805-gdiem.gif (5390 bytes)

posted: 23.8.2005

805-botati.gif (40425 bytes)

CHƯƠNG CHÍN

TRÍ TUỆ

 DÀN BÀI 

I. Người cầu giải thoát cần có tuệ giác về Không (kệ số 1)

II. Triển khai :

A. Hai chân lý (kệ số 2-5)

(a) Phá chung các lập trường chấp thật Hữu (kệ số 6-15)

(b) Phá Tự chứng phần của Duy thức (kệ số 16-29)

(c) Trả lời chất vấn (kệ số 30-39)

B. Bát nhã Tánh Không là do Phật thuyết (kệ số 41-55)

(a) Tu nhân vô ngã

1. Phá cảnh câu sanh ngã chấp  (kệ số 56-59)

2. Phá cảnh biến kế ngã chấp : (1) Phá phái Số luận (kệ số 60-67) ; (2) Phá phái Lý luận (kệ số 68-69) ; ( 3) Trả lời chất vấn (kệ số 70-77)

(b) Quảng thuyết Pháp vô ngã

1. Từ Bốn niệm xứ: thân, thọ, tâm, pháp (kệ số 78-105)

2. Trả lời chất vấn (kệ số 106-115)

3.  Nhân để thành lập pháp vô ngã : (1) Phá Vô nhân luận (kệ số 116-117) ; (2) Phá Thường nhân luận (kệ số 118-137) ; (3) Trả lời chất vấn (kệ số138-142)

4. Thành lập Duyên Sinh, phá hữu vô (kệ số 143-150)

III. Khuyến tu Tánh Không (kệ số 151-167)

1. Tất cả điều quan yếu

Phật dạy về trí tuệ

Muốn bỏ khổ thế gian

Phải sinh Tuệ liễu Không.

 

2. Tục đế thắng nghĩa đế

Hai đạo đế thế gian

Thắng nghĩa đế không cảnh

Thấy cảnh là tục đế.

 

3.  Hiểu thế gian nhị chủng

Thiền gia liễu nhất thừa

Nhất thừa thiền gia đạo

Phá đối đãi thế gian.

4.  Thế gian tuệ sai biệt

Để giảng nghĩa tối thượng

Cho người chưa nhìn thấu

Phải nói dụ nhị chủng.

5.  Người đời thấy tục đế

Chấp đối đãi thực có

Không phải là huyền ảo

Như tuệ giác thiền gia.

6.  Thấy sắc muôn cảnh hiện

Trí lượng không danh xưng

Tất cả đều giả lập

Như thấy uế và tịnh.

7. Giúp thế nhân hiểu đạo

Phật giảng Pháp vô thường

Không như người đời thấy

Tuổi sát-na là thực.

8. Cũng tựa như người đời

Thấy được sự tịnh uế

Thiền gia thấy chẳng lầm

Thực tướng của muôn pháp.

9. Chấp có Phật sinh huyễn đức

Giác như thực ấy Phật đức

Loài hữu tình nếu như huyễn

Chết rồi sinh về đâu?

10. Huyễn duyên còn phối hợp

Thì huyễn cảnh còn sinh

Nếu ở mãi trong huyễn

Hữu tình thật có sao?

11. Sát sinh và bố thí

Vô tâm không tội phước

Nếu phát khởi tâm huyễn

Tội phúc huyễn liền sinh.

12. Khi nhân duyên đầy đủ

Muôn huyễn vật hiện ra;

Chữ “Vô” công năng lớn

Huyễn tâm thôi hết sinh.

13. Tạo nhân là sinh quả

Cảnh huyễn tất phải có

Thắng nghĩa đế, Niết Bàn

Tục đế luân hồi mãi.

14. Nếu Phật có luân hồi

Bồ đề hạnh ích chi?

Chỉ một duyên chưa dứt

Huyễn cảnh chẳng sao diệt.

15. Muôn duyên đà đoạn dứt

Kết cục còn gì sinh?

Loạn thức đã không còn

Duyên nào tạo huyễn cảnh?

16. Nếu ngoài tâm không có cảnh,

Thì tâm thức duyên cái gì?

Dù ngoại cảnh không thực có

Cảnh tượng hiện là tâm thể.

17. Nếu huyễn cảnh tức là thức

Thì cái gì thấy cái gì?

