705-gdlogo.gif (49914 bytes)

posted: 08.7.2005

NHỮNG ĐIỀU DỐI TRÁ VÀ HOANG ĐƯỜNG CỦA CUỐN THÁNH KINH KI-TÔ:
[Dịch từ Cuốn Deceptions and Myths of the Bible của Lloyd Graham]
Trần Thanh-Lưu
 
“Muốn giữ vững nền độc lập của quốc gia và để tránh khỏi một cuộc nội chiến khác, giới sĩ phu Việt phải có nhiệm vụ tiên phong trong việc cứu thóat dân tộc ra khỏi sự nô lệ của đạo Ki-tô, một chủ thuyết thực dân tây phương trá hình tôn giáo. Muốn làm được việc ấy trước hết phải kiên quyết vạch trần những điều lừa bịp và mê hoặc của cuốn thánh kinh, và tố cáo mưu toan của hệ thống giáo quyền kiểu phong kiến luôn tìm mọi cách chiêu mộ con dân bản địa làm tay sai cho ngoại bang.”
 
Hải Thượng Sĩ Phu
 
CHƯƠNG MỘT: SÁNG THẾ HAY TẠO DỰNG (HAY TẠO HÓA)
Bài Thứ 4
(Tiếp Theo)
Ghi chú của người dịch (GCCND):
Hai nguồn được dùng trong dịch phẩm này là: 1) Bản Anh ngữ: Holy Bible do The Gideons International, ấn bản năm 1978. Viết tắt trong bài là GI. 2) Bản Việt ngữ: của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ trên website thanhlinh để các độc giả làm quen với văn phong khó hiểu trong kinh Ca-tô Việt; viết tắt là NCGKPV. Những câu trích từ hai nguồn này sẽ được in nghiêng nguyên văn dưới mẫu tự Arial.
Chữ Genesis chúng ta hay bị quen tai theo lối dịch thông thường là “Sáng thế ký” theo cuốn kinh Ki-tô, vũ trụ do một Chúa trời tạo nên. Nhưng ý của tác giả Lloyd Graham ở đây lại là “Chữ genesis không có nghĩa là “vật gì sinh ra từ không có gì”. Nó là một dẫn xuất từ chữ gene, mầm sống, ám chỉ đến thế hệ, tăng trưởng. Đó là then chốt của Sự Bí Ẩn và nếu ta muốn giải được nó ta phải phân biệt cho rõ giữa Chúa Trời của tôn giáo và Tạo Hóa của vạn vật.” (Xin xem Bài 2 đã đăng trên website Giao Điểm). Vậy chữ Genesis đúng ra nên dịch là Mầm Sống Nẩy Sinh. Nhưng ở đây chúng ta cứ tạm dùng là “Sáng thế ký” (STK).
27 (Và) Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình,Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa,Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ.
Có bao giờ chuyện xảy đến với bạn rằng cái “hình ảnh của Chúa” này, xác thân của bạn, là một thứ mù tịt về đạo lý, tâm linh và xã hội? Vì nó chẳng biết tí gì về đạo lý và cách cư xử của bạn, cho nên nếu gặp dịp thì nó có thể chuồn mất. Vào cái ngày quan trọng bạn cần được mạnh khỏe và sáng suốt nhất thì nó lại đổ bệnh hay là làm bạn mất ngủ cả đêm trước. Vậy mà cái thứ chẳng biết điều này lại là một phần của chúng ta do Chúa tạo nên mà chẳng thèm đếm xĩa gì đến chúng ta. Thế thì tại sao lại gán cái đạo lý và tòan năng vào kẻ đã tạo ra nó?
