posted: 13.8.2005
Nguyễn Mạnh Quang
Người viết gọi đạo Do Thái là chế độ đạo
phiệt Do Thái vì tôn giáo này ôm đồm cả quyền lực chính trị rồi đem
những tín lý hoang đường, phi nhân bản, phản khoa học cùng những giáo
luật hà khắc, nặng tính cách vơ vào và bóc lột biến thành luật pháp
quốc gia cưỡng bách người dân phải tuân hành. Cũng vì thế mà ngay từ
lúc mới hình thành, Do Thái Giáo (Judaism) cũng là quốc giáo của dân tộc
Do Thái. Tôn giáo này ra đời sớm nhất và chia là hai thời kỳ. Thời kỳ
thứ nhất (Pre-Mosaic Judaism) hình thành vào khoảng năm 2000 TCN kéo đến khoảng
năm 1266 TCN thì biến thể thành đạo Do Thái mới gọi là Mosaic Judaism. Sau
này đạo Do Thái mới này lại phân hóa thành nhiều hệ phái khác nhau (sẽ
được trình bày ở phần sau).
Vào khoảng năm 2000 trước công nguyên, ông Abraham dẫn
một nhóm người đồng hương di cư từ thành Our thuộc xứ Chaldée (ngày
nay là nước Irak) ở phía đông sông Euphrate
đến định cư tại vùng đất Canaan nằm ở phía tây sông
Euphrate và đặt ra một số quy luật để quản lý đòan người tha phương
cầu thực này. Sách Công Giáo - Huyền Thoại và Tội Ác ghi lại sự
kiện này như sau: “Năm 2000 trước
Công Nguyên, Abraham được tôn lên làm vị lãnh đạo các tộc trưởng Do
Thái trong đế quốc Cũng nên biết
rằng, vào thời kỳ này, nhân loại đã bước vào Thời Kỳ Đồng Thau
[Bronze Age] (3150-1200), tương đương với Nhà Hạ (2205-1766 TCN) ở bên Trung
Hoa. Về niềm tin tôn giáo của người Do Thái trong thời kỳ này là một mớ
tạp nham các truyền thuyết của các dân tộc sống trong vùng Lưỡng Hà
Châu (Mesopotamia), một vùng đồng bằng nằm trong lưu vực của hai con sông
Tigris và Euphrates. Vị thần linh được họ tôn thờ là Thượng Đế và cũng
gọi là Thiên Chúa Elohim có hình tượng là một con bò đực. Trong ngôn ngữ
Do Thái, từ “El” được gọi là “Elim” (con bò) và “Elohim” là dạng
số nhiều của “Elim”. Người Do Thái sử dụng dạng số nhiều “Elohim”
là có ý muốn nói vị thần Elohim (những con bò vàng) này là thần của tất
cả mọi người. Ông Charlie Nguyễn giải thích ý nghĩa này như sau: “Tiếng Semitic (Do
Thái) gọi El là Elim. Elim là danh từ số ít, Elohim là danh từ số nhiều,
nhưng lại có nghĩa là MỘT (Elohim is one) vì Elohim bao hàm ý nghĩa thần El
là vị thần của tất cả mọi sự (The All-God). Thần El là Toàn Thể (The
one who is All) gần tương tự như Toàn Năng (The Almighty – The Absolute Power).
Thần El là vị thần chân thực của các thần (The one true God of gods) là vị
thần được mọi người gọi bằng nhiều tên khác nhau nhưng sự thực chỉ
là một (many names of the one true God). Thần El là tổng thể của mọi sự
thiêng liêng (The totality of the Divine).” [2] “Căn cứ vào các cổ vật và các sử liệu khách
quan, các nhà nghiên cứu đã xác định Những tư tưởng
đầu tiên của Abraham chưa hẳn là đã xác định có một Thiên Chúa Duy Nhất
(The Only One God) mà ông chỉ có ý định chọn một vị thần mạnh nhất
trong các vị thần của dân Sumerians để tôn thờ mà thôi. Vị thần mà
Abraham chọn là thần El, một con bò đực mạ vàng. Hiện nay, tại bảo
tàng viện Baghdah có trưng bày tượng bò đực mạ vàng của dân Sumerians
thuộc thời đại đế quốc Chế độ đạo phiệt Do Thái
trong thời kỳ này còn ở trong một mức độ nhẹ nhàng không chuyên đóan,
không có giai cấp giáo sĩ và cũng không
nặng tính bóc lột tín đồ. Các nhà viết sử gọi thời kỳ này là đạo
Do Thái Nguyên Thủy (Pre-Mosaic Judaism). Đạo Do Thái Nguyên Thủy kéo dài
được khoảng 750, (tức là vào khoảng từ năm 2000 TCN đến khoảng năm 1266 TCN) thì biến thể thành đạo Do
Thái Mới sau này. Không biết vì lý do nào mà người Hebrew lại bỏ
thành Our di cư về lập nghiệp ở Theo học giả Nguyễn Hiến Lê viết trong cuốn Bài
Học Do Thái, trải qua đời con ông Abraham là Isaac và đời con của Issac là
Jacob rồi đến đời con của Jacob là Joseph mới gây dựng nên “dân tộc”
Do Thái. (Thiết tưởng ở đây nên sử dụng từ “thị tộc” thay vì “dân
tộc” vì lúc đó dân Do Thái mới chỉ có một số người giống như là
một thị tộc.) Về sau, vì những biến chuyển về thời thế, ông Joseph
cùng một nhóm dân Do Thái, tất cả là 70 người (trang 27) di cư sang Ai Cập
sinh sống. Những người theo đạo Ki-tô kể rằng ông Joseph nhờ tài đoán
chiêm bao mà được vua nước Ai Cập trọng dụng, cho làm đến chức thượng
thư (bộ trưởng) trong triều đình Ai Câp. Tuy nhiên, sau đó họ lại bị bắt làm nô lệ. Theo sách Công Giáo – Huyền Thoại và Tội Ác, vua
Ai Cập là Ramses (1304-1237) ham thích
xây kim tự tháp cùng các đền đài và dinh thự nguy nga tráng lệ. Vì nhu cầu
cần có lao nô phục dịch cho các công trình xây cất trên đây mà dân Do
Thái ở Ai Cập, [một thứ dân ngụ cư (ăn nhờ ở đậu)], bị cưỡng bách
phải hy sinh làm nô lệ để đáp ứng cho nhu cầu này (trang 115-116). Theo sách Bài Học Do Thái, đến năm 1583
trước Công Nguyên, vì căm hận, những người dân Do Thái này đã tiếp
tay với kẻ thù ngoại nhập trong những năm Ai Cập bi quân Hyksos xâm lăng.
Vì lý do này, chính quyền Ai Cập mới bắt
họ làm nô lệ và đối xử với họ rất là tàn nhẫn. Tình trạng này
kéo dài hơn 300 năm. Sự kiện này được học giả Nguyễn Hiến Lê viết
như sau: “Khi Ai Cập bị dân
tộc Hyksos xâm lăng, họ (người Do Thái)
bắt buộc phải cộng tác với kẻ (chiến) thắng
Sau khi đuổi được kẻ thù,
Ai Cập oán họ đã phản bội, bắt họ làm nô lệ. Họ cực khổ trăm chiều,
muốn trốn mà không được. Một vị thiếu niên anh tuấn đau lòng cho nòi
giống, nhất quyết dắt đồng bào thoát khỏi cái ách Ai Cập, vào chân
núi Sinai, sống đời lang thang, cực khổ... Vị trẻ tuổi ấy là Moise...”.
