705-gdlogo.gif (49914 bytes)

posted: 08.7.2005

          BÀN VỀ  YẾU TỐ "SIÊU THỰC " TRONG THƠ

                                                         Trần Mạnh Hảo

 Trong hành trình đi tìm bản thân mình, hơn ai hết, thơ cần phải qua khu rừng của mới lạ. Nhưng yếu tố mới lạ chưa phải là cứu cánh của thơ. Cái cốt tử của thơ trước hết và sau cùng vẫn cứ phải là thơ, vẫn phải đạt được cái hay, cái đẹp. Mỗi câu thơ hay, mỗi bài thơ hay, hầu như đều có thể đem đến cho thơ một mới lạ, một cái gì khác trước. Nếu thơ chỉ cốt lấy cái mới lạ làm mục đích mà bỏ quên cái hay, thơ ấy không còn là chính nó. Ví dụ như cô nàng X. nào đó có thân hình xinh đẹp, đột nhiên biến thành quạ. Chuyện này lạ quá, mới quá; nhưng cô gái kia không còn là con người nữa rồi. Thơ không cần học cách biến mình thành quạ mới làm thiên hạ chú ý, ngạc nhiên. Chúng tôi hoan nghênh mọi cuộc thể nghiệm, mọi cuộc lăn xả vào bụi gai, lao vào lửa của các thánh tử vì...thơ, cốt tìm kiếm cho thơ những con đường mới, những hình thức diễn đạt mới. Trong cuộc chơi hứng khởi xuất thần của thi ca, lao động nghệ thuật có vai trò rất lớn nhưng không phải yếu tố quyết định nếu nhà thơ không được trời phú cho bản năng thơ. Chúa phán trong Kinh Thánh rằng :" Làm bởi bay, cho bởi tao" không biết có ứng vào việc những nhà "phu chữ " đang toát mồ hôi lao vào trò chơi thể nghiệm thơ quá sức mình? Đó là cuộc chơi tuyệt đối hóa vô thức, coi vô thức là con đường duy nhất đến thơ, chống lại ý thức, chống lại sự hiểu. Họ cho rằng thơ là cảm chứ không phải nhận. Họ làm thơ như đánh đố theo kiểu đánh quả tù mù, tắc tị, bí hiểm, vô nghĩa, rồi gắn cho thơ mình một cái mác khá sang trọng và thời thượng là thơ siêu thực ( surréel ). Thậm chí có người còn cho rằng thơ Hàn Mặc Tử và Bích Khê đã phần nào đạt tới chủ nghĩa siêu thực ( surréalisme ); làm như chỉ đạt tới siêu thực thì thơ ca mới sang trọng, mới hiện đại và bất tử vậy. Thơ ca chân chính phương Đông và văn học phương Đông nói chung, xưa nay hầu như không có và không theo khuynh hướng siêu thực phương Tây.

