- Web
Talawas
- Chiến
tranh nhìn từ nhiều phía
22.6.2005
Tạ Văn Tài
Giới thiệu sách Khi đồng minh tháo chạy của GS
Nguyễn Tiến Hưng và bàn thêm về cuộc chiến tranh Việt Nam
2 kì
I. Tác phẩm Khi đồng minh tháo chạy
Năm 1986, Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng [1]
(Phân khoa Kinh tế Đại học Howard, Washington, DC.) cùng viết và xuất bản
với ông Jerrold L. Schecter cuốn Palace File (Harper & Row Publishers),
sau đó được dịch ra tiếng Việt với nhan đề Hồ sơ mật Dinh Độc
Lập (HDMDĐL). Cuốn này hướng trọng tâm vào việc trình bày mối bang
giao Việt Mỹ trong những năm cuối cùng của chiến tranh Việt Nam, nhất
là những biến cố xoay quanh hoà đàm và Hiệp định Paris về chấm dứt
chiến tranh Việt Nam, đặc biệt đưa ra những mật thư giữa Tổng thống
Nguyễn Văn Thiệu và các Tổng thống Mỹ Nixon và Ford, từ 1971 đến 1975,
xác nhận Mỹ cam kết yểm trợ mạnh mẽ cho Việt Nam Cộng Hoà (nhưng rút
cục lại bỏ rơi). Dư luận chính giới và báo chí Mỹ hồi đó chú trọng
đến và khen ngợi giá trị của cuốn sách (bản gốc tiếng Anh). Bộ trưởng
Ngoại giao G. Schultz và tờ báo uy tín New York Times đưa cuốn này vào danh
sách các tác phẩm mà chính giới và ứng cử viên Tổng thống Mỹ phải
đọc.
Hiện nay cuốn sách trên không tái bản, độc giả khó tìm được, nhưng
Giáo sư Hưng đã viết cuốn Khi đồng minh tháo chạy (KĐMTC) [2]
. Tác phẩm KĐMTC căn cứ một phần vào các dữ kiện của HSMDĐL, nhưng đã
đi xa hơn nhiều. Trong khi HSMDĐL được viết cho các độc giả quốc tế,
nhất là những người trong chính quyền, báo giới Mỹ và các nhà nghiên cứu
lịch sử, thì KĐMTC đào sâu hơn các bằng chứng hay dữ kiện cụ thể về
những năm suy sụp kinh tế, quân sự và chính trị của tiểu quốc Việt
Nam Cộng Hoà khi đại cường đồng minh Mỹ tháo chạy, sau khi đã bắt tay
được với Trung Quốc. Trong khi HSMDĐL trình bày khá nhiều chi tiết và
tài liệu về những bí ẩn trong quan hệ chính quyền và tại hoà đàm
Paris mà có lẽ người Mỹ nào muốn thâm cứu lịch sử sẽ quan tâm đến,
thì cuốn KĐMTC nhắm vào đại chúng, nhứt là người Việt, có lẽ ưa một
cuốn sách sử viết theo lối kể chuyện, kiểu như cuốn của David
McCullough về Tổng thống John Adams (đã thành một cuốn best-seller), để
nghiền ngẫm về một giai đoạn lịch sử rất đau thương của miền Nam
Việt Nam; họ đã trải qua một cuộc hành trình đoạn trường trong cuộc
chiến tàn bạo, trong hoà bình bấp bênh và trong cuộc di tản hoảng hốt
lên máy bay hay ra biển năm 1975 -trong thời gian miền Nam Việt Nam hấp hối,
mà Ngoại trưởng Kissinger lại có lời nguyền rủa tàn nhẫn: "Sao bọn
chúng không chết sớm đi cho rồi?" (Nên ghi nhận là "Vua tình
báo" (intelligence czar) của Tổng thống Bush, trùm tất cả mười mấy
cơ quan tình báo Mỹ, trong đó có CIA, là John D. Negroponte, phụ tá của
Kissinger hồi đó, là người đã phản đối với Kissinger rằng đồng ý
cho bộ đội Bắc Việt ở lại miền Nam là sẽ dẫn tới việc họ chiếm
trọn miền Nam và như thế là bỏ mặc đồng minh. Bạn ông là Đại sứ Mỹ
tại Liên hiệp quốc Richard Holbrooke nói rằng, vì thế mà Negroponte bị hạ
tầng công tác trong hầu hết thập niên 70.) Những người Việt Nam vượt
biên, vượt biển sau năm 1975, ở những đợt di tản sau, cũng sẽ thấy diện
mạo mình trong cuốn này và sẽ có tài liệu cắt nghiã cho con cháu mình về
lý do và nguồn gốc của chuyện mình bỏ nước ra đi. Những người Việt
Nam ở phiá thắng cuộc năm 1975 cũng nên đọc để bớt tự hào, bởi vì
trong cuộc nội chiến do hai khối cường quốc theo hai ý thức hệ đối chọi
giúp cho hai phiá của dân tộc Việt Nam, thì một phía thắng cuộc vì lý
do chính là cường quốc của bên thua, là Mỹ, tháo chạy, trong khi các cường
quốc bên thắng, Liên Xô và Trung Quốc, vẫn yểm trợ tối đa vào năm
1975, mặc dầu trước đó, 1974, Liên Xô còn chưa tin là Bắc Việt Nam có
thể thắng bằng quân sự nếu miền Nam có Mỹ yểm trợ (theo tài liệu Văn
khố Đảng Cộng sản Xô Viết mới giải mật sau khi Liên Xô sụp đổ ),
và Mao Trạch Đông dè dặt hơn khi nói với Phạm Văn Đồng là cái chổi
ngắn không quét xa được. Quân viện của Trung Quốc đã tới miền Bắc từ
lâu (thí dụ, xe tăng T40). Thiết nghĩ, mỗi gia đình Việt Nam đều nên có
một cuốn KĐMTC này. Hơn cuốn trước, cuốn KĐMTC còn nói đến
những cố gắng vận động của Giáo sư Hưng vào ngày 30 tháng 4. 1975 và
những ngày sau đó về vấn đề định cư đồng bào di tản Việt Nam, lúc
đó đang chạy tán loạn ra biển và đang cầu xin tạm cư tại các trại tạm
cư (các chương 14-18).
Tác phẩm KĐMTC cho ta một số bài học về một cuộc nội chiến
mang thêm hình thức một cuộc chiến tranh uỷ nhiệm (war by proxy) mà hai phần
của một tiểu quốc, bên ít bên nhiều, đã thi hành và đổ xương máu
chém giết nhau đến nỗi một cuộc nội chiến biến thành một cuộc chiến
tranh quốc tế giữa hai khối do các cường quốc theo hai ý thức hệ đối
lập tranh hùng. Một số bài học mà, qua sự trình bày các sự kiện của
Giáo sư Hưng trong sách này, chúng ta có thể rút tiả sau đây, thì dĩ nhiên
chỉ liên quan đến giai đọan suy sụp của miền Nam Việt Nam mà ông bàn tới,
nhứt là các năm 1971-1975 (chứ không bàn tới toàn thể 30 năm, 1945-1975,
trong đó có chiến tranh Việt-Pháp 1945-54 và sáu năm hoà bình 1954-1960), và
cũng chỉ liên quan đến chiến tranh và hậu quả chiến tranh, chứ không
bàn tới các chính sách nội bộ của hai miền Nam và Bắc Việt Nam.
Nhưng các bài học đó chỉ có thể được trình bày rõ ràng sau khi đã liệt
kê cho độc giả duyệt lại sơ qua các biến chuyển về cuộc sụp đổ
mau chóng của Việt Nam Cộng Hòa, mà Giáo sư Hưng mô tả rải rác trong
tác phẩm này cũng như cuốn trước của ông.
·
Năm 1972: Việt Nam Cộng Hòa đẩy lui cuộc
tấn công Quảng Trị của quân đội Miền Bắc.
·
1973-1974: VNCH đẩy lui các cuộc tấn
công mạnh khác.
·
Hiệp định Paris 27/1/1973: ngưng bắn da
beo, quân đội Bắc Việt ở lại Miền Nam (quân đội hai bên đang ở đâu
thì đóng quân ở đó). Mặc dầu phản đối, nhưng vì áp lực của Mỹ, kể
cả doạ đảo chánh mà ông Thiệu có thể bị hại giống như ông Diệm
khi xưa, và vì tin vào cam kết trong nhiều mật thư của Tổng thống Nixon hứa
sẽ yểm trợ tối đa bằng không lực chặn đứng mọi cuộc tấn công và
hứa viện trợ vũ khí đầy đủ, ông Thiệu đồng ý ký Hiệp định.
Kissinger và Lê Đức Thọ được phần thưởng Nobel Hòa Bình; Lê Đức Thọ
không nhận!
·
Tổng thống Thiệu đưa ra khẩu hiệu
"Bốn Không", cho lệnh sơn cờ vàng ba sọc đỏ trên mái nhà dân
ở những vùng tranh giành.
·
Buổi họp mật ngày 6/12/1974 trong Dinh
Độc Lập kết luận là sẽ có cuộc tổng tấn công trong năm 1975. Tướng
Murray cũng báo Bộ Quốc phòng Mỹ như vậy.
·
Tháng 1/1975: Tỉnh Phước Long thất thủ
- tỉnh đầu tiên mất trong 15 năm chiến tranh.
·
Ngày 24 và 25/1/1975, ông Thiệu viết thư
yêu cầu thêm quân viện.
·
Tháng 2/1975: cuộc triệt thoái thê thảm
khỏi Pleiku. Tổng thống Ford chỉ trả lời mơ hồ là sẽ có trợ giúp.
Ông Thiệu cho Giáo sư Hưng coi một vài bức thư mật của Nixon hứa yểm
trợ.
·
Ngày 20/3/1975, ông Thiệu cho Giáo sư
Hưng biết tình hình hết sức trầm trọng với việc Bắc Việt gửi 5
trong 7 sư đoàn trừ bị vô miền Nam; như vậy họ có tổng cộng 19 sư đoàn
với 1000 xe tăng và trọng pháo. Giáo sư Hưng khuyến cáo công bố mấy bức
thư mật để tranh thủ Quốc hội và nhân dân Mỹ.
·
Nhưng trong buổi họp ngày 22/3/1975, Chủ
tịch Thượng viện Trần Văn Lắm, Chủ tịch Hạ viện Nguyễn Bá Cẩn,
và Ngoại trưởng Vương Văn Bắc lại khuyến cáo là chưa đến lúc
"la lối om xòm", vì "sẽ bị buộc tội là can thiệp vào nội
bộ Hoa Kỳ". Ông Thiệu cũng nhắc lại là Đại sứ Martin khuyên nên vận
động âm thầm với Tổng thống Ford. (Sau này, GS Hưng hỏi lại, ông Thiệu
vẫn còn nghĩ là "Chính phủ Mỹ tự họ phải thông báo cho Quốc hội
biết; nếu mình tiết lộ, họ sẽ vin vào đó mà nói mình bội ước".)
·
Ngày 23/3/1975, Đại sứ Việt Nam ở Hoa
Thịnh Đốn chuyển về một thư đề ngày 22/3/75 của Tổng thống Ford gửi
Tổng thống Thiệu hứa đại khái "sẽ tìm cách thỏa mãn nhu cầu
quân viện của ngài trên chiến trường".
·
Ngày 25/3/1975 Huế bị bỏ trống, quân
đội Miền Nam rút về Đà Nẵng, ông Thiệu yêu cầu GS Hưng soạn thư gửi
Tổng thống Ford xin can thiệp quân sự mãnh liệt bằng máy bay B-52 dội bom
và cung ứng khẩn cấp phương tiện để đẩy lui cuộc tấn công, như Tổng
thống Nixon đã hưá khi trước. Phó Đại sứ Lehman chuyển thư này qua đường
điện về Mỹ. Tổng thống Ford không hồi âm. Đà Nẵng thất thủ.