[4]
Sách sử Do Thái nói rằng khi ông Moses được ông
Thượng Đế Jehovah "mặc khải"
phải dẫn đoàn người Do Thái về bờ biển phía Đông Hồng Hải để nhận
"luật" của ông thượng đế này theo đó mà cai trị dân. Ông
Moses tuân lệnh đã dẫn đoàn người
Do Thái của ông về đến núi Sinai. Tại đây ông Moses gặp được vị thần
có tên là Jehovah "mặc khải"
(truyền dạy) cho ông biết những tín lý và phương cách thờ phượng ông
thần này. Trong cuốn Bài Học Do Thái, Học giả Nguyễn Hiến ghi lại chuyện
này như sau: "Một hôm ông
(Moses) nghe được lời Thượng Đế ra lệnh
phải giải thoát đồng bào, dắt họ qua bờ bên kia Hồng Hải tới núi
Sinai để nhận "luật" của Thượng Đế. Thế là năm 1266 trước
tây lịch ông cầm đầu đồng bào đưa họ di cư về Đất Hứa. Tới
Sinai, họ sống đời lang thang cực khổ nhưng tự do của tổ tiên như vậy
trong bốn chục năm. Ở Núi Sinai, Moise (Moses) do Thượng Đế khải thị mà
đặt có sở cho Do Thái giáo. Abraham trước kia chỉ có một ý thức về một tôn giáo nhất thần,
thờ thần Jahvé (Jehovah), một vị thần vạn trí, vạn năng chí công, chí
nhân tạo ra trời đất và là cha sinh ra muôn loài." [5]
"Luật" mà ông Moses nhận được ông Thượng
Đế Jehovah là luật như thế nào? Đây là một số rất nhiều luật được
ghi trong các sách Sáng Thế, Phục Luật, Dân Số, Leviticus, Xuất Hành,
v.v... trong Cựu Ước Kinh. Một số những luật này được ông Trần Quý
ghi lại trong cuốn "Lòng Tin Âu Mỹ Đấy!" với nguyên văn như sau: “LUẬT SỢ CHÚA.- “Dùng danh nghĩa thiên-chúa
Giê-hô-va, bọn giáo-sĩ chế (bịa) ra các luật ở bảng thứ nhất để bắt
dân phải cung phụng họ, chỉ được thờ vị thần do họ đưa ra, phải
diệt (hết) các đạo khác, phải giết nhưng người thay đổi đạo mà họ
đã đặt ra, phải giết vợ con, bạn hữu nếu những người này tuyên
truyền cho các đạo khác, phải không có lòng thương xót khi giết người.
"LUẬT QUY ĐỊNH
VIỆC CUNG PHỤNG GIÁO SĨ.- "Dân cúng thiên-chúa Giê-hô-va bằng bò hay cừu
thì phải dâng cho giáo-sĩ cái vai, cái hàm, cái bụng (Phục-luật 18:3).
Dân vừa mới thu hoạch được nông phẩm thì phải biếu giáo-sĩ của đầu
mùa từ rượu cho họ uống, gạo cho họ ăn cho đến lông chiên (cừu) cho
họ làm áo (Phục-luật 18:3). LUẬT QUY ĐỊNH
VIỆC CUNG PHỤNG THIÊN CHÚA: Môi-se ra lệnh cho đám dân Do Thái giặc cướp
phải giết hết người nam, giết hết đàn bà, con gái đã ăn nằm với đàn
ông, chỉ giữ lại con gái trinh thôi (Dân số 31:17-18). Giê-ho-va đòi dân
đi ăn cướp về phải chia của cướp được cho mình. Của này phải giao
cho các giáo sĩ giữ từ cừu, bò cho tới những người con gái (Dân số
31:28 và 31:40). Thân hình thiên chúa Giê-hô-va và thân hình người đàn ông
(Sáng Thế 1:26) giống nhau nên vị thiên chúa đó đòi dâng con gái của
loài người không có gì là lạ. Cha sao, con vậy. Thảo nào các con của vị
thần đó cũng ham (Sáng Thế 6:4) con gái loài người. Vị thần ăn cướp gọi
là Thiên-chúa Giê-hô-va đòi tín đồ chỉ được thờ có một mình mình
thôi, cho nên vị thần ấy đòi tín đồ thẳng tay tiêu diệt quyền tự
do tôn giáo, đòi như sau: Phải dứt khoát
giết những người đi lễ (bất kỳ) vị thần nào khác ngoài Giê-hô-va
(Xuất Hành 22:20) Phải giết những
kẻ tiên tri nào dám nhân danh các vị thần khác mà nói (Phục Luật 18:20) Chớ theo những
vị thần của các dân tộc ở chung quanh các ngươi (Phục Luật 6:14). Dân Do Thái phải
dâng con đầu lòng cho Giê-hô-va (Xuất Hành 13:12).Dân Do Thái hay dân khác sống
trên đất Do Thái mà dâng con cho thần Mo-lóc thì phải bị xử tử (Lê-vi:
20:2).Không được tha mạng sống cho các thầy phù thủy (Xuất Hành 22:18). Những người
đi hỏi thầy phù thủy hay hỏi thầy bói cũng phải dứt khoát bị trừng
trị. Giê-hô-va nói: “Ta sẽ đối mặt kẻ đó và sẽ cắt phăng kẻ đó
khỏi dân chúng (Lê-vi 20:6). Giê-hô-va tự nhận
là thần Ganh-ghét, không tiếc lời căn dặn tín đồ mọi chi tiết về việc
phá các đạo khác: Phàm những dân tộc nào mà các ngươi đuổi đi được,
các ngươi phải:*Phá sạch những nơi thờ thần của họ (Thánh Kinh Tin
Lành dùng cụm từ “chúng nó” thay cho “họ") trên núi cao, trên đồi,
dưới bóng cây xanh, đập tan bàn thờ,
đâp vụn cột đền, lấy lửa đốt rụi hết các tượng của họ, * đục
khoét cho mất hết mọi hình chạm trổ các tượng thần của họ,* và xóa
tên những thần ấy ở những nơi đó (Phục Luật 12:2-3).Một nhóm dân Do
Thái thờ thần Ba-an Pê-o khiến cho Giê-hô-va nổi giận lôi đình rồi ra lệnh
cho Môi-se:“Hãy đem hết các thủ lãnh của đám dân này ra treo cổ ở
ngoài nắng trước mặt Gia-vê để cơn giận của Gia-vê không chĩa vào
dân Do Thái (Dân Số 25:3-5). * LUẬT BẮT NÓI
ĐÚNG LỜI GIÊ-HÔ-VA: Phải giết kẻ
tiên tri nào dám nhân danh Ta nói điều gì Ta không bảo nói (Phục Luật
18:20). LUẬT GIẾT VỢ
CON, BẠN HỮU NẾU NHỮNG NGƯỜI NÀY TUYÊN TRUYỀN CHO CÁC ĐẠO KHÁC: Khi
anh em một mẹ với ngươi, hay con trai người
hay con gái ngươi, hay người vợ yêu mến của ngươi, kín đáo
xúi giục ngươi bảo ngươi rằng “Ta hãy đi thờ các thần khác.” Đó
là những thần khác mà các ngươi và tổ tiên các ngươi chưa hề biết.
