posted: 16.8.2005
Nói chuyện
với ông Ngô Yên Thi, Lê Công Cầu Thưa ông Ngô Yên Thi !!! Vừa
rồi, tôi có nghe và có đọc bài trả lời phỏng vấn của ông, do phóng
viên Gia Minh đài Á châu Tự do thực hiện ngày 5/8/2005. PHẦN I : 1. Gia Minh hỏi : Dư luận nhiều nơi trên thế giới nói về Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất và đòi phục hoạt lại cho Giáo hội đó. 2.
Ngô Yên Thi trả lời : Giáo hội Phật Giáo Việt Ví dụ Hoà Thượng Minh Châu, Trí Tịnh là của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất nay là thuộc Giáo hội Phật Giáo Việt Nam ; chỉ có một vài vị không chịu, muốn có giáo hội riêng của họ ; và nói rõ ra là họ có bên ngoài thúc đẩy. Do vậy chuyện này ít ra trong giáo hội phải thuyết phục nhau để không chia năm xẻ bảy, loại bỏ yếu tố chính trị (3), thực hành theo con đường của Ðức Phật (4). Thưa
ông, I. Sai lầm thứ nhất : Ông
nói Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất là trước năm 1975,
nghĩa là ông cố tình đánh lừa quần chúng để quần chúng hiểu lầm rằng
Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất là của miền Nam Việt Nam cũ. Nên
khi chính quyền miền Nam Việt 1. Dưới thời thực dân Pháp : Ðạo dụ số 10 ra đời và được thừa nhận bởi chính phủ Bảo Ðại, trong đó qui định các tổ chức hiệp hội và Phật giáo chỉ được xem như là một hiệp hội. Thiên chúa giáo lại nằm ngoài đạo dụ số 10, vì Thiên chúa giáo được xem là một tôn giáo. Ðến thời Ngô Ðình Diệm, đạo dụ số 10 được khai thác triệt để với mục đích tiêu diệt Phật giáo. Trước những bất công ấy và luôn bị đàn áp khốc liệt, Tổng hội Phật giáo Việt Nam đã lãnh đạo Tăng tín đồ toàn quốc đấu tranh cho Năm nguyện vọng của Phật giáo, dẫn đến sự sụp đổ của chế độ Gia đình trị họ Ngô. Năm
1964, Tổng hội Phật giáo Việt Nam đã triệu tập 11 tập đoàn Phật
giáo trên toàn quốc tham dự Ðaị hội Thống nhất Phật Giáo Việt Nam,
và danh xưng Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất ra đời. Sự
Thống nhất này mang một ý nghĩa lớn lao, đó là "Giáo hội Phật
Giáo Việt Sở
dĩ tôi nói dông dài như vậy để ông thấy rằng Giáo hội Phật Giáo Việt
Nam Thống nhất không ký thác sinh mệnh của mình vào một chế độ, mà
ký thác sinh mệnh của mình vào dòng sinh mệnh của dân tộc và nhân loại.
Dân tộc còn, thì đạo pháp còn ; nhân loại còn thì đạo pháp còn.
