re-posted: 22.8.2005
Sau
hai hội thảo về nhân vật Nguyễn Văn Tường (1824-1886) (1), giới sử học có đủ thông tin để khẳng định:
- Nguyễn Văn Tường
là người cùng với Tôn Thất Thuyết đứng đầu phe chủ chiến chống Pháp
trong triều đình Huế từ sau ngày vua Tự Đức băng hà (19.7.1883) cho đến
trước ngày Thất thủ Kinh đô (5.7.1885), nhưng Nguyễn Văn Tường không hay
biết gì về quyết định của Tôn Thất Thuyết tấn công Pháp đêm
5.7.1885; - Do không biết có quyết định đó
cho nên Nguyễn Văn Tường không hề chuẩn bị theo xa giá vua Hàm Nghi xuất
bôn; bởi thế không thể có chuyện Nguyễn Văn Tường “ra đi mà bị bà
Từ Dũ bảo ở lại để lo việc thương thuyết với Pháp” hoặc “trốn
ở lại để đầu hàng Pháp” mà chính vì Nguyễn Văn Tường là một trọng
thần lo việc ngoại giao của triều Nguyễn đang ở tại Triều được bà
Từ Dũ - người có ảnh hưởng lớn nhất đối với triều Nguyễn trong thời
điểm đó, giao nhiệm vụ đi thương thuyết với Pháp để hạn chế bớt
sự thiệt hại do cuộc tấn công Pháp bất thành đêm 5.7.1885. Nội
dung bài viết nầy đề cập đến một vấn đề khác: Trong cuộc đấu
tranh một mất một còn giữa “Phe chủ chiến” trong triều đình Huế và
thực dân Pháp đang diễn ra ác liệt như thế, phe chủ chiến thua tan tát
đến thế mà Nguyễn Văn Tường với tài ngoại giao của mình vẫn có thể
thực hiện được nhiệm vụ của bà Từ Dũ giao là tìm cách “ổn định
tình thế, thành lập lại một chính phủ Nam triều mới để thương thuyết
với Pháp thực hiện Hiệp ước Patenôtre 1884” như thế. Nhưng rồi vì
sao Nguyễn Văn Tường vẫn bị xô đẩy vào bước đường cùng ? Có phải
vì quân chiếm đóng “vắt chanh bỏ vỏ”, Nguyễn Văn Tường bất tài hay vì một lý do nào khác ? 1.
Người Pháp không tin nhưng vẫn dùng Trong những ngày đầu Hè 1885, tình trạng
cả Bắc Kỳ lẫn An-Nam đều hỗn loạn. Cuộc xuất bôn của Hàm Nghi và hịch
Cần Vương đặt De Courcy cùng quan chức Pháp vào một tình trạng hết sức
lúng túng. Trước hết, áp lực tranh cử ở Pháp vào tháng 10/1885 khiến cả
Bộ Ngoại Giao lẫn Bộ Chiến tranh đều phải tìm cách giới hạn và kiểm
soát những hậu quả chính trị của sự kiện Huế, họ không muốn lôi
kéo sự chú ý của dư luận Pháp thêm nữa. Bởi thế, Nguyễn Văn Tường, trong lúc không
được Pháp tin cậy mà lại phải đương đầu với những đối thủ rất
nặng ký. Đó là Giám mục Puginier-cố vấn của lực lượng chiếm đóng
Kinh đô Huế, là Nguyễn Hữu Độ - người “không có phong độ đại thần”
nhưng “ngoan ngoãn” (docile), được các
giới chức Pháp hoàn toàn tin cậy (3), là Ưng Kỹ
- “người cháu đích truyền” đang được các giới chức Pháp bảo vệ
để sử dụng làm bù nhìn cho Pháp sau đó.
2.
