805-gdiem.gif (5390 bytes)

posted: 23.8.2005

805-botati.gif (40425 bytes)
 
NHẬP HẠNH BỒ TÁT
Bodhicaryàvatàra
Sàntideva

(Tôn giả Tịch Thiên)

Việt dịch: Nguyên Hiển

 

HỘI PHẬT HỌC PHỔ MINH

PHẬT LỊCH 2549-2005

 

*  Thân tặng các thành viên và ân nhân của Giao Điểm Foundation *

MỤC LỤC

Lời nói đầu

Tiểu sử Tôn giả Sàntideva

Chương 1: Lợi ích của Tâm Bồ Đề

Chương 2: Sám hối tội nghiệp

Chương 3:  Phát Bồ Đề Tâm

Chương 4: Thực hành Bồ Đề Tâm

Chương 5:  Chánh niệm, Tỉnh giác

Chương 6: Nhẫn nhục

Chương 7: Tinh tấn

Chương 8: Thiền quán

Chương 9: Trí tuệ

Chương 10: Hồi hướng

LỜI NÓI ĐẦU

Ngài Sàntideva (Tịch Thiên, 691-743) viết luận này tại Học Viện Nalanda, Ấn Độ vào thế kỷ 8. Ngài diễn giảng đường tu hạnh Bồ Tát, hạnh Lục độ và tu mười đại hạnh của Phổ Hiền Bồ Tát. Đọc tụng luận này, hành giả có thêm hùng tâm dũng chí để giúp Đạo, cứu đời.

Dịch giả đã tham cứu các bản dịch dưới đây:

- Bản Hán dịch của Trần Ngọc Giao

- bản Pháp dịch của Georges Driessens

- bản Anh dịch của Kate Crosby và Andrew Skilton

- bản Việt dịch của Thích Nữ Trí Hải .

Luận này là sách gối đầu giường của Tăng, Ni, Phật tử theo lối tu Đại thừa ở Ấn Độ, Tây Tạng, Mông Cổ và Trung Hoa. Vì dịch theo lối thi kệ để dễ tụng đọc và dễ nhớ cho nên quá súc tích và quá ngắn gọn, vì vậy không thể tránh khỏi có chỗ vụng về và tối nghĩa. Xin chư tôn đức cùng quý Phật tử cao minh từ bi chỉ giáo để khi tái bản dịch phẩm này được hoàn chỉnh hơn.

Xin chân thành cảm tạ hai Pháp hữu Tâm Zen và Như Pháp Trí đã giúp phần hiệu đính và hoàn thành dịch phẩm này. Xin hồi hướng công đức đến pháp giới chúng sanh thoát ly luân hồi khổ não, viên thành Phật đạo.

California, Mùa Phật Đản 2459-2005

Nguyên Hiển

 

TIỂU SỬ
TÔN GIẢ TỊCH THIÊN (SÀNTIDEVA)
Thích Trí Siêu  (Pháp)

 

Theo truyền thuyết tôn giả Sàntideva sinh ở miền Nam Ấn, vùng Sri Nagara vào khoảng thế kỷ thứ 7. Ngài là thái tử con vua Surastra. Từ những kiếp quá khứ, ngài đã cúng dường phụng thờ nhiều đức Phật và đã tích tụ nhiều căn lành đưa đến giải thoát. Nhờ phước đức ấy nên ngay từ lúc ấu thơ, ngài đã nhiều lần chiêm bao thấy Văn Thù Bồ Tát.

Lớn lên, đến tuổi sắp được vua cha truyền ngôi, một hôm ngài nằm mộng thấy hai vị Bồ tát: Văn Thù và Tara. Bồ tát Văn Thù ngồi trên ngai vàng, bảo ngài rằng: ”Ở đây không có chỗ cho hai người”. Bồ tát Tara tưới nước nóng trên đầu ngài và nói rằng: ”Vương quyền chính là nước sôi bỏng của địa ngục. Ta đang tấn phong cho ngươi về nước nầy đây.”

Tỉnh dậy, ngài hiểu rằng đó là sự khuyến cáo của hai vị Bồ tát, nên đêm hôm trước khi ngài lên ngôi, ngài rời bỏ cung thành trốn vào rừng sâu. Sau 21 ngày lang thang trong rừng, vừa khát vừa đói, ngài gặp được một con suối, sắp sửa định uống thì có một thiếu nữ xuất hiện bảo ngài đừng uống vì đó là nước độc, sau đó thiếu nữ dâng cho ngài một thứ nước thơm ngọt như cam lồ. Giải khát xong, ngài hỏi thiếu nữ: ” Cô ở đâu đến?” . Thiếu nữ trả lời: ”Ở giữa khu rừng mênh mông này là nơi thầy tôi ở, ngài rất đạo đức, từ bi và đã thành tựu phép tam muội củaVăn Thù Kim Cang Sư Lợi (Sri Manjuvajra). Tôi từ đó đến đây”.