Nó không giống Giáo hội Phật Giáo Việt Và
với mục tiêu đó, ngay sau khi ra đời Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống
nhất đã nỗ lực vận động cho hoà bình sớm trở về với quê hương,
chấm dứt cuộc chiến tranh ý thức hệ kéo dài trên 20 năm, gây nên cảnh
huynh đệ tương tàn, quê hương thống khổ. 2. Năm 1975, Cọng sản chiến thắng miền Nam, trên tinh thần ấy Nhà nước Cọng sản có quyền thừa nhận hay huỷ bỏ bất cứ một tổ chức nào dưới chế độ cũ, vì cho rằng đó là tàn dư của chế độ. Thế nhưng, cho đến nay Nhà nước Cọng sản vẫn chưa hề có một văn bản nào giải thể Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất. Vì sao thế ? Xin thưa, vì Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất là thành viên của Hội Liên Hữu Phật giáo Thế giới. Ðây là một tổ chức phi chính phủ được Liên Hiệp Quốc thừa nhận. Nếu giải thể Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất tức là vi phạm các cam kết của Liên Hiệp Quốc mà nước Việt nam là thành viên. 3. Năm 1977 (sau giải phóng 2 năm) : Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất đã tổ chức Ðại hội toàn quốc kỳ VII. Dù theo Hiến chương của Giáo hội thì toàn quốc ở đây chỉ từ vĩ tuyến 17 trở vào, nhưng đã chấp nhận danh xưng Ðại hội toàn quốc thì có nghĩa đã chấp nhận Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất là giáo hội hợp pháp trên qui mô toàn quốc. 4. Năm 1981, Nhà nước tổ chức Ðại hội Phật giáo toàn quốc để thành lập Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất đã có phái đoàn tham dự do Hoà thượng Thiện Siêu dẫn đầu. Dù phái đoàn này do Ðảng, Nhà nước và Ban Vận động Thống nhất Phật giáo của Hoà thượng Thích Trí Thủ sắp đặt, nhưng nó đã nói lên sự hiện diện hợp pháp của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất sau năm 1975. 5. Sau năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt nam của nhà nước ra đời, trong Hiến chương có ghi là các truyền thống, hệ phái vẫn được duy trì và phát triển. Trước đây tôi có nói là giả dụ hãy tạm xem Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất là 1 hệ phái trong Giáo hội Nhà nước thì có nghĩa là Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất vẫn tồn tại hợp pháp có hiến định. 6.
Năm 2003 : Ðại lão Hoà thượng Thích Huyền Quang đã uỷ nhiệm thượng
toạ Thích Tuệ Sỹ thay mặt Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đến
họp với đại diện Ủy hội Âu châu ngay tại Hà nội, ông F. Bazon (Ðại
diện Liên hiệp Âu Châu) nói rằng, đây là phiên họp chính thức giữa
Ủy hội Âu châu với Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất, phiên họp
đã được xin phép chính phủ Việt Nam. Phía chính phủ Việt 7. Ðăc biệt nhất là việc Thủ tướng Phan Văn Khải tiếp kiến Hoà thượng Thích Huyền Quang được truyền hình cho đồng bào trong nước cũng như hải ngoại xem. Thủ tướng tiếp một người tù ư ? Không phải. Thủ tướng tiếp một Cao Tăng ư ? Không đơn giản như thế. Nhất là khi Thủ tướng nói : "Các vị tự sắp xếp lại nội bộ Phật giáo". Ta phải hiểu rằng người mà Thủ tướng yêu cầu đứng ra sắp xếp lại nội bộ Phật Giáo tức là người phải có thẩm quyền và trách nhiệm với Phật giáo. Ngài Huyền Quang không phải là Pháp chủ Giáo Hội Phật giáo Nhà nước, không phải Trưởng ban Tôn giáo chính phủ, không phải Chủ tịch Mặt trận. Vậy quyền hạn và trách nhiệm của ngài là gì ? Ðó chính là nhà lãnh đạo tối cao của Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất. Như vậy, chính Thủ tướng đã gián tiếp công nhận ngôi vị lãnh đạo của ngài và sự tồn tại của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất. Phải vậy không, thưa ông ? 