posted: 18.8.2005
(Lưu ý bạn đọc:
Có một vài tác giả do thói quen hoặc thì giờ eo hẹp phải viết nhanh vội,
nên có tình trạng viết tắt một số cụm từ thuộc về danh xưng, tổ chức…
như trong bài viết này. Dù không đồng ý với lối viết tắt này, nhưng
chúng tôi không có đủ thì giờ và nhân sự làm việc để “biên tập”
lại suốt bài viết; do đó, xin lưu ý với bạn đọc và thỉnh cầu các
tác giả quan tâm đến thói quen này. Các nhóm từ, danh xưng viết tắt
trong bài này: GH = Giáo Hội; HT = Hòa Thượng; THPG = Tổng Hội Phật Giáo;
GHPGVNTN = Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất; TS = Thiền Sư; GHPGVN =
Giáo Hội Phật Giáo Việt PHẬT GIÁO và
GIÁO HỘI Nói thế không có nghĩa PG không có một
GH và không cần một GH, ngược lại PG có một GH rất sớm, khi Đức Thế
Tôn còn tại thế, GH lúc bấy giờ được xem là một nhóm gồm bốn vị Tỳ
Khưu, cùng sinh họat chung trong một trú xứ, cùng một thời điểm để tu
học và hoằng hóa đạo đức, như vậy GH đối với đạo Phật, không
được quan niệm như một tổ chức hành chánh mà là một sinh hoạt tâm
linh, không là một qui mô lớn, cồng kềnh mà là mô thức sinh hoạt đơn lẻ
hữu hiệu! Từ sau khi Phật nhập diệt, quan niệm
GH như vậy vẫn tồn tại, qua các lần kết tập kinh điển, 500 thánh tăng
La hán lần đầu và trên ngàn thánh tăng, thanh tịnh tăng những kỳ kết tập
sau cùng, vẫn không xem lượng số đông đảo là một GH. Niên đại Asoka
đào tạo sứ giả Như Lai truyền bá Phật tạng và Ngọc Xá Lợi sang hướng
Bắc và Nam, gọi là Bắc truyền và Nam truyền, được xem là một Phật sự
không do hệ thống GH hành chánh đảm nhiệm; những dịp Yết ma, Bố tát
do tăng đoàn thực hiện mà không mệnh danh GH triệu tập. Khi PG truyền
vào VN, Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, cũng chỉ là những tông phái, môn
phong cá lẽ , chưa hình thành một GH hành chánh. PG vào VIỆT NAM đầu kỷ
nguyên thứ nhất cho đến hạ bán thế kỷ thứ hai khi trung tâm PG nổi tiếng
Luy Lâu hình thành, vẫn là những sinh hoạt tự phát, không chịu lệ thuộc
vào một cơ cấu hành chánh mệnh danh là GH. Đến niên đại Trần Nhân
Tông, ngôn xưng GH Trúc Lâm mới được
nhắc đến, nhưng cũng mang tính môn phong, truyền bá chứ chưa có hình thức
phân nhiệm đa ngành; Đến lúc PG quá thịnh, tình trạng tăng môn lạm
phát, sinh lắm tệ nạn, trốn việc quan đi ở chùa, bắt đầu tu sĩ phải
có giấy Độ Điệp, chứng nhận qua kỳ khảo thí, thành lập Tăng Cang, kiểm
soát tu sĩ, nhuốm một phần nhỏ về hành chánh; Các môn phái cũng tự phát
mà không trực thuộc vào tổ chức điều hành tổng quát của GH. Các môn
phái tự củng cố nội bộ và phát triển hạnh môn, có lúc rộ nở trăm
hoa, có khi thu mình trong dòng phái, dù rộ nở hay không, tu sĩ chính thức của
các tông môn vẫn giữ được tầm vóc xứng đáng Tăng phong đạo cách của
mình, cứ thế, PG thấm nhuần vào máu xương của dân tộc, tinh anh phát tiết
qua nghệ thuật, thi ca, kiến trúc… Tuy có một vài Nho gia châm biếm bài
xích PG vì đố kỵ, nhưng hầu hết PG tạo được thế đứng trong nhân
dân, luôn giành được vị thế kính trọng bởi đạo phong, nội lực và
kiến thức - từ vua quan đến thứ dân. Dân số bấy giờ chưa là bao, thế