Vừa nghe như thế, tôn giả Sàntideva mừng rỡ như kẻ nghèo bắt được vàng, yêu cầu thiếu nữ dẫn ngài đến gặp vị thầy kia. Đến nơi ngài thấy đó là một vị hành giả (Yogi) sống trong một chòi lá, ngài liền đảnh lễ, xưng tán cúng dường và cầu xin được truyền phép tam muội của Văn Thù Bồ Tát. Sau 12 năm ở đó tu tập, ngài chứng được phép tam muội trên, thấy được vị thầy kia chính là Văn Thù và thiếu nữ kia chính là Tara. Kể từ đó ngài luôn luôn được thấy Văn Thù Bồ Tát.

Sau đó ngài đi về phương Đông, xin vào làm việc trong triều của vua Pancamasimha. Nhờ tài giỏi và thông minh nên ngài được vua trọng vọng cho làm Thừa Tướng. Để tỏ lòng thành kính nhớ ơn vị thần linh chủ hộ của mình, tức Văn Thù Bồ Tát, ngài luôn đeo trên mình một thanh kiếm gỗ. Ngài giúp vua trị vì đúng theo Phật pháp và truyền dạy nhiều kỹ nghệ mới lạ. Điều đó khiến các vị đại thần khác ganh tức, tìm cách gièm pha và hãm hại ngài. Họ bảo vua rằng: ”Thừa tướng là một người gian xảo, luôn đeo trên mình một thanh kiếm mà không bao giờ rút ra cho ai xem cả. Chúng tôi biết thanh kiếm ấy làm bằng gỗ. Gặp lúc nguy biến làm sao Thừa tướng có thể cứu nguy cho Bệ hạ được? Xin Bệ hạ hãy khám nghiệm lại”. Vua tin lời cho triệu Thừa tướng vào bắt phải rút kiếm ra khỏi vỏ cho vua xem. Thừa tướng nói: ” Kiếm của tôi, Bệ hạ không thể nhìn được, nếu không Bệ hạ sẽ hối hận”. Nghe vậy, vua càng nghi ngờ nhất quyết đòi xem.

Cuối cùng, Thừa tướng nói với vua: ”Nếu Bệ hạ nhất quyết muốn xem thì hãy theo tôi đến chỗ vắng, lấy tay che mắt phải lại, chỉ nhìn bằng mắt trái thôi”. Vua chấp thuận và Thừa tướng rút kiếm ra, hào quang lóe lên quá mạnh khiến con mắt trái của vua rơi xuống đất. Vua liền ăn năn hối hận, biết ngài là một người đắc đạo, một Đại thành tựu giả nên cầu xin sám hối. Biết vua đã ăn năn, Thừa tướng nhặt mắt trái của vua bỏ vào tròng lại khiến vua khỏi mù.

Sau đó tôn giả bỏ chức Thừa tướng, tìm đến tu viện Nalanda, xuất gia thọ giới, được đặt tên là Sàntideva. Sau khi nghe hết ba tạng kinh điển, tôn giả thầm biên soạn 3 bộ luận: Siksàsamuccaya, Sùtrasamuccaya và Bodhicaryàvatàra.

Ngài tu mật hạnh, học trực tiếp với Văn Thù Bồ tát trong thiền định. Tất cả thời ăn, ngủ, đi, đứng, ngài đều thiền quán về Thanh Quang. Tuy vậy, chúng tăng bên ngoài thấy ngài chỉ ăn với ngủ, không chịu văn, tư, tu gì cả. Thấy thế một số Thượng toạ học giả họp nhau lại định tống khứ ngài ra khỏi tu viện. Có người cho ý kiến:   Nếu chúng ta họp lại, bắt mỗi người phải tuần tự trùng tuyên lại Kinh Luận ; ban đầu ngài từ chối, nói rằng không biết gì. Chúng tăng muốn làm nhục ngài nên làm bộ nài nỉ, cuối cùng ngài nói: ”Nếu vậy, phải làm cho tôi một toà sư tử tôi mới trùng tuyên”. Nghe vậy có vài người đâm ra nghi ngờ, nhưng đa số chấp thuận vì tin rằng ngài không thể trùng tuyên Kinh Luận gì được.