8. Tháng 10 năm 2003, Ðại hội Bất thường của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất tại Tu viện Nguyên Thiều, tỉnh Bình Ðịnh, là bước đầu trong công cuộc sắp xếp lại nội bộ Phật giáo như Hoà thượng Huyền Quang và Thủ tướng đã thoả thuận. Ðại hội được tiến hành công khai. Ban Tôn giáo tỉnh Bình Ðịnh đã xin cử cán bộ vào quan sát buổi lễ. Ðồng thời Hoà thượng Quảng Ðộ đã gởi văn thư cho Thủ tướng Phan Văn Khải phản đối những cản trở bất hợp pháp của chính quyền các địa phương đối với chư vị Tôn túc tham dự đại hội. Ðây là một văn kiện chính thức mà Hoà thượng Quảng Ðộ báo cho Thủ tướng biết những việc mà Giáo Hội Thống nhất đang làm. Thủ tướng không có văn thư ngăn cấm. Như vậy chứng tỏ đại hội được tổ chức hợp pháp. Ðây là một yếu tố nói lên sự tồn tại trên pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất. Ðúng không, thưa ông ? Ðáng tiếc sau đó xảy ra sự biến Lương Sơn, các lực lượng công an đã chận đường chư vị tôn túc đi dự Ðại hội Bất thường Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất trở về. Và qui kết chư vị tôn túc làm lộ bí mật quốc gia ? ? Và quản thúc mỗi người mỗi nơi, tạo nên một khủng hoảng mới về tôn giáo tại Việt Nam, phá hoại thoả thuận giữa Thủ tướng và Hoà thượng Thích Huyền Quang về việc sắp xếp lại nội bộ Phật giáo. Trách nhiệm về sự biến Lương Sơn hoàn toàn về phía chính quyền mà trong đó trách nhiệm rất lớn là do ông vì ông là Trưởng ban Tôn giáo. Ðúng không, thưa ông ? Tôi nêu 8 sự kiện nêu trên để chứng tỏ sự tồn tại hợp pháp và tương tục của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất mà ông đã cố tình "giấu đầu" và dưới đây là phần "hở đuôi" của ông. Tôi xin chỉ rõ để ông thấy. II. Sai lầm thứ hai : Ông
nói : Ðại bộ phận của họ đã thống nhất thành Giáo hội
Phật Giáo Việt Ông nói sai nhưng đó lại là sự thật. Sau Ðại hội toàn quốc kỳ 7 của Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất, giáo hội đó đã nhiều lần đề nghị Thống nhất Phật giáo hai miền Nam Bắc, nhưng dưới con mắt của Ðảng thì Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất là một tổ chức quần chúng, có quần chúng và huy động được quần chúng. Ngược lại dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa, Phật giáo miền Bắc chỉ còn là một tập hợp của những người theo Ðảng, không có quần chúng. Sự tương quan lực lượng nầy làm cho Ðảng lo lắng và đảng đã quyết tâm chia chẻ Giáo hội Thống nhất ra từng mảnh trước khi Thống nhất Phật giáo toàn quốc. Mảnh thứ nhất, có những phần tử mà Ðảng cho là nguy hiểm, cần phải tiêu diệt hay tù đày tiêu biểu là các Hoà thượng Thiện Minh, Huyền Quang, Quảng Ðộ. Mảnh thứ hai, là những tu sĩ hoạt động cho Ðảng mà tiêu biểu là Thượng Toạ Thiện Châu. Mảnh thứ ba, là những người chấp nhận thời cuộc mà tiêu biểu là Hoà thượng Minh Châu, Hoà thượng Trí Tịnh. Loại trừ được mảnh thứ nhất rồi Ban Bí Thư Trung Ương Ðảng mới cho tập hợp hai mảnh còn lại cộng với Phật giáo miền Bắc gọi là 9 tập đoàn, tổ chức đại hội tại hội trường Giảng Võ Hà Nội dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông Trần Quốc Hoàn - Ủy viên tổ chức Ban Bí thư Trung Ương Ðảng. Như vậy, tôi xin ông lưu ý 4 điểm sau đây : 1. Một số người tự ý ly khai Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất để tham gia Giáo hội Nhà nước, chứ Giáo hội không tham gia, ngay cả phái đoàn của Hoà thượng Thiện Siêu cũng chẳng có một văn bản nào của Hội đồng Lưỡng viện công cử. Ðây là đại bộ phận họ Thống nhất lại thành Giáo hội Phật giáo Việt nam như ông đã nói. 2.
Vậy thì, phải còn một tiểu bộ phận nữa chứ. Vậy thưa ông, tiểu bộ
phận ấy là ai. Ðó chính là những người không xu phụ thời cuộc, không
tham gia Giáo hội Nhà nước. Ðây là thành phần trung kiên của Giáo hội
Phật Giáo Việt Nam Thống nhất mà tôi tạm gọi là mảnh thứ tư cộng với
những người tù tội, lưu đày ở mảnh thứ nhất cùng nhau gìn giữ Giáo
hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất. Và như vậy Giáo hội Phật Giáo Việt
Nam Thống nhất vẫn còn phải không, thưa ông ? 3.