mà lượng số tu sĩ đã trên dưới 30.000 người, riêng tu sĩ thuộc GH Trúc
Lâm cũng đã chiếm phân nửa; phân nửa là dân phân nửa là tu sĩ. Các Thiền
phái như Thảo Đường, Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô ngôn Thông, Lâm Tế… không
chịu sự điều hành hay trực thuộc hệ thống GH của Thiền phái Trúc
Lâm, như vậy danh xưng GH Trúc Lâm chỉ có nghĩa là hệ thống thiền Phái
được khởi xuất và bảo trợ bởi nhà nước, các môn phái khác tự do
sinh hoạt phát triển, đóng góp đáng kể một nền văn hoá đặc thù cho
dân tộc, không những thế, các Thiền phái cung ứng cho dân tộc một sinh
lực dồi dào và sinh khí tươi nhuận từ các bậc chứng đắc, một tinh
thần vô uý, hiên ngang trước kẻ xâm lăng! Tuy PG, từ thế kỷ 15 trở đi, lụn tàn
do nội tại và ngoại cảnh, từ cực thịnh đến cực suy là lẽ tất
nhiên, nhưng mạng mạch vẫn liên tồn dưới áp lực của Nho gia, rồi đến
Pháp thuộc, thời đại Kitô giáo nắm quyền đến khi Mỹ thao túng miền
Nam và XHCN miền Bắc. Từ thập niên 1930, các
hội PG như Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học, Hội Lưỡng Xuyên
Phật Học, Hội PH Kiêm Tế, Hội PG Bắc Kỳ, Hội An Nam Phật học… GH Tăng
già cũng chỉ là danh xưng, không nặng
về mô hình hành chánh, đều là những hội như các hội đoàn khác trong
xã hội, chưa hình thành một GH, đến năm 1951 đại hội PG toàn quốc tổ
chức tại Từ Đám, trong xu thế chung của thế giới phục hưng PG, PG VIỆT
NAM cũng chỉ tiến đến một Tổng Hội PG do HT. Tịnh Khiết làm hội chủ.
Dưới chế độ Pháp thuộc, PG bị khép vào
đạo dụ số 10, nhưng khi Ngô Đình Diệm cuồng tín triệt tiêu PG, giành
ưu tiên phát triển Kitô giáo, PG lúc bấy giờ mới đứng lên đòi hỏi thủ
tiêu đạo dụ từ thời Pháp đối với PG, 11 hệ phái PG miền Nam kết hợp
cho ra đời một GH với danh xưng GHPGVNTN sau khi Ngô Đình sụp đổ, đó là
GH đúng nghĩa suốt 20 thế kỷ PG có mặt tại VIỆT NAM và thực sự một
GH lịch sử cùng da thịt với dân tộc! A. ĐẠO PHONG - NỘI LỰC và GIÁO HỘI Từ lúc thăng cho đến khi trầm cùng
dân tộc, những khi PG suy vi, không có nghĩa tu sĩ bê tha đạo đức hay tha
hoá xã hội, trong quá khứ ấy, chư tăng thiếu nội chứng hoặc kém nội
lực, thiếu tăng tài so với thời Lý Trần cung ứng cho xã hội, không còn
thạch trụ mang tầm vóc quốc gia, nhưng tăng phong đạo cách vẫn đủ để
làm gương cho nhân quần. Thời Pháp
thuộc, tu sĩ PG phần lớn là thầy cúng, thiếu trình độ, nhưng tư cách vẫn
có, tu sĩ không làm hoen ố xã hội. Một số rất ít các bậc chân tu đều
ẩn cư, một số trẻ xã thân cứu quốc. Các Thiền sư tuy không xuất
chúng, nhưng đạo lực có thừa như TS. Khánh Hoà, TS. Tịnh Khiết, TS. Mật
Nguyện, TS. Bích Liên, TS. Liên Tôn, TS. Giác Tiên, TS. Mật Thể, TS. Thiện
Hoa, TS. Thiện Hòa, TS. Hành Trụ… đều là những tấm gương mẫu mực cho
tăng tín đồ đương thời; những thân
giáo sinh tiền như vậy đủ để tăng sĩ và cư sĩ vâng phục, noi gương. Nhưng từ khi GHPGVNTN có mặt gánh vác trách nhiệm cùng dân tộc, PG bắt đầu
một hình thức mới, sinh hoạt mới, không còn hạn chế trong tông môn, có
khuynh hướng hướng ngoại, mang tính xã hội, tăng sĩ được khuyến khích