·
Sau đó, Tổng thống Ford cử phái đoàn
tướng Weyand sang Sài Gòn trong vòng 1 tuần để nghiên cứu và báo cáo. Khi
được hỏi, những người trong phái đoàn Weyand hết sức ngạc nhiên
không biết gì về lá thư cầu viện khẩn cấp ngày 25/3 trên. Trong buổi họp
ngày 3/4 ở Dinh Độc Lập, họ cho biết là có lẽ Tổng thống Ford cũng không
biết về các thư mật trước đây của Nixon nói về việc trả đũa mạnh
mẽ các cuộc tấn công vi phạm Hiệp định Paris cuả Bắc Việt. Lúc đó,
Tổng thống Thiệu hoàn toàn tin chắc là Kissinger đã giấu kín các mật thư
cam kết từ thời Nixon. Sau này, trong thập kỷ 80, cựu Tổng thống Nixon gọi
Kissinger là "devious Kissinger" (Kissinger xảo trá) trong một cuộc phỏng
vấn truyền hình.
·
Ngày 5/4/1975, phái đoàn Weyand về tới
Mỹ gặp riêng Tổng thống Ford được 5 phút trước khi họp với Kissinger
và đưa ra 3 bức thư cam kết yểm trợ cuả Nixon. Ông Marbod trong phái đoàn
Weyand kể lại là đọc xong mấy thư này, Tổng thống Ford rất xúc động.
·
Ngày 10/4/1975 Tổng thống Ford đã xin tăng
quân viện, nhưng Quốc hội bác và bàn sang chuyện di tản khỏi Việt Nam.
·
Trong khi đó thì tình hình suy sụp mau
chóng, mỗi ngày mất một tỉnh.
·
Mủi lòng trước cảnh sụp đổ của
miền Nam, Tổng thống Ford và phu nhân ra phi trường San Francisco đón trẻ mồ
côi từ chân thang máy bay. Chính phủ Mỹ quyết định cứu thêm người tỵ
nạn.
·
Ngày 15/4/1975, theo lệnh ông Thiệu, GS Hưng
đi Washington, mang theo 35 bức thư mật trao đổi giữa các tổng thống, để
xin Mỹ cho vay tiền, thay vì bỏ phiếu chống viện trợ.
·
Trong các ngày 19 đến 21/4/1975, Quốc hội
Mỹ chống viện trợ, dù số viện trợ xin đã giảm từ 722 triệu Mỹ kim
xuống 300 triệu cho quân viện và 170 triệu kinh viện.
·
Ngày 21/4/1975, Đại sứ Martin cố gắng
thuyết phục Tổng thống Thiệu từ chức để dễ thương thuyết với Bắc
Việt. Ông Thiệu từ chức tổng thống và Phó Tổng thống Trần Văn
Hương lên thay.
·
Ngày 23/4/1975 tại Đại học Tulane ở
Louisiana, Tổng thống Ford tuyên bố là đối với Hoa Kỳ, chiến tranh Việt
nam đã kết thúc và Hoa Kỳ không tham dự trở lại nưã. Ông không nói
thêm gì về việc viện trợ nữa.
·
Tới ngày 25/4/1975, Tòa Đại sứ Mỹ
ở Sài Gòn mới chính thức được phép nhận tạm dung (parole) 80.000 nhân
viên so' Mỹ và 50.000 người Việt Nam có "rủi ro cao độ". (Trước
đó, ngày 14/4, Ủy ban Ngoại giao Thượng viện đã bác bỏ việc di tản;
và ngày 17/4/1975, Kissinger gửi mật điện cho Đại sứ Martin, nói là trong
Ủy ban Liên bộ Đặc biệt, không có ai ủng hộ việc di tản người Việt.)
Ở Sài Gòn, ông Von Marbod và một người bạn khác của GS. Hưng là Richard
Armitage điện thoại cho GS Hưng ở Washington là đã di tản mẹ già và gia
đình GS ra khỏi Việt Nam.
·
Tại Việt Nam, ngày 28/4/1875, Tân Tổng
thống Dương Văn Minh lên thay cụ Trần Văn Hương, và gửi văn thư yêu cầu
Mỹ triệt thoái nhân viên trong phái đoàn tuỳ viên quân sự.
·
Ngày 30/4/1975 Tổng thống Minh tuyên bố
đầu hàng quân đội miền Bắc.
·
Tại Washington, cũng ngày 30/4/1975, với
sự giúp đỡ của Thứ trưởng Quốc phòng Nutter (thày dạy của Gs Hưng tại
Đại Học Virignia), GS Hưng tổ chức cuộc họp báo để công bố một số
trong số 35 mật thư giữa Tổng thống Thiệu và các Tổng thống Nixon và
Ford để nói rõ trách nhiệm cuả Mỹ đối với dân miền Nam Việt Nam và
yêu cầu Mỹ đền bù những cam kết không thi hành bằng cách cứu vớt đoàn
người di tản.
·
Ngày 2/5/1975, nhiều báo chí Mỹ và quốc
tế, đặc biệt tờ New York Times và Washington Post, đăng tải cuộc họp báo
và đặt ra các vấn đề về các mật thư. Tờ NYT đăng rõ lời tuyên bố
cuả các nghị sĩ Quốc hội, kể cả những người xưa kia đề nghị cắt
quân viện, họ kết luận rằng Hành pháp đã lừa dối chính phủ Việt
Nam Cộng Hoà và Quốc hội Mỹ về những điều Hoa Kỳ cam kết với Việt
Nam, và rằng Quốc hội phải nhờ một quan chức ngoại quốc (ông Hưng) mới
biết được những văn kiện quan trọng. Tờ Washington Post có bức hý họa
quy trách cho Kissinger về việc giấu hồ sơ. Các phóng viên cũng an ủi là
nghe xong, họ có thiện cảm với dân tộc Việt Nam.
·
Ngày 3/5/1975, Kissinger đổi thái độ.
Thông cáo của Ủy ban Liên bộ Định cư Người Đông Dương thông báo là
Kissinger đã yêu cầu Tổng thống Ford cho phép cấp quyền tạm dung (parole)
cho 150.000 người Việt Nam và Kampuchea. Tổng thống Ford chấp thuận và
thông báo cho Bộ trưởng Tư pháp thi hành qua Sở Di dân.
·
Ngày 23/5/1975, Quốc hội Mỹ chấp thuận
ngân sách 405 triệu Mỹ kim để định cư dân tỵ nạn, tuy rằng trước đó,
ngày 1/5, Hạ viện đã bác ngân khoản 327 triệu.
·
Sau đó, GS Hưng được ông Von Marbod mời
tham gia ý kiến về việc chọn địa điểm trại tạm cư cho đồng bào tỵ
nạn Đông Dương. Các ông đã cùng đi xem xét một số trại: Fort Chaffee
(Arkansas), Eglin Air Force Base (Folorida), Indian Town Gap (Pennsylvania).
[1]Vài lời chú thích về tác giả cuốn
Khi đồng minh tháo chạy
Xin thêm vài lời về Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng, mà chúng tôi hân hạnh
được gọi là bạn và đã chia sẻ, khi còn là sinh viên cùng du học tại
Đại học Virignia, những hoài bão của thanh niên Việt Nam yêu nước.
Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng là một nhân chứng lịch sử cho những chuyện
“thâm cung bí sử” trong bang giao Việt-Mỹ ở cấp cao nhất, giữa Tổng
thống Nguyễn Văn Thiệu và Tổng thống Nixon và Ngoại trưởng Kissinger tàn
bạo, nham hiểm. Ông Thiệu và Đại sứ Martin đã qua đời mà không để lại
hồi ký, thành ra chỉ còn Giáo sư Hưng, đã nói chuyện nhiều với hai người
quá cố, mới là người ở trong vị thế trình bày được những ý nghĩ của
hai người ấy về các biến cố ở miền Nam Việt Nam cho đến khi Mỹ tháo
chạy.
Tuy Giáo sư Hưng viết sách với tư cách là nhà học giả làm nhân chứng,
chú trọng đến những điều mắt thấy tai nghe, nhưng ông cũng là một
nhà hành động yêu nước và thương dân tộc. Ông sinh tại Thanh Hoá trong
một gia đình Thiên Chúa giáo thấm nhuần tinh thần bác ái. Trong thời
niên thiếu, ông lại thấy cảnh dân nghèo chết trong nạn đói năm 1945, mà
gia đình khá giả của Giáo sư cũng đã ra tay cứu giúp, được nhân dân
trong tỉnh quý mến, giúp ông cụ thân sinh của Giáo sư thoát được thảm
cảnh cải cách điền địa. Nguyễn Tiến Hưng du học tại Đại học
Virginia, Hoa Kỳ, từ năm 1958, theo ngành kinh tế học, là một môn học mệnh
danh là dismal science (khoa học ưu sầu) vì bàn về phát triển
tài nguyên thiếu thốn để phục vụ nhân sinh. Có lẽ vì lúc trẻ như vậy
mà những hoạt động của Giáo sư Hưng đều có tinh thần bác ái theo
Thiên Chúa giáo hay tinh thần từ bi cứu khổ của Phật giáo. Khi gặp ông
vào tháng 9/1960, khi chúng tôi vừa tới Đại học Virginia để theo Khoa Chính
trị học, thì ông ân cần thăm hỏi, giúp đỡ và chỉ dẫn khi cần thiết,
chở tôi đi thuê nhà trong chiếc xe cũ Studebaker chạy "cà rịch cà
tàng" trên đường phố. Tôi đã chứng kiến cảnh sinh viên ban tiến sĩ
ấy hoạt động trong Câu lạc bộ sinh viên nước ngoài, được các bạn gọi
là "Ông Hưng xóc áo can thiệp" vì ông thích mặc quần áo chỉnh tề
để đi "can thiệp" giúp đỡ các sinh viên trẻ hơn, mỗi khi họ gặp
khó khăn cần giúp đỡ.
Ông giúp Tổng thống Thiệu trong cương vị Phụ tá Tái thiết, rồi Tổng
trưởng Kế hoạch và Phát triển, theo đuổi mục đích xây dựng lại nền
kinh tế bị chiến tranh tàn phá, cũng là theo đuổi mục đích xóa đói giảm
nghèo cho dân tộc. Ý thức được việc hiệp thương với miền Bắc, xóa
đói giảm nghèo ở miền Bắc Việt Nam có thể mang lại hoà bình, vì có
thể bớt nhu cầu phải xâm chiếm vựa lúa ở miền Nam, ông đã khuyến
cáo Tổng thống Thiệu, trong lúc lo lắng Mỹ bỏ rơi, là nên tái lập giao
thương giữa hai miền Nam Bắc, tuy là hai nước Việt Nam nhưng cùng ở
trong một thị trường, và nối lại đường hỏa xa Nam Bắc. Ông Thiệu đã
nghe và nói tới đề nghị này trong bài diễn văn tuyển cử ngày 1/10/1971.
Giáo sư Hưng cũng trình bày chi tiết và cố vấn Tổng thống Thiệu đề
nghị với Bắc Việt cùng nhau cộng tác trong Dự án Phát triển sông Cửu
Long như một cách đẩy mạnh hơn chung sống hoà bình. Dự án này đã được
Tổng thống Johnson tuyên bố ngày 7/4/1965 là đồng ý tài trợ một tỷ Mỹ
kim (tiền hồi đó giá trị nhiều), vì nó giúp mang lại "cơm ăn, nước
uống, và nguồn điện lực còn lớn hơn cả vùng thung lũng Tennessee
Valley" quản lý bởi cơ quan Tennessee Valley Authority của Mỹ - lời tuyên
bố này đã đẩy mạnh thêm nguồn cảm hứng của Giáo sư Hưng muốn đóng
góp vào việc phát triển quê hương mình ngay từ hồi mới đậu tốt nghiệp
đó.