Phong trào thơ siêu thực phương Tây đã đi vào quá vãng, đã hết thời từ lâu. Nhưng nó còn để lại sau lưng mình cả một nền bã mía đủ cho hàng nghìn hậu duệ hậu siêu thực làm của ăn đường trong công cuộc kiếm tìm thơ, dù là sự kiếm tìm vô vọng. Cần phải nhắc lại rằng thơ siêu thực phương Tây vốn thoát thai từ phong trào văn nghệ dada. Hai chữ dada do văn sĩ Đức gốc Rumani sống tại Thụy Sĩ Tristan Tzara bói được trong từ điển Larousse năm 1916. Dada biểu hiện ý thức nổi loạn, phủ nhận quá khứ, ma mị hóa, đồng bóng hóa, phù thủy hóa văn nghệ, biểu hiện sự tuyệt vọng của giới trí thức phương Tây trước cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, coi như sự sụp đổ về tinh thần của văn hóa phương Tây. Họ lật đổ mọi thành tựu nghệ thuật quá khứ, tôn Freud, Rimbaud và Lautréamont làm ba ngôi Thiên Chúa của đạo dada. Đây là một câu nổi tiếng nhất trong bản tuyên ngôn nhóm văn nghệ dada :" Các bạn không hiểu chúng tôi làm gì phải không ? Này bạn ơi, chúng tôi còn không hiểu bằng các bạn !". Thực ra, khuynh hướng siêu thực chỉ là màn biểu diễn thứ hai của dada, một màn biểu diễn có ít nhiều đổi mới, loại bỏ yếu tố nổi loạn, phá hoại cực đoan quá quắt của dada, để không chỉ đập phá mà con tìm cách dựng xây. Apollinaire( 1880-1918), nhà thơ đứng ở ngã tư đường, người biết dung hợp các phong cách thơ, biết kết hôn các bí truyền, bí tích, bí ẩn thơ, lập thể thơ với lãng mạn thơ, truyền thống thơ. Ông là thủy tổ của mọi sáng tạo thơ đầu thế kỷ hai mươi, đã đặt tên cho chủ nghĩa siêu thực ( surréalisme ) năm 1917, mặc dù ông không phải là nhà thơ siêu thực. Chính André Breton ( 1896-1966) mới là lý thuyết gia, là vị giáo phụ của trường phái siêu thực. Nhóm này đặt bốn vị thần hộ mạng trong ngôi đền siêu thực gồm : Freud, Baudelaire, Rimbaud và Ed. Poe để làm bùa chú cho sự "cúng bái" bằng những bài kinh vô nghĩa của mình. Họ máy hóa hồn thơ, đưa ra khẩu hiệu của môn phái là phải viết như một cái máy ( écritue automatique ). Họ tuyệt đối hóa cái dị thường, cái ngẫu nhiên khách quan, cổ xúy cho gây hấn, loạn hành tình dục, đồi bại, trái khoáy, ba trợn, phỉ báng, ngạo mạn, phi lý, hài hước, điên loạn, hoang dã...Họ tôn vinh truyền thống ma thuật, huyền học, thấu thị thời trung cổ và Phi châu cùng các món  thuốc tễ :thuyết quái, kích dục, bạo ngược...làm tiên sư, làm tiền bối. Thơ siêu thực theo lối vẽ lập thể của Picasso : tháo thực tại ra từng mảnh lộn xộn, đập vỡ vụn những thi liệu cuộc đời ra thành cám, rồi theo sự may rủi của bói toán, theo niềm chỉ bảo ú ớ của đồng cô bóng cậu mà ráp những mảnh vỡ kia lại với nhau không tuân thủ một quy tắc, một thi pháp nào cả. Phong trào siêu thực không chỉ thể hiện trong thơ mà còn trong các nghệ thuật khác với phương châm "nghệ thuật đen" hay "cái đẹp kinh hoàng" hoặc "thi pháp hốt nhiên" . Nói tóm lại, thơ siêu thực chính là quá trình vô nghĩa hóa thơ, phi lý hóa, phi ý thức hóa nghệ thuật, coi vô thức, ma mị, đồng bóng, bói toán là con đường duy nhất của thơ. Nếu cứ xét những tiêu chí khá tào lao, khá vô nghĩa của trường phái này, thì không thể có một bài thơ nào đáng mặt  được gọi là thơ siêu thực, kể cả thứ thơ chính hiệu của những thi hữu siêu thực đi chăng nữa. Bởi vì, nếu cứ hội đủ những nguyên tắc trên của siêu thực chủ nghĩa, thì than ôi nàng Eva thi ca tuyệt mỹ ngày nào đã hóa thành quạ mất, nghĩa là thơ đã bị vong thân, không còn là thơ nữa. Hai vị thánh tông đồ ngồi bên tả hữu giáo hoàng siêu thực Breton là Louis Aragon (1897-1982)  và Paul Éluard ( 1895-1952) cuối cùng đã phải bỏ môn phái mà tháo lui để trở thành những nhà thơ lớn nhất nước Pháp thế kỷ XX với một thi pháp hoàn toàn khác với thơ siêu thực. Ngoài yếu tố nổi loạn, phá hoại, kích dâm, phủ nhận mọi giá trị nghệ thuật truyền thống và bao nhiêu ân oán giang hồ do phong trào dada và siêu thực gây ra với văn nghệ phương Tây, thể hiện sự bế tắc cùng cực, tuyệt vọng cùng cực của giới trí thức trẻ, cái được của hai khuynh hướng văn nghệ trên  là đã tạo ra một cú sốc chết người, làm chất ma túy kích thích vô độ tinh thần sáng tạo tìm tòi cái mới, đem đến tinh thần tự do đến mê sảng không biết thỏa hiệp, làm tăng ảo giác và tưởng tượng tìm kiếm cái chưa hề có, dù cái đó chỉ được nhìn nhận như một quái thi, một niềm thơ kinh dị với một mặt nạ hũ nút.