trang bị kiến thức thế học để cập nhật trình độ, kinh điển trở
thành học lý để tham khảo hơn là hạnh môn tu chứng. Các Phật học viện,
tu viện không còn là những Tùng Lâm nội quán, biến thành các giáo điểm
nghiêng cứu học thuật, giáo luật và giới luật đã xem nhẹ, các môn
phong không chú hướng đào tạo đạo
lực cho tăng chúng; thu nhận đệ tử không qua thời gian tập sự thử
thách như cổ đức đã làm, xuống tóc chưa đủ thời gian làm điệu, tự
ý tách thầy ra nhận chùa; mới hôm qua là dân thường, mấy hôm sau đã
làm thầy thiên hạ nhận sự lể lạy cúng dường của bá gia… bốn cuốn
luật sơ đẳng Sa Di chưa quen mặt chữ, năm đệ Lăng Nghiêm chưa hề nghe
đến Diệu Trạm Tổng Trì… Thầy tổ thi đua cho đệ tử ăn học đặng
nở mày nở mặt với các tổ đình. Cái gọi là GH mới ra đời, hệ thống
ban bệ tuy đồng bộ, nhưng chưa củng cố nội tình, chưa có cơ sở đào
tạo tăng tài và chưa lập Tùng Lâm chuyên tu cho những bậc chí tâm xuất
trần, vội dồn tâm lực vào cuộc đấu tranh đơn điệu, không được hậu
thuẩn mà vào triều đại nhà Ngô, bạn bè năm châu đã lên tiếng đồng
tình; thật sự GHPGVNTN bấy giờ một thân một mình cố gắng vận dụng
đem lại hoà bình cho tổ quốc, đã bị thế lực chính trị các bên lợi
dụng, phân hoá, nội bộ tu sĩ tự lo đời sống cá nhân và ăn học, không
ai nâng đở, GH không có kế hoạch kinh
tế tài trợ đào tạo tăng tài, vì thế một số tu sĩ trẻ thiếu bản lảnh
tiến thân, đã lợi dụng tình thế xáo trộn của PG, chiến tranh của đất
nước, tìm thế an thân, thủ lợi! Các môn phái trực thuộc GH hay ở
ngoài GH đều buông thả đệ tử, không còn sợi giây tình cảm đạo
nghĩa, giới luật tông môn ràng buộc, phong cách dần dà tha hoá. Một tổ chức GH nặng về mô thức
hành chánh, nhưng không có giáo quyền tuyệt đối như Kitô giáo, chắc chắn
khó điều hành hữu hiệu, một cổ xe cồng kềnh nhưng cấu kết không vững
chắc, người điều khiển sẽ khó đạt như ý, PG là một lực lượng bàng
bạc trong quần chúng, không một ràng buộc nào hiệu quả ngoài tình cảm
đạo đức và đạo vị, do vậy chư vị lảnh đạo GH bấy giờ khó mà thống
nhất được ý chí và hành động, đưa đến chia rẽ là chuyện đương
nhiên, và đối với nhân sự, tu sĩ, GH cũng không toàn quyền phán quyết hữu
hiệu; GHPG chỉ là hình ảnh lung linh để bên ngoài nhìn và thẩm định như một ảo ảnh qua bóng nước! Nếu sau
1963, GH dốc toàn lực cho việc đào tạo tăng tài và chuyên tu, với cặp mắt
chính trị và xã hội, xem đó là thái độ yếm thế, thờ ơ, nhưng đạo
lực và Hồng Đức tâm chứng sẽ giúp cho dân tộc nhiều hơn những thái
cách mà GH đã chọn, lăn xả vào đời để rồi chỉ là điểm son giả tạo
trên trang sử chính trị, đánh đổi lại một cơ đồ tan vở, bệ rạt kéo
dài đến hôm nay cho giới tu sĩ! Có người sẽ đặt vấn đề ngược lại,
thế trong quá khứ, PG cũng từng đóng góp cho đất nước chống ngoại xâm
thì sao? Vâng, mỗi thời đại có một bối cảnh khác nhau, vào thời PG là
quốc đạo, tinh thần nhất quán và đạo lực của các bậc chân tu phủ
trùm dân tộc, uy tín PG và tiếng nói của chư tăng có sưc mạnh của một
hiệu triệu, chính trị đối phương chưa ma mãnh như ngày nay, kỹ thuật