Theo lệnh ông Thiệu ngày 14/4/1975, Giáo sư đi Washington, DC. cầu viện,
nhưng đã quá muộn. Giáo sư đã đổi sứ mạng, vào ngày 30/4/1975, sang việc
vận động nhân dân Mỹ, từ báo chí đến Quốc hội đến Hành pháp, để
Mỹ nhận cứu vớt người di tản từ Việt Nam, và đóng góp ý kiến vào
việc chọn các địa điểm trại tạm cư.
Sau này, khi Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đổi mới và mở cửa hội
nhập quốc tế và để cho nhân dân tự do hơn trong kinh tế thị trường,
Giáo sư đã làm các công việc của Quỹ tền tệ Quốc tế và Ngân hàng
Thế giới trong công cuộc chuyển đổi kinh tế và xóa đói giảm nghèo ở
Việt Nam, thí dụ phát triển dự án "Bank on Wheels" (Ngân hàng lưu
động), mang đến cho các gia đình nông dân, đặc biệt là những gia đình
nghèo nhất, trên cao nguyên miền Nam và tại vùng thượng du miền Bắc, số
tiền vay 200 Mỹ kim mỗi gia đình để tăng gia sản xuất. Các gia đình
nông dân, với số tiền nhỏ nhoi đó, đã làm ăn thành công và hoàn trả
cả vốn lẫn lời. Vì công việc lợi cho dân, ông đã được ngay những
người lãnh đạo cao cấp tôn trọng, mặc dù họ thừa biết ông đã là một
cố vấn của Tổng thống Thiệu "Bốn Không" (vẫn nói không chung
sống với cộng sản).
Con người Nguyễn Tiến Hưng, với lòng nhân, ưa giúp người dân cùng khổ
Việt Nam. Cuốn KĐMTC là một phương cách để ông vinh danh đồng bào
Việt Nam di tản của ông, họ đã kinh qua những con đường rất đoạn
trường, cùng khổ, để có ngày nay và tương lai xán lạn hơn.
[2]Nhà
xuất bản Khi Đồng Minh Tháo Chạy, 173 Silcreek Drive, San Jose, CA,USA, 2005
II. Bàn thêm về chiến tranh Việt Nam
Ôn lại những biến cố nói đến trong cuốn sách KDMTC và cả cuốn HSMDĐL
của Giáo sư Hưng, chúng ta rút được các nhận định sau về những năm
sau cùng của cuộc chiến tranh Việt Nam và hậu quả của nó. Nếu độc giả
cho rằng rút bài học sau khi việc xảy ra rồi (hindsights) thì "dễ quá
mà", thì chúng tôi cũng đồng ý trong sự khiêm tốn của một người
nghiên cứu. Nhưng điều chúng tôi muốn nói là, nếu những nhà làm chính
sách, ngay trong khi biến cố đang xảy ra, chịu khó tham khảo những học giả
hay cố vấn đã dầy công nghiên cứu bài học tiền nhân để lại trong
chiều dài của lịch sử, thì cũng có thể thấy ngay những điều nên
làm, vào lúc đang phải giải quyết vấn đề, và bớt được nhiều sai lầm.
Chẳng khác gì các vị anh quân ngày xưa nghe theo những lời bàn của các vị
thâm nho hay các quan ngự sử, chiếu các nguyên tắc trị nước khôn ngoan
truyền lại từ các tiền nhân (Khổng Tử, Tôn Tử, Aristotle v. v.) hay từ
các triều đại cực thịnh hay cực rối ren tại Á Châu (chẳng hạn các
thế liên minh thay đổi của thời Đông Chu Liệt Quốc). Cũng chẳng khác
gì các chính phủ Âu Mỹ trong thời hiện đại dùng đến các kinh nghiệm
và ký ức lịch sử chứa trong các định chế (institutional memory) như các
đại học hay các cơ quan tư duy cố vấn (think tank). Ông Nguyễn Văn Thiệu
là một quân nhân làm chính trị, nhưng chưa đủ tầm vóc một statesman
(chính khách), vì tính đa nghi, hẹp hòi, sợ người dưới quyền vượt mình
và có thể hại mình (như trong cách xử tệ với Phụ tá Nguyễn Văn Ngân,
người đã có công xây dựng Đảng Dân chủ và tổ chức bầu cử tổng
thống "chắc ăn" năm 1971 cho ông, không cho ông Nguyễn Cao Kỳ ra
chia phiếu của ông khi đối đầu với Đại tướng Dương Văn Minh). (Giáo
sư Nguyễn Ngọc Huy giễu cợt với tôi khi tả tính đa nghi của ông Thiệu:
"Ông ấy bắt tay người ta rồi về nhà ngó bàn tay mình xem còn đủ
năm ngón không".) Ông Thiệu theo lối phân công từng mảng việc cho từng
người, không cho người này biết việc của người kia, theo lối "phân
gian", nghĩ rằnh như vậy dễ kiềm chế từng người, do đó không tụ
hội trong một hội đồng tham mưu gồm nhiều bộ óc cố vấn giỏi cùng
bàn chung việc nước (brain trust), và không đi dến viễn kiến xa rộng và
khôn ngoan được. Việc hòa đàm Paris, mà các vấn đề ngoại giao, quân sự,
kinh tế, tình hình chính trị ở Mỹ, tình hình và chính sách Đảng Cộng
sản ở miền Bắc, liên hệ chằng chịt và ảnh hưởng đến diễn tiến
thương nghị và nội dung hòa đàm, thì ông Thiệu giao cho những người sau
dây, mỗi người một mẩu vấn đề: Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng, Đại sứ
Phạm Đăng Lâm, các ông Nguyễn Xuân Phong, Nguyễn Phú Đức, Nguyễn Ngọc
Huy, Nguyễn Cao Kỳ. Giáo sư Hưng nói trong sách là ông chỉ được giao việc
về chuyện liên lạc với Mỹ, còn ông không được cho biết về tình
hình quân sự cho đến phút chót và ngay cả gần 30 mật thư của hai Tổng
thống Hoa Kỳ mà cuối cùng ông Thiệu giao cho GS Hưng đi cầu viện thì cũng
đưa cho xem vài lá thư vào lúc bắt đầu nguy kịch mà thôi.
Khi bàn trên đây về cá tính của ông Thiệu và sau đây về chiến tranh Việt
Nam, chúng tôi đều có tài liệu và nhân chứng còn sống và có thể cung cấp
chi tiết và điện thoại cho độc giả nào muốn phối kiểm lại. Nhưng chúng
tôi không ghi ra trong bài tham luận này để đỡ làm mệt độc giả.
1. Như một chính khách Anh đã nói về chính trị, "không có bạn
trường cửu, mà chỉ có quyền lợi trường cửu thôi" (no permanent
friends, only permanent interests). Trong cuộc nội chiến Quốc Cộng tương tàn
giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam, cũng là chiến tranh quốc tế do hai khối
cường quốc uỷ nhiệm, trong đó cả hai miền của tiểu quốc Việt Nam đều
được phong, hoặc là tiền đồn của Chủ nghĩa Xã hội, hoặc là tiền
đồn của Thế giới Tự do, cả hai miền đều lệ thuộc hoàn toàn vào cường
quốc bảo trợ, cho nên một khi mà cường quốc Mỹ đã bắt tay được với
cường quốc đối phương là Trung Quốc sau khi Kissinger và Nixon đi Tàu, và
không còn quyền lợi là phải lo ngăn chặn bành trướng của khối cộng sản
xuống Đông Nam Á bằng cách yểm trợ Nam Việt Nam nữa, thì Mỹ bỏ rơi
miền Nam, nhượng bộ tối đa trong Hiệp định đình chiến, đồng ý cho Bắc
Việt để lại quân đội tại miền Nam, chỉ cốt đem được tù binh Mỹ
về, không còn yểm trợ võ khí theo nguyên tắc "mất một thì đổi một"
đã cam kết, bác cả việc miền Nam dùng Quỹ đối giá (Viện trợ) để
trả lương quân đội và cảnh sát, dù đoán trước là miền Nam chỉ sống
sót được chừng một năm rưỡi sau Hiệp định Paris tháng 1/1973 (lời
Kissinger). Đến khi tình hình tại Nam Việt Nam suy sụp trước sự tiến công
của quân đội miền Bắc vào năm 1975, thì Ngoại trưởng Kissinger cố ý
giấu Quốc hội Mỹ lời cam kết của Tổng thống Nixon yểm trợ bằng
không lực và giúp võ khí, và cả Quốc hội lẫn Hành pháp Mỹ chỉ bàn
chuyện di tản khỏi Việt Nam.
Đáng lẽ ra, những người lãnh đạo miền Nam Việt Nam phải nhận ra
khuynh hướng giải kết của Mỹ từ lâu rồi chứ! Khi thấy dân chúng Mỹ
bắt đầu mệt mỏi vì chiến tranh và phong trào phản chiến ngày càng mạnh
từ năm 1968, và ngay chính Tổng thống Johnson cũng nản chí không ra tranh cử
năm 1968 mà dành toàn thời gian vào việc giải quyết chiến tranh Việt Nam,
thì phải tiên liệu là Mỹ sẽ tìm cách tháo gỡ. Dù không hề làm việc
gì trong chính quyền miền Nam Việt Nam và chỉ đóng vai giáo sư / nghiên cứu
gia, chúng tôi đã viết, vào năm 1970, bài "Tiền Mỹ, máu Việt"
trong Tập san Quốc phòng của Trường Cao đẳng Quốc phòng, Sài Gòn, về
chương trình Việt Nam hóa chiến tranh của Tổng thống Nixon và trong khi
thuyết trình tại trường, có tiên liệu là khi người Mỹ không còn con
cái của họ thương vong ở Việt Nam, họ sẽ kém rộng lượng về viện
trợ. Và nếu không có "xương sống" Mỹ, thì tổ chức chống cộng
Liên phòng Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization) cũng chỉ là "con
hổ giấy", và máu Việt có đổ ra thì chưa chắc tiền Mỹ sẽ có để
có đủ quân trang quân dụng. Có lẽ các vị tướng tá trong trường, là
những quân nhân cao cấp nhiều hiểu biết, cũng đồng ý với chúng tôi như
vậy, mặc dù họ và chúng tôi đã có dịp đi thăm hàng không mẫu hạm
trong lực lượng hùng hậu của Hạm đội 7 của Mỹ và nghe Trung tướng
Ngô Quang Trưởng thuyết trình về vị thế Quân đoàn I chặn ngang đường
tiến quân có thể có của quân đội miền Bắc.
Việc thay đổi các thế liên minh tại các quốc gia Âu Mỹ trong hai thế kỷ
vừa qua cũng cho thấy chẳng có gì trường tồn, hay chắc chắn trong bang
giao quốc te^'. Quyền lợi của mỗi quốc gia, ngay cả cường quốc, thay đổi
theo mỗi giai đoạn.