Đó là những thần của những dân tộc sống chung quanh các ngươi hoặc gần
hoặc xa... Các ngươi hãy chớ theo nó. Các ngươi đừng thương nó. Các ngươi
chớ có xót-xa mà che chở cho nó, các ngươi phải giết nó. Các ngươi phải
giết nó trước rồi mới tới tay dân chúng (Phục Luật 13:6-9)....”. [6]
LUẬT TRỊ NGƯỜI.-“Các
luật trị người mang danh là của thần Giê-hô-va chẳng qua là bắt chước
bộ luật của Ham-mu-ra-bi khắc trên bia đá ở đền thờ thần Ma-đúc
(Marduk) trong thành Ba-by-lon. Bộ luật ấy có trước khi Môi-se đắt dân
Do-thái bỏ Ai Cập di chuyển về hướng Pa-le-stin cả bao nhiêu thế kỷ.
Vua Ham-mu-ra-bi (1792-1749 trước dương lịch) cai trị xứ Ba-by-lon, là một
người nổi tiếng anh hùng. Triều đình ông gom góp nhiều luật đã được
các chính quyền vùng lưỡng-hà tạo ra trong mấy trăm năm thành một bộ
luật để xét xử các vụ án từ các cuộc xung đột gia đình đến các vụ
phạm pháp nặng hay nhẹ trong xã hội. Năm 1901, một nhà khảo cổ người
Pháp tên là Jean-Vincent Scheil tìm ra thấy ở vùng Nhóm Lệnh Trị Người
cho ta thấy dân thời cổ ở Trung Đông bị cai trị rất là nghiêm khắc.
Đằng sau lệnh “Hãy Hiếu Kính Với Cha Mẹ” có một bản án tử hình.
Đứa con khó dạy, bội-nghịch, hoang-đàng, say-sưa có thể bị cha mẹ giao
cho các trưởng lão trong thành, rồi bị dân chúng ném đá cho chết (Phục-luật
21:18-21). Đằng sau lệnh “Chớ Tà Dâm” có nhiều bản án tử hình. Con
gái mất trinh trước khi lấy chồng, nếu bị chồng tố cáo thì sẽ bị dẫn
về nhà của cha mẹ đẻ rồi bị dân ném đá cho chết tại đây. (Phục-luật
22:13-21). Con gái đã hứa hôn mà còn đi ngủ với trai thì cả hai đều bị
ném đá cho chết. (Phục-luật 22:23). Giê-hô-va (ban) ra
biết bao nhiêu luật giết người, kể cả bắt người ta giết vợ con để
bảo vệ sự thờ cúng một mình mình. Các Lệnh Sợ Chúa trong bảng thứ
nhất được ưu tiên, vượt trên các Lệnh Trị Dân trong bảng thứ nhì. Nếu
không thì lệnh “Chớ Giết Người” của Giê-hô-va chỉ là lời hài hước
trong chuyện tiếu lâm, hoặc là một sự vụng về nhái lại luật
Ham-mu-ra-bi”. [7]
Căn cứ vào những "luật" trên đây, chúng
ta có thể nói hệ thống luật pháp này là một thứ đạo lý hỗn hợp gồm
có những tín lý nhảm nhí được pha
trộn với luật lệ chuyên chế hà khắc
của bạo quyền của một tổ chức xã hội của thời bán khai nhằm để
củng cố quyền lực của giai cấp thống trị và cũng là để cưỡng bách người dân phải làm nô
lệ phục vụ cho cả tôn giáo lẫn chính quyền. Nói một cách khác, Do
Thái Giáo là một thứ tôn giáo nhập nhằng và
trộn lộn với chính quyền và
hòa nhập với nhau làm một cơ chế duy nhất, biến thành một hệ thống
luật pháp ôm đồm cả hai thứ giáo luật và quốc luật trộn lộn với nhau, rồi dùng bạo lực của chính quyền
cưỡng bách người dân qua đời này đến các đời kế tiếp theo đó mà
làm nô lệ cho chính quyền và ứng xử với nhau. Như vậy là nhân dân bị
cưỡng bách phải phục vụ cho tôn giáo và chính quyền. Nói riêng về tôn
giáo, ta có thể gọi đó là thứ tôn giáo
"cưỡng bách nhân dân phải phục vụ cho tôn giáo”.(mà thực sự là phục vụ cho giai cấp giáo sĩ
và bọn người tay sai của họ). Đây là một thứ tôn giáo vô cùng bạo
ngược, dựa trên một số tín điều láo khoét được bịa đặt ra để lừa
gạt người đời rồi dùng chính quyền chuyên chế (bạo lực) làm phương
tiện cho bọn tu sĩ biến người dân dưới quyền
trở thành tín đồ để làm nô lệ phục vụ cho họ. Nội dung
của Luật Sợ Chúa và Luật Cung Phụng Giáo Sĩ
là bằng chứng cho cái dã tâm thâm độc này. TRỞ VỀ DO THÁI Mãi tới đời sau, đời ông Josué, nhóm người Do
Thái trên đây mới về chiếm lại được xứ Vua Solomon băng hà vào năm 937 trước CN. Bảy năm
sau, vào khoảng năm 930 trước CN, nước Do Thái bị phân hóa ra làm thành
hai nước nhỏ: nước Kiểm điểm lại, chúng ta thấy, từ năm 722 trước
công nguyên, Do Thái liên tiếp bị các cường quốc lân bang tấn chiếm và
thống trị, dân tộc Do Thái trở thành dân bị trị của các cường lân
xâm lược. Tôn giáo của các cường quốc xâm lăng được tự do du nhập
vào Do Thái mà tín đồ Do Thái không có khả năng tuân hành những lời dạy
của Chúa ghi trong các sách Leviticus (26:1-18),
Phục Luật (12:2-3, 13: 6-9),
Dân Số (25:3-5) để tiêu diệt các
tôn giáo khác. Cũng từ đó, giáo sĩ
Do Thái cũng không còn quyền lực để cưỡng bách tín đồ phải
cung phụng cho họ những thứ như đã quy định trong sách Phục Luật (18:3), cũng không thể cưỡng
bách họ phải cung phụng Thiên Chúa những thứ như đã quy định trong sách
Dân Số (31:17-18) và cũng không thế
áp dụng Luật Trị Người như đã quy định trong sách Phục Luật (21:
18-21 và 22: 13-23). Kết quả là đạo
Do Thái mất hẳn đi tính cách đạo phiệt của nó. Tất cả những ác
tính này đã trở thành dĩ vãng. Mất
đi các quyền lực trên đây, họ fđặc biệt là giới tu sĩ Do Thái, mất
luôn cả cái địa vị thượng đẳng trong xã hội, có còn chăng thì cũng
chỉ là còn trong kỷ niệm và mơ tưởng ngày PHỤC QUỐC và cũng là PHỤC
HỒI cái địa vị thượng đẳng của họ ở trong xã hội như ngày nào. NHẬN XÉT VỀ ĐẠO
DO THÁI Vào khoảng năm 2000 trước công nguyên, ông Abraham
đem đoàn người Hébrew di cư từ thành Our thuộc xứ Chaldée (ngày nay là nước
Irak) ở phía đông sông Euphrate sang định cư tại vùng đất Canaan lập ra
nước Do Thái và lập ra đạo Do Thái mà
đối tượng thờ phượng là vị thần "Thần El (có hình của con
bò) là tổng thể của mọi sự
thiêng liêng". Làm như vậy,
phải chăng ông Abraham có chủ tâm lợi dùng uy quyền của thế giới thần
linh để làm cho đám dân dưới quyền của ông khiếp sợ mà khuất phục?