Sau khi lên ngồi toà sư tử, ngài hỏi: ”Các vị muốn tôi tụng lại Kinh Luận đã có từ trước hay những sáng tác mới sau này?”. Vì muốn chế giễu ngài nên đại chúng nói: ”Những sáng tác mới sau này”. Thế là ngài bắt đầu tụng lên Bồ Tát Hạnh (Bodhisattava-caryavatara). Khi tụng đến câu: Khi Có và Không không còn khởi lên trong tâm…... thì ngài bay lên hư không rồi từ từ biến mất, nhưng tiếng của ngài còn vọng lại cho đến câu kệ cuối cùng của Bồ Tát Hạnh. Không thấy ngài nữa, Tăng chúng hối hận trở về phòng ngài tìm kiếm, thấy trên bàn để lại ba quyển: Sutràsamuccaya (Tập kinh luận), Siksàsamuccaya (Tập Bồ Tát học luận) và Bodhicaryàvatàra (Nhập Bồ đề hành luận).

 

CHƯƠNG MỘT

LỢI ÍCH CỦA TÂM BỒ ĐỀ

 

1. Con kính lễ Pháp thân

Phật và chư Bồ tát

Con nương lời Phật dạy

Thuật đường vào Luật nghi.

 

2. Luận này nghĩa chẳng mới

Vần điệu cũng không hay

Chẳng dám vì lợi tha

Chỉ làm để tự học.

 

3. Tuần tự tu thiện pháp

Tín tâm được tăng trưởng

Có ai tin như vậy

Sẽ được nhiều lợi ích.

 

4. Được thân người toàn vẹn

Sống nhàn hạ rất khó

Không lợi mình lợi người

Ngày sau đâu cơ hội.

 

5. Như trong đêm tăm tối

Lằn chớp chợt lóe sáng

Nhờ oai đức Phật lực

Tâm tạm khởi tu phước.

 

6. Làm thiện thường ít ỏi

Ác tâm khó khắc phục

Nếu rời Tâm Bồ đề

Đâu pháp lành nào khác.

 

7. Phật tư duy nhiều kiếp

Tâm Bồ đề đại lợi

Vô lượng người y theo

Được vô lượng an lạc.

 

8. Muốn trừ khổ ba cõi

Trừ bất an mọi loài

Muốn được trăm an vui

Đừng rời tâm bồ đề.

 

9. Người người trong sanh tử

Phát được tâm Bồ đề

Được gọi là con Phật

Xứng đáng được tôn kính.

 

10. Như hoá chất luyện vàng

Thân phàm phu ô trược

Thành Phật thân vô giá

Nhờ kiên trì Phật tâm.

 

11. Đấng Đạo sư thấy rõ

Tâm Bồ đề quý báu

Muốn vượt thoát ba cõi

Giữ vững Tâm Bồ đề.

 

12. Làm lành như cây chuối

Quả hết rồi héo khô

Bồ đề tâm, cây lớn

Sanh quả vẫn tốt tươi.

 

13. Người đời phạm tội nặng

Nhờ thế lực che chở

Biết sự nghiệp đã tạo

Sao chẳng tìm chỗ nương?

 

14. Tâm Bồ đề vô lượng

Như lửa thời hoại kiếp

Sát-na nghiệp báo tan

Di Lặc dạy Thiện tài

 

 

15. Phải hiểu Bồ đề tâm

Gồm có hai hạnh nguyện

Nguyện phát Bồ đề tâm

Và hành hạnh Bồ đề .

 

16. Như mọi người đều biết

Khác giữa đi, muốn đi

Người có trí nên biết

Sự khác biệt như vậy.

 

17. Dù nguyện Bồ đề tâm

Thường sinh kết quả lớn

Chẳng bằng hành bồ đề

Thường năng sinh phước đức.

 

18. Lập chí cứu mọi loài

Cho đến hết thời gian

Lập chí không thối chuyển

Kiên trì tâm hạnh này.

 

19. Từ lúc đó trở đi

Mọi thời gian ngủ nghỉ

Phước đức vẫn liên tục

Tăng lớn như hư không.

 

20. Vì người tin Tiểu thừa

Trong Kinh Vấn Diệu Tý

Như Lai đã từng dạy

Lợi vô biên hợp lý

 

21. Dù chỉ nghĩ cách chữa

Nhức đầu cho mọi người

Tâm nguyện lợi ích ấy

Được vô lượng phước đức .