Về vấn đề cuộc chiến Việt Nam là nội chiến hay chiến tranh do các phe
quốc tế ủy nhiệm, thì có thể nói lúc Pháp trở lại Việt Nam, và Hồ
Chí Minh ôm lấy cụ Nguyễn Hải Thần yêu cầu các đảng quốc gia cùng
gánh vác trách nhiệm chung và sau đó lập Chính phủ Liên hiệp với các đại
diện các đảng quốc gia như Vũ Hồng Khanh (Việt Nam Quốc dân Đảng,
VNQĐĐ), Nguyễn Tường Tam (Đại Việt, ĐV), Nguyễn Hải Thần (Việt Nam Cách
mạng Đồng minh Hội, VNCMĐMH), thì lẽ ra đã không có cuộc nội chiến. Sở
dĩ có thể tin như vậy là vì Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh đã có
công cứu mạng Hồ Chí Minh ở bên Liễu Châu, Trung Quốc. Theo lời ông Vũ
Hồng Khanh kể lại trong trại học tập sau 1975 cho người cùng phòng giam
là Đại tá Bùi Thế Dung (hiện ở Massachusetts), Thứ trrưởng Quốc phòng
trong chính phủ Dương Văn Minh, mà ông Khanh đối xử như hàng con cháu,
thì ông Khanh cho biết rằng vào đầu thập kỷ 1940, Hồ Chí Minh, lúc đó
lấy tên là Lý Thụy, giả đò như một cụ già mù, đi với hai người trẻ
tuổi từ Pắc Bó qua Liễu Châu, bị quân đội Quốc dân Đảng Tàu bắt,
hai người trẻ tuổi chạy mau nên thoát (ông Khanh sau này đoán đó là Phạm
Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp). Có người Việt Nam tên là Lý Sanh đến nhờ
hai ông Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải Thần trong VNCMĐMH can thiệp với tỉnh
trưởng Tàu là tướng Trương Phát Khuê. Tuy tướng Khuê nói: "Anh này
là cộng sản, sẽ chặt làm đôi", nhưng rồi cũng thả Lý Thụy ra và
cho về ở với các ông Khanh, Hải Thần và Lý Sanh. Ông Khanh cho biết ông
Hải Thần mê ông cụ già Việt Nam hoạt bát đó và ông cụ này cũng được
tướng Khuê tin, giao công việc này nọ. Năm 1943, trong buổi họp VNCMĐMH
đưa vấn đề cử người về nước đặt cơ sở cho cách mạng thì ông
Lý Thụy xung phong. Sau này, khi Việt Minh cướp chính quyền vào năm 1945 và
Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải Thần vô
Chính phủ Liên hiệp, ngồi ăn cơm với nhau trên chiếu trong Phủ Chủ tịch
ở Hà Nội, thì các ông mới nhìn ra Hồ Chí Minh chính là ông già Lý Thuỵ
và ông Hoàng Văn Hoan chính là Lý Sanh vào năm 1943. Sau 1975, khi ông Vũ Hồng
Khanh bị bắt và đưa ra ở trong trại học tập ở miền Bắc, thì Bộ trưởng
Công an Trần Quốc Hoàn vào thăm và cho ra trại sớm vào năm 1977, để về
ở với người con gái lớn 53 tuổi ở lại miền Bắc sau 1954, tại quê cũ
ở Vĩnh Phúc. Nếu Đảng Cộng sản, vào thời điểm 1945-46, tiếp tục đối
xử tương kính đối với các lãnh tụ phe quốc gia như tả trên, mà không
ám sát hàng loạt những người quốc gia như nói sau đây, thì chưa chắc
đã có cuộc nội chiến.
Và lẽ ra không có cuộc nội chiến và Chính phủ Liên hiệp mà Hồ Chí
Minh lập ngày 2/3/1946 đã có thể tiếp tục với sự chia sẻ quyền lực
Quốc-Cộng, nếu cường quốc Hoa Kỳ đã không bỏ mặc Việt Nam cho Pháp
và đã can thiệp sớm hơn và can thiệp đúng hơn theo chính sách của Tổng
thống Roosevelt là không cho thực dân Pháp trở lại Việt Nam. Sau khi
Roosevelt qua đời và Truman lên thay, Mỹ đã lờ đi không trả lời tám bức
thư Hồ Chí Minh liên tiếp gủi cho Tổng thống và Bộ trưởng Ngọai giao
Mỹ để xin ủng hộ nền độc lập của Việt Nam trước việc Pháp đem
quân trở lại Việt Nam, vì cho rằng Mỹ cần Pháp như đồng minh trong cuộc
Chiến tranh Lạnh với Liên Xô đã bắt đầu. Pháp đã được quân đội
Anh ở trong Nam (tước khí giới quân đi Nhật đầu hàng) cho đổ bộ tái
chiếm thuộc điạ. Theo Thỏa ước Trùng Khánh Pháp ký ngày 28/2/1946 với
Trung Hoa Dân quốc (mà quân đội do Lư Hán và Tiêu Văn chỉ huy, sang miền
Bắc Việt nam tước khí giới quân đội Nhật đầu hàng), Pháp đem quân
trở lại miền Bắc. Tại cả hai miền Bắc và Nam Việt Nam, tàu chiến Mỹ
chở quân đội Pháp vào Sài Gòn và Hải Phòng.
Và Pháp đã tiếp tay cho Việt Minh trong việc tiêu diệt các thành phần quốc
gia (nói sau đây) vì cho là họ có lập trường cực đoan, phản đối kịch
liệt Hiệp định Sơ bộ ký ngày 6/3/1946 (Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn
Tường Tam không tham dự), và chỉ trích Hồ Chí Minh rất nặng là
"bán nước cho Pháp. (Sainteny và Leon Pignon gặp Nguyễn Tường Tam và
Nguyễn Hải Thần, nhưng không đạt được thỏa hiệp). Hiệp định Sơ bộ
này nhìn nhận Việt nam là một nước "tự do" trong Liên hiệp
Pháp và chỉ có một phần quyền cai trị. Hồ Chí Minh phải giải thích tại
Nhà hát Lớn Hà Nội và thề: “Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước".
Ngay từ tháng 9/1945, đã có sự nghi kỵ, kèn cựa giữa các đảng quốc
gia và Việt Minh: quốc gia tố cáo Việt Minh là cộng sản; Việt Minh tố
cáo Việt Cách (VNCMĐMH) và Việt Quốc (VNQĐD) là phản động. Sau khi Việt
Minh cướp chính quyền, các đảng quốc gia dự tính dựa vào sự ủng hộ
vẫn có của Quốc dân Đảng Trung Hoa từ khi họ lưu vong ở bên Tàu (sau
biến cố khởi nghĩa Yên Bái của Nguyễn Thái Học 1930), để lật đổ chính
phủ lâm thời đầu tiên do Hồ Chí Minh lập, tuy đã có vài đại diện của
họ. Nhưng các đảng quốc gia không đoàn kết, thiếu cơ sở quần chúng
trong nước vì lưu vong lâu, tính dựa vào mấy tướng Tàu tham nhũng, cho nên
khi họ tổ chức biểu tình, và chỉ trích Việt Minh, họ thua Việt Minh đã
tổ chức quần chúng trong nước từ khi tướng Tàu Trương Phát Khuê cho Hồ
Chí Minh về nước năm 1941 trong tư cách VNCMĐMH mà Việt Minh là một thành
viên, mà lại có sự ủng hộ của Đệ tam Quốc tế, Quốc dân Đảng
Trung Hoa (sau khi Việt Minh đút lót cho Lư Hán và Tiêu Văn vàng - do tuần lễ
vàng quyên trong đồng bào - và thuốc phiện, Trung Hoa bắt các đảng quốc
gia theo giải pháp liên hiệp, dù miễn cưỡng) và của cơ quan tình báo Office
of Strategic Services (OSS) cuả Mỹ. Việt Minh cũng tổ chức biểu tình,
và trưng hình cán bộ bị phe quốc gia giết.
Khi một đảng viên cộng sản hỏi Hồ Chí Minh: "Thưa Bác, tại sao phải
để cho bọn phản quốc giết người ấy sống làm gì? Chỉ cần Bác ra lệnh
là tuị cháu sẽ tiêu diệt hết chúng nó nội trong một đêm", thì Hồ
Chí Minh mỉm cười: "Có con chuột chạy vào phòng này thì chú lấy đá
ném nó hay tìm cách bắt nó? Ném đá thì vỡ đồ quý trong phòng. Muốn
làm chuyện lớn thì phải biết tiên liệu."
Nhưng khi Hồ Chí Minh đi dự Hội nghị Fontaineblau tại Pháp, và cố gắng
thuyết phục các trí thức quốc gia ở Pháp về nước cộng tác thì ở
trong nước, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản có mặt trong nước
đã ra lệnh các trưởng ban ám sát triệt hạ trụ sở, chiến khu và giết
hại đảng viên các đảng quốc gia nội trong vòng vài tháng, lúc đó
không còn được các tướng Tàu ủng hộ nữa: ở ngoài Bắc, bị giết
hay mất tích là các nhà ái quốc Trương Tử Anh (một lãnh tụ nêu gương
sống đạm bạc, nằm ngủ trên chiếc giường vốn là một tấm cửa sổ,
theo lời GS Bùi Tường Huân), Lý Đông A, Khái Hưng, còn Nguyễn Hải Thần,
Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh phải trốn sang Tàu; ở trong Nam, ngoài
các lãnh tụ Đệ tứ Quốc tế bị giết hay mất tích như Phan Văn Hùm, Tạ
Thu Thâu, Lương Đức Thiệp, Phan Văn Chánh, Trần Văn Thạch, thì các lãnh
tụ không cộng sản cũng bị thủ tiêu, như Hồ Văn Ngà, Huỳnh Văn
Phương, Dương Văn Giáo, Hồ Vĩnh Ký, Bùi Quang Chiêu, Huỳnh Phú Sổ và
các chức sắc Cao Đài và Hòa Hảo. Quốc hội Lập hiến họp ngày
28/10/1946 thì chỉ có 291 người có mặt trong số 444 đại biểu; 70 ghế đại
biểu dành cho VNQĐD và VNCMĐMH thì chỉ có 37 người có mặt, còn những người
kia đã bị bắt trước, rồi sau đó 34 người còn lại cũng biến mất. Do
đó các đảng quốc gia phải theo con đường chống cộng; một số theo con
đường "chùm chăn", tức lủi tránh không hoạt động nưã; và sau
này, họ theo giải pháp Bảo Đại.
Khía cạnh nội chiến, người Việt giết hại người Việt, cũng rõ rệt
trong cuộc cải cách ruộng đất tàn ác 1953-54 ở Miền Bắc, khiến một
triệu đồng bào Việt Nam bỏ chạy khỏi miền Bắc, di dư vô miền Nam,
và cũng rõ sau này trong việc sát hại oan uổng những người dân ở Huế
trong Tết Mậu Thân 1968 (xin xem cuốn Giải khăn sô cho Huế của Nhã
Ca).
Hồi đầu cuộc chiến tranh Việt-Pháp không phải là cuộc chiến tranh ủy
nhiệm, vì khi Việt Minh chống cự lại Pháp tái chiếm đất nước để giành
độc lập, thì đó là một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc mà tất
cả những người Việt Nam yêu nước đều ủng hộ, không có Liên Xô hay
Trung cộng ủy nhiệm người Việt đánh Pháp vào lúc đầu (Stalin còn xử
tệ với Hồ Chí Minh - như Kruschev viết hồi ký sau này cho biết - và Mao
Trạch Đông còn đang chiến đấu với Quốc dân Đảng Trung Hoa, chưa đi tới
biên giới Việt Nam). Tổng thống Mitterand sau này sang thăm Việt Nam thống
nhất, đứng trước Điện Biên Phủ, cũng tỏ ý hối tiếc là Pháp đã lầm
lẫn trở lại định tái chiếm thuộc địa Việt Nam trong cuộc chiến cho
độc lập của người Việt. Phe quốc gia trong giải pháp Bảo Đại cũng
chỉ được uỷ nhiệm một phần nhỏ, và chỉ ở giai đọan sau của cuộc
chiến, khi Tướng De Lattre thấy rằng 280.000 quân viễn chinh Pháp đánh nhau
lấy không xong, phải uỷ nhiệm một phần nhỏ cho người Việt Nam với
70.000 quân đội người Việt do Pháp lập ra với chế độ động viên.
Còn trước đó, thực dân Pháp muốn đánh lấy một mình; năm 1946 đưa Vua
Duy Tân đang đi đầy về Paris nhưng nửa đường đến Algeria thì máy bay
trục trặc rớt, rất đáng ngờ vực, sau đó Pháp bàn là không nên dùng Bảo
Đại mà đưa Nam Phương Hoàng Hậu làm phụ chính (Regent), cuối cùng mới
đi dến chỗ dùng Bảo Đại.
