan lấy cách tân chứ không phải lấy thi ca làm mục đích. May mà cuối cùng ông đã quay về với thơ, với cái đẹp vĩnh hằng của sự xúc động, với tấm lòng thương cảm đến xót xa với quê hương và niềm hi vọng vào lẽ phải trong ba câu rất hay kết thúc tác phẩm:"Tôi đi giữa đêm tan ngày mọc / Xa xa là non sông dày dạy rạng đông / Tiếng chim chiêm chiếp sáng"(175). Từ "Cổng tỉnh" của nỗi cô đơn sáng tạo đầy sóng gió và bất trắc, cơ hồ như Trần Dần đã thấp thoáng nhìn thấy cổng thơ ?

                             Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23/4/1996 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com