Cũng nên biết rằng thuở đó là thời bán khai, người
dân còn ở trong tình trạng ngu dốt lại nặng lòng mê tín dị đoan, thường
tin rằng bất kỳ nơi nào ở trong cõi trần gian này cũng đều có một đấng
thần linh ngự trị: Đất có thổ công, sông có hà bá, rừng có ma rừng,
núi có thần núi và bất kỳ hiện tượng thiên nhiên nào cũng do thần thánh
tạo nên hay gây ra cả. Tình trạng dân trí thấp kém như vậy đã giúp cho
ông Abraham thành công trong sứ mạng lãnh đạo đoàn người tha phương cầu
thực quy tụ với nhau ở nơi đất lạ xứ người để nương tựa nhau mà
sống và tồn tại. Cũng vì thế mà ông Abraham
mới trở thành tổ phụ của nước Do Thái và cũng là tổ phụ
của đạo Do Thái. Trong hoàn cảnh mới di cư đến một vùng đất mới, tất
nhiên là họ phải sát cánh nương tựa nhau để đối phó với mọi bất
trắc có thể xẩy ra vào bất cứ lúc nào. Những người Do Thái đầu tiên
ở đất Như vậy là những tín điều của tôn giáo lẫn lộn
với quy luật của tập thể. Khi tập thể phát triển thành một dân tộc
và chiếm cứ một vùng lãnh thổ thì tình trạng này trở thành tín điều
của tôn giáo trọn lộn với luật pháp của quốc gia. Như vậy là ngay từ
khi mới lập quốc, Do Thái đã ở vào tình trạng tôn giáo nhập nhằng với
chính quyền. Ta gọi nó là một chế độ đạo phiệt. Đây là chế độ
đạo phiệt ở vào thời kỳ phôi thai. Dù là ở trong tình trạng phôi
thai, tự nó cũng đã trở thành những
hạt giống của những gian dối, lừa bịp, thủ đọan, bóc lột và bạo lực.
Hoàn cảnh của đoàn người Do Thái được ông
Moses dẫn đi chạy trốn khỏi nước Ai Cập về tới núi Sinai vào khoảng
năm 1266 Trước CN (có sách nói là năm 1250 trước CN) không khác gì hoàn cảnh của đoàn người
Do Thái của ông Abraham mới tới định cự ở Canaan vào năm 2000 trước
CN, và đoàn ngươi Pilgrim đến định cư ở vùng ven biển thuộc tiểu bang
Massachusetts vào năm 1620. Theo gương
ông Abraham, Ông Moses tổ chức đoàn người Do Thái chạy trốn khỏi Ai Cập
với những luật lệ gần giống như ông Abraham đã làm, nhưng lại không gọi ông Thượng Đế là “Elohim”
nữa, màlại gọi là “Yahveh”
(Jehovah) và thêm vào các Luật Sợ Chúa, Luật Trị Người, Luật Quy Định Cung Phụng Giáo Sĩ, Luật
Quy Định Việc Cung Phụng Thiên Chúa và nhiều
luật khác. Những luật này đều có tính cách sắt máu, phi nhân, bạo
ngược, nặng tính vị kỷ và bóc lột nhân dân, nói là để phục vụ Thiên Chúa mà sự thực là phục vụ cho giai cấp
giáo sĩ và giới người thống trị.
Đây cũng là một chế độ đạo phiệt giống như chế độ đạo phiệt
trong thời ông Abraham, những ở mức độ hà khắc hơn, tàn ác hơn, bóc lột
nhân dân một cách tinh vi hơn và tận tình hơn. Sự kiện này đã được
nhà biên khảo lịch sử Trần Quý ghi lại như đã trình bày ở trên. Qua lời nhận xét với những dẫn chứng đầy đủ
trên đây của học giả Trần Quý, một người với khả năng thông minh dưới mức trung bình cũng có thể
nhìn thấy rõ hệ thống tín lý và giáo luật trong đạo Do Thái chẳng có
một chút gì là nhân bản cả. Rõ
ràng là những ý niệm về tình thương, nhân ái, khoan dung, độ lượng và
hào hiệp không có chỗ đứng trong cái tôn giáo này. Đây là một thứ
tôn giáo vị kỷ. (Xã hội này không có đạo lý, tức là không có ý niệm
về công bằng và công lý). Như vậy là khi dẫn đoàn
người từ Ai Cập về tới núi Sinai, ông Moses đã phỏng theo mô thức tổ
chế độ đạo phiệt của ông Abraham trước
kia để tổ chức bộ máy quản trị tập
thể người Do Thái của ông, nhưng với mức độ hà khắc hơn và dành
quá nhiều đặc quyền và đặc lợi cho giai cấp giáo sĩ. Càng dành nhiều
đặc quyền đặc lợi cho giai cấp giáo sĩ thì giáo dân và giai cấp bị
trị càng bị bóc lột nhiều hơn. Kể từ đó,
bộ máy cai trị chính quyền Do thái được tổ chức theo mô thức
này. Căn cứ vào những luật đã được viện dẫn ở trên, ta có thể
nói đạo Do Thái là một chế độ đạo
phiệt (độc tài tôn giáo) với những đặc tính: 1.- Ôm đồm cả tôn giáo và chính quyền vào trong tay, 2.- Lấy việc thờ phương ông Thượng Đế bạo ngược Jehovah với chủ đích là để
phục vụ cho nhu cầu chính trị (có thể
cho là nhu cầu cấp thời vào lúc bấy giờ), 3- Tôn giáo chỉ đạo chính quyền (Chính quyền là
công cụ của tôn giáo) 4.- Người lãnh đạo tôn giáo (Do Thái Giáo) cũng là
nhà lãnh đạo chính quyền. 4.- Quy luật của tôn giáo cũng là luật pháp của
quốc gia 5.- Không có công lý và công bằng xã hội vì rằng
quy luật hay lời dạy trong tôn giáo thay thế
cho công lý, mà quy luật cua tôn giáo như Lụật Sợ Chúa và Luật
Cung Phụng Giáo Sĩ, Luật Quy Định Việc Cung Phụng Thiên Chúa, Luật Trị Người
(như đã trình bày ở phần trên), nặng tích cách bóc lột, biến tín đồ
và giai cấp bị trị thành một bầy
nô lệ cho giai cấp giáo sĩ.- (có vợ con như người dân thường), biến
giai cấp giáo sĩ thành một giai cấp thượng đẳng trong xã hội được
hưởng những đặc quyền về chính trị, xã hội, kinh tế và nắm độc
quyền thao túng chính quyền, nắm độc quyền thống trị đất nước. Như
vậy, đạo lý trong đạo Do Thái đã nhập nhằng đồng hóa giai cấp này với tôn giáo và quốc gia, giống
như Giáo Hội La Mã đã nhập nhằng đồng
hóa Giáo Hội và những ngưới "mang chức thánh" của Giáo Hội với
Chúa Cha Jehovah và Chúa Con Jesus, y hệt như thời quân chủ phong kiến, người
ta đã nhập nhằng đồng hóa nhà vua hay hoàng
đế với quốc gia hay tổ quốc. 6.- Kỳ thị và khinh rẻ nữ giới và biến họ thành một giai cấp nô lệ
cho nam giới. 7.- Vi phạm nhân quyền một cách hết sức là trắng
trợn. 8.- Không công nhận sự hiện diện của các tôn
giáo khác. 9.- Không công nhận quyền tự do tôn giáo của người