Một điều đáng nói là, sau khi Giáo Hội Phật giáo Việt Nam ra đời, trên
thực tế, Nhà nước không xem đó là một Giáo hội mà chỉ là một Hội
đoàn trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như hội thanh niên, hội phụ nữ,
hội người cao tuổi... mà thôi. Bằng chứng là các văn bản bằng tiếng
Anh, Nhà nước gọi Giáo hội Phật giáo Việt 4. Vì những lý do trên mà chúng ta phải khẳng định rằng, tại Việt nam, hiện nay vẫn chỉ tồn tại một giáo hội Phật giáo đúng nghĩa của nó, đó là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất mà thôi.. III. Sai lầm thứ ba : Thưa
ông, Loại bỏ yếu tố chính trị là một việc làm cấp thiết, nhưng đó là việc mà Ðảng và Nhà nước phải làm. Phật giáo chỉ là nạn nhân mà thôi. Muốn thế, Ðảng phải đẩy Giáo hội Phật giáo Việt nam ra khỏi Mặt trận, để Giáo hội Phật giáo Việt nam trở về với sinh hoạt thuần tuý tôn giáo. Phải vậy không, thưa ông ? IV. Sai lầm thứ tư : Thưa
ông, 1. Giới luật không cho phép Tu sĩ nạp Tăng tịch cho chính quyền, mà chính quyền bắt phải nạp mới cho lên Hoà thượng, Thượng toạ. 2. Giới luật không cho phép Tu sĩ tham gia chính trị, nhưng Ðảng cứ bắt buộc quý Ngài ứng cử Quốc hội, Hội đồng Nhân dân, hết kỳ này đến kỳ khác. 3. Giới luật không cho phép Tu sĩ nhận huân chương của Ðảng, vậy mà Ðảng cứ bắt họ đeo vào. Vậy muốn Tu sĩ đi đúng con đường của Ðức Phật, thì Ðảng phải chấm dứt ngay việc làm nêu trên. Phải không, thưa ông ? PHẦN II : 1.
Gia Minh hỏi : Trước đây Hoà thượng Huyền Quang được Thủ tướng
hứa hẹn ? Thưa
ông, Ông có nhớ rằng sau sự biến Lương Sơn, Hoà thượng Huyền Quang bị áp tải về lại tu viện Nguyên Thiều, Hoà thượng Quảng Ðộ bị áp tải về Thanh Minh Thiền viện, quý Thượng toạ : Tuệ Sỹ, Thanh Huyền... sau một thời gian làm việc vòng vo đều bị áp tải về chùa và nhận lệnh quản chế với lý do rất mơ hồ. Từ đó các ngài sống trong cảnh nội bất xuất, ngoại bất nhập. Chính quyền đã cô lập các ngài một cách gắt gao và tàn nhẫn. Các ngài chẳng được tự do đi lại thăm viếng đồng bào, Phật tử và ngược lại con cháu Phật tử đến thăm viếng quý ngài cũng bị cản trở khốc liệt. Tôi xin nêu hai trường hợp điển hình để cho ông và đồng bào thấy : 1. Năm ngoái huynh trưởng Bạch Hoa Mai từ Mỹ về đã cùng với huynh trưởng Nguyễn Ðình Khôi (Ủy viên Ban hướng dẫn Trung ương Gia đình Phật tử Việt Nam) đi từ Sài Gòn ra Bình Ðịnh thăm Hoà thượng Huyền Quang. Khi xuống ga Diêu Trì thì "được" công an Bình Ðịnh mời về trụ sở công an để làm việc, và chính công an đã mua vé tàu buộc hai anh phải trở lại Sài Gòn, chứ không được đến Tu viện Nguyên Thiều. Hai vị Huynh trưởng này đã điện thoại cho tôi rõ. 2. Gần đây nhất là hôm 20/6/2005, phái đoàn chư Tăng Thừa Thiên Huế vào Nha Trang đi đám Hoà thượng Ðổng Minh. Trên đường trở về Huế, phái đoàn ghé Tu viện Nguyên Thiều để vấn an Ðức Tăng Thống đệ tứ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất. Phái đoàn bị chặn ngay tại đầu cầu Bà Di, theo lối vào Tu viện. Sau đó, công an đã tạo ra nhiều lý do để buộc phái đoàn phải trở về trụ sở xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh để làm việc. Sau một ngày đêm bị giữ tại cơ quan chính quyền. Công an đã dẫn độ quý ngài về lại Huế và Quảng Trị, và cuối cùng quý ngài không thăm được Ðức Tăng Thống. Thưa
ông, Ðể kết luận, tôi xin cảnh báo với ông hai điểm đễ ông suy nghĩ : I.