Đương đầu với Giám mục Puginier Theo Puginier - cố vấn De Courcy – thì
cuộc tấn công đêm 4 rạng 5/7/1885 không chỉ do Đệ nhị Phụ chính Thuyết
mưu định, vì ông Thuyết không đủ ảnh hưởng hay quyền lực để thực
hiện một kế hoạch quan trọng và nguy hại đến như thế. Muốn làm một
việc lớn đến như thế ắt hẳn cả hai Phụ chính cùng chủ mưu với sự
thỏa thuận của triều thần. Họ tin rằng sẽ chiến thắng hoặc ít ra cũng
gây thiệt hại lớn cho quân Pháp. Cho đến khi bị thất bại, “Thuyết mới
bỏ chạy, phân công Nguyễn Văn Tường trụ lại rồi Tường dùng thủ đoạn
xảo quyệt quen thuộc nói dối với De Courcy là y không hề biết, không hề
tham dự vào cuộc tấn công”. Đáo để hơn nữa, Puginier còn nhận định
rằng hai phụ chính Tường và Thuyết vốn chẳng ưa gì nhau, nhưng vì mục
đích chung chống Pháp và chống Thiên Chúa giáo nên họ đã liên kết với
nhau. Đồng thời, đã từ lâu Nguyễn Văn Tường muốn loại bỏ Tôn Thất
Thuyết, nhưng tất cả binh quyền đều do Thuyết nắm giữ nên Nguyễn Văn
Tường không làm gì được. Nhân cơ hội này, Nguyễn Văn Tường trút mọi
trách nhiệm của cuộc tấn công Pháp cho Tôn Thất Thuyết để Tường có
thể thu tóm được những quyền lực còn lại. Dưới mắt Puginier, Nguyễn
Văn Tường là một “đại gian hùng, kẻ thù không đội trời chung của
Pháp và Thiên Chúa giáo”. Puginier nhấn
mạnh: “Tướng
quân (De Courcy) chắc biết khá rõ ông Đệ nhất Phụ chính [Nguyễn Văn
Tường], và sẽ không bị ông ta lừa bịp
về những lời cam đoan vô tội hay thiện chí của ông. Ông ta là kẻ thù
của nước Pháp, của Thiên Chúa giáo, kẻ thù hàng đầu, nguy hiểm nhất
và không thể khoan nhượng nhất tại xứ An Nam”.(4) Trong buổi yết kiến de Courcy tại
Hà Nội, và rồi trong lá thư mật viết ngày 25/8/1885, Puginier tìm mọi lý
lẽ để thuyết phục và thôi thúc De Courcy “phải cách chức Nguyễn Văn Tường - người
đã chủ trương tấn công quân Pháp trong đêm 4 rạng 5/7/1885. Nguyễn Văn
Tường là thủ phạm giết hại giáo sĩ và giáo dân Ki-tô từ năm 1873 tới
1884, và mục đích duy nhất của Tường cùng giới sĩ phu là ngăn chặn ảnh
hưởng và quyền lợi Pháp tại nước Đại Nam.” (5) Không những lên án việc sử dụng
Nguyễn Văn Tường là điều “tủi nhục cho nước Pháp,” Puginier còn
yêu cầu De Courcy phải đày Nguyễn Văn Tường đi xa để phòng hậu họa: “Tướng
quân chắc biết khá rõ ông Đệ nhất Phụ chính [Nguyễn Văn Tường], và sẽ không bị ông ta bịp bợm về những
lời cam đoan vô tội hay thiện chí. Ông ta là kẻ thù của nước Pháp, kẻ
thù hàng đầu, nguy hiểm nhất và không thể khoan nhượng nhất tại An-Nam”.(6)
Sự thất bại của Tôn Thất Thuyết đêm 5.7.1885 là chiến thắng
không những của thực dân Pháp mà còn của chính Thiên Chúa giáo, của
chính Puginier. Thế thì làm sao Puginier - người đứng đầu Thiên chúa gíao
ở vùng Bắc Kinh đô Huế có thể chấp nhận cho Nguyễn Văn Tường ngồi
trong cái chính quyền mà Puginier đang có một vị trí tinh thần và chính trị
quan trọng ấy được ! Đối với Nguyễn Văn Tường, Puginier nói - như ngôn
ngữ ngày nay “ Có tao không mày”. 3.