dân. 10.- Hủy diệt tình
thương lứa đôi, phá nát tình yêu thương giữa cha mẹ và con cái, giữa
con cái và cha mẹ, giữa anh em với nhau (Lụật Giết Vợ Con nói
trên là bằng chứng). 11.- Hủy diệt nền văn minh nhân loại. 12.- Giai cấp bị trị bị
bóc lột đến tận xương tận tủy. 13- Chấp nhận chế độ nô
lệ. Với những đặc tính trên
đây, ta có thể nói đây là một chế
độ đạo phiệt độc ác, tàn ngược, dã man và bóc lột nhân dân tối
đa. (Luật Cung Phụng Giáo Sĩ và Luật Quy Định Cung Phụng Thiên Chúa là bằng
chứng.) Tất cả những đặc tính bất công, cbuyên chế,
hà khắc nêu lên trên đây cùng với ông Thượng Đế Jehovah hung dữ, bạo
ngược, đọc ác, dã man và lòng tham lam, vơ vào và bóc hốt của giai cấp
giáo sĩ chứng tỏ rằng tất cả các xã hội bị cưỡng bách phải theo
các tôn giáo thờ phượng ông Jehovah này
chẳng có một chút gì là đạo lý và cũng chẳng có gì là nhân đạo cả. Lịch sử loài người đã từng
có nhiều nhóm người từ bỏ quê hương đất tổ, kéo nhau đến vùng đất
mới để mưu tìm cuộc đời tốt đẹp hơn. Nhóm dân nào cũng đặt ra luật
lệ theo kinh nghiệm sống và trình độ hiểu biết của mỗi nhóm để duy
trì an ninh, trật tự và quản lý nội bộ. Nhưng không có nhóm dân nào lại
bị áp đặt những tín lý và quy luật hết sức bạo ngược và vô cùng
dã man như nhóm dân Do Thái dưới quyền lãnh đạo của ông Moses. MẶC KHẢI LÀ MỘT CHUYỆN ĐẠI BỊP (SIÊU HOANG ĐƯỜNG) Về chuyện ông Moses được
Thượng Đế ra lệnh (mặc khải) phải
giải thoát đồng bào, dắt họ qua bờ bên kia Hồng Hải tới núi Sinai để
nhận "luật" của Thương Đế, ai cũng biết đây là chuyện bịa
đặt. Trong lịch sử, không phải chỉ có một mình ông Moses đã bịa đặt
ra một chuyện siêu hoang đường như vậy. Ở bên Trung Hoa Hoa, bà Võ Tắc
Thiên sau này cũng làm một chuyện bịa đặt tương tự như vậy. Việc làm
của Bà Võ Tắc Thiên được học giả Lâm Ngữ Đường ghi lại như sau: "Tháng tư năm
688, y (Võ Thừa Tự) dùng một phiến đá cổ đẽo thành một tấm bia lớn
có khắc tám chữ “Thánh Mẫu xuống trần, Trường thịnh nghiệp đế.” Sau đó y sai người liệng tấm bia xuống sông
Lạc. Một gã nhà quê tình cờ trông thấy tấm bia bèn vào triều tâu cho
Võ Hậu hay. Võ Hậu làm bộ ngạc nhiên và hoan hỉ. Bà phong cho gã làm
Khâm Sai Đại Thần và cho đổi quốc hiệu là Trường Thịnh. Tháng năm và
tháng sáu năm đó, Võ Hậu tổ chức những buổi lễ Thiên Địa tại khu
ngoại thành phía nam để tạ ơn trời đất. Bà đổi tên sông Lạc thành
sông Trường Thịnh, gọi tấm bia đá kia là Bia Thánh Linh và gọi khúc
sông tìm thấy tấm bia là Suối Thánh Linh. Dân chài lưới không được đánh
cá tại khu vực này. Ngoài ra, bà còn ra lệnh ân xá các tội phạm để
ăn mừng... Tất cả những hành động của Võ Hậu khiến người ta có cảm
tưởng rằng bà là một nạn nhân khờ khạo của trò bịp bợm do chính
bà bày ra. Tuy nhiên, bà không khờ khạo.
Bà biết rõ dân chúng thích thấy và tin tưởng những chuyện huyễn hoặc,
những phép mầu và những điềm lạ.” [8]
. Sau này, trong cuộc chiến (1418-1427) đánh đuổi quân
Minh ra khỏi đất nước, cụ Nguyễn Trãi cũng dùng phương cách này để
động viên nhân dân bằng cách lấy mật viết tám chữ “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần”
vào lá cây rừng, và để cho kiến ăn thủng lá, hiện ra những chữ trên
đây rồi đem những lá này thả trên thương nguồn các dòng nước cho trôi
về xuôi. Người dân trong vùng nhìn thấy những chiếc lá khác thường
như vậy, loan truyền từ người này
qua người nọ. Thế rồi, tiềng đồn
lan truyền ra nhiều nơi khác, và càng ngày càng có nhiều người tin rằng “Lê Lợi
vi quân, Nguyễn Trãi vi thần”, có nghĩa là cuộc kháng chiến của
nhân dân ta do ông Lê Lợi làm minh chủ và ông Nguyễn Trãi làm quân sư là
do Trời đã xếp đặt. Chuyện này
được sử gia Phạm Văn Sơn ghi lại như sau: “Vì cuộc bại trận
của nhà Hồ và nhà Hậu Trần, lòng
người còn hoang mang, Nguyễn Trãi phải lợi dụng lòng mê tín của nhân
dân như Trần Thắng của đời Tần (Trần Thắng viết ba chữ “Trần Thắng
Vương” vào mảnh lụa, giấu vào bụng cá. Quân sĩ mổ cá thấy cho là trời
đã định nên tin theo Thắng, nhưng sau Thắng cũng thất bại), ông cho
nhúng bút vào mật viết lên nhiều lá cây trong rừng tám chữ; “Lê Lợi
vi quân, Nguyễn Trãi vi thần”, sau đó kiến theo đường mật ăn thủng lá
thành hình tám chữ kể trên. Nhân dân cho là điềm thần dị, đồn đại
rất nhiều nên người ta theo mỗi ngày một đông.” [9] Cuối cùng, nhân dân ta đại thắng quân Minh và
giành lại quyền tự chủ cho nước nhà. Có thể là nhờ phương cách động
viên này mà cuộc kháng chiến chống quân Minh do ông Lê Lợi và ông Nguyễn Trãi lãnh đạo đã được
đại khối nhân dân ta lúc bấy giờ dốc lòng tin tưởng, nhiệt liệt ủng hộ và quyết tâm lên
đường vào chiến khu đi đòi lại
núi sông cho dân tộc. Nhờ vậy mà cuộc chiến có thể kéo dài cả gần mười
năm và cuối cùng quân Minh bị đánh bại và phải cuốn gói ra đi. Vì
thành tích này, trong thời gian từ tháng 7 năm 1954 cho đến tháng 4 năm
1975, tại miền Nam Việt Nam, cụ Nguyễn Trãi được tôn lên là thánh tổ
trong ngành tâm lý chiến. Dù sao, chúng ta cũng phải thành thực mà nói rằng
cái phương cách động viên nhân dân như vậy là một mưu kế chính trị
có tính cách đoản kỳ để khích động và lôi cuốn nhân dân hăng say lên
đường chiến đấu chống lại kẻ thù của dân tộc, chứ không phải phương
cách trường kỳ dùng để hướng dẫn và giáo dục người dân sống theo
đạo lý. Từ chuyện bịp
Trần Thắng Vương của Trần Thắng