Không, thơ sinh ra không phải để đi về phía cực đoan nào, dù đó là vô thức hay ý thức, là siêu thực hay hiện thực, dễ hiểu hay khó hiểu, đồng bóng hay tỉnh táo, thấu thị hay không thấu thị. Thơ, trước hết và sau cùng vẫn phải là thơ, nghĩa là phải hay, phải đẹp, là khả năng bùng nổ xúc cảm, bùng nổ rung động, mượn câu chữ, hình ảnh, vần điệu mà lay động lòng người, mà biểu đạt sự mới lạ của thơ trong cả cảm thức. "Cái cảm" phiêu linh vô hình vô ảnh kia chỉ có thể truyền tới con người nếu nó đi cùng với "cái thức". Nếu không có "thức" thể hiện ra qua nhận biết, thì cái "vô "của thơ không cách nào tìm tới thế giới khả giác của con người. Con người chỉ có thể là chính nó khi nó tự ý thức. Mà thơ nói gì thì nói vẫn là sản phẩm của ý thức nghệ thuật nơi con người. Chủ nghĩa siêu thực đòi xóa sổ ý thức trong sáng tạo nghệ thuật, coi vô thức là con đường duy nhất đến thi ca, phải chăng chính là muốn xóa bỏ vai trò người trong nghệ thuật, để rong rêu hóa, ếch nhái hóa thi ca? Nếu như vậy, những tiếng động vang của thiên nhiên như sóng vỗ, sấm sét, tiếng gió thổ, cát bay, chim kêu, vượn hót, sói tru, voi gầm, cọp rống... đều là những tiếng kêu của một thế giới không có ý thức, chỉ tuân theo quy luật tự nhiên, tuân theo bản năng vô thức... chắc chúng cũng là anh em sinh đôi của thơ siêu thực ư ? Thực ra, các nhà lý thuyết của phái dada, phái siêu thực đều ngụy biện cả, vì khi họ hô hoán đuổi cổ ý thức, đuổi cổ cái biết, cái hiểu ra khỏi ngôi nhà nghệ thuật, thì họ vẫn dùng chính ý thức để phán ra "cái đạo vô thức" của mình đó sao ? Nhà phân tâm học Freud, vị tổ sư của dada, của nghệ thuật siêu thực không hề dám lên tiếng phủ nhận ý thức. Chính ông đã dùng ý thức để tìm ra cái phần chìm của tảng băng nơi sâu thẳm vô cùng con người núp dưới tiềm thức là vô thức. Ông đồ rằng chừng như vô thức là nguồn cội của ý thức? Bởi vì một lẽ đơn giản rằng nếu không có ý thức thì vô thức dù mênh mông dường nào cũng coi như không có. Khi các nhà thơ siêu thực miệng rủa sả ý thức, đầu óc quay cuồng lên đồng để bói thơ, họ chẳng đã xử dụng thứ nhiên liệu của ý thức để chạy cỗ máy vô thức đó sao ? Họ cầm lấy giấy, lấy bút, họ viết các mẫu tự, các tiếng nói ra thành chữ , dù các từ ngữ lộn xộn, tuỳ tiện, vô nghĩa cách mấy thì cả các công đoạn ma mị hóa thi ca kia của họ đều thực thi với chính ý thức đó sao ? Thực ra, không có nghệ thuật nào, thầy bói nào, nhà ma thuật, nhà phương thuật thấu thị nào có thể thoát ly hoàn toàn được ý thức. Cái gọi là nghệ thuật của vô thức chẳng qua chỉ là một cách nói, một ngụy biện không hơn không kém.