Con người được tạo ra theo hình ảnh của Chúa chỉ nói lấy có. Nếu về ngọai hình thì ta phải cho rằng Chúa này có cái dạ dày và bộ tiêu hóa giống con người, cả bộ phận sinh dục nữa. Có người sẽ thắc mắc rằng Ông ta dùng các bộ phận này để làn gì vì trong các đạo Do-thái và Ki-tô Ổng chẳng có vợ. Ồ thì Ông ấy dùng chúng để tạo ra các thế giới. Đấy chính là “hậu duệ của Abraham” [GCCND: ám chỉ người Do-thái] và là dịch hòan của Kinh Thánh. Như thế thì thế giới này không phải đã được dựng nên bởi lời Chúa mà bởi sự động tình của ông ta.
Ở đây thực ra sự sáng tạo của Chúa chẳng phải là người nam và người nữ thể chất mà là những nguyên mẫu liễm hóa theo tưởng tượng. Trên tầng thứ sáu, hình ảnh liễm hóa này còn là khí chất, nên đã gây ra một học thuyết siêu hình sai lạc cho rằng con người tiến hóa đầu tiên vốn là một sinh vật khí chất. Hắn chỉ ở tình trạng ấy trong liễm hóa mà thôi. Qua tiến hóa thì sinh vật thụ hưởng được khí chất. Nó cũng còn thụ hưởng được tinh tú chất và như ngày nay tạo nên được bản sao tinh tú của thể chất. Nó sẽ là tải vật cho chúng ta ở những tầng cao hơn. Ngay bây giờ, nó cũng có thể là tải vật của người ở Kim tinh, nếu có.
Những chữ “nam” và “nữ” trong tiếng Hebrew là từ các chữ sacrn’cabvah, với dương vật phallus và âm vật yoni, nguyên lý của gene. Suốt cả cuốn Kinh thánh Ki-tô, “nam” vì thế tượng trưng cho ý tưởng sáng tạo, có trước; “nữ” tượng trưng cho vật chất được tạo về sau. Nếu điều này không đúng nghĩa ở đây thì chương thứ nhất này đã bác bỏ thẳng thừng chương thứ hai cho rằng người nam đã được tạo ra trước hết rồi mới đến người nữ.
28 (Và) Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất."
May thay! từ nay Chúa mới có kẻ để nói chuyện; chứ bấy lâu Ông ấy chỉ tự nói lảm nhảm một mình. Danh từ “làm tràn đầy” ở đây có ẩn ý là phục hồi lại cái gì đã bị lấy mất. Cái gì ấy là những cấu tạo bằng tinh tú chất ở tầng thứ năm đã bị lấy mất, phải được tái tạo bằng khí chất ở tầng thứ sáu. Cuốn kinh Ki-tô vì thế không nói đến lòai người hay đời sống tiến hóa mà lại đề cập đến những nguyên mẫu liễm hóa (involutionary archetypes), nên Giáo hội Ca-tô chỉ dựa cứng vào những lời này đi khuyến khích người ta sinh sản ra nhiều mà chẳng màng đến phương tiện sinh sống. Chúa đã chẳng nói ra những lời này; chỉ có một tu sĩ Do-thái thốt ra mà thôi – mà ông ta cũng chẳng phải nói đến nhân lọai. Vậy mà kẻ kế tục với đầu óc cứng ngắt dùng chúng để biến việc sinh đẻ vô trách nhiệm thành một đức hạnh và sự sinh sôi phi lý thành một nhiệm vụ thiêng liêng. Mặc dù gặp phải nạn nhân mãn, vậy mà kẻ làm cha mẹ phải sinh thêm sáu, tám hay một tá con, không vì lợi ích cho xã hội mà vì lợi ích cho đạo Ca-tô. Tôi cho rằng quyền sinh sản tùy ý là quyền tự do thứ năm, nhưng cũng như những quyền tự do khác nếu thực thi một cách ngu muội thì chỉ làm hại cho phúc lợi xã hội. Trong khi chúng ta hạn chế những quyền khác mà lại thả lỏng cho đệ ngủ quyền; đã thế nó còn được thánh hóa vì giáo hội và khuyến khích cho an tòan chính trị.