qua chuyện bịp “Thánh Mẫu xuống trần, Trường thịnh nghiệp
đế” của bà Võ Tắc Thiên và chuyện
“Lê Lợi vi quân, Nguyễn
Trải vi thần” của cụ Nguyễn Trải trên đây, chúng ta có thể
suy ra rằng chuyện ông Moses được Thượng Đế "mặc khải" cho ông viết những
luật ở trên núi Sinai đều là chuyện láo khoét. Những gì được ghi khắc
trên hai tấm bia đá mà ông ta vác từ trên núi Sinai xuống chân núi là do
ông ta chủ mưu viết ra và khắc vào hai tấm đá đó, rồi nói láo là do Thượng Đế làm ra với chủ đích
động viên và làm cho đoàn người Do Thái này (có thể là chưa nhất trí và có một số người không dốc lòng phục
tùng ông) hăng say tin tưởng vào khả
năng lãnh đạo của ông trong công cuộc dẫn dắt họ vượt qua những khó
khăn gian khổ trên đường trở về đất tổ. Tất cả các ông Moses, Trần Thắng, bà Võ Tắc
Thiên và cụ Nguyễn Trãi đều mượn danh nghĩa Thượng Đế hay ông Trời
đặt ra một chuyện láo khoét nặng tính cách lừa bịp và mê hoặc lòng
dân để lôi cuốn họ lao vào con đường phục vụ cho một mưu đồ chính
trị trong một giai đoạn cấp thiết nhất thời. Trong những người này,
ông Moses và cụ Nguyễn Trãi thì thành công vì
đã biết sử dụng phương cách lừa bịp này để động viện
nhân dân hăng say tham gia vào đại sự quốc gia. Trái lại, ông Trần Thắng
và bà Võ Tắc Thiên lại bị thất bại thảm thương, làm trò cười cho
người đời và hậu thế vì không có chính nghĩa, vì chủ tâm sử dụng
thủ đoạn bịp bợm này vào một việc làm vị kỷ, nhằm phục vụ cho
quyền lợi cá nhân của họ, chứ không phải cho phúc lợi của toàn thể
cộng đồng dân tộc, cho nên không được nhân dân ủng hộ. Riêng về trường hợp của ông Moses, sau khi thành
công trong việc sử dụng mánh mung bịp bợm này để phục vụ mưu đồ chính
trị, rồi sau đó, chính ông Moses và những người lãnh đạo Do Thái Giáo cũng như các hệ phái phát sinh từ Do Thái
Giáo vẫn còn tiếp tục sử dụng và
khai triển những mánh mung này thành một hệ thống tín lý bằng những luật
lệ mang nặng tích cách võ đoán, tự tôn, chuyên chế, cưỡng bách, đượm
mầu sắc huyền bí thiêng liêng, nhưng lại nặng tính kỳ thị chủng tộc, kỳ thị tín ngưỡng, và dành những
đặc quyền đặc lợi cho giới giáo sĩ cùng giai cấp thống trị (tức là
bóc lột đại khối nhân dân bị trị). Đặc
biệt và ghê gớm hơn nữa, sau này, kể từ
năm 325, cái hệ thống tín lý bịp bợm
này lại được Giáo Hội La Mã liên tục khai
triển tối đa rồi tổng hợp với những
tín lý, giáo lý, giáo lụật, “lời của Chúa” và phép lạ. cùng những phép bí tích do chính
Giáo Hội bịa đặt ra, rồi hệ thống hóa thành nền tảng triết lý thần học cho cái gọi là "đạo cứu rỗi",
để cho Giáo Hội dùng làm chiêu bài tôn giáo, (giống như một bức bình phong) che đậy cho dã tâm lừa bịp và khai thác lòng mê tín dị
đoan của người đời hầu thủ lợi.
(Chuyện này sẽ được trình bày rõ
ràng hơn trongChương 3 ở sau). Như vậy là đến thời kỳ này, gíống như ông
Abrahma trước kia, ông Moses cũng lại ôm đồm
cả tôn giáo và chính quyền vào trong tay, lấy việc thờ phương
ông Thượng Đế bạo ngược Jehovah làm
phương tiện phục vụ cho nhu cầu chính trị cấp thới của ông. Cũng nên
biết, lúc đó, ông Moses vừa là giáo chủ của Do Thái Giáo vừa
là nhân vật lãnh đạo số 1 của đoàn người Do Thái quy hồi cố hương
với ý chí quyết tâm chiếm lại mảnh đất của tiền nhân đã chiếm
được trước kia làm cứ địa trường tồn cho dân tộc. Sự kiện này
cho chúng ta thấy rằng cả hai ông Abraham và ông Moses đều đưa ra chủ
trương tôn giáo nhập nhằng trộn lộn
với chính quyền như một cặp vợ chồng theo truyền thống “phu xứơng phụ tùy” mà tôn giáo
là ông chồng, và chính quyền
là bà vợ, rồi lập ra những khuôn mẫu đạo lý để rèn
luyện người dân Do Thái lấy Do Thái Giáo và quốc gia Do Thái làm lẽ sống.
Sự kiện này được ông Charlie Nguyễn ghi nhận như sau: "Lịch sử Do
Thái là lịch sử của Thánh Kinh Cựu Ước. Đối với Do Thái, quốc gia
và tôn giáo là một. Chết vì nước cũng là chết vì Chúa của đạo Do Thái.
Người Do Thái sống trong hiện tại với những chứng tích của lịch sử.
Tâm linh của người Do Thái trong hiện tại luôn luôn gắn bó với tâm linh
dân tộc trong lịch sử. Đó là lý do khiến người Do Thái đoàn kết và
kiên cường chiến đấu." [10]. Nói tóm lại, đạo Do Thái là một tổ chức đại
bịp để lường gạt người đời bằng một
ông là thượng đế với những quyền năng vô biên và ác tính siêu đẳng
để hù dọa người sử dụng chính quyền độc tài làm phương tỉện để cưỡng bách nhân
dân dưới quyền phải tuân phục vô điều kiện tất cả những gì do họ
(tổ chức) đặt ra. Nói một cách khác, Do Thái Giáo là một thứ đạo phiệt
(đứng trên chính quyền), sử dụng chính quyền như là một công cụ để
thi hành những mệnh lệnh của tôn giáo. Những mệnh lệnh này vừa là
giáo luật vừa là luật pháp và được coi như là những quy tắc đạo lý
mà tất cả mọi người dân đều bị cưỡng
bách phải tuân hành. Như vậy là nhân dân bị cưỡng bách phải phục vụ
cho cả tôn giáo lẫn chính quyền. Nói
riêng về tôn giáo, ta gọi đó là thứ tôn giáo
"cưỡng bách nhân dân phải
phục vụ cho tôn giáo” (mà thực sự là phục vụ cho giai cấp giáo sĩ
và bọn người tay sai của họ). Đây là một thứ tôn giáo vô cùng bạo
ngược, dựa trên một số tín điều láo khoét được bịa đặt ra để lừa
gạt người đời rồi dùng chính quyền chuyên chế (bạo lực) làm phương tiện cho bọn tu sĩ nô lệ hóa con người và bóc lột tín đồ
đến tận xương tận tuỷ. Luật Sợ Chúa và Luật Cung Phụng Giáo Sĩ là
bằng chứng. ĐẠO DO THÁI BỊ
PHÂN HÓA Quy luật thiên nhiên là “vạn vật biến đổi không ngừng”.