Sau này khi Mỹ thay thế Pháp ở miền Nam Việt Nam để yểm trợ cho Ngô Đình
Diệm, thì cuộc chiến tranh Việt Nam mang nhiều tính chất nội chiến hơn,
vì mỗi miền đã có phần lãnh thổ và chính phủ riêng biệt. Nhưng tính
chất uỷ nhiệm quốc tế cũng rõ hơn. Miền Bắc lãnh nhiệm vụ quốc tế
bành trướng chủ nghĩa cộng sản với sự trợ giúp mạnh mẽ của Liên
Xô và Trung Quốc trong việc đồng thời đấu tranh thống nhất đất nước
cho dân tộc. Miền Nam được Mỹ mệnh danh là tiền đồn của Thế giới
Tự do, được Mỹ uỷ nhiệm một phần thứ yếu trong cuộc chiến trong
giai đoạn sôi nổi nhất, người Việt chỉ phòng vệ diện địa. Còn
phiá Mỹ thì leo thang tham chiến ngày càng nhiều: chính phủ Mỹ lúc đầu
được báo chí và công luận ủng hộ mạnh việc tham chiến, người Mỹ
khởi sự với vai trò cố vấn, rồi đem vào lực lượng đặc biệt, sau cùng
đem đại quân tác chiến (combat troops) để thi hành phương pháp hành quân
"tìm diệt địch" (search and destroy); ở thời cao điểm, Mỹ tung nửa
triệu quân vào chiến trường (nếu kể số binh sĩ Mỹ luân lưu tham gia
chiến trường Việt Nam, thì số người Mỹ tham chiến ở Việt Nam là 3
triệu người), chưa kể không quân, hải quân yểm trợ từ Hạm đội 7 và
từ Thái Lan. Ông Bùi Diễm, cựu Đại sứ miền Nam Việt Nam tại Mỹ, đã
tả trong hồi ký của ông cách thức người Mỹ tự mời họ tham chiến với
đại quân vào năm 1965: Sau khi Bộ trưởng Quốc phòng McNamara và Chủ tịch
Uỷ ban Tham mưu Liên quân thám sát chiến trường, họ yêu cầu ông Bùi Diễm
soạn văn bản "mời" Mỹ đem đại quân qua Việt Nam (tức là Mỹ
hóa - Americanization - chiến tranh), mà không có sự thảo luận trong Quốc hội
và nhân dân Mỹ. Mỹ tự mời Mỹ qua, nhưng để cho ông Bùi Diễm, lúc đó
là Bộ trưởng Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng Hoà, soạn thảo thông cáo
chung để cứu thể diện Nam Việt Nam. Chính Đại sứ Mỹ ở Việt Nam là
tướng Taylor cũng ngạc nhiên. Hầu như tất cả các lãnh đạo dân, quân sự
miền Nam Việt Nam hồi đó đều chống đối việc Mỹ hóa chiến tranh (xin
nhớ là ông Ngô Đình Diệm cũng đã chống việc đem quân tác chiến Mỹ
qua Việt Nam).
Sau khi số thương vong Mỹ lên cao, cảnh chết chóc đẫm máu trên màn truyền
hình màu ở Mỹ đem chiến tranh đến tận từng nhà người Mỹ mỗi bữa
cơm chiều, và phong trào phản chiến bắt đầu trong giới trẻ rồi lan
sang các giới quần chúng khác, đưa ra ý muốn rút khỏi chiến tranh Việt
Nam và tìm cách đem tù binh Mỹ về, thì Tổng thống Nixon Việt Nam hóa chiến
tranh. Vai trò quân đội người Việt ở miền Nam lúc đó mới tăng cường
nhiệm vụ chiến đấu nhiều hơn. Nhưng rồi sau đó, vì phong trào phản
chiến đã xẹp xuống do việc bỏ chế độ động viên và việc thanh niên
Mỹ không sợ chết tại Việt Nam nữa, thì vấn đề Nam Việt Nam sống còn
hay không, không còn là mối lo cho của Mỹ nữa, và ngay cả việc uỷ nhiệm
cho miền Nam Việt Nam dùng khí giới Mỹ giữ "tiền đồn Thế giới Tự
do" cũng bị Mỹ từ bỏ luôn sau khi ký Hiệp định Paris và rút đuợc
tù binh và quân đi Mỹ về nước, và đã giao hảo tốt đẹp được với
đại cường Trung Quốc và giảm căng thẳng với địch thủ chính là Liên
Xô. Ngược lại, lãnh đạo miền Bắc Việt Nam vẫn tự cho là tiền đồn
của cuộc cách mạng cộng sản ở Đông Nam Á, và có ý định không những
thống nhất Việt Nam mà còn giúp các đảng cộng sản Cam Bốt, Lào, Thái
Lan và các nơi khác nữa (theo tài liệu văn khố Xô Viết, giải mật sau
khi Liên Xô sụp đổ).
Xét theo quan điểm quyền lợi của Mỹ, thì việc Mỹ đã mắc lỗi lầm
chiến lược là tự đem đại quân tác chiến vào Việt Nam rồi sau đó lại
bất trung, bỏ cuộc trên trường quốc tế tại Việt Nam nhũng năm sau cùng
cuả cuộc chiến, dẫn đến sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, cũng có
hại cho chính nước Mỹ. Tuy sau các nước Đông Dương, không có nước nào
khác tại Đông Nam Á rơi vào khối cộng sản theo lý thuyết domino (tức
là không có geographical domino, dây chuyền điạ dư), nhưng đã có các
cuộc tấn công có vẻ coi thường nước Mỹ tại Angola và Iran chẳng hạn
(psychological domino, dây chuyền tâm lý). Nghe nói sinh viên Iran bắt
nhân viên Tòa Đại sứ Mỹ làm con tin là bắt chước chiến thuật bám
sát địch cuả cộng sản Việt Nam.
Nhưng là cường quốc, cho nên Mỹ vẫn vững trên trường quốc tế, lại
có thể "ăn miếng trả miếng", cô lập hóa Việt Nam với chính
sách cấm vận hai chục năm trời, làm điêu đứng Việt Nam và khi hai nước
tái lập bang giao, Việt Nam lại là nước muốn và cần giao hảo tốt đẹp
với Mỹ hơn là ngược lại.
Cái thế thù thành bạn đã rõ trong lời tuyên bố trong bài thuyết trình
đầu năm 2005 của Đại sứ Mỹ ở Việt Nam là Marine. Theo ông, mặc dầu
liên hệ hai nước trong quá khứ không vui vẻ gì, "rõ ràng là bây giờ
Việt Nam và Hoa Kỳ không có bất đồng về chiến lược (no strategic
differences)" và "Hoa Kỳ tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
của Việt Nam và dứt khoát chống mọi âm mưu phân ly hay các đe dọa khác
tại biên giới Việt Nam. Chúng ta có nhiều lãnh vực chung quyền lợi về
an ninh vùng và an ninh thế giới. Sự hợp tác về quốc phòng hiện nay là
bước đầu để cùng đương đầu với các thử thách về an ninh trong thế
kỷ 21."
2. Với thân phận tiểu quốc, có một cường quốc bảo trợ là Mỹ
nay đã thành "con hổ giấy" vì không muốn hy sinh thêm xương máu
và tài nguyên tại Á Châu, mà Nam Việt Nam lại có một Tổng thống thiếu
thực tế, cứ nóí khẩu hiệu “Bốn Không” (Không chung sống với cộng
sản v.v.) mãi, không nhớ là có chánh nghĩa như Đức Giáo hoàng mà thiếu
lực lượng quân sự cũng bị Stalin hỏi "Giáo hoàng có mấy sư đoàn?",
không thấy là mọi cuộc chiến phải kết thúc bằng giải pháp chính trị,
vì chiến lược chính trị mới là giải pháp toàn bộ mà bộ máy quân sự
là phương tiện (war is politics by other means).
Nếu ông Ngô Đình Diệm đồng ý với miền Bắc tổ chức tổng tuyển cử
vào năm 1956 theo Hiệp định Geneva, thì có thể có một quốc hội toàn quốc,
trong đó miền Nam Việt Nam ít ra cũng có gần nửa số đại biểu và chưa
chắc đã có nội chiến trong một nước Việt Nam thống nhứt. Đầu năm
1975, Trưởng Phái đoàn Mặt trận Giải phóng miền Nam tại Paris là ông
Nguyễn Văn Hiếu nhờ tướng Trần Văn Đôn nói giùm với ông Thiệu và
thúc ông Thiệu đưa Mặt trận vào chính phủ Sài Gòn như một thành phần
chính phủ liên hiệp để chống lại sự thống trị của Hà Nội. Ông Thiệu
bảo hỏi Mỹ, và ông Đôn cho biết người Mỹ nói không thích theo đuổi
đề nghị của MTGPMN. Như vậy là ông Thiệu không dám tiến hành sáng kiến
giải pháp chính trị. Trước đó, năm 1971, theo lời khuyên của Thứ trưởng
Quốc phòng Mỹ Nutter, là giáo sư cũ của Giáo sư Hưng, rằng miền Nam nên
có sáng kiến độc lập, thì Giáo sư Hưng đã đề nghị ông Thiệu đưa
ra đề nghị tái lập giao thương giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam, tuy
là hai nước nhưng cùng chung một thị trường, và tái lập đường hỏa
xa Nam Bắc và phát triển sông Cửu Long. Ông Thiệu có nói đến mấy điểm
đó trong bài diễn văn tranh cử của ông ngày 1/10/1971. Nhưng ông Thiệu vẫn
lo ngại và yêu cầu "thăm dò Mỹ". Bộ Ngoại giao Mỹ trả lời
là đã quá muộn và Kissinger điện cho Đại sứ Martin nói rằng điều đình
nào cũng phải là giữa Mỹ và Bắc Việt và tiến hành tại Paris.
Không thoát ra khỏi đường lối cứng rắn "Bốn Không" để đi tìm
giải pháp hòa bình thương nghị, chỉ chọn giải pháp quân sự là nhờ Mỹ
yểm trợ dội bom B52 nếu bị tấn công, rồi khi yểm trợ Mỹ không tới
mà còn bị Mỹ áp lực từ chức, ông Thiệu lên đài truyền hình ngày
21/4/1975 để từ chức, đồng thời chửi Mỹ là đã không thắng nổi Bắc
Việt, tìm đường tháo lui mà lại vô nhân đạo, không trợ giúp cho quân
đội miền Nam. Quân đội miền Nam lại càng mất tinh thần hơn. Trong tháng
4/1975 này, vì lo là "dân" du học ở Mỹ về, tôi chắc sẽ gặp
khó khăn trong chế độ mới và có lẽ "tẩu vi thượng sách", cho
nên ngày nào tôi cũng điện thoại cho Đại tá Nguyễn Mộng Hùng, Trưởng
phòng 5, Hành quân, Bộ Tổng tham mưu Quân đội Việt Nam Cộng Hòa, để hỏi
tin tức xác thực (mà tôi nghĩ ông sẽ nói thực với tôi, vì tôi là người
bà con), và ông ấy nói giọng mệt mỏi, yếu ớt, đầy vẻ nản chí:
"Tài ơi! Lính nó không đánh nữa!" (mặc dầu trước đó, Quân đội
miền Nam đã can đảm chiến đấu, đẩy lui nhiều cuộc tấn công của
quân đội miền Bắc, thí dụ trong Tết Mậu Thân hay trong Trận Quảng Trị).
Hỏi người quen trong Tòa Đại sứ Mỹ, họ nói quân xa và chiến xa của
Quân đội Bắc Việt ở bên kia vĩ tuyến, theo không ảnh, chạy nối đuôi
nhau (bumper-to-bumper) công khai. Chắc hẳn họ biết là Mỹ đã bỏ cuộc, sẽ
không trả đũa, ném bom.