Đức Thế tôn đã từng dạy:

Tâm không thể tự thấy tâm.

18. Như dao không thể tự cắt

Tâm không thể tự quán tâm

Ví như ngọn đèn tự chiếu

Tâm cũng tự biết tâm.

19. Bóng tối không che ánh sáng

Thủy tinh thật không có màu

Lưu ly xanh là tự xanh

Không nương màu của vật khác.

20. Như thế ta cũng phải thấy

Màu tự có, không nương gì

Vì màu xanh của lưu ly

Thì không phải nay mới xanh.

21. Nếu nói tâm thức liễu tri

Có thể nói đèn tự chiếu?

- Do cái gì để nhận biết

Mà nói tâm tự chiếu?

22. Vì không thức nào thấy tâm

Nên chiếu hay không chiếu

Đều không đặt thành vấn đề

Như vẽ đẹp của thạch nữ.

23. Nếu tâm không hiện hữu

Làm sao nhớ chuyện cũ?

- Tâm cảnh có tương quan

Nên nhớ lại cảnh xưa.

24. Người có tha tâm thông

Thấy tâm thức người khác

Có thấy rõ tâm mình?

- Khi nước phép bôi mắt,

Thấy được kho tàng sâu

Nhưng không thấy được thuốc.

25. Ở đây không nên tranh cãi

Thấy nghe của mình, của người

Điều cần ngăn chận chính là

Sự cố chấp chúng có thật

Nguyên nhân đem lại đau khổ.

26. Huyễn cảnh không nằm ngoài tâm

Cũng không đồng nhất với tâm

Nếu huyễn cảnh là có thực

Sao nó lại không khác tâm?

Nó đã không khác, tất nhiên

Nó phải không thực hiện hữu.

27. Nếu huyễn cảnh đã không thực

Tâm năng kiến cũng không thực

Hiện hữu sinh tử luân hồi

Phải nương vào thật pháp (chân tâm)

Nếu không, chẳng khác hư không.

28. Nếu phi thực tùy thuộc

Vào một cái thực thể

Làm sao có tác dụng (nghiệp và quả)

- Tâm không cảnh trợ duyên

Thành thực thể đơn độc.

29. Nếu tâm lìa đối tượng

Chúng sinh đều thành Phật

Thành lập nghĩa Duy Thức

Cứu cánh ích lợi gì?

 

30. Biết tất cả pháp như huyễn

Làm sao dẹp hết phiền não

Nhà huyễn sư tạo huyễn nữ

Rồi đâm ra say mê sao?

31. Huyễn sư đối với pháp sở tri

Chưa hoàn toàn từ bỏ tham ái

Tập quán thấy Tánh Không quá yếu

Trông thấy huyễn nữ, sinh luyến ái.

32. Nhờ quen tu tập Tánh Không

Sẽ trừ thói chấp sự vật

Là thực sự có hiện hữu

Do tu tập vô sở hữu

Cũng đoạn trừ được chấp không

33. Khi quán sát các pháp

 

Thấy không pháp nào có

Không pháp nào tồn tại

Sự phi thực cũng không,

Không còn ở trong tâm.

 

34. Trong tâm thực không còn

Tồn tại pháp hay phi pháp

Không còn duyên bên ngoài

Tâm hoàn toàn vắng lặng.

 

35. Cây ngọc như ý vô tâm

Làm thỏa mãn mọi ước nguyện

Chư Phật vì do nguyện lực

Có thể hiện thân thuyết pháp

Tạo phước đức cho chúng sinh.

 

36. Như có người xây tháp

Chim đại bàng khắc độc

Tuy ông ta chết đi

Tháp vẫn còn trị độc.

 

37. Tùy hạnh Bồ tát tu

Viên thành thân Phật bảo

Dù Ngài đã nhập diệt

Vẫn còn tiếp tục làm

Lợi lạc chúng hữu tình.

 

38. Cúng dường vật vô tri

Như tháp Phật, có được

Hay không được công đức?

Kinh dạy công đức cúng

Phật sống hay Xá lợi

Là hoàn toàn giống nhau.

 

39. Dù theo tục đế hay

Có theo thắng nghĩa đế

Sự cúng dường đều được

Quả báo giống như nhau

Như khi cúng Phật sống.