tình báo chưa tinh xảo và trong nhân dân không có nhiều tôn giáo, tôn giáo
bấy giờ không thuộc loại quốc tế điều hành như ngày nay; PG không có
hậu thuẩn quốc tế về chính trị cũng như quân sự, không cấu kết với
ma lực, không thủ đoạn chính trị và cũng không là tổ chức chính trị
khoác áo tôn giáo, tổ chức GH không chặc chẽ, tóm lại PG không có bất
cứ yếu tố nào đủ để đối đầu với các thế lực thế gian ngoài
thiện chí và tâm đức, dồn tâm lực vào canh bạc chính trị để kết cục
là tay sai chính trị, một gia sản đổ vở và bệ rạc! Chiến tranh VIỆT NAM chấm dứt trong hải
hùng nhưng ít tổn hại, đành rằng một phần có công của PG, tuy có công
với đất nước nhưng có tội với liệt tổ, chư Phật, vì không vun xới
ngôi nhà Như Lai theo đúng khả năng mình. sau ngày thống nhất đất nước,
PG được gì ngoài gia tài hoang phế, anh em đối đầu lẩn nhau, Phật sự
đình trệ, uy tín giảm sút bởi chư tăng đánh mất niềm tin của đồng bào,
tu sĩ mất định hướng, mất lý tưởng, mất niềm tin của đàn anh
đương nhiệm, sống buông thả truỵ lạc, chạy theo vật dục thời đại…
Tuy hiện nay còn có nhị vị tôn túc đạo cao đức trọng như TS. T. Thanh Từ,
TS. T. Nhất Hạnh là ánh đuốc giữa đêm tối trên bầu trời PGVN, nhưng
chưa đủ lực kết hợp toàn bộ tu sĩ PG còn ngái ngũ trên danh xưng những
GH. Cũng từ hai chữ GH mà PGVN đã phân
hoá trầm trọng, mỗi bên đều bảo thủ vị trí, danh xưng làm đình trệ
suốt 30 năm mà đáng ra PGVN phải vượt trội hơn các tôn giáo bạn; PG là
đạo Vô Ngã nhưng bị vấp ngã bởi chấp ngã nặng nề. Ước gì Đạo Phật
không bị ràng buộc vào danh xưng GH như chư tổ xa xưa, sẽ không bị vướng
mắc, bấy giờ tinh thần thông thoáng bàng bạc khắp nơi, không gò bó vào
cơ chế tổ chức, PG như trăm hoa đua nở mọi lãnh vực trong cuộc sống.
Những bài học đau xót trầm trọng như vậy, cấp giáo phẩm vẫn chưa rút
tỉa kinh nghiệm, tiếp tục o ép các thành phần còn lại vào một tổ chức
không tương xứng tầm vóc của nó, chẳng những thế, thủ thuật kết nạp
thiếu tinh tế, dùng quyền lực đe doạ quá ấu trỉ, tạo thêm phân hoá vốn
đã phân hoá; ví dụ Ban Hướng Dẫn Nam Nữ Cư Sĩ muốn các đơn vị Gia
Đình Phật Tử trực thuộc sự quản lý của mình, thay vì thể hiện
chánh nghĩa bằng động thái hiểu biết cảm thông và tôn trọng để các
em tự nguyện tham gia, lại giở trò đe doạ, kết hợp với ban tôn giáo
và công an, gây áp lực với các trụ trì, nhiều đơn vị bị trục xuất
khỏi chùa vì không tuân lịnh. Có những vị trụ trì khôn khéo, vẫn duy
trì GĐPT sinh hoạt mà không làm mích lòng bề trên, nhưng phần lớn các trụ
trì quá yếu kém, sợ sệt đành xua đuổi những con em thánh thiện đó, những
mầm non tương lai của PG. Chùa Vạn Hạnh , Bầu Nai, Hốc Môn, khi còn là
thảo am nghèo nàn, các em GĐPT hàng tuần sum vầy thật ấm cúng, khi chùa
tái thiết khang trang, có sự đóng góp hàng tháng của các huynh trưởng trích
từ tiền lương ít ỏi của mình cho việc xây dựng, đến khi hoàn thành,
các em bị xua đuổi, dời sang sinh hoạt chung với đơn vị bạn cách đó
vài cây số, nhưng với tâm lành của con Phật, các em vẫn quây về giúp
thầy vào những lể lớn, có những em trên mười tuổi, phải trở về nhà