 

22. Những muốn giúp muôn loài

Trừ vô lượng bất an

Lại mong giúp hữu tình

Thành tựu vô lượng đức

 

23. Dù cha hay mẹ thân

Đã có tâm ấy chưa?

Tiên, chư Thiên, Phạm Thiên

Đã có tâm ấy chưa?

 

24. Người chỉ lo lợi riêng

Chẳng nghĩ tưởng tâm này

Huống gì vì mọi loài

Phát tâm làm lợi ích.

 

25. Người ta vì tư lợi

Còn chưa thể phát tâm

Phát được tâm lợi tha

Quả là rất quý hiếm.

 

26. Tâm Bồ đề trân quý

Cái nhân của an vui

Cam lồ trừ thống khổ

Phước đức thật vô lượng .

 

27. Nghĩ làm lợi chúng sanh

Hơn phước cúng dường Phật

Huống nỗ lực chuyên cần

Làm lợi lạc mọi loài.

 

28. Ai cũng muốn hết khổ

Sao thống khổ mãi tăng?

Kẻ ngu cầu an lạc

Diệt tán như diệt thù .

 

29. Chúng sinh thiếu niềm vui

Chịu thật nhiều đau khổ

Tâm hạnh Bồ đề này

Đem lại vui trừ khổ.

 

30. Tâm Bồ đề có thể

Trừ diệt sự ngu si

Có bạn lành nào sánh

Còn phước nào lớn hơn?

 

31. Ta thường khen người biết

Báo đáp ân bố thí

Chưa nhờ vui vẻ giúp

Đáng ca tụng nhường nào?

 

32. Dù cho ít thực phẩm

Cho chúng sinh đang đói

No được chỉ nửa ngày

Đã là người đáng trọng.

 

33. Bồ tát thường ban cho

Niềm vui của chánh giác

Thỏa mãn cho tất cả

Nguyện vọng mọi hữu tình.

 

34. Phật đã dạy kẻ xấu

Sinh tâm xấu, nghĩ xấu

Đối với những Bồ tát

Phát tâm cứu độ hết

Bước vào đại địa ngục.

 

35. Ai khởi niệm tịnh tín

Được quả báu phước đức

Bồ tát dù gian nan

Càng hăng say làm lành.

 

36. Nếu người phát tâm này

Tôi kính xin đãnh lễ

Làm vui kẻ hại mình

Tôi kính lạy cúi đầu .

 

 CHƯƠNG HAI

SÁM HỐI TỘI NGHIỆP

 

1. Phát tâm tôn quý nhất

Con cúng dường chư Phật

Pháp Bảo vô cấu nhiễm

Công đức Chư Bồ tát.

 

2. Cúng dường hoa quả tươi

Các thực phẩm tối thượng

Bảo vật quý trên đời

Nước uống thật tinh khiết.

 

3. Núi châu báu nguy nga

Rừng an tịnh thư thái

Cây hoa báu kỳ diệu

Trái báu tràn đầy cây

 

4. Cúng dường hương thơm nhất

Hương quý cây như ý

Mùa màng cũng tự sinh

Cúng dường trang sức quý

 

5. Ao báu đầy sen quý

Thiên nga hót êm tai

Tất cả vật vô chủ

Đầy hư không rộng lớn

 

6. Tâm ý con phụng hiến

Đức Thế tôn Bồ tát

Kính thỉnh Đấng Đại bi

Thương xót nhận cúng phẩm.

 

7. Con vô phước bần cùng

Không chút tài sản nào

Kính xin Đức Phật thương

Nhận cúng lễ của con.

 

8.  Nguyện đem thân tâm này

Phụng hiến Phật Bồ tát

Từ bi mà nhận cho

Thề thường làm nô bộc.

 

9.  Được các ngài thâu nhận

Con nguyện sống lợi tha

Thân tâm con siêu thoát

Trừ diệt các ác nghiệp

 

10. Nền bằng thủy tinh sáng

Cột trụ đầy bảo châu

Dù lọng bằng ngọc quý

Làm nhà tắm đẹp thơm

 

11. Trần thiết nhiều bình quý

Đầy nước thơm thích ý

Vang đủ điệu âm nhạc

Thỉnh Phật Bồ tát tắm.

 

12. Khăn tắm này thơm sạch

Lau khô thân các ngài

Dâng lên y phục thơm

Màu sắc mỹ lệ nhất

 

13. Các loại áo mềm mại

Trăm thứ trang sức quý

Dâng Thánh chúng Phổ Hiền

Văn Thù, Quán Thế Âm.