 

40. Nhờ kiến đế, cũng đủ giải thoát

Cần gì phải thấy rõ Tánh Không?

Kinh Bát Nhã dạy nếu không có

Tuệ giác Bát Nhã liễu tri không

Thì không thực sự có Giác ngộ.

 

41. Nếu Đại thừa không đáng tin

Sao Tiểu thừa lại đáng tin

Hai phái đều cùng xác nhận

Đúng lời Đức Thế tôn dạy

Lúc đầu, các ông không nhận

Đại thừa không phải Phật thuyết?

 

42. Cái lý do ông tin kinh

Cũng giống chúng tôi tin kinh

Nếu ông tin là chân lý

Khi có hai người đồng tin

Thì Vệ đà phi Phật giáo

Cũng đáng tin nhận hay sao?

 

43. Đại thừa bị tranh cãi

Ngoại đạo cãi A hàm

Vậy, hễ có tranh cãi

Là nên hủy bỏ sao?

 

44. Hễ kinh nào nhập tạng kinh,

Đều được xem là Phật thuyết

Vậy ba tạng Đại thừa sao

Không được chấp nhận Phật thuyết?

 

45. Nếu không hiểu một bộ kinh (Bát Nhã)

Mà phủ nhận kinh Đại thừa

Sao không vì một bộ kinh

Giống như kinh Tiểu thừa mà

Thừa nhận hết kinh Đại thừa?

 

46. Các thánh tăng như Đại Ca Diếp

Tất hiểu được kinh Đại thừa

Nhưng vì các ngài không hiểu

Chắc đấy không phải lời Phật !

- Rằng: Đại thừa vô cùng thâm thúy

Các bậc thánh cũng khó thấu triệt

Đâu có thể vì ông không hiểu

Mà gạt phăng giáo lý Đại thừa !

 

47. Nếu giáo lý Phật cốt dành cho

Chư tăng, A-la-hán (Tiểu thừa)

Thì Thánh tăng cũng khó ở đời

Người mà tâm còn duyên các pháp

Cũng khó mà an trú Niết bàn.

 

48. Mặc dù không hiểu Tánh Không

Họ giải thoát nhờ đoạn trừ

Tất cả phiền não hiện hành ;

Sự thật là những vị ấy

Tuy không còn phiền não nữa

Song các chủng tử vẫn còn

Công năng nghiệp cũ tương tục.

 

49. Song vì không còn ái thủ

Nên sẽ không thọ thân sau

Vì không nhiễm ô khát ái

Cũng không nhiễm vô minh

Sao họ lại không tái sinh?

 

50. Do duyên thọ, ái sinh

La hán chỉ đoạn phiền não

Hiện hành, nhưng vẫn còn thọ

Vì tâm thức còn duyên pháp

Nên còn cảm thọ bên trong

Khi còn chấp pháp thật hữu.

 

51. Xa lìa Tuệ quán Tánh Không

Phiền não dù tạm thời diệt

Chúng vẫn còn sinh trở lại

Như trong vô tưởng định

Các phiền não tạm lắng

Ai muốn chấm dứt khổ

Phải tu quán Tánh Không.

 

52. Bồ tát hết tham ái sợ hãi

Vận dụng đức từ bi trí tuệ

Trở lại ở trong vòng sinh tử

Cứu độ thống khổ do vô minh.

 

53. Chớ nên vì không hiểu Tánh Không

Mà tùy tiện bài bác chê bai

Nên chấm dứt tất cả nghi hoặc

Đúng như lý tu tập Tánh Không.

 

54. Tánh Không có thể chữa trị

Phiền não chướng, sở tri chướng;

Sao người muốn mau thành Phật

Không chịu thiền quán Tánh Không?

 

55. Chấp thật hữu, sinh đau khổ

Ấy mới là điều đáng sợ;

Sao lại sợ quán Tánh Không

Làm lắng dịu mọi thống khổ.

 

56. Nếu thực có một bản ngã

Còn có lý để lo sợ

Nhưng vì không có ngã

Ai ở đấy mà hãi sợ !

 

57. Răng, tóc, móng không phải ngã,

Ngã cũng không là xương máu

Cũng không phải đàm, mũi, nước

Cũng không phải mật hay thịt.