cách sáu cây số để ăn trưa rồi đến chùa công quả tiếp mà đáng ra,
chùa phải bố thí cho các em bửa ăn chả đáng là bao! Phải chăng đó là công hạnh của tu sĩ
PGVN ngày nay chỉ biết lợi và dụng, không nghĩ đến tương lai PG từ những
tín đồ thuần thiện? Hành động của phần lớn các cấp thẩm quyền
trong GH đến các trụ trì, các tu sĩ , theo tập quáng, thiếu phán xét cân
phân, không đặt quyền lợi lâu dài của PP mà chỉ làm theo bản năng và
phản ứng thiếu thận trọng của chính mình. Ngoài ra còn bao nhiêu chùa,
bao nhiêu chức sắc GH trên cả nước hành động có hại cho đạo và có lợi
cho bản thân? Gần 50 năm qua, tu sĩ PGVN hướng ngoại quá nhiều, các ban
ngành GH cũng hành xử thể hiện quyền lực nhiều hơn là tình cảm đồng
đạo và quyền lợi dài lâu của PG. PG nói chung và PGVN nói riêng, không cần
những GH, chỉ cần sự tu tập do các tông phái truyền thừa, chỉ cần thực
tu, thực học như thuở xa xưa, nhờ thế PG đã đóng góp được nhiều cho
đất nước. PG không cần một tổ chức GH mang tính hành chánh, chỉ có những
tôn giáo mang màu sắc chính trị mới cần một tổ chức chặc chẽ để
thống trị tín đồ, tạo lực lượng vững mạnh để cấu kết thế quyền.
Tinh thần PG khác với tinh thần Kitô giáo, không thể bắt chước khung hình
tổ chức đó để điều hành PG, PG vẫn
phát triển khắp thế giới một cách hoà bình mà không cần một tổ chức
GH nào. Nên chăng hãy trả PG trở về vị thế ban đầu của một giáo đoàn
chuyên tu, vì xã hội rất cần những mẫu người thánh thiện?. B. GIÁO HỘI - THẾ TỤC - QUYỀN
LỰC PG là tôn giáo thuần hướng tâm linh,
nói cách khác, mục đích tối hậu là Tuệ Giác – Duy Tuệ Thị Nghiệp. Từ
lúc đức Thế Tôn khai đạo đến hàng ngàn năm sau, mục tiêu vẫn không
thay đổi; càng hướng nội, thiền quán, an trụ, thì ngoại cảnh và phương
tiện vật chất càng giảm thiểu, ít vướng bận; GH ngày nay là một tổ
chức mang tính tập quyền, những học lý tôn giáo độc Thần thường đưa đến cực đoan, bạo
động, độc tài; những học lý phi Thần,
tổ chức GH sẽ dẫn đến chuyên quyền, lạm dụng, nhất là PG, một tín
ngưỡng tâm linh không có khuynh hướng phóng ngoại, đề cao tự ngộ, tự
giác, thì GH là một sự ràng buộc theo một mô hình, quy chế thuần thế tục,
tạo không ít nhiêu khê cho tu sĩ. Một bậc chân tu thuần tuý sẽ không
đảm nhận bất cứ chức sắc, quyền hành nào từ tổ chức GH, ngược lại,
các ban ngành trong cơ cấu tổ chức đó thường giao phó cho những tu sĩ không
qua trường lớp hành chánh, không có khả năng chuyên môn, không có óc
sáng tạo và tổ chức, nhất là không đủ uy tín cá nhân do đạo phong khiếm
khuyết, dẫn đến thái độ cửa quyền, quan liêu, hống hách và gây khó
nhau để có phong bì; phải chăng những tệ nạn trong GHPGVN ngày nay là phản
ảnh trung thực từ những tệ nạn ngoài xã hội, khác chăng là những mỹ
từ: cúng dường thay vì thủ tục đầu
tiên của thế nhân. Một điều đau lòng, nghe ra như đùa, nhưng có thật,
một tư sĩ từ nội thành, chuyển khẩu ra ngoại ô, qua thủ tục hành
chánh của Công An quản lý hộ khẩu, chỉ tốn công mà không phải mất tiền,
đến Thành Hội xác nhận, bị hạch xách khó dể để rồi một giá tiền