Với Nguyễn Hữu Độ, ân oán cũ, tranh chấp địa vị mới
Lúc làm Hộ lý
Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội-Ninh Bình) (cuối năm 1883), Nguyễn Hữu Độ đã
cộng tác chặt chẽ với Pháp, đồng ý cho Pháp xây dựng nhà thờ lớn
trên nền một ngôi chùa cổ ở Hà Nội, rồi theo lịnh Pháp, Độ đặt bổ nhiều quan chức (7) mà đáng ra theo tinh thần Hiệp ước Quí Mùi (1883)
phải do bộ Lại ở Huế (Nguyễn Văn Tường) thực hiện. Những việc làm
sai trái đó của Nguyễn Hữu Độ buột triều đình phải ra lịnh rút Độ
về Huế. Biết triều đình Huế gọi mình về để trừng trị nên Độ nhờ
tướng Pháp là Millot can thiệp, giữ Độ ở lại tại Hà Nội. Theo
L.Sogny, để trừ khử Nguyễn Hữu Độ, hai phụ chánh Tôn Thất Thuyết và
Nguyễn Văn Tường đã sai hai thám tử là Chữ và Trung (không biết họ) ra
Hà Nội ám sát Nguyễn Hữu Độ. Chuyện không thành, hai thám tử bị Pháp
bắt (8). Nguyễn Hữu Độ và Nguyễn Văn Tường
hiềm khích nhau từ đó. Ngày 29 tháng 5 triều
vua Hàm Nghi nguyên niên (11.7.1885), sau khi hay tin Tôn Thất Thuyết và Nguyễn
Văn tường thất bại, Nguyễn Hữu Độ như mở cờ trong bụng gởi ngay
cho De Courcy một bức thư, trong thư có đoạn viết: “Nhưng
tôi trộm nghĩ sau khi Đức Dục Tôn Hoàng Đế (Tự Đức) băng hà, bọn
triều thần phế lập, hãm hại các Tôn chi (Hoàng tộc) lang bối, làm rối
loạn Triều đình. Cứ theo việc đã làm rõ ràng trước tai mắt công
chúng. Nay lại trút tất cả gánh nặng ấy cho người đã chạy, ấy là chỗ
đại gian hùng của Tường, tưởng Quý liệt vị đã thừa biết, tôi
không dám lạm bàn. Thảng
hoặc như người ấy lại được khởi dụng thì cái tay giáo giỡ này, họa
hoạn chưa biết đâu mà lường trước được, và không khỏi phiền đến
Quý quan bảo hộ phải châm chước, thất công sắp đặt lại một lần nữa. Vậy
kính chuyển đạt ý tôi lên Chính quyền nghiên cứu kỹ càng. Tôi khỏi biện
bạch nhiều. Vả chăng cơ sự ngày
nay, may có Đức Từ Dũ Thái Hoàng Thái hậu đã hồi cung, Qúi Đại thần
không nỡ tuyệt hẵn nước người, một lòng kính đại thật là linh
thiên của Cửu miếu thần dân trong nước có chỗ ỷ trọng; may ra thế nước
có thể kéo lại được, hạ quốc xiết bao cảm bội. “Duy
trong khoảng nguy nghi cần có người thạch phụ trung thành thu xếp, sắp đặt,
đại cuộc may sớm định được. Tôi vẫn không dám tư dương, song nghĩ
đến nguồn gốc nước nhà, ngày đêm lo ngại, ăn ngồi không yên. Nều như
được về kinh theo Quý liệt đại thần, giúp chút sức hèn, may trong đôi
tuần công việc sắp đặt có thứ lớp, khi ấy sẽ cho tôi trở ra Hà Nội
cung chức như trước. Ấy nhờ Quý Đại nhân thẩm trước, tôi rất lấy
làm ngóng trông.” (9) Có lẽ lá thư của Nguyễn Hữu Độ
đã được De Courcy quan tâm cho nên không lâu sau đó, vào ngày 27.7.1885,
Nguyễn Hữu Độ được đi theo ông Sambuc vào Huế làm khách đặc biệt của
De Courcy. Vừa đến Huế Nguyễn Hữu Độ đến ngay nhà Thương Bạc gặp
Nguyễn Văn Tường chất vần ông Tường: Tai sao làm Phu chánh của vua mà
để cho Kinh đô thất thủ ? Ông Độ dựa vào thế của Pháp đã nạt nộ
đập bàn đập ghế đe doạ ông Tường. (10) Tuy đuợc Pháp tin nhưng Nguyễn Hữu
Độ vào thời điểm cuối tháng 7.1885 chưa có thể thay thế vai trò của
Nguyễn Văn Tường được cho nên chỉ sau một thời gian ngắn ở Huế Nguyễn
Hữu Độ phải trở lại Hà Nội chờ thời cơ trả thù Nguyễn Văn Tường