 

58. Ngã không phải là mỡ

Mồ hôi hay phổi gan

Ngã không phải phân tiểu

Bất cứ nội tạng nào.

 

59. Thịt da không là ngã

Nhiệt mạch khí phi ngã

Trăm lỗ trong cơ thể

Hay sáu thức cũng vậy.

 

60. Nếu thức nghe là thường trú

Đáng lẽ phải luôn luôn nghe

Nếu không âm thanh để nghe

Sao nó được gọi là nhĩ thức ?

 

61. Nếu khi không có thức (về âm thanh)

Mà vẫn có thể biết (âm thanh )

Thì khúc gỗ cũng biết (nghe tiếng);

Ta có thể khẳng định

Nếu không có đối tượng

Cũng không có cái biết.

 

62. Khi không có âm thanh

Thường ngã lại biết sắc?

- Nếu thế sao lúc đó

Tai ta lại không nghe

- Nếu không có tiếng gần

Thức cũng không lúc đó.

 

63. Lúc đó thức biết thanh

Chuyển thành ra biết sắc?

- Nhận thức về âm thanh

Sao thành thức về sắc được?

- Như người thành cha, con

Một người vừa là cha

Vừa là con, chỉ là

Hư giả, không chân thực.

 

64. Ba đức tính vui, buồn, si

Không hẳn là cha hay con

Ba đức ấy không sẵn có

Tánh chất nhận thức âm thanh.

 

65. Như một người đóng nhiều vai

Thì thanh thức cũng biết sắc

- Dưới nhiều trạng thái khác nhau

Thức không thể là trường cữu

- Nếu nhất thể mà đa dạng

Thì điều ấy chưa từng có.

 

66. Nếu có các sắc thái

Khác nhau là phi chân

Thì bản chất là gì?

- Nếu thức là bản chất

Đồng nhất và thực hữu

Thì chúng sinh là một !

 

67. Tâm và vô tâm là một

Vì cùng trường tồn, thực hữu?

- Sai khác đã là vọng rồi

Làm sao có cùng chỗ nương?

 

68. Vô tâm cũng không thể là ngã

Vì vô tâm cũng như cái bình

- Mặc dầu bản chất là vô tri

Khi có cảnh, tâm bèn hay biết

- Điều này phi lý, khi tư ngã

Mà hay biết, thì vô tri diệt

Không trường cữu như ông chủ trương.

 

69. Nếu ngã là thường hằng bất biến

Tâm có ích gì đối với nó?

- Nếu ngã vô tri, lìa tác dụng

Thì hư không cũng là ngã vậy.

 

70. Nếu ngã không thật có

Nghiệp quả thành phi lý

Nghiệp tạo xong đã mất

Còn ai chịu hậu quả?

 

71. Tạo nghiệp và thọ quả

Lúc thọ quả báo thời

Người tạo nghiệp đã mất

- Chúng ta cũng công nhận

Vậy còn gì tranh luận?

 

72. Gieo nhân, không thể nào

Đồng thời thấy được quả ;

Phật dạy dòng tương tục

Cuộc đời của chúng sinh

Ai làm thì nấy chịu.

 

73. Tâm quá khứ, vị lai

Đều không, không phải ngã ;

Nếu tâm sinh là ngã

Khi diệt, không còn ngã.

 

74. Dùng tuệ quán tra tìm ngã

Thì sẽ thấy nó không thật

Rỗng không như thân chuối cây.

 

75. Nếu hữu tình không thật có

Thì khởi tâm thương xót ai?

- Người lập thệ thành Phật đạo

Giả lập chuyện hư huyễn đó.

 

76. Nếu không người, ai chứng quả?

- Tâm còn si, nếu còn thấy

Có đắc, có chứng quả Phật

Vì muốn dứt khổ chúng sinh

Không nên từ bỏ tâm ấy.

 

77. Ngã mạn gây ra thống khổ

Mê muội về ngã càng tăng

Nếu không thể năng trừ nó

Quán vô ngã là tốt nhứt.

 

78. Thân thể không là bàn chân

Đùi, vế, eo bụng, lưng ngực

Vai v.v. chẳng phải thân.

 

79. Sườn tay không phải thân thể

Nách, gáy, nội tạng cũng không

Đầu, cổ đều không phải thân

Vậy cái gì thực là thân?