Tuy nhiên, với kẻ thông minh thì một nhân lọai sản xuất ra hằng lọat người nữ thiếu học và mắn đẻ là một trong những điều xốc kích nhất trong đời sống con người. Mỗi đứa trẻ đều có tiềm lực trở nên thiện và ác mà xã hội cần phải đối phó, vậy mà ở đây lại là một sinh vật vô trách nhiệm với xã hội, vui thú trong sự ngu dốt về mọi chuyện trừ các chức năng sinh hóa, tạo nên vô số vấn đề. Sự sinh sản như thế hạ con người xuống ngang bằng súc vật. Nó là một trong những trọng tội thay vì một nhiệm vụ thiêng liêng; nó là một sự bất chính quái đảng thay vì một sự kiện “đầy ân sũng”. Nếu một dân tộc muốn gỉai quyết được những vấn đề xã hội và tội ác thì phải bắt đầu từ những kẻ gây giống vô trách nhiệm này. Họ phải được giáo dục cho biết rằng không hề có lọai thẩm quyền thần thánh nào cho việc sinh đẻ bừa bải như thế; nó chỉ là sự phồn thực của tự nhiên mà con người cần phải “làm bá chủ”. Thái độ về chuyện này của giáo hội đã minh họa cái hậu quả do sự ngu dốt của chúng ta về Duyên Sinh và những sự kiện của Thực tại, rằng không hề có linh hồn liên lụy đến thụ thai; và ngay cả không có sự sống, mà chỉ là Nguyên Lý của Sự Sống, mà chúng ta lại hủy họai mỗi ngày.
29 (Và) Thiên Chúa phán: "Đây Ta ban cho các ngươi mọi thứ cỏ mang hạt giống trên khắp mặt đất, và mọi thứ cây có trái mang hạt giống, để làm lương thực [trong bản Anh ngữ: meat: thịt] cho các ngươi.
30 (Và) Còn đối với mọi dã thú, chim trời và mọi vật bò dưới đất mà có sinh khí, thì Ta ban cho chúng mọi thứ cỏ xanh tươi để làm lương thực. Liền có như vậy."
Và liền có như vậy bởi vì hàng tỷ năm sau con người đã làm nên như vậy. Mà con người không làm nên thế theo lời phán này. Chúa ban thảo vật để làm lương thực cho người và thú vật, nhưng ông ta không ban thú vật làm lương thực cho người; ấy vậy mà “dân Chúa chọn” lại ăn thịt và còn tế thú vật cho Chúa của họ. Loại nghi lễ này vốn có là quan trọng đến thế hay chỉ trở nên quan trọng khi được cho phép về sau. Nếu sự hiến tế này không từ huyền thọai thì nó đã có thể là phương tiện tinh vi để nhét đầy tủ thực phẩm của tu sĩ. Hãy mang trừu non và bò tơ của các ngươi đến nhưng đừng thắc mắc chuyện ta làm gì với chúng.
31 (Và) Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp! Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ sáu.
 