sau. Và thới cơ đó cũng đã đến vào tuần đầu tháng 9.1885. 4. Mâu thuẫn với Ưng Kỹ ngay từ sau
ngày vua Tự Đức băng hà cho đến ngày Ưng Kỹ lên ngôi. Trước khi bị đưa đi đày, Nguyễn
Văn Tường đã đồng ý với Giám quốc Thọ Xuân Vương Miên Định chọn
Ưng Kỹ lên ngôi thay thế vua Hàm Nghi, nhưng như thế vẫn không xoá được
mối thâm thù Nguyễn Văn Tường trong lòng Ưng Kỹ (không lâu sau đó là
vua Đồng Khánh). Chuyện Ưng Kỹ thâm thù Nguyễn Văn Tường khá sâu xa. Vua Đồng Khánh, sinh ngày 19.2.1864,
nguyên có tên là Ưng Thị, hay Ưng Đường, còn được gọi là Mệ Tríu,
tên húy là Biện - con trưởng của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai
(1845-1876) và bà Bùi Thị Thanh ( ? – 1900). Lúc ông mới 2 tuổi (1865) được
vua Tự Đức nhận làm con nuôi thứ hai, với tên mới là Ưng Kỹ. Năm
1879, ông được vua Tự Đức cho ra học ở nhà Chánh Mông (11) nên ông thường được gọi là Ngài Chánh Mông (12). Năm 1883, vua Tự Đức băng, trong Di chiếu vua Tự
Đức không dấu được sự thất vọng về tâm thuật của người con nuôi
thứ hai Ưng Kỹ : “Ưng
Kỹ người yếu ốm, có tâm tật, học chưa thông mà kiêu ngạo, hay bới
việc riêng của người cho lạm thẳng, đều không phải là tư chất thuần
lương theo lời phải, sợ bọn người (13) khó lấy
lời nói can được”. Biết “không thể lấy lời can ngăn
được”, nên sau khi truất người con (nuôi) trưởng Dục Đức, các ông
Phụ chánh Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết không quan tâm đến Ưng
Kỹ là con nuôi thứ hai mà lại lập người em út của vua Tự Đức là
Lãng Quận Công Hồng Dật lên ngôi lấy niên hiệu Hiệp Hoà. Rồi vua Hiệp
Hoà lại bị truất, hai quyền thần lấy người em của Ưng Kỹ là Ưng
Đăng (sinh 12.2.1869) - con nuôi thứ ba của vua Tự Đức có “tính thận trọng
dễ bảo” đặt lên ngôi với niên hiệu Kiến Phước (2.12.1883) chứ cũng
không để ý Ưng Kỹ. Đến khi Kiến Phước ở trên ngôi được 8 tháng rồi
mất (31.7.1884), các quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết vẫn
không để ý đến Ưng Kỹ lần nữa mà lại lấy người em khác mẹ với
Ưng Kỹ và Ưng Đăng, là Ưng Lịch (sinh 3.8.1871, chưa từng được làm con
nuôi vua Tự Đức), lên nối ngôi với niên hiệu Hàm Nghi (2.8.1884). Kể từ
người anh cả Ưng Chân bị truất, Ưng Kỹ là con nuôi thứ hai của vua Tự
Đức mà cả ba lần chọn vua mới, Ưng Kỹ vẫn không được chọn. Dưới
triều Hàm Nghi, Ưng Kỹ lại còn bị Tôn Thất Thuyết và Phạm Thận Duật
giáng chức vì tội vắng mặt khỏi phủ 5 ngày không có lý do. Do lời
trình của phụ giáo Phạm Thận Duật, Ưng Kỹ bị giáng từ Kiên Giang quận
công xuống làm Kiên Giang hầu (14), Ưng Kỹ lấy
làm uất hận trước thực tế phủ phàng đó nên đã rắp tâm tìm cơ hội
trả thù. Và, cơ hội đó đã đến khi thực dân Pháp bỏ kế hoạch nhờ
Nguyễn Văn Tường vời vua Hàm Nghi mà thay bằng kế hoạch nhờ Nguyễn Hữu
Độ xin ý chỉ của Tam cung đưa Ưng Kỹ lên ngôi. Ưng Kỹ/ vua Đồng Khánh
ghét Nguyễn Văn Tường đến nỗi: Nguyễn Văn Tường bị đày và chết
ở 5. Nguyễn Văn Tường vào bước đường cùng
là một tất yếu lịch sử Sau hai tháng Nguyễn Văn Tường vẫn
không thực hiện được kế hoạch đón vua Hàm Nghi về, trước áp lực của
các giáo sĩ Puginier cùng sự cố vấn của Nguyễn Hữu Độ, ngày 20.8.1885
De Courcy bắt đầu xin thay Hàm Nghi bằng Hoàng tử Chánh Mông. Như thế Nguyễn
Văn Tường không còn vai trò gì nữa.