Vạn vật có thể lầ vật thể, có thể là sự vật và cũng có thể lả
sinh vật. Sự biến đổi của sự vật và sinh vật có thể xẩy ra vì bản
chất sinh tồn để thích nghi với môi sinh hay hoàn cảnh mới, nếu không tự
thay đổi thì sẽ bị hủy diệt. Các tổ chức chính trị, xã hội, kinh tế,
tôn giáo, v.v... cũng không thoát khỏi quy luât này. Sự biến đổi cũng có thể là do những mâu thuẫn nội tại
rồi sinh ra lủng củng, tranh chấp, thanh toán lẫn nhau rồi phân hóa thành
nhiều hệ phái. Từ ngàn xưa, muôn vật ở trong vũ trụ này đều vận hành
theo quy luật này. Đạo Do Thái cũng ở
trong trường hợp này. Thực tế, trong quá khứ, Do Thái Giáo đã một lần
biến đổi từ Do Thái Giáo Nguyên Thủy (thời ông Abraham) đến Do Thái
Giáo Mới (thời ông Moses) với một ông Thượng Đế hoàn toàn khác hẳn cả về danh xưng và bản
chất. Hơn nữa, ngoài những những Luật
Sợ Chúa, Luật Trị Người, Luật Định Cung Phụng Giáo Sĩ, Luật Quy Định
Việc Cung Phụng Thiên Chúa, lại còn có nhiều luật lệ chuyên chế khác
(cũng đều mang tính cách luật thánh) do
sự hứng chí của các nhà thần học hay các ông giáo sĩ và cũng là nhà cầm
quyền thêm vào để tăng cường mức độ bóc lột nhân dân và vơ vét cho
đầy túi tham. Sau này, hoàn cảnh xã hội thay đổi theo thời gian thì tất
nhiên những giáo luật và “lời Chúa” cũng phải được thay đổi để
thích nghi với hoàn cảnh mới. Thế nhưng, kẹt
một nỗi là khi ban hành những luật lệ chuyên chế (tự nó đã mang nặng
tính cách bất chính, bất nhân và bất nghĩa), các ông giáo sĩ hay các nhà
cầm quyền đều nói láo rằng họ đã được các đấng thánh linh "mặc khải" và gọi những luật
đó là những "Thánh Luật"
hay "Lời Chúa". Đã là
"Thánh Luật" hay "Lời Chúa" thì làm sao có thể thay đổi được? Hơn nữa, có thay đổi hay không là do thiện
chí của các ông giáo sĩ và những người có quyền lực. Khốn nỗi, những
tín điều, giáo luật và “Lời Chúa” trên đây đã dành cho giới tu sĩ
và giai cấp thống trị quá nhiều đặc quyền, đặc lợi thì làm sao họ có thể thay đổi được!
Chẳng lẽ thay đổi để cho họ chịu thiệt thòi hay sao? Một khi mà những tín lý, giáo luật, thánh luật
và “Lời Chúa” không thể thay đổi được trong khi tín đồ vẫn phải
sống trong cảnh bất công và vẫn bị giai cấp
giáo sĩ bóc lột đến tận
xương tận tủy thì tất nhiên họ phải có cái nhìn hoài nghi, nếu không
muốn nói là bất tín và khinh bỉ cái hệ thống tín lý, giáo luật, thánh
luật và “Lời Chúa” của Giáo Hội.
Từ chỗ có cái nhìn hoài nghi hay khinh bỉ và bất tín, mẫu thuẫn nội tại
bắt đầu nẩy sinh. Có mâu thuẫn nội tại mà không tương nhượng lẫn
nhau để “dĩ hoà vi qúy” thì tất
nhiên là đi đến chỗ phân hóa. Người viết cũng không biết đích xác đạo
Do Thái Giáo Mới này bị phân hóa từ bao giờ. Theo ông Charlie Nguyễn thì
tôn giáo này đã phân hóa ra thành ba hệ phái
vào những năm đầu thế kỷ thứ 2 trước công nguyên. Ba hệ phái này
là: 1.- Giáo phái Pharisees.- Giáo phái này có lập trường
chính trị ôn hòa. Khi Đế Quốc La Mã đem quân đến tấn chiếm và thống
trị đất nước Do Thái thì giới lãnh đạo của giáo phái này hợp tác với
tân trào, rồi trở nên thành phần tin cẩn của chính quyền đương thời.
Nhờ vậy mà họ trở thành giai cấp thương lưu hay trí thức trong xã hội
Do Thái lúc bấy giờ. Cũng vì thế mà nhân dân Do Thái mới lên án giáo
phái này là những “quân đạo đức giả”. Không biết họ sử dung cụm từ “đạo đức giả” có phải là để tránh
né khỏi phải sử dụng cụm từ “Do Thái gian” hay không. Có điều chắc
chắn là nhân dân (đúng hơn là dân tộc) Do Thái rất khinh ghét và ghê tởm
bọn người này giống như loài chó ghẻ. Cũng vì thế mà ngay nay, những
người còn chịu ảnh hưởng của Do Thái Giáo như tí đồ Da-tô người Việt
vẫn thường dùng từ “Pharisees” để ám chỉ
một người nào mà họ tỏ lòng khinh bỉ đối với người đó.