không thể tưởng – ba chục triệu. Một học tăng , học ni xin đơn vào
Trung cấp Vĩnh Nghiêm, bị chối từ vì hết hạn, sau đó được mách nước,
một vị khác bỏ phong bì ba triệu, có ngay lá đơn, mặc dù không có chứng
chỉ sơ cấp. một nhân viên văn phòng trường ngỏ ý với một học tăng
trụ trì xin tám trăm ngàn để chuộc chiếc đồng hồ đã cầm vì thua cờ
bạc. Chùa Hoằng Pháp Hốc Môn, thời gian đầu sinh hoạt Phật Thất, bị
ban bệ Thành Hội cấm đoán vì những lý do hết sức vu vơ, giới hạn
người tham dự, không cho các tỉnh thành tham gia, thầy Chân Tính nhất quyết
không tiếp tay tham ô, nhờ một lá thư của Phật tử với lời lẻ đanh
thép, Thành Hội đành chấp thuận cho tiếp tục sinh hoạt; cứ như thế,
nhà nước không gây khó dể cho PG, ngược lại nội tình sáng tạo những
nhiêu khê, vừa thể hiện quyền lực, vừa được cúng dường bồi dưỡng;
nếu không có quyền hạn được GH đặt để, có lẽ những chức sắc đó
không có điều kiện để khó dể tăng ni! người rắc rối với nội tình
tăng ni, không lợi ích gì cho GH, cản trở nhiều Phật sự nhất, đó là
Thiện Tánh! Tuy là một tổ chức nặng phần
trình diển, nhưng GH PGVN hiện nay ít nhiều mang sắc thái của quân chủ
phong kiến, độc tài. Trong phần tham luận của anh Hồng Quang ở Đại Hội
PG năm 2002 tại Hà Nội, đã nhiệt tình đóng góp để hoàn chỉnh một GH
trong hiện tình đất nước đang đổi mới, nhưng gần hết nhiệm kỳ 5
năm mà vẫn dậm chân tại chổ. Sinh hoạt GH hiện nay, ngoài Tăng ni, hàng
cư sĩ đứng ngoài lề, nghĩa là cơ cấu tổ chức hiện nay đã tách rời
phật tử tại gia với mọi phật sự mà trước đây, bốn mươi năm về
trước, sinh hoạt PG, cư sĩ đảm trách toàn bộ, chư tăng chỉ chuyên tu, học và diển giảng. Hình bóng tu sĩ bấy
giờ là thần tượng tôn kính của mọi người. Ngày nay, tu sĩ bao cấp toàn
bộ từ A tới Z, dĩ nhiên, phật sự đình trệ, cửa quyền phát sinh. Cũng
trong tình trạng tha hoá chung, GHPGVNTN cũng không khá hơn, trong công cuộc chống
Cộng, GHPGVNTN đã phạm phải từ sai lầm nầy đến sai lầm khác, sử dụng
nhân sự sai lầm, thái độ chính trị sai lầm, phương án hành động sai lầm,
tự tôn tự đại, độc tài, vì vậy tự mình đưa đến bế tắt phật sự
là chuyện dể hiểu, tình cảm quần chúng giành cho GHTN ngày nay giảm suy
rõ rệt, nhất là sau chuyến viếng thăm của TS. Nhất Hạnh, GHTN đã chọn
một hành xử đối với đồng đạo làm suy yếu uy tín tự thân! chẳng những
thế, tiền bạc cũng làm hoen ố khá lớn hình ảnh cao thượng một thời
của GH đó, khi hải ngoại gởi tiền về cứu trợ nạn nhân trong nước -
Không Tánh sử dụng 200 triệu thế
nào để phải tai tiếng tại Quảng Nam Đà Nẳng, trước đây vụ cứu trợ
tại đồng bằng sông Cửu Long cũng lem nhem không ít, và khi HT Thích Huyền
Quang ra Bắc gặp Thủ Tướng Phan Văn Khải, Liên Hiệp Âu Châu ủng hộ 10
ngàn Euro, cũng lọt vào túi riêng của một thầy nào đó…. ; còn vô số
tai tiếng của cán bộ thuộc cấp đạ bôi đen bộ mặt GH do ỷ lại chức
quyền, danh vị… Chức sắc PGTN tại hải ngoại từ hàng cao cấp trở xuống,
hết 90% tai tiếng tiền bạc và tình dục, thậm chí phải ra toà như các vị
Giám mục Kitô giáo, vênh váo nghinh ngang ra bề ta đây là thầy thiên hạ.