Ngày thứ sáu là ngày cuối Chúa nhìn lại những việc đã làm và cho là tốt đẹp. Hẳn là như thế, bởi việc của ngày thứ bảy, tạo ra vật chất, là nguồn gốc của tội ác. Chúng tôi gom ở đây đọan đầu của ba câu kệ trong chương thứ hai bởi chúng là chuyện đạo. Đấy là ý nghĩ của nhà biên tập về hậu quả.
 
1)      Như thế là trời và đất đã làm xong, và tất cả những thứ trong đó.
 
Chỉ là nguyên mẫu thôi, những thứ nói về sau trong kinh thánh tòan là nhãm nhí, chẳng hạn Hòm chứa kinh (Ark) sẽ giải thích sau này.
 
2)      Và đến ngày thứ bảy Chúa ngưng mọi việc và nghỉ ngơi trong ngày thứ bảy.
 
Di động trong một hạch nhân là vĩ đại nhưng vẫn là “di động chậm” so với di động trong các tầng tiền hạch. Rốt ráo tốc độ này bị ngưng lại trong vật chất đặt, đó là số 7. Điều này không có nghĩa là Chúa đã không làm gì trong ngày này; nhưng ông ta chỉ “ngưng việc làm” trong ngày này, và sự chấm dứt công việc của ông là tạo ra cái thế giới vật chất. Buổi sáng của ngày này là buổi sớm của chu kỳ mặt trời, và tất cả những trạng thái ở thời điểm này đến buổi đầu của Tiến Hóa, như sự cô đọng, phóng xạ và thóai hóa đều được hòan tất trong ngày này. Ở đây, cái Uyên Nguyên, Nguyên Lý của Sự Sống, xem như đối cực vẫn còn “bất động và yên nghỉ”. Sự Thoái hóa chỉ là chức năng của năng lượng; mà vài chỗ trong cuốn thánh kinh nói rằng nó bắt đầu ở điểm ba một phần tư (3 ¼ ). (Xem sơ đồ)
 
“Phía Đông” trong Liễm Hóa trở thành “phía Tây” trong Tiến Hóa; cho nên “xứ hạnh phúc” luôn ở “phía Tây” [tương tự cõi tây phương cực lạc trong PG -GCCND ]

Danh từ “tuần” trong Hebrews là “bảy”; tuy nhiên đó là một tuần vũ trụ của bảy ngày hành tinh. Sự sáng tạo bảy ngày này không có ý là bắt nguồn từ Hebrews; mỗi vũ trụ quan cổ đều có nền tảng ở đấy – số bảy bí hiểm. Trong thần thọai Hy lạp, chư thần đã tạo nên thế giới trong một tuần gồm bảy ngày, và trong kinh Purânas của Ấn giáo, thần Brahma cũng làm như thế. Tên của bảy ngày này được tìm thấy trong các kinh Ấn giáo cả 5000 năm trước TL.
 
Cũng chẳng phải người Do-thái cổ đã cho ngày thứ bảy là một ngày linh thiêng. Trước khi câu chuyện đạo này được viết xuống (ở thế kỷ thứ 4), Hesiod (ở thế kỷ thứ 8) đã bảo: “Ngày thứ bảy là ngày thiêng.” Và về sau Plato viết như thế này: “Chư thần, vì thương xót sự vất vả của con người nên ban cho một chuổi những ngày lễ tôn giáo để họ được nghỉ ngơi”. Ngày nghỉ đầu tiên là mỗi ngày thứ bảy, mà mỗi ngày thứ bảy của mỗi tháng được dành cho thần Apollo, mặt trời, cho nên từ đó ta có ngày chủ nhật (chứ không phải chúa nhật). Ngay cả chữ Sabbath cũng chẳng phải từ tiếng Hebrews. Nó bắt nguồn từ xứ Babylon Sabattu, có nghĩa là ngày nghỉ, vốn đã được dân xứ ấy tôn trọng trước cả dân Do-thái cổ từ lâu. Giáo sư Langdon đã thắc mắc: “Vấn đề vì sao dân Do-thái lại chọn chữ gốc Babylon để đặt cho những ngày nghỉ của họ ngày nay còn là điều bí ẩn. Ý tưởng về một ngày nghỉ thứ bảy thường lệ bắt nguồn từ Babylon không còn bị nghi ngờ gì nữa.” Thật ra chẳng có gì bí ẩn cả; dân Do-thái cổ đã sở đắc những ý niệm siêu hình từ những dân tộc cổ hơn. Thực tế là không có chuyện gì trong cuốn kinh thánh mà không tìm thấy ở những nền văn học khác. Chúng ta chẳng cần phải tìm đâu xa khi đã có chứng cớ đầy thuyết phục về nguồn gốc và tính thiên khải của nó.
 
3)      Và Chúa ban phúc cho ngày thứ bảy, và thánh hóa nó: bởi vì Chúa nhân đó đã nghỉ ngơi khỏi những công việc chúa đã tạo ra.
 