Lẽ ra, ông Thiệu phải có lề lối độc lập hơn với Mỹ và, chiếu chủ
quyền quốc gia và quyền lợi dân tộc mà sáng kiến mạnh bạo hơn, đặt
Mỹ trước sự đã rồi về việc điều đình trực tiếp giữa miền Nam
và miền Bắc Việt Nam, qua trung gian của Pháp chẳng hạn. Tâm lý sợ Mỹ
như quan thày không có lợi cho dân tộc. Thiết nghĩ, nếu đặt Mỹ trước
sự đã rồi về phương cách điều đình, có thể rồi Mỹ cũng phải
theo. Vì cứ so sánh với trường hợp Iraq hiện nay, năm 2005: Mỹ có quân
đội hiện đại ở lỳ lại, ngoài ra có Tổng thống Bush cương quyết
hơn, mà Mỹ cũng nhấn mạnh đến giải pháp chính trị là bầu cử để
giải kết, và hơn nữa bầu cử để có một chế độ liên hiệp giữa
các phe Kurd, Sunni và Shiite thì mới hy vọng có hoà bình, và nếu phe Sunni
không tham gia, cũng phải làm tới và hứa cho phe Sunni một số ghế trong
chính phủ tương lai.
Ông Thiệu lo ngại sẽ bị đảo chính và gặp nạn như ông Ngô Đình Diệm
khi Mỹ ám chỉ nếu không chịu nghe theo quan điểm Mỹ thì "có thể
có biến cố như 1963". Nhưng thiết tưởng nếu ông Thiệu không giữ
khư khư lấy mấy mật thư của Tổng thống Mỹ như bùa hộ mệnh (mà bùa
đó cũng chẳng ích gì vì Tổng thống Nixon, người đưa ra lời hứa, đang
bị khủng hoảng rồi từ chức trong vụ Watergate), mà đem công khai hóa việc
Mỹ làm áp lực về những nhượng bộ thiếu công bình và an ninh cho miền
Nam Việt Nam, và đồng thời đưa ra công khai cho dư luận dân chúng Mỹ và
dư luận quốc tế (qua báo chí, truyền thông) biết về cái lập trường
thương nghị hoà bình trực tiếp với miền Bắc, thì chắc Mỹ cũng không
dám là mưu hại ông, và Quốc hội Mỹ sau này cũng không thể nói là miền
Nam có hoà bình rồi mà cứ bàn về chiến tranh và xin quân viện.
Cứ cố trung thành với, hay e sợ, hay nghe theo cường quốc thì cũng không
bảo đảm gì được tình bạn lâu dài hay không có lợi cho tiểu quốc.
Điều này cũng đúng với chế độ ở miền Bắc Việt Nam khi xưa, đã
nghe theo lời cố vấn của cán bộ Trung Quốc thực hiện cuộc cải cách
điền địa tàn ác, bất công cho nhiều nông dân vô tội, đến nỗi sau này
phải sửa sai và công nhận là sai lầm. Và cũng đúng với chế độ hiện
nay của nước Việt Nam thống nhất. Một hai người lãnh đạo cấp cao ở
Việt Nam đã nghe theo Trung Quốc bảo chờ Trung Quốc ký Hiệp định
Thương mại Trung-Mỹ trước, cho nên đã yêu cầu để chậm hơn 1 năm trời
việc ký Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ, làm thiệt cho Việt Nam là đã
bị Trung Quốc đi trước vô thị trường vô biên của Mỹ để cạnh tranh
bán cùng một lọại sản phẩm. Và đã ngả theo áp lực của Trung Quốc
mà ký Hiệp định Vịnh Bắc Bộ (nghe nói, không biết tin này có đúng hay
không, trong chuyến du hành sang Tàu, một lãnh đạo cao cấp của Đảng muốn
dựa Tàu để củng cố quyền lực cá nhân trong Đảng Viêt Nam, nên đã
ký Hiệp định ấy), khiến ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắn chết, vu
cáo cho là cướp biển, ngay trong vùng hải phận Việt Nam mà xưa nay dân
chài Việt Nam đã quen thuộc là của Việt Nam. Trong khi đó thì các nhà ngọai
giao Việt Nam ở cấp dưới, sáng suốt vì đã điều nghiên kỹ, rất ghét
và đa nghi mỗi khi thương lượng với đại diện Trung Quốc về chi tiết
các vấn đề, mà họ tả là Trung Quốc hay có thói bắt nạt của cường
quốc bá quyền. Có lẽ họ và nhân dân Việt Nam chỉ còn cách là yêu cầu
Quốc hội Việt Nam, nhân danh dân tộc, chiếu điều 84 đoạn 13 của Hiến
pháp Việt Nam và quyền lợi tối cao của dân tộc, nhất là của những người
dân chài cùng khổ, mà huỷ bỏ Hiệp định Vịnh Bắc Bộ, theo nguyên tắc
luật quốc tế rebus sic stantibus (nguyên trạng không còn thì hủy bỏ).
3. Chiến tranh trong thời hiện đại là chiến tranh toàn diện, lôi
kéo toàn dân, và làm nguy hiểm đến toàn dân. Nhứt là trong một nước dân
chủ có chế độ động viên như Mỹ hồi chiến tranh Việt Nam, mỗi gia đình
đều có thể có chồng, con sắp sửa bị động viên (chứ không phải chỉ
có quân đội nhà nghề, như hiện nay) và vào mỗi bữa cơm chiều trong gia
đình đều chứng kiến cảnh chết chóc trên truyền hình, thì cuộc chiến
phải được quảng đại quần chúng và đại diện của họ tại Quốc hội
ủng hộ (chứ không còn chuyện "giãi thây trăm họ nêu công một người"
mà không ai phản đối được). Hiến pháp Mỹ đã đặt nguyên tắc là Quốc
hội giữ quyền tuyên chiến và trong chính sách ngọai giao, Thượng viện có
vai trò cố vấn và phê chuẩn (advise and consent). Vào thời kỳ đầu trong
chiến tranh Việt Nam, Tổng thống Johnson đã xin Quốc hội thông qua Nghị
quyết Vịnh Bắc Việt (Tonkin Gulf Resolution) cho trả đũa về quân sự ở
Việt Nam khi có tin tàu Mỹ bị tàu Bắc Việt tấn công (sau này mới biết
là phóng đại), và do đó, việc tăng quân số Mỹ và tăng quân viện dễ
dàng. Đến thời gian sau cùng của cuộc chiến, khi việc ủng hộ chiến
tranh Việt Nam giảm sút, Quốc hội Mỹ lại thông qua luật về quyền chiến
tranh (War Power) để hạn chế quyền Tổng thống.
Tổng thống Thiệu đã quên cái quy luật "ý dân là ý trời" trong
việc điều hành chiến tranh ở một nước dân chủ như Mỹ, cho nên cứ
giữ khư khư các mật thư cam kết yểm trợ của Tổng thống Nixon, đến
những ngày cuối cùng mới đưa các thư ấy cho Giáo sư Hưng đi cầu viện
ở Mỹ. Trước đó, những người lãnh đạo khác như Chủ tịch Thượng
viện Trần Văn Lắm, Chủ tịch Hạ viện Nguyễn Bá Cẩn và Ngoạii trưởng
Vương Văn Bắc đã khuyên là không nên la lối om xòm vội, sợ là Mỹ họ
nói là can thiệp vào nội bộ Mỹ. Họ đã không hiểu hệ thống chính trị
Mỹ, và không thấy là các văn thư mật cam kết của Tổng thống Mỹ - đại
diện nước Mỹ trong chính sách ngọai giao - là những văn thư có giá trị,
cần phải công bố cho Quốc hội, để có sự phê chuẩn và ủng hộ của
đại diện nhân dân, theo diễn trình hiến định (constitutional process) đã
ghi trong Hiến pháp Mỹ.
Để có thế của nhân dân tại Việt Nam, lẽ ra ông Thiệu cũng đã nên
đưa các thư mật cho Quốc hội Việt Nam từ lâu, để đại diện nhân
dân Việt Nam vận động với Quốc hội Mỹ, theo lối giao hảo giữa hai dân
tộc (people-to-people diplomacy).
Không làm những việc trên kịp thời, miền Nam Việt Nam trở thành nạn
nhân của hành vi làm ngoại giao theo lối “anh hùng cá nhân” của
Kissinger, là người thán phục và làm việc theo lối các nhà ngoại giao đầu
thế kỷ 19: Metternich và Talleyrand, những ngoại trưởng nhiều quyền đã
chuyên độc sắp xếp lại bàn cờ bang giao giữa các quốc gia Châu Âu sau
khi Napoléon thất trận năm 1815, mà chẳng hỏi ý kiến nhân dân hay đại
diện nhân dân các nước liên hệ.
Ngay chế độ cộng sản trong đó Đảng quyết định chiến tranh hay hòa
bình, có vài người khôn ngoan cũng thấy nên hỏi ý dân về vấn đề đó.
Ông Nguyễn Cơ Thạch, Ngoại trưởng Việt Nam, có nói là sau cuộc phiêu lưu
sang Cam Bốt (kéo theo hậu quả là Trung Quốc đánh sang Việt Nam để
"dạy cho Việt Nam một bài học" - Lời Đặng Tiểu Bình, và do đó
gây ra thương vong nhiều) thì từ nay, Việt Nam sẽ không bao giờ gửi thanh
niên ra ngọai quốc nữa.
4. Nhìn lại cuộc di tản của đoàn người miền Nam hốt hoảng, khốn
khổ năm 1975, mà một số người Mỹ hồi đó châm biếm là bọn da vàng gồm
những tướng tá thua trận, nhà giàu ăn trên ngồi trốc, gian phi, ma cô và
đĩ điếm - như Giáo sư Hưng đã dẫn chứng về những lời phỉ báng, và
nhà nước cộng sản Việt Nam cũng nhắc lại những danh từ ấy, cũng như
nhìn lại hàng hàng lớp lớp người Việt trong các đợt vượt biên, vượt
biển sau đó, thì ai cũng thấy là ngày nay, họ chẳng còn lý do gì mà còn
phải cảm thấy tủi nhục. Trái lại họ còn có thể cảm thấy là trong
cái rủi, có cái may. Nếu thời xưa lão ông mất ngựa và con bị thương tật
tưởng bất hạnh thì sau đó lại có hên là con cái ở nhà phụng dưỡng
cha mẹ, không phải đi lính, thì bây giờ, cộng đồng người Việt hải
ngoại đã tạo dựng lại đời mới cho mình và con cái mình tốt đẹp
hơn xưa nhiều, và cảm thấy hãnh diện hơn về chỗ đứng và diện mạo
của họ trong xã hội nơi định cư. Âm nhạc tủi thân hát cho nhau nghe về
thân phận lưu vong, hoa trôi bèo dạt, thời 25-30 năm trước, đã được
thay thế bằng nhạc vui nhộn trẻ trung. Những ngày kỷ niệm 30 tháng Tư,
trước đây gọi là Ngày Quốc hận trong Tháng Tư Đen, lôi kéo cả trăm, có
nơi cả ngàn người dự mít tinh, biểu tình, thì nay không còn tổ chức nữa
hay chỉ có lác đác vài người tham dự, hoặc phải đổi sang mục tiêu
tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ hơn là hướng về quá khứ, bởi vì họ
không còn hận gì, mà còn cảm thấy may mắn hơn những bà con, bạn bè
còn ở lại trong nước Việt Nam, và còn đem tiền bạc, của cải về giúp
người trong nước, chống lại những ý kiến tảy chay Việt Nam do một số
ít người đưa ra, vì họ còn tình thương của kẻ đã may mắn qua cầu
mà không rút cầu đối với người ở lại.