Ông cũng như tôi là những người đang sống trong dòng lịch sử. Chứng kiến
những biến cố của đất nước trước năm 1975 cho đến hôm nay. Nhưng
ông phải hiểu rằng không phải chỉ có ông và tôi mà cả thế hệ
chúng ta đều là chứng nhân lịch sử, cho nên : 1. Ông là Ủy viên Trung ương đảng mà ông nói sai sự thật thì nhân dân không tin ông. Ðã không tin ông, thì nhân dân cũng không tin vào Ðảng của ông. 2. Ông là Trưởng Ban Tôn Giáo Chính
phủ mà ông nói sai sự thật thì nhân dân không tin ông. Ðã không tin ông,
thì nhân dân cũng không tin vào Chính phủ của ông nữa. Như vậy chính các ông làm mất niềm tin của nhân dân vào Ðảng và chính phủ, chứ chẳng ai khác. II.
Thời trai trẻ ông đã từng mặc áo Lam, đeo hoa sen trắng đến chùa sinh
hoạt Gia đình Phật tử như chúng tôi. Nhưng khi theo Ðảng các ông đã
khai không có tôn giáo. Sự quay lưng lại với tôn giáo của mình tức
là các ông đã từ bỏ những giá trị đạo đức truyền thống của cha
ông ta để lại. Lê Công Cầu
Sau
biến cố Nguyên Thiều ở trong nước và đại hội bất thường của Giáo
hội PGVNTN ở Melbourne Úc châu ngày 12.10.2003, ông Tú Gàn (còn có bút danh
là Lữ Giang) là người được dư luận trong thành phần Catô ở Mỹ coi
là một cây viết “xuất sắc, tài ba nhất” còn sót lại của chế độ
ông Diệm, đã “mượn” tờ báo Saigòn Nhỏ để đẩy mạnh sự xuyên tạc
trong qui mô rộng bằng một lọat bài báo gây mâu thuẫn, hiềm khích giữa
chế độ trong nước và PG. Tú Gàn đã
gọi mâu thuẫn này là “Cuộc “đấu pháo”
trong ngoài” (báo Sàigòn Nhỏ ngày 9.1.2004) và mở đầu bài viết bằng
lập luận như sau: “…Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở trong nước là
một cơ quan tôn giáo vận của Đảng Cộng Sản Việt Nam đặt trực thuộc
Mật Trận Tổ Quốc, còn Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế ở Paris do
ông Võ Văn Ái điều khiển là một tổ chức Phật Giáo hải ngoại được
chính phủ Hoa Kỳ tài trợ để đối kháng với Cộng sản Việt Nam.” Với
những lời lẽ khinh mạn và tự hạ thấp Giáo hội PGVNTN như là một tổ
chức của ông Võ Văn Ái, Tú Gàn dùng hậu ý khác để làm cho chế độ
CS coi GHPGVNTN (ông còn gọi là Giáo hội Ấn Quang) là một “kẻ tử thù”
chính trị của Hà Nội qua đoạn văn này : “-
-Giáo Hội Ấn Quang được thành lập với
chủ trương quy tụ Phật tử lại thành một lực lượng để tiến lên nắm chính
quyền
tại Việt Nam. Đây là chủ trương của nhóm tăng sĩ miền Trung.