Và, Nguyễn Văn Tường cũng không thể cùng tồn tại với Puginier, Nguyễn
Hữu Độ dưới trướng của vua Đồng Khánh. Nguyễn Văn Tường trở thành
cái gai trước mắt những công bộc của Pháp. Cái gai đó chắc chắn phải
bị nhổ. Nguyễn Văn Tường không thể tránh được bước đường cùng.
Nhưng dù sao ông cũng đã hạn chế được những thiệt hại do quân Pháp
gây ra sau ngày 5.7.1885, và đặc biệt ông đã góp phần làm chậm lại sự
phản kích của địch để cho các phong trào yêu nước có cơ hội tổ chức
lực lượng chiến đấu lâu dài. Nguyễn
Văn Tường mang tiếng “đầu hàng giặc” nhưng nhà Nguyễn nhờ ông mà
chưa mất ngôi.
Gác Thọ Lộc (Huế), 7.2002 Chú
thích (1) Hội nghị lần thứ nhất: Nhóm chủ chiến trong triều đình Huế và Nguyễn
Văn Tường do Trường Cao đẳng Sư phạm
TP HCM tổ chức, 1996; Hội nghị lần thứ hai: Nhân vậ (2) Nơi xây nhà
hát Hưng Đạo ngày nay (3) Thư ngày 15/4/1886, Warnet gửi Tổng Trú sứ
[Bert]; SHAT ( (4) Thư ngày 17/7/1885, Puginier gửi Roussel de Courcy;
AME (Paris), vol 816, số 46. Tài liệu này từng dẫn trong J. Dupuis, Le Tonkin de
1872 à 1886 ( (5) Nguyên văn: “Ce serait une honte pour la (6) Thư ngày
17/7/1885, Puginier gửi Roussel de Courcy; AME (Paris), vol 816, số 46. Tài liệu
này từng dẫn trong J. Dupuis, Le Tonkin de 1872 à 1886 ( (7) Trong đó
có hai ông Nguyễn Khuyến và Thành Ngọc Uyển. Nhưng có lẽ hai ông thấy
như thế là nhục nhã nên hai ông không đến nhận chức và nhận nhiệm sở (8) L.Sogny, như trên, p.
188 (9) Theo Thanh Quang, Nguyễn
Hữu Độ (1832-1888) di thảo do cụ Trần
Tiễn Hy (làng Minh Hương) –cháu nội của Phụ chánh Đại thần Trần Tiễn
Thành cung cấp (10) L.Sogny, Les Familles Illustres de l’ (11) Nhà học
Chánh Mông sau bãi bỏ, đến đầu thế kỷ XX xây dựng Bộ Học trên đó.
Ngày nay là cơ quan của Công-ty Sach và Thiết bị trường học (12) Nguyễn
Phúc Tộc Thế Phả, Nxb Thuận Hoá, Huế 1995, tr.377 (13) Tức các phu
chánh Đại thần Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết;
ĐNTL CB, nxb KHXH, HN.1976,
tr.200-201 (14) ĐNTL CB, t. 36, tr.180. Tài liệu tham khảo : J. Dupuis, Le Tonkin de 1872 à 1886 ( Hội đồng Trị sự Nguyễn Phúc Tộc, Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả, Nxb Thuận Hoá,
Huế 1995 Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mở
Đầu Chính sách Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp tại Việt Puginier, Thư
ngày 15/4/1886, Warnet gửi Tổng Trú sứ [Bert]; SHAT ( Puginier, Thư ngày 17/7/1885, gửi Roussel de
Courcy; AME (Paris), vol 816, số 46. (Trích lại của VNC). Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại nam Thực
Lục CB, các tập 36, 37 nxb KHXH,
HN.1976 Richard
Orband, Les
Tomb eaux des Nguyãùn, BFEO, HN.1914 Sogny (L.), Les Familles Illustres de l’ Thanh Quang, Nguyễn Hữu Độ (1832-1888) di thảo do cụ Trần Tiễn Hy (làng Minh Hương)
–cháu nội của Phụ chánh Đại thần Trần Tiễn Thành cung cấp Trường Cao đẳng Sư phạm TP HCM 1996, Kỷ
yếu Nhóm chủ chiến trong triều đình Huế
và Nguyễn Văn Tường Trung tâm KHXH và NV Đại học Huế Hội KHLS tỉnh
TTH, Huế 2.7.2002, tài liệu Hội thảo: Nhân vạt lịch
sử Nguyễn Văn Tường (1824-1886) Vũ Ngự Chiêu, Các Vua Cuối
Nhà Nguyễn-1884.1945-Tập 2, Văn
Hóa -USA, 2000 |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com