Khi thấy nhà nước Việt Nam rộng mở cửa khẩu đón tiếp người Việt
di tản từ hải ngoại về thăm quê hương, làm thương mại và đầu tư, mời
chuyên viên đem tài năng về giúp nước, khi thấy con cái các cán bộ hay
viên chức cao cấp sang Mỹ du học để học cái hay của hệ thống xã hội
tư bản Mỹ (thí dụ, đã thấy con chủ tịch nước Lê Đức Anh, con ngoại
trưởng Nguyễn Cơ Thạch đi học tại Harvard, có những người khi xưa đã
đậu bằng cao cấp ở một Đại học danh tiếng của Liên Xô, cũng là trường
mà ông Gorbachev học, nay sang Mỹ học thêm bằng Mỹ, và chính tai tôi nghe
trong bữa tiệc Viện trưởng Đại học Harvard khoản đãi Phó Thủ tướng
Phan Văn Khải - lúc đó là Phó Thủ tướng - lời ông Khải cảm ơn Harvard
là đại học Mỹ đầu tiên đã nhận sinh viên Việt Nam sang học những
cái hay trong hệ thống [kinh tế thị trường tự do, tư bản] của Mỹ),
khi thấy một giáo sư đại học ở Việt Nam qua tu nghiệp đi chơi trên xe
hơi ngắm cảnh nước Mỹ rộng bát ngát và thịnh vượng thì nói: “Giá
mà Mỹ nó cho người Việt mình một tiểu bang để dọn qua đây nhỉ!”,
khi thấy nhà nước Việt Nam đổi mới theo kinh tế thị trường, để người
dân tự do làm ăn, làm được thì được hưởng, chứ không theo nguyên tắc
cộng sản là “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” nữa (người phụ
tá của một Ủy viên Bộ Chính trị và Chủ tịch Thành ủy Sài Gòn, nói
tâm sự với tôi: “Còn gì cộng sản nữa đâu, anh!”), khi thấy là chế
độ Việt Nam đã thêm hai chữ "dân chủ" vào khẩu hiệu nói tới
các lý tưởng "dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh", khi thấy là sau 30 năm chinh chiến Quốc-Cộng, mà rồi chính nhà
cầm quyền cộng sản, là người thắng trận quân sự, lại cũng theo đuổi
chính các mục tiêu cho dân tự do làm ăn sinh sống làm giàu trong kinh tế
thị trường và đề cao lý tưởng dân chủ và công bằng xã hội, mà người
di tản đã từng theo đuổi từ Bắc vô Nam Việt Nam, năm 1954, và từ Việt
Nam sang khắp các nước có dân chủ và kinh tế thị trường thịnh vượng,
từ 1975 trở đi, thì người Việt di tản không những hết cái tủi nhục
thời di tản như Giáo sư Hưng đã mô tả, hay cái đau đớn khi vượt biên,
vượt biển, mà còn vui mừng về cái quyết định ra đi rất đúng cho
mình và con cái mình, và có thể cảm thấy là - tuy thua trên trận địa -
mình bây giờ lại thắng cuộc nội chiến quốc tế hoá 30 năm về trước
ở Việt Nam, ít nhất là về mặt tinh thần.
5. Một khi cả hai phía đều thấy mình chiến thắng, thì có thể dễ
hòa giải dân tộc với nhau hơn. Trăm sông rồi cũng tuôn về biển cả.
Càng đi lâu thì càng hướng về quê hương hơn. Cái chấn thương di tản
trong tủi nhục, kinh hoàng, chết chóc không còn nữa hay đã bớt đi nhiều.
Nhưng còn một chấn thương nữa mà những người di tản và thân thích của
họ còn phải đưọc xoa dịu để thực sự hòa giải: đó là chính sách
nhà nước bắt học tập lâu quá với hậu quả tai hại đối với sức
khoẻ, sự nghiệp và gia đình của họ. Tuy có thành tích lớn lao thống nhất
đất nước,, thắng được hai thế lực ngoại bang, Đảng Cộng sản Việt
Nam ngay sau năm 1975 đã không sáng suốt và đại lượng đủ để áp dụng
chính sách hòa giải dân tộc, như Tổng thống Lincoln đã áp dụng sau cuộc
Nội chiến ở Mỹ chẳng hạn: "Cùng nhau, chúng ta hãy săn sóc cho cô
nhi, quả phụ của cả hai bên". Những người, hồi 1954 bỏ hết cuộc
đời, tài sản, sự nghiệp di tản từ Bắc vào Nam, có thể quên việc bố
mẹ mình bị tố oan trong cải cách điền địa kỳ thị giai cấp 1953-1955,
hay không còn nhớ - vì lâu quá rồi - là, hồi 1945-1946 ông chú, ông bác
mình, đảng viên Quốc dân Đảng hoặc những người dân và trí thức
không phải là cộng sản trong phong trào kháng chiến Nam bộ, cũng chống Tây
một cách rất ái quốc, mà vẫn bị ban ám sát của Đảng Cộng sản lấy
búa đập vào đầu thủ tiêu, lợi dụng lúc vắng mặt tại Hội nghị
Fontaineblau của Hồ Chí Minh, hồi đó đang làm việc thuyết phục các nhân
tài và các nhà ái quốc cùng giúp nước, cả ở Việt Nam lẫn ở Pháp. Nhưng
hậu quả tàn hại của những năm dài học tập trong các trại sau 1975, đến
nay là tình trạng sức khỏe suy sụp, thân trạng lạc loài của các cựu
tù nhân chính trị khi ra sống lại ngoài xã hội, nhất là xã hội nước
ngoài, nhiều khi lại thêm tình trạng mất vợ con, mất gia đình lúc mình
đi học tập hay khi vượt biên, thì không dễ họ và gia đình họ có thể
quên ngay, vì sự đau khổ còn tương đối mới gần đây.
Giữa những người dân Việt Nam, nhất là giữa thân thuộc bạn bè, ở
hai bên chiến tuyến, thì dễ hòa giải và thực tế đã có nhiều cuộc
hoà giải từ lâu rồi, trong cái cảnh gặp nhau sau bao nhiêu năm xa cách, mừng
mừng tủi tủi, chẳng còn hận thù gì nữa. Giữa những người thuộc các
thế hệ trẻ, còn nhỏ hay chưa ra đời vào năm 1975 khi chiến tranh chấm dứt,
thì họ gặp nhau dễ dàng, thông cảm nhau với tình đồng bào, đồng
hương, không có gì trở ngại, khi người hải ngoại về thăm đất tổ,
hay người trong nước sang ngoại quốc du học, tham quan, đi công vụ. (Thậm
chí có người trẻ tuổi về trình với bố mẹ: "Bố ơi! Mẹ ơi! Con
yêu cái cô Việt cộng đó rồi!")
Nhưng trên bình diện chính sách chính thức và để kết thúc có hậu (người
Mỹ thường gọi là closures), thì phải có lời tuyên bố chính thức của
những người lãnh đạo cao cấp nhất của chế độ có trách nhiệm về
chế độ học tập vào năm bắt đầu thi hành 1975, nghĩa là những người
lúc đó đã ở trong vị trí lãnh đạo về chính sách, tức là nay phải
ít nhất trên 65-70 tuổi, và có lẽ già hơn nữa (cộng đồng hải ngoại
không thể quy trách về chế độ học tập cho những người nay dưới 65
tuổi, nghiã là vào năm 1975 họ mới 35 tuổi, chắc không phải là những
người đưa ra chính sách đó, trừ khi những người đó thi hành chính
sách một cách độc ác), công nhận sự sai lầm chính sách học tập ác
nghiệt quá lâu, thì cộng đồng người Việt di tản hải ngoại mới vuốt
bụng thoả thuê mà nói được câu: "Có thế chứ!" và sẵn sàng
hoà giải hơn, và sẽ sẵn sàng đem tài nguyên, tài năng, và con cái về Việt
Nam xây dựng, theo nhiều phương cách, cho dân giàu nước mạnh. Ông Đỗ
Mười đã tuyên bố về hai sai lầm là cải cách ruộng đất 1953-55 (thực
hiện đẫm máu và bất chấp pháp trị, theo lời luật sư Nguyễn Mạnh Tường)
và đánh tư sản miền Nam 1979 (làm tiêu tan tiềm năng doanh nhân phát triển
kinh tế, làm Việt Nam chậm lại gần một thế hế), và có lẽ chỉ có
ông mới là người vượt trội lên trên các đảng viên khác về mặt tuổi
đời và tuổi đảng để có thể đóng vai một "Đặng Tiểu Bình Việt
Nam" dám tuyên bố một câu mát lòng mát ruột cho những người đã bị
đi học tập lâu, mà không ngại bị những người ngang vai ngang vế nói
là đi trật đường lối. Giống như họ Đặng tuyên bố ủng hộ đường
lối kinh tế thị trường: "mèo đen hay trắng không quan hệ, miễn bắt
được chuột", mà cả Trung Quốc phải nghe theo, hay Hồ Chí Minh nói
"ông Ngô Đình Diệm là người ái quốc theo lối của ông ấy",
mà chẳng có ai dám cự lại lời khen địch thủ đó. Cựu Thủ tướng Võ
Văn Kiệt đã tuyên bố (báo Tuổi Trẻ 31/3/2005) là "Đã đến lúc ta
phải nhìn nhận công lao, sự đóng góp to lớn của các tầng lớp người
Việt yêu nước từng sống trong lòng chế độ cũ, hiện còn ở trong nước
hay ở bên ngoài”. Ngay trong thời gian chính sách học tập đang áp dụng
tàn ác nhất, thì Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn cũng đã vô trại cải
tạo để thả cụ Vũ Hồng Khanh, người đã có công cứu sống Hồ Chí
Minh, như đã nói ở trên.
Có thể không có ai muốn đóng vai một người vượt trội đứng lên nói
mạnh để hướng dẫn đường lối, và cái tập tục theo lãnh tụ chế kiểu
đó không còn nữa. Do đó, cũng có thể, với công thức tập đoàn lãnh đạo
(collective leadership) mà Đảng Cộng sản Việt Nam áp dụng trong những năm
gần dây (theo như nhận định của nhiều quan sát viên quốc tế), một số
lãnh đạo sẽ cùng đưa ra lời tuyên bố trên, sau khi bàn thảo. Ông Võ Văn
Kiệt đã đưa ra đề nghị là từ nay, trên đường đi tới Đại hội Đảng
năm 2006, thì trong việc bàn về các chính sách mới trong cương lĩnh và việc
ứng cử và bầu cử vào cơ quan cao nhất là Đại hội Đảng và từ đó,
Ban Chấp hành Trung ương, thì không nên theo lề lối cấp trên ấn định và
chỉ định như từ suốt Đại hội 4 đến nay, mà nên theo lối dân chủ của
Đại hội Đảng 2 và 3, cho tự do ý kiến và bầu trục tiếp và kín cho
những ứng cử viên tự do ra ứng cử. Có thi hành dân chủ như vậy mới
chọn dược người tài, có sáng kiến mới. Có lẽ những người mới này,
với sáng kiến, sẽ mạnh dạn đưa ra những lời sửa sai về chính sách học
tập.
Có người trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại nói là nhìn nhận lầm lẫn
về chính sách học tập không đủ, vì họ cho rằng chẳng khác gì chặt
đầu xong rồi cáo lỗi, và cộng sản đã lầm lẫn quá nhiều trong sự độc
quyền của họ, rồi lại nhận lỗi (về cải cách ruộng đất, sát hại
trong Tết Mậu Thân ở Huế, đánh tư sản miền Nam…), và do đó các nạn
nhân đã quá đau đớn, không ai trong họ tha thứ và tin người cộng sản
nữa, và chỉ còn cách là chờ đợi sự sụp đổ trong nội bộ của chế
độ với những đòi hỏi dân chủ của các lực lượng trong nước. Dù
có người không quên được mối hận có thân thuộc bị cộng sản sát hại,
nhưng chúng tôi nghĩ rằng trong đại đa số các trường hợp bị hành hạ
trong trại học tập, thì với thời gian, nạn nhân cũng dần dần nguôi giận;
không phải chúng tôi khuyên như vậy, hay tỏ bày khuynh hướng riêng như vậy,
vì chúng tôi tôn trọng quyền của mỗi ngươi tự quyết định lấy về
việc này, nhưng đấy chỉ là sự ước tính theo khoa học xã hội và tâm
lý con người một cách khách quan: tạo hóa đã cho con người một trí nhớ
quên dần những chuyện đã chìm lâu trong dĩ vãng, và nếu người bị hành
hạ sau cùng lại thấy mình là người chiến thắng trong quan điểm hay tinh
thần, như nói ở trên, thì sẽ có thể hoà giải dân tộc được.