Dù GH nào, trong cũng như ngoài nước, đều phạm lắm tệ nạn, phải
chăng, đây là thời mạt pháp mà Dân tộc
VIỆT Toàn bộ nhân sự sử dụng trong GH hiện
nay được xét theo lý lịch nên ỷ thế cậy quyền, nếu trọng dụng bậc
tài và đức, chắc chắn PG sẽ đóng góp hữu hiệu cho đạo và đời khá
nhiều, do cơ cấu lảnh đạo bất toàn, nên các tu sĩ trẻ ngày nay sống
buông thả sa đoạ, không ai nói ai nghe. Nhà nước thật sự lúng túng phải
dung dưỡng một lực lượng cán bộ PG trong GH hiện tại, không giúp được
gì cho một bộ mặt đổi mới của đất nước hiện nay đối với thế
giới; đành rằng cũng có những cán bộ GH chơn chánh, nhưng làm được gì
khi đa số bê tha? C. SỰ KHÁC BIỆT GH
KITÔ GIÁO VÀ GHPG GH. La Mã là một tổ chức hoàn thiện
nhất thế giới đã trải qua 16 thế kỷ dầy dạn kinh nghiệm, ( bốn thế
kỷ trước chưa có một GH đúng nghĩa như hiện tại ) vì mục đích: - củng cố , quản lý chặt chẽ tín
đồ - Thống trị tinh thần tín hữu một
cách tuyệt đối bằng sự tin kính, vâng phục qua phép Thông Công. - Giáo Hoàng là người có quyền tuyệt
đối quyết định thưởng phạt, vì là người duy nhất đại diện Thượng
đế tại trần gian. - GH thủ đắc nguồn lợi tức từ
kinh tài trên thế giới và các Giáo phận ở mỗi quốc gia có bổn phận
đóng góp kinh tế cho Toà Thánh. - Ngoài chức năng tôn giáo, GH còn là
một quốc gia trong mọi quốc gia, nghĩa là quốc gia không biên giới, tuy lảnh
thổ chỉ 44km2 tại Ý, nhưng GH có mặt hầu hết các quốc gia trên thế giới
có tín đồ. - GH có những quyết định liên hệ vận
mạng chính trị thế giới, vì GH liên hệ hữu cơ với các cường quốc
qua quyền lợi kinh tế, cấu kết với chiến tranh và huỷ diệt. - Pha trộn đức tin tôn giáo và quyền
lực thế gian, vừa là một GH. vừa là một quốc gia, có đại sứ, khâm sứ
tại những nước đã bang giao để củng cố quyền lực và quyền lợi. - Mưu đồ thống trị thế giới dưới
trần để vinh danh Thượng đế trên trời, do vậy phạm phải nợ máu
nhân loại suốt gần 20 thế kỷ. - Cán bộ GH qua trường lớp chuyên
ngành, có trình độ hiểu biết nhất định - GH chủ động về kinh tế, tài
chánh và quyền lực. * * * Giáo Hội Phật Giáo, trên cơ bản hành
chánh là hệ thống điều hành một tập thể trên nhiều lỉnh vực, có nề
nếp, thứ tự, nhưng: - Không có một giáo quyền tuyệt đối,
bởi tính bình đẳng theo tinh thần PG, tự giác, tự ngộ, không ai toàn quyền
với một cá nhân khác, kể cả Đức Phật. - Tăng tín đồ không quen bị khép
vào một kỷ luật tổ chức, ngoài kỷ luật tâm linh tự thân. - Tăng Thống, Pháp chủ là ngôi vị tượng
trưng trong GH chứ không có quyền tuyệt đối đại diện cho Trời, Phật. - PG không quen làm kinh tế và không thủ
đắc kinh tế, của cải theo tinh thần tri túc, thiểu dục, mọi sinh hoạt
tuỳ thuộc vào sự hỷ cúng ( đây là thế yếu của một tổ chức ). - PG tách rời thế quyền, xa lìa danh
vị thế gian, do vậy không thể nhập nhằng giáo hội và thế quyền, PG bị
hoen ố khi tham gia Tuyên Uý quân đội thời Mỹ và thành viên Mặt trận hiện
