
posted: 08.7.2005
TRẦN XUÂN AN
Tôi nghĩ rằng Trần Xuân An
thuộc về những nhà thơ đang hiếm dần quanh ta
bây giờ, những con người sinh ra để mãi mãi nhớ về một mảnh đất vùng
sâu của đời người, gọi là Quê
Nhà. Giống như bao người, An lớn lên để giã từ quê nhà, để ra đi, để trôi giạt… Nhưng dù ở đâu, cả trong giấc mơ, tâm hồn An vẫn đi đi về về nơi miền quê đó, nơi cái quán nhỏ có màu tóc mẹ trắng dần theo năm tháng, nơi những con đường lầy lội suốt mùa mưa, nơi dòng sông ngụp lặn tuổi hoang dại, ôi, nơi đó rơm rạ làm bay
lên dọc theo đời người cái mùi hương day dứt khôn
nguôi của ruộng đất yêu dấu. Nhưng thơ Trần Xuân An
không phải được viết ra để giải toả sức nặng êm dịu của những kỉ niệm thời thơ ấu. Chính từ sức nuôi dưỡng của Lòng Mẹ, của tình bạn hay là của tình yêu trinh bạch thuở đầu, từ những gì đơn sơ được tiếp nhận trong khu vườn xanh biếc của con chim vành
khuyên kia, Trần Xuân An đã gìn giữ chắt chiu thành
vốn liếng tâm hồn để trở nên giàu
có trong mối tương quan không ngừng nẩy sinh giữa người thơ và cuộc đời. Có lẽ không
nên tìm kiếm những điều mới lạ trong thơ Trần Xuân An. Nhưng bù vào đó, người ta sẽ bắt gặp một cái gì còn đáng quý hơn nhiều: đó là một hồn thơ điền dã, nỗi dịu dàng trong trẻo của nắng và gió
trên đồng lúa, và
lòng biết ơn nhân hậu của một người trước cuộc sống, dù qua
bao nhiêu bất hạnh. Và đó chính là những của cải đáng giá của tâm hồn mà chỉ Đất mới có thể ban cho,
và những cái đơn sơ lại hoá thành điều sâu thẳm, dõi theo
năm tháng đời người. Và Trần Xuân An đã giãi bày những điều ấy bằng một ngôn ngữ Thơ đích thực, không dễ mà có được. Giọng thơ Trần Xuân An tuồng như chính là mêlôđi (*) của đồng quê trong Nắng và trong
Mưa, là âm thanh của giọt nước tàu cau trước sân nhà, và là tiếng hát của chim sơn ca giữa trời xanh mây trắng.
Lời thưa của tác giả
Tôi không có ý định phủ nhận những gì đã viết và đã xuất bản, tuy nhiên, cũng xin thưa thêm một đôi lời ở bản chép lại này. Trong một vài
dòng giới thiệu ở phần gấp bìa 1,
nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo viết: “… Thơ là trạng thái thăng hoa của tâm hồn. Đấy là khi
cái vỏ bọc vô thức vỡ ra và tâm
hồn bị dồn nén bỗng vút bay
lên. Người thơ thường có “trạng thái tâm
thần” là vậy. “Trạng thái tâm thần” của Trần Xuân An
không ít, và khi anh làm
chủ được ngôn từ, những ý tưởng đau đớn và cao đẹp bỗng lay động lòng
ta. Từ nhỏ, tôi vốn say mê hồn thơ điên lạ lùng Hàn
Mặc Tử, giờ đọc An, không
sao kìm nổi xúc động …”. Và ở bìa 4,
Ban Biên tập Tạp chí Cửa Việt cho in lại một vài dòng lời toà soạn trên một số Cửa Việt (chính
xác là số 5, 1990), trong đó có câu: “Từ 1983, bị “bệnh tâm thần” nên nghỉ dạy, về làm thợ may ở quê nhà”.