Phương Đông với đỉnh cao nhất của thi ca là thơ Đường không bao giờ chấp nhận những quan điểm cực đoan đến đánh mất chính bản thân thơ như quan niệm của  trường thơ siêu thực. Thơ, theo quan niệm của phương Đông là nghệ thuật của cái hay cái đẹp mang đến niềm cảm động qua ngôn từ, hình ảnh, vần điệu, là sự hài hòa giữa siêuthực, giữa thức, giữa cảmnhận, giữa tỉnh, giữa cao siêu đến bí hiểm và giản dị đến vô cùng. Thơ phương Đông gom cả cái dị thường và cái bình thường vào mình. Nó tìm cách sống chung với cả lửa và nước, hài hòa âm và dương. Nó mời cả ma quỷ và thánh thần vào thơ nhưng để thơ không hóa thành ma quỷ. Chúng ta thử đọc hai câu thơ trong bài thơ "Nguyệt hạ độc chước" tuyệt vời của Lý Bạch dưới đây xem nó là hiện thực hay siêu thực :" Cử bôi yêu minh nguyệt / Đối ảnh thành tam nhân " ( Một mình cất chén rượu mời trăng sáng / Mình đối diện với bóng mình cùng trăng thành ba người). Câu thơ hay trên của Lý Bạch bảo nó là siêu thực cũng đúng mà hiện thực cũng đúng, là lãng mạn hay cổ điển đều đúng cả. Nghĩa là nếu thơ hay, nó bao hàm mọi yếu tố trong đó. Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam... hầu như đều là những dân tộc thơ. Kinh Veda, kinh Thi, đến ca dao Việt Nam... từ thuở ra đời, thi ca phương Đông đã hài hòa HƯ và THỰC, hài hòa nội dung và hình thức, không bao giờ tách siêu ra khỏi thực như phương Tây. Vương Ký Đức ( đời Minh) trong "Khúc luật" viết :" Lấy thực mà dùng thực : dễ; lấy hư mà dùng thực : khó" ( "Lý luận văn học cổ điển Trung Quốc" - Khâu Chấn Thanh - NXB GD 1994 tr.38 ). Thơ phương Đông từng lấy thực để đạt siêu, lại biết lấy siêu để đạt thực. Cũng theo sách đã dẫn (sđd) tr. 51, Trịnh Bản Kiều đời Thanh trong "Đề Họa" coi hư và thực, thần và lý trong nghệ thuật không phải là hai yếu tố mà chỉ một, đã viết :"Văn Dữ Khả vẽ trúc, trong lòng đã thành cây trúc. Trịnh Bản Kiều vẽ trúc, trong lòng không thành cây trúc. Đậm lạt, thưa dày, ngắn dài gầy béo, theo tay vẽ ra, tự nó đã thành nếp, ấy là do lý và thần đều đầy đủ cả...Cái điều thành trúc hay không thành trúc, thực ra chỉ là một đạo lý mà thôi". Văn học phương Đông không chỉ dung hoà siêuthực, mà còn dung hòa cả tình, sống chết, tìm ra sự sống trong cái chết và ngược lại, uyên thâm và kỳ quái nhưng vẫn dễ hiểu và bình dị như là quan niệm của Thang Hiến Tổ ( đời Minh ) :" Con gái trong thiên hạ liệu có ai giàu tình cảm như nàng Đỗ Lệ Nương chăng ? Mơ mộng về người con trai ấy đến phát ốm, ốm thì ốm liên miên, đến nỗi tự tay mình vẽ chân dung mình truyền lại ở đời rồi sau đó mới chết. Chết được ba năm, rồi trong cõi u minh tìm được người mình mơ mà sống lại. Người như Lệ Nương có thể gọi là người hữu tình vậy. Tình chẳng biết nổi lên từ đâu, một dòng sâu xa, làm người sống có thể chết đi, người chết có thể sống lại. Còn loại sống mà không có thể chết, chết mà không có thể sống lại, đều không phải là cái tình tới chỗ cùng cực vậy...Chỉ nói về lý là không thể có, thì làm sao biết về tình là có thể có ?" ( sđd tr.56 ).  Thơ phương Đông từng biết cách lặn vào tận cùng siêu đến nỗi tưởng đã lịm chết như Đỗ Lệ Nương để đạt tới thực, đạt tới cõi sống. Vương Thúy Kiều chừng như cũng theo phương pháp Đỗ Lệ Nương mà gieo mình xuống thi-pháp-Tiền-Đường-Việt-Nam tới tận cùng siêu-Nguyễn Du để tìm cái vĩnh cửu thực tại trong cái siêu-hư-cùng, tưởng như vừa chết đi sống lại vậy. Lưu Hiệp ( đời Tề ) viết : "Lĩnh vực cấu tứ văn học thật là kỳ diệu, thần và vật cùng chu du với nhau" (sđd tr.184). Bồ Tùng Linh ( đời Thanh ) viết :" Đặt cả tâm hồn mình vào cái thần, cái lý của sự vật, từ thực tới hư, từ có tới không mà suy đi nghĩ lại" (sđd tr.249). Con đường của văn học là con đường từ thực đến hư, từ vật đến tâm, từ vật đến thần, thông qua khổ luyện là lao động nghệ thuật như lời Trịnh Bản Kiều viết :" Phấn đấu gian khổ hàng chục năm, rồi sẽ được như thần giúp cho, được quỷ bảo cho, được người và vật khơi gợi cho vậy" ( sđd tr. 441). Khi Nguyễn Du viết câu Kiều hay tuyệt đỉnh :" Vầng trăng ai xẻ làm đôi / Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường" quả là không chỉ  như được "thần giúp cho, được quỷ bảo cho, người và vật khơi gợi cho "như lời Trịnh tiên sinh trên mà còn bởi con người thiên tài Nguyễn Du đã lặn qua chín tầng siêu và mười tầng thực trong bản thân mình và thế giới thông qua nỗi đau đời, rồi quy tụ cái đẹp của muôn nơi tinh lại thành thơ. Thơ hay là của mọi nhà, ngay cả kẻ không biết chữ nghe cũng sướng lòng, chứ không phải thơ đọc lên đến chính nhà thơ còn không hiểu ông ta viết gì, như quan niệm của trường thơ siêu thực phương Tây đã thành  quá vãng.,.

                                      Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23-3-1999  

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com