 

80. Nói thân thể mọi thành phần

Ở cùng khắp mọi phương

Là sai vì mỗi thành phần

Ở vị trí riêng của nó,

Còn thân thể ở chỗ nào?

 

81. Nếu toàn bộ thân ta

Ở trong mỗi thành phần

Có bao nhiêu phần tử

Phải có bấy nhiêu thân

 

82. Nếu bên trong ngoài không thân,

Thì làm sao bàn tay v.v…...

Lại có một cái thân được?

- Ngoài tay v.v.. không có gì khác,

Làm sao có thân thể kia?

 

83. Vậy thân thể không thật hữu,

Vì ngu mê nên thấy lầm

Chấp tay, thân v.v. làm thân thể

Như trong tối, thấy đống đá

Thành hình dạng một thân người.

 

84. Bao lâu duyên còn tụ họp

Khiến thấy đống đá giống người

Bao lâu tay chân v.v. vẫn còn

Còn thấy dường như có thân.

 

85. Các ngón hợp thành bàn tay

Chứ bàn tay là cái gì?

Các vật họp thành tập hợp

Hợp là giả vì chia phần.

 

86. Phần tử chẻ thành vi trần

Vi trần chia thành phương trần

Phương trần không thực tồn tại

Lại cũng giống như hư không.

 

87. Người có trí sao còn

Tham thân mộng ảo này

Thân đã không thực có

Sao có tướng nam nữ.

 

88. Nếu khổ thọ là thật,

Sao có lúc rất vui?

Nếu lạc thọ là thực?

Sao lại có sầu não?

Thức ăn nuốt chẳng trôi?

 

89. Nếu bảo vì khổ quá đau,

Nếu không cảm nhận lạc thọ,

Cũng không thể đúng vì là

Cái gì chưa vào thân tâm

Sao lại gọi là cảm thọ?

 

90. Nó vẫn là cảm thọ

Như trong khi rất vui

Vẫn có cái buồn nhỏ

- Không phải vui lớn đã

Trừ khử buồn nhỏ sao?

- Chút khổ, là vui nhỏ

Vậy, sao gọi là khổ?

 

91. Nếu bảo cảm thọ khổ

Không thể sinh trong tâm

Khi đang sinh thọ khác

- Điều này không đứng vững

Không phải chấp lầm sao?

 

92. Cần tu tập tuệ quán

Thấy rõ các pháp không

Trong thửa ruộng quán tuệ

Tăng trưởng tuệ thiền gia.

 

93. Nếu giữa căn và cảnh

Thật có một khoảng cách

Thì làm sao gặp nhau?

- Nếu không có ngăn cách

Thì căn, trần thành một

Còn gặp gỡ làm sao?

 

94.Vi trần với vi trần

Không thâm nhập lẫn nhau

Vì không có khoảng cách

Không nhập tức không hiệp

Không hiệp tức không gặp.

 

95. Thực vô lý khi nói

Hạt này gặp hạt kia

Ở một phía nào đó

Nếu hạt không thể phân

Mà có thể gặp nhau

Làm ơn chỉ cho xem?

 

96. Với ý thức vô hình

Nói có sự tiếp xúc

Thì rất là phi lý

Nếu có sự tụ họp

Thì cũng là không thật.

 

97. Nếu xúc đã không thực

Cảm thọ từ đâu ra?

Cần gì nhọc sức đeo đuổi

Khổ nào hại người nào?

 

98. Đã thấy người không thực

Thấy cảm thọ không thực

Thì tại sao tham ái

Với thọ không tiêu diệt?

 

99. Những gì được thấy chạm xúc

Không thật có, như huyễn mộng

Thọ và tâm đồng sinh khởi

Nên tâm không thể thấy thọ.

 

100. Niệm sau liền nhớ lại

Không thể nghiệm cảm thọ

Hiện tiền ngay cùng lúc

Thọ không thể tự nghiệm

Kẻ khác cũng không thọ được.

 

101. Không thực có người cảm thọ

Không thực có các cảm thọ

Làm sao cảm thọ huyễn hóa

Lại làm hại uẩn vô ngã?

 

102. Tâm ý không ở trong mắt

Không ở nơi cảnh như sắc

Cũng kh