Lúc đầu gia đình ông thợ mộc Joseph và Bà Maria thuộc hệ phái này. 2.- Giáo phái
Sadducess.- Giáo phái này không những cuồng tín và bảo thủ mà lại
còn thuộc loại siêu máy móc, máy móc
đến độ chỉ biết tin tưởng và tôn trọng những luật lệ thành văn,
chứ không tôn trọng tục lệ bất thành văn. Giáo Phái này có tinh thần
ái quốc rất cao cho nên họ chủ trương phải đánh đuổi quân thù xâm lược
La Mã để giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc Do Thái. 3.- Giáo phái
Essenes.- Giáo phái này có tinh thần xã hội đứng về phía dân
nghèo và có chủ trương cộng đồng tài sản gần giống như cộng sản. Vì
có tinh thần xã hội cho nên giáo phái này coi việc cải tiến dân sinh quan
trọng hơn cả việc tranh đấu cho nền độc lập của dân tộc, và kịch
liệt lên án hai hệ phái kia. Ông Jean Baptist theo hệ phái này. Thuở còn nhỏ,
Ông Jesus theo phái Pharisees, nhưng khi ngoài 25 tuổi, ông đi theo ông Jean
Baptist và đổi sang hệ phái này. Đạo Kitô Nguyên Thủy theo chủ trương của
giáo phái này. Quý vị sẽ thấy rõ hơn
trong mục nói về đề tài này ở phần sau. SỰ HÌNH THÀNH
ĐẠO KI TÔ DO THÁI Khi ông Jesus chào đời, nước Do Thái hoàn toàn nằm
dưới ách thống trị của Đế Quốc La Mã và đạo Do Thái đã phân hóa
thành 3 hệ phái khác nhau. Dù là phân hóa, những căn bản tín lý, luật
pháp cai trị nhân dân, địa vi thượng đẳng của giai cấp giáo sĩ vẫn
không có gì thay đổi. Chỉ khác có một điều là chính quyền nằm ở
trong tay Đế Quốc La Mã. Tình trạng này khiến cho giai cấp giáo sĩ của hệ
phái nào thỏa hiệp với chính quyền Đế Quốc La Mã thi chiếm được ưu
thế và được hưởng nhiêu đặc quyền đặc lợi. Hệ phái Pharasee đã
lanh chân thỏa hiệp chính quyền Đế Quốc La Mã, cho nên giai cấp giáo sĩ
của hệ phái này có thế giá và được ở vào địa vị ăn trên ngồi trước
trong xã hội Do Thái vào thời kỳ này. Thân thế và gia đình
ông Jesus.- Ông Jesus sinh ra và lớn lên ở làng Nazaret trong vùng Galilee
vào thời Đế Quốc La Mã thống trị cả vùng ven biển Địa Trung Hải,
trong đó có nước Do Thái, tổ quốc
thân thương của ông. Thân phụ của ông tên là
Joseph làm nghề thợ mộc và thân mẫu tên là bà Maria. (Người viết không biết ông
Joseph là cha ruột hay cha ghẻ của ông Jesus.) Ngoài ra, ông còn có một đàn em 7 người
(có thể là cùng mẹ khác cha). Sự kiện này được sách sử ghi lại như
sau: “Bốn người anh
em và nhiều chị em gái của ông Jesus đều được nói đến ở trong kinh sách
của ông Mark 6. (Không có căn bản nào trong bản văn này nói rằng những người anh chị em này
là những người cùng cha khác mẹ hay là anh em con chú con bác đối với
ông Jesus, và làm như vậy là phản lại động cơ giáo điều chủ nghĩa.)
Tất các danh tính bà con của ông Jesus chứng tỏ rõ ràng cái tính chất
thuần túy Do Thái của gia đình ông ta”. ["Four of Jesus' brothers and
several sisters are mentioned in Mark 6. (There is no basis in the text for making them
into half brothers and half sisters or cousins, and to do so betrays a dogmatic motive.)
All his relatives' names testify the purely Jewish character of the family: his mother's
name was Mary (miriam), his father's, Joseph, and his brothers', James (Jacob), Judas, and
Simon names of Old Testament patriarchs". [11] Lớn lên, chính ông Jesus cũng tiếp cha làm nghề thợ
mộc. Bất hạnh cho ông và cho cả nước Do Thái của ông, ngay từ lúc
chào đời, nước Do Thái đã nằm dưới ách thống trị của quân xâm lăng
La Mã với sự tiếp tay của bọn Do Thái gian Pharisee, bọn người chỉ biết
“phô trương cái đạo đức vỏ để che
đậy cuộc sống phóng đãng bỉ ổi"[12].
Chính gia đình ông Jesus cũng thuộc giáo phái Pharasee. Nhưng lớn lên, vào
khoảng 30 tuổi, ông lại theo ông Jean
Baptists thuộc giáo phái Essenes, rồi
theo giáo phái này và quay ra chỉ trích và lên án kịch liệt hệ phái
Pharisee. Ông đi lang thang nhiều nơi trong nước Do Thái để giảng đạo Do
Thái. Trong lúc hăng say giảng đạo, ông lộng ngôn tự xưng là Chúa Cứu
Thế, lại thường hay công kích và lên án bọn tu sĩ thuộc hệ phái
Pharisee về những hành động bất chính
của chúng. (Pharisee là một trong ba hệ
phái Do Thái Giáo và thuộc phe thân
chính quyền Đế Quốc La Mã đang cai trị nước Do Thái lúc bấy giờ). Nhân dân Do Thái lúc
đó đang sôi sục căm thù Đế Quốc
La Mã và bọn Pharisee, cho nên khi thấy
ông chỉ trích bọn Pharisee thì bái phục, tin ông là Chúa Cứu Thế thật sự,
và mong muốn ông trở thành người lãnh đạo phong trào cách mạng để đánh
đuổi quân xâm lăng La Mã. Tiếc rằng ông không phải là nhà chính trị,
và cũng không phải là nhà cách mạng, cho nên ông đã không đáp ứng được
lòng mong muốn của họ. Đã không đáp ứng được khát vọng của họ,
ông lại còn huyên thuyên nói chuyện trên trời dưới đất, toàn những
chuyện viển vông, không có liên hệ
gì đến đại cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Cung cách ăn nói và việc
làm của ông khiến cho họ thất vọng và nhìn ông như một thứ chướng
ngại vật cần phải bứng đi cho rảnh.
Sự kiện này được sách Living World History ghi lại như sau: "Nhiều người
Do Thái cũng tin rằng ông Jesus là Đáng Cứu Thế mà họ đã mong đợi từ
lâu. Họ thúc gịuc ông đứng ra lãnh đạo lực lượng vũ trang giải phóng
nhân dân Do Thái thoát khỏi ách thống trị của người Lã Mã, nhưng ông
Jesus lại không quan tâm đến việc này. Ông tìm cách giải thoát con người
về phương diện đạo đức và tinh thần. Trong cơn giận dữ và thất vọng,
họ quay ra chống ông và lên án ông rồi bắt ông nộp cho các viên chức
chính quyền La Mã để hành hình ông.
Vị thống đốc La Mã là Pntius Pilate ra lệnh
đóng đinh ông trên một
chiếc thập tự giá." ("Many Jews believed, as Jesus Himself did, that he was the long-awaited Messiah, or
Christ. They urged Him to help them win their freedom from Bản chất tự nhiên của con người có văn hóa là
thù ghét quân cướp ngoại xâm và những người đồng bang làm tay sai cho
quân cướp ngoại thù. Ngược lại, chính quyền đế quốc ngoại xâm và bọn
người bản xứ muối mặt bán rẻ
quê hương cho quân cướp ngoại thù cũng chẳng ưa gì những thành phần
có nhiệt tâm yêu nước, quyết tâm chống lại
quân xâm lược. Ông Jesus ở vào trường hợp này. Và ông đã
bị bọn Do Thái gian Pharisiens toa rập cùng với chính quyền Do Thái bù
nhìn dưới quyền viên Thống Đốc La Mã là Pontius Pilate coi như kẻ tử thù
(giống hệt như các ông truyền giáo đạo Thiên Chúa La Mã cùng đám việt
gian Ngô Đình Khả, Trần Lục, Nguyễn Hữu Bài, Lế Phát Đạt (Huyện
Sĩ), Cao Xuân Dục, Trần Lục, Trần Ba Lộc, v.v...
cấu kết với chính quyền Bảo Hộ Thập Ác Đạo Ki-tô Do Thái
ra đời.- Cái chết thảm thương của
ông Jesus làm cho nhiều người mến mộ tiếc thương. Họ tôn phong ông là
Chúa Ki Tô (Christ hay Christo). Có môt điểm chắc chắn là cả bốn ông