nay. - Tự thân PG không là chính trị nên
tham gia chính trị, hành động chính trị hay thái độ chính trị thường
va vấp lắm sai lầm. - Cán bộ GH không qua trường lớp đào
tạo chuyên ngành, thậm chí ngành chuyên môn như Hoằng Pháp, lối đào tạo
Giảng sư cũng chỉ là hình thức không đạt chất lượng và đúng quy
cách, những ngành khác thuộc hành chánh càng không thể chuyên môn. - Tu sĩ PG là một hành giả chứ
không thể là một hoạt giả trong xã hội. - Đức Phật xa lìa quyền lực vương
vị làm nên kỳ tích- Thiên Nhân chi đạo sư, PG không thể trở lại nhập
nhằng thế quyền và tôn giáo, vì PG không thống trị bất cứ ai, kể cả
tín đồ. - Tự thân PG là giải thoát,cô đọng
PG vào hệ thống tổ chức GH là phương tiện để chính trị lợi dụng. Do những sai lầm đó mà GH cũng như
tu sĩ thiên hướng xã hội không thích hợp tư chất của PG, nửa thầy, nửa
thợ, vừa hoen ố PG, vừa nạn tai cho đất nước. Mãnh đất thích hợp cho loại hoa quả
tâm linh là nội quán, cách mạng tự thân, Tuệ Giác đó mới đóng góp hiệu
quả cho dân tộc. Gần 50 năm, PGVN đã lệch hướng từ mục đích, hậu quả
đưa đến là: - lực lượng tu sĩ tha hoá. - Suối nguồn tâm linh èo uột. - Xa lìa quần chúng, đánh mất uy
tín,hao mòn tài năng; PG từng đồng hành với dân tộc, trở thành khách trọ
của thế kỷ! Có người sẽ bảo: mỗi thời đại
có một hình thức sinh hoạt, ngày xưa trình độ dân trí và mức sinh hoạt
không cần một GH hoàn hảo, ngày nay PG không thể sinh hoạt theo thời
nguyên thuỷ! Xin thưa, có những cái cần
cập nhật thời đại, nhưng với Tuệ Giác Đạo Phật không tuỳ thuộc thời
đại, chỉ tuỳ thuộc trình độ tâm linh. Đạo Phật là đạo giác ngộ,
đòi hỏi tuệ giác mà không cần một mô hình GH như KẾT Ngày nay, sau 30 năm cầm quyền, nhà nước
CSVN hiểu rõ bản chất của từng tôn giáo hiện diện trong đất nước,
biết tinh yếu và nền tảng quan trọng của PG từng tẩm tưới cho quê hương;
tuy hiểu chưa thấu đáo về PG nhưng biết PG là cầu nối giữa cội nguồn
và hiện thực ; PG là nền tảng đạo đức xã hội và đạo đức tâm
linh; Biết trọng dụng PG, PG sẽ là dưỡng tố nuôi sống tinh thần dân tộc,
nếu sử dụng PG như một công cụ, chẳng những PG sẽ đánh mất giá trị
tự thân mà còn trở thành gánh nặng cho đất nước. Phải biết cách trợ
lực để PG phát triển chứ không điều hành PG phát triển theo ý muốn ;
dù có thiện ý nhưng không có phương cách và nắm rõ tư chất của PG, sự
giúp đở đó nhanh chóng làm băng hoại PG; trước mắt, cái hại của tổ
chức GHPG hiện nay, sử dụng nhân sự không qua tài năng và đạo đức mà
thông qua lý lịch và công trạng. Một hành giả PG trang bị quá nhiều
kiến thức, sẽ trở ngại cho tâm thức quy chứng. Một tập thể PG trang bị hệ thống GH cồng kềnh sẽ là hiểm hoạ
cho tự thân và vô bổ cho xã hội, vì tinh thần PG thoáng đảng, siêu
thoát chứ không thể ràng buộc! Hậu quả như ta thấy hiện nay đối với
PGVN.
MINH MẪN
06/7/05 |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com