 

14. Hương thơm tràn vũ trụ

Thoa lên ngọc thể Ngài

Như vàng ròng thanh tịnh

Phật thân phát quang minh.

 

15. Hướng lên Phật Bồ tát

Xin dâng hoa sen thơm

Hoa mạn đà sen xanh

Các tràng hoa tuyệt đẹp

 

16. Dâng lên hương tối thắng

Vầng mây hương bao la

Cùng thực phẩm cõi trời

Thức uống ăn đẹp ngon.

 

17. Con dâng đèn hoa báu

Chân sắt chạm sen vàng

Nền nhà ngát đầy hương

Rải đầy hoa đẹp ý.

 

18. Hướng lên Phật đại bi

Cúng dường những lâu đài

Vang tiếng ca du dương

Tràn đầy chuỗi ngọc quý

 

16. Xin dâng hiến chư Phật

Lọng che bằng châu báu

Cán bằng toàn vàng ròng

Mắt nhìn thật hoa lệ

 

17. Cúng phẩm nhiều như mây

Tấu âm nhạc du dương

Làm dịu bao thống khổ

Mong cúng dường còn mãi

 

18. Mong sao mưa hoa đẹp

Mưa châu ngọc luôn rơi

Trên pháp bảo vi diệu

Trên thân Phật, tháp Phật.

 

22. Như Ngài Diệu Cát Tường

Xưa kia cúng dường Phật

Nay con xin cúng dường

Phật, Bồ tát như vậy.

 

23. Dùng âm vang Hải triều

Tán dương công đức Phật

Nguyện tiếng tán dương này

Luôn vang đến các Ngài.

 

24. Nguyện hoá thân như cát

Lễ chư Phật ba đời

Đãnh lễ chánh Pháp bảo

Đãnh lễ chư Thánh tăng

 

25. Kính lễ linh tháp Phật

Tâm Bồ đề căn bản

Lễ bậc trì giới nhất

Các trụ trì, giáo thọ.

 

26. Từ nay cho đến khi

Được vô thượng Bồ đề

Nguyện về nương tựa Phật

Pháp bảo, chư thánh Tăng.

 

27. Trước chư Phật mười phương

Thánh chúng bi trí huệ

Con xin chấp hai tay

Thành khẩn nguyện như vầy:

 

28. Từ vô thỉ đến nay

Hoặc đời này đời khác

Không biết phạm tội ác

Tự làm, khuyên người làm

 

29. Vì ngu si dẫn dắt

Tán đồng các tội ác

Nay con đã thấy rõ

Thành tâm sám hối tội

 

30. Phiền não quấn ba nghiệp

Gây tổn hại cha mẹ

Với Ba Ngôi Tam Bảo

Thầy Tổ cùng người khác

 

31. Quá khứ con phạm tội

Nay thành kẻ có tội,

Tất cả tội lỗi ấy,

Trước Phật con sám hối

 

32. Lở sám hối chưa sạch

Thân con đã chết mất

Làm sao con thoát khỏi

Xin Ngài mau cứu độ

 

33. Thần chết không đáng tin

Không chờ tội sạch chưa

Không luận bệnh không bệnh

Thọ mạng có thể dứt

 

34. Vì vô tri không biết

Chết là bỏ tất cả

Vì người thân kẻ thù

Tạo đủ thứ tội lỗi

 

35. Đời người như huyễn mộng

Vô luận mọi sự việc

Chỉ còn là ký ức

Việc qua không thấy lại

 

36. Kẻ thù thành hư vô

Người thân như mây khói

Thân ta chắc phải chết

Tất cả rốt cùng không.

 

37. Lại nữa trong đời này

Kẻ thân, thù đã chết

Tội nghiệp ta đã tạo

Còn rành rành trước mắt

 

38. Vì không biết rằng ta

Có thể chết bất ngờ

Nên vì tham sân si

Tạo tác bao tội nghiệp

 

39. Mạng sống giảm từng ngày

Chẳng bao giờ ngừng nghỉ

Không thể nào tăng lên

Làm sao ta không chết

 

40. Đến khi sắp lâm chung

Nhiều người thân vây quanh

Thống khổ lúc hấp hối

Riêng mình ta gánh chịu

 

41. Khi Diêm Vương đến bắt

Thân bằng có ích gì?

Chỉ phước đức mới cứu

Ta lại chưa tu tập

 

42. Do buông lung không biết

Cái chết thật đáng sợ

Đời sống thật vô thường