Nói đúng hơn, là thợ vắt sổ. Nhưng điều hệ trọng nhất vẫn là ba chữ bệnh tâm thần và bốn chữ trạng thái
tâm thần. Hai cụm từ này vốn được xã hội quen dùng như nhã ngữ, hàm nghĩa chính
xác là bệnh điên, trạng thái bệnh lí cuồng điên. Tôi xin được in đậm hai cụm từ này và cẩn trọng đặt trong dấu ngoặc kép. Dấu ngoặc kép, theo nguyên tắc ngữ pháp, được sử dụng với vài dụng ý khác nhau. Ở trường hợp này, chỉ với ý nghĩa thường được gọi một cách hình ảnh là nháy
nháy. “Bệnh tâm thần”, “trạng thái
tâm thần” với dấu nháy
nháy có nghĩa không phải là bệnh lí thật sự, mà chỉ nhằm biểu đạt sự cường điệu, phóng đại một tâm trạng u uất, phẫn chí
thông thường trong một thời điểm bức bối nhất định của xã hội và của văn nghệ sĩ trước Đổi mới và Cởi trói.
Nói rõ thêm là với dấu nháy
nháy, người viết cố ý dùng từ ngữ thiếu chính xác, lệch với nghĩa chuẩn, như một thủ pháp diễn đạt. Sở dĩ có sự thể như vậy là bởi bản thân
tác giả cũng có những ngày, những tuần thật sự bị xô đẩy và bị rơi vào tâm trạng bi phẫn, trầm uất, và đã viết dăm bài thơ điên, trong đó, yếu tố điên chỉ là một thủ pháp nghệ thuật. Tuy vậy, thơ điên của tác giả lại không điên chút nào cả, xét một cách toàn
diện, về mặt cấu tứ, sử dụng từ ngữ và sáng
tạo hình ảnh thi ca!
Hoàn toàn không có một dấu hiệu rối loạn tư duy, cảm xúc nào! Yếu tố điên ấy chỉ là những chi tiết điển hình hư cấu nhằm biểu đạt trạng thái bức bối đến mức như thể phát điên của xã hội thời bấy giờ. Về trường hợp Hàn Mặc Tử, ai cũng biết nhà thơ này không phải bị bệnh tâm thần phân liệt. Trạng thái
tâm thần ở Hàn Mặc Tử chỉ là phó sản bởi nguyên
nhân bệnh lí về thể chất. Đó là bệnh phong hủi (bệnh cùi). Vì
bị bệnh phong hủi, nên ông bị thân nhân,
bạn bè cách
li do sợ lây nhiễm. Từ đó, Hàn Mặc Tử rơi vào tình trạng tuyệt vọng, cô độc. Bệnh phong hủi, một trong tứ chứng nan y thời đầu thế kỉ XX, cộng với tình cảnh cô độc, khiến Hàn Mặc Tử phát điên. Nói gọn hơn, điên ở Hàn Mặc Tử chỉ là một trạng thái tinh
thần bị khủng hoảng, hệ quả của bệnh trạng phong hủi. So sánh nào cũng khập khiễng. Tác giả chưa bao giờ là một người mắc bệnh thực thể nan y, cũng không hề bị bệnh tâm thần thật sự (kể cả thể bệnh tâm thần nhẹ, nói chi đến thể tâm thần phân liệt vốn là một thể bệnh trầm kha nhất!), mà chỉ bị “sốc”, bị xô đẩy vào tình cảnh bế tắc trong
sáng tác văn chương, nghiên
cứu lịch sử và về nghề nghiệp, do đó bị rơi vào tâm trạng bi quan,
phẫn chí tột độ mà thôi. Xin trân trọng ghi chú
đôi điều như trên để tránh những ngộ nhận đáng tiếc, dẫn đến sự vô hiệu hoá tác
giả trong mọi lĩnh vực xã hội.
kính tặng Mẹ
|