Chúa đã chẳng gọi công việc của ngày này là tốt đẹp; ông ta còn làm hơn thế nữa. Ông ta đã ban phúc và thánh hóa nó, chẳng phải vì Ông được nghỉ ngơi thỏai mái, mà vì trong ngày thứ bảy hay tầng thứ bảy này Ông đã đạt được mục đích và nổ lực hòan thành cái thế giới vật chất. Những kẻ coi thường vật chất nên ghi nhận điều này. Hằng tỷ năm lao lực liễm hóa không hề uổng công, mà cứu cánh là cái thế giới vật chất. Rồi hằng triệu năm lao lực tiến hóa đưa đến ý nghĩa của cái thân xác vật chất của chúng ta, con người gắn liền với thế giới vật chất.
 
Bây giờ chúng tôi đã diễn dịch chương này theo luận thuyết của chúng tôi, nhưng không hẳn chỉ là của chúng tôi mà từ những ngành vũ trụ học cỗ mà chúng tôi học được. Họ chỉ nói về sự tạo dựng thế giới đến chỗ vật chật đặt, và gồm cả Con Người như là biểu tượng của Nguyên Lý Sáng Tạo. Câu chuyện đạo lại vo tròn bóp méo. Không hề có chuyện Adam, mà chỉ nói đến “con người” một cách tổng quát. Chắc hẳn phải có một chương nguyên bản Jhwhist nói đến chỗ này nhưng nay đã bị thất lạc. Thật không may, bởi nó đã có thể cho ta một cái nhìn khác hẳn. Chúng tôi nói thất lạc, nhưng không, nó đã bị tiêu hủy. Ta nên nói với những kẻ bênh vực cuốn thánh kinh: Hãy mang phần nguyên bản thất lạc và bị tiêu hủy này ra, vốn bị nhà thờ thay thế và xuyên tạc để mọi người đều rõ.
 
Ngày nay chúng ta đã biết rằng thế giới không hề được tạo nên như câu chuyện nhà thờ; vậy mà tại sao ta vẫn cứ coi trọng nó? Tại sao ta vẫn cứ chấp nhận nó là “lời của Chúa,” và để nó khống chế ta? Nó không là chuyện Chúa sáng thế; nó chỉ là câu chuyện đạo dốt nát, và chúng ta chấp nhận nó chỉ vì chúng ta cũng ngu dốt không kém. Sự tạo dựng ra một thế giới là một tiến trình siêu hình, và chúng tôi lập lại ở đây, người Tây phương không thực có khả năng về tư duy trừu tượng và vì thế y đã chấp nhận một cách mù quáng câu chuyện sai lạc này.
 
Các mặt trời là những nguồn tạo dựng ra các thế giới, không phải các chúa, các thần nào cả. Cổ nhân đã hiểu ra điều này và trở nên cơ sở cho việc thờ phụng mặt trời. Ngày nay chúng ta lại cho điều này như là sự ngu dốt của đa thần tà gáo về “một Chúa trời có thực,” nhưng than ôi, sự ngu dốt là ở nơi chúng ta mà không phải họ. Có câu chuyện về một ông giám mục Ki-tô đã bảo với một người Ba tư:
 
“À thì ra ngươi là một trong bọn kỳ dị chuyên thờ mặt trời.”
 
“Vâng,” người Ba tư trả lời, “nếu như ông nhìn thấy mặt trời thì ông cũng thờ thôi.”
 
Không, ông giám mục này về mặt tinh thần chưa hề thấy mặt trời nên ông ta thờ phụng một Đấng sáng thế hoang đường thay vì một cái có thực. Và tôi chắc rằng ông ta cho là hình thức tôn thờ của ông cao cả hơn của người tín đồ kỳ dị kia.
 
Và bây giờ, nếu chương thứ nhất này là sai thì cả cuốn sách ra sao? Theo lẽ thường thì trò chơi khăm này của nhà thờ đã bịp chúng ta. Và nó đã chẳng thành công ngay trong bốn chương đầu của cuốn Sáng thế ký.
 
(Còn nữa)
Trần Thanh-Lưu
Kỳ tới: Eden, Vườn Eden, Vườn Địa đàng, vv…

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com