Tuy bên ngoài, không có văn bản nào chính thức nói như vậy, nhưng các họat
động của Giáo Hội Ấn Quang từ 1964 đần nay đều nhắm vào mục tiêu
đó. Giáo Hội này chủ trương không liên kết với các tông phái Phật
Giáo khác hay những tổ chức ngoài Phật Giáo, mà chỉ muốn tông phái Phật
Giáo và mọi tổ chức phải đứng sau lưng của Giáo hội Ấn Quang mà
thôi.” Thâm ý của Tú Gàn cho người
đọc có ấn tượng rằng bất cứ một chế độ chính trị nào, dù thối
nát độc tài hay không, đều là kẻ thù chính tri của Giáo hội Phật
Giáo Thống Nhất (hay theo cách gọi của Tú Gàn là Giáo hội Ấn Quang). Đây là đòn tâm lý đánh vào người Cộng
sản thôi; nhưng để đánh vào tâm lý quần chúng, Tú Gàn đã kết tội Giáo hội PGVNTN trong
quá khứ đã từng làm “tay sai” cho Cộng sản, nhưng nay không được nhà
nước cộng sản dùng nữa nên tìm cách làm cho nó “tan biến” để thay
thế bằng “Giáo Hội Nhà Nước”. Tú
Gàn viết như sau: “Ngay sau khi Hòa Thượng Đôn Hậu và Huyền
Quang đưa kiến nghị nói trên, Phật Giáo Ấn Quang từng được tuyên xưng
là “Phật Giáo Yêu Nước” hay “Phật Giáo có công với Cách Mạng”, nay
bị coi là “Phật Giáo phản động”.
Một Giáo hội Phật Giáo khá đã được thành lập để làm tan biến hay
loại Giáo Hội Ấn Quang ra, đó là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, thường
được gọi là Giáo Hội Nhà Nước hay Giáo Hội Quốc Doanh. Với chủ trương như trên,
chúng ta không ngạc nhiên khi thấy Giáo Hội Ấn Quang đã không được cả
chính quyền Việt Chúng tôi tin rằng nếu cứ tiếp tục theo
đuổi đười lối này, những chính quyền
hậu cộng sản cũng sẽ không còn có cách lựa chọn nào khác hơn là
phải đối xử với Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang như các chính quyền truớc
đó.” (lưu ý: chữ đậm
là của Tú Gàn). Sự lưu manh, xảo ngôn
trong lập luận của Tú Gàn là cố ý làm cho giới chức chính quyền Việt
Nam hiểu rằng, nếu có xếp Giáo Hội PGVNTN (Ấn Quang) vào thành phần đối
thủ cần phải bị tiêu diệt cũng là điều hợp lý thôi, vì chính ngày
trước chế độ Việt Nam Cộng Hòa cũng muốn tiêu diệt, nhưng chẳng may
không làm được, nay mấy ông Cộng sản làm được thì càng hay!. Điều
đó còn ngụ ý gián tiếp là sẽ có thế lực Catô La mã nội địa và quốc
tế ngầm ủng hộ. Nhưng, để kết luận Tú
Gàn lại dùng một lập luận nghịch đảo để tạo nên những mâu thuẫn
chồng chéo trong nội bộ Phật Giáo, y viết:
“Có thể nói, kế hoạch “thống
nhất Phật giáo” lần thứ hai của nhà cầm quyền CSVN qua Hòa Thượng
Huyền Quang để xóa sổ Giáo Hội Ấn Quang đã bị bẻ gãy. Nhưng thua keo
này, địch sẽ bày keo khác, nên chúng ta phải luôn đề phòng.” Nêu ra dẫn chứng cụ thể
trong bài viết của Tú Gàn để chúng ta có thể nhìn ra âm mưu gian trá của
tín đồ Catô La mã là : dưới bất cứ một chế độ chính trị
nào, hòan cảnh xã hội nào, họ cũng đều coi Phật Giáo là một kẻ thù
(vì PG muôn đời là một tôn giáo dân tộc); nhưng chúng tôi tin rằng những
người cộng sản VN trong quá trình lịch sử vì yêu nước đã “mượn”
chủ nghĩa Cộng sản để giải quyết vấn đề độc lập cho dân tộc…
không thể mù quáng trước những âm mưu thâm độc đó, thành ra chúng tôi
nghĩ nếu chính quyền và các Giáo hội
Phật Giáo nói chung không khéo léo dùng trí tuệ để giải quyết sớm vấn
nạn hiện nay, không chừng cả hai có thể trở thành những nạn nhân của
đạo Công Giáo La Mã. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com