Một cô bé Do Thái 11 tuổi vào năm 1941, sống sót khi cha mẹ và anh cô bị
Đức Quốc xã thiêu sống trong hỏa lò Holocaust, là vì trốn trong rừng và
được một gia đình theo đạo Thiên chúa che chở giấu giếm, đã tuyên bố
- và được hoan hô vang dậy - trong Ngày Truy điệu Nạn nhân Holocaust nhân
Kỷ niệm Đồng minh Thắng trận tại Đức vào tháng 5/2005 là "không
thể gán cho cả dân tộc Đức tội ác này", và việc cô "sống
sót là chiến thắng của tất cả những người nhân hậu chống lại cái
ác của Quốc xã". Tại Nam Phi, sau khi người đại diện cho chế độ
dân da trắng thống trị và chủ trương kỳ thị, đàn áp đân da đen là
De Clerk tuyên bố mình lầm lẫn, thì người anh hùng tranh đấu bị giam gần
30 năm trời (trong đó 18 năm làm việc đục đá) là Mandela, sau này được
bấu làm Tổng thống, đã tuyên bố chỉ có tha thứ quá khứ mới tiến tới
tương lai được; và một Ủy ban tìm Sự thực và Hoà giải, do giám mục
Tutu là chủ tịch, được lập ra để cho những nạn nhân kể về những
đau khổ trong quá khứ hay những thủ phạm ngỏ lời hối hận thì mới
hàn gắn quá khứ và hướng về tương lai, tránh cái vòng lẩn quẩn
"thù hằn đem tới thù hằn", và theo được cái hướng thiện tâm
chung cho loài người văn minh. Nước Nhật, vốn chỉ nể Tây Phương và
kiêu ngạo đối với các dân tộc Á Đông, nhưng rồi, sau bao nhiêu năm ù
lì, thì nay cũng đã phải chính thức xin lỗi dân tộc Trung Hoa vì Nhật đã
gây tội ác trước và trong Thế chiến thứ hai ở Trung Quốc, nhất là về
việc giết khoảng 300.000 người dân vô tội ở Nam Kinh. Đức Giáo hoàng
John Paul II dã nhiều lần xin lỗi về những lỗi lầm của Giáo hội Công
giáo La Mã đối với người theo Do Thái giáo hay Chính thống giáo ở Nga.
Đã có những đồng bào miền Bắc kín đáo trao đồ ăn cho các viên chức
và quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đói rách, mà họ thương cảm trong tình đồng
bào, đang lê gót trên đường từ trại học tập ở ngoài Bắc đến công
trường lao động. Chỉ xin nêu một thí dụ về sự hành hạ trong trại cải
tạo. Trong thời gian chúng tôi phải vận động rất lâu Amnesty International
và Bộ Ngoại giao Mỹ cho người bạn là Giáo sư Hoành Xuân Hào, Tiến sĩ
luật khoa, thì người "tù nhân lương tâm" này đã viết thư, than
rằng: "Đêm khuya mùa đông rét lắm và đói bụng. Tớ phải đi ngủ
cho khoẻ để sáng mai đi lao động cho thật tốt". (Bức thư này, tôi
còn giữ và nay trao lại cho Giáo sư Hào, hiện ngụ tại California, làm kỷ
niệm). Có một giáo sư đại học Việt Nam sang tu nghiệp ở Mỹ nói về sự
hận thù của những người đã đi học tập là "Có học tập mới
được rước đi Mỹ", như vậy là trong nước công nhận người nạn
nhân của chế độ học tập di cư ra hải ngoại tạo lập cuộc sống tốt
đẹp thì được coi như đã thắng lợi trong giai đọan sau của cuộc đời.
Khi là người sau cùng chiến thắng, nếu có thêm lời công nhận lầm lẫn
của kẻ thù cũ, thì người ta cũng sẽ dễ có tinh thần thân thiện với
cựu thù. Người Mỹ, sau những hận thù với Đức và nhất là Nhật giết
hại binh sĩ Mỹ trong các chiến trận như Normadie, Trân Châu Cảng, các hòn
đảo ở Thái Bình Dương trong Thế chiến thứ hai, và đã trả đũa trong hận
thù với bom trải thảm tại hai nước đó, nhất là bom nguyên tử, giết hại
dân chúng chứ không phải chỉ quân đội mà thôi, nay đã trở thành đồng
minh thân hữu của Đức và Nhật. Một khi các lãnh tụ cộng sản cao tuổi
trong thời chiến tranh Việt Nam đã mất đi, hay nói lên những lời công nhận
lầm lẫn, thì chắc đồng bào Việt Nam hải ngoại không còn thù ghét
mãi, ít nhất là đối với đại đa số nhân dân Việt Nam, nhất là 2/3
trong số đó chưa ra đời vào năm kết thúc chiến tranh 1975, hay là những
người chỉ là con nít trong thời gian chiến tranh, vốn không có trách nhiệm
gì về chính sách học tập.
Nếu không tha thứ, hoà giải dân tộc, thì nguời Việt hải ngoại theo chủ
trương giận dữ mãi, chẳng bao lâu sẽ gửi nắm xương tàn nơi xứ người,
mà chẳng bao giờ được cảm thấy niềm xúc động rạt rào khi ngồi
trên máy bay nhìn xuống mảnh đất quê cha đất tổ thân yêu khi đến gần
phi trường Tân Sơn Nhứt, hay những niềm vui tràn đầy thấy lại và hoà
mình vào đám đông tại những phố phường, thôn dã ở đó mình đã lớn
lên, và gặp lại những bà con, bạn bè thân thương của những năm trẻ
tuổi sôi động xa xưa; hoặc cùng lắm chỉ dám cử vợ con, hoăc đi bẽn
lẽn giấu giếm, về nước thăm quê hương. Những người đó nên nhớ là
khi ông Jefferson thảo Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ vào năm 1776, ông đã
soạn đi soạn lại và, theo lời yêu cầu của các đại biểu Quốc hội Cách
mạng đầu tiên, ông xóa bỏ đoạn văn lúc đầu kết án cả dân tộc Anh
và Nghị viện Anh, mà ghi trong văn bản chung quyết là chỉ kết án Anh
hoàng mà thôi (Sau đó, trong chiến tranh của Mỹ giành độc lập, các
chính trị gia ở Anh cũng chống lại Anh hoàng về chính sách bám vào thuộc
điạ).
Ngược lại, nếu những người cộng sản Việt Nam có trách nhiệm về
chính sách học tập cải tạo không nhìn nhận sai lầm về chủ trương học
tập quá lâu (học tập ngắn hạn ngay sau chiến tranh còn có thể quan niệm
được là một sự cần thiết để củng cố an ninh trật tự, chứ lâu
quá thì bị coi là độc ác), hay những sự hành hạ trong trại cải tạo,
để làm dịu xuống nỗi uất ức của các cựu tù nhân cải tạo, thì khi
đại diện ngoại giao của chế độ hay những viên chức Việt Nam, dù trẻ
tuổi hơn và không có trách nhiệm về chế độ học tập, khi đi ra ngoại
quốc, nhất là trong nhiệm vụ ngoại giao, nhưng kể cả lúc sang thăm viếng
con cái của họ đang du học tại các nước Âu Mỹ, chắc sẽ khó yên
lòng mà làm việc công khai, và không du ngoạn một cách thảnh thơi, hiên
ngang được - vì có thể phải sợ bị biểu tình, bị ném cà chua trứng
thối, hay nhổ nước miếng (cho dù có được che chở an toàn bởi nhân
viên công lực nước sở tại, họ làm nhiệm vụ của quốc gia chủ, tiếp
khách phải bảo vệ cho khách), hay có thể phải sợ bị tống đạt trát
khởi kiện vi phạm nhân quyền bởi những người hiện nay ở hải ngoại
nhưng đã bị hành hạ trong trại học tập trước đây. Mặt trời không
bao giờ lặn trên bầu trời trên đầu người Việt hải ngoại, vì họ rải
rác khắp năm châu. Nếu giải tỏa được uất ức học tập cải tạo thì
đại diện chế độ mới dễ dàng và hiên ngang thi hành được công tác tại
hải ngoại ở khắp năm châu. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nêu gương
hoà giải với kẻ thù 60 năm đối nghịch là Trung Hoa Quốc dân Đảng: Chủ
tịch nước kiêm Chủ tịch Đảng Hu Jin Tao đã tổ chức cuộc lễ long trọng
và tươi cười niềm nở với vẻ mặt rất thành thật [chính mắt tôi
trông thấy rõ ràng trên truyền hình ở Bắc Kinh] khi tiếp đón Đảng trưởng
Quốc dân Đảng Lien Chan từ Đài Loan sang thăm Đại lục vào cuối tháng 4
năm 2005, và truyền thông Trung Quốc đã phổ biến việc tiếp rước này
như một biến cố quan trọng trong lịch sử quốc gia (Ngoài ra, doanh nhân
Đài Loan đã đầu tư 100 tỷ Mỹ kim vào Đại lục).
6. Ngoài vấn đề giải tỏa ẩn ức vì khổ ải quá khứ trong trại
học tập, thì nếu nhìn về tương lai, để đi đến hoà giải dân tộc
sâu xa hơn thì phải tạo điều kiện cho đồng bào trong nước được hưởng
nền pháp trị và dân chủ tự do thực sự (trong đó, có cả nhân quyền).
Không thể có tình trạng kỳ thị bất bình đẳng đối với bất cứ người
dân nào, thí dụ như kỳ thị thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa trong những
năm tháng còn lại của đời họ, như việc viên chức nhà nước đòi tiền
phạt mới cho một thương binh lãnh cái xe lăn do một cơ quan từ thiện nước
ngoài tặng ngoài chương trình của chính phủ (bản tin của ký giả Nhật
Yoshigata Yushi, dịp tháng 4. 2005). Đồng bào Việt Nam hải ngoại, vì tình
thương dân tộc, cũng muốn đồng bào trong nước, trong đó có bà con và bạn
bè mình được hưởng pháp trị và tự do dân chủ như mình, vì họ biết
đó là các quyền căn bản của mọi người do Tạo hóa ban cho và không thể
tước bỏ, mà chính Hồ Chí Minh đã phỏng theo Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ
(đề cao "quyền sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc")
mà chép vào Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam, được tuyên đọc long trọng tại
Vườn hoa Ba Đình năm 1945. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nói: "Nước
có độc lập mà dân chưa có tự do thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa
gì". Đồng bào Việt Nam hải ngoại cũng biết rằng chính họ cũng cùng
là một phẩm chất người Việt Nam, nhưng với pháp trị và tự do dân chủ
tại các nước họ cư ngụ, họ đã vươn lên và phát triển từ thân phận
khố rách áo ôm, hoa trôi bèo dạt của ngày di tản khi xưa, để đi đến
tình trạng phồn vinh ngày nay, với khả năng sáng tạo và sản xuất của
họ. (Về vấn đề dân chủ tại Việt Nam này, xin xem bài chúng tôi viết
năm 2004 đăng trên nhiều báo hải ngoại.)
Viết để vinh danh đồng bào Việt Nam hải ngoại, 30 năm sau tháng
4/1975.
Tác giả: Luật sư Tạ Văn Tài, Tiến sĩ chính trị học, Đại học
Virginia; Thạc sĩ luật học, Đại học Harvard; nguyên Giáo sư các trường
Đại học Luật khoa Sài Gòn, Huế, Cần Thơ, Quốc gia Hành chánh, Vạn Hạnh,
Chiến tranh Chính trị và Cao đẳng Quốc phòng, Việt Nam; nguyên Giảng sư
và Phụ khảo nghiên cứu, Đại học luật khoa Harvard.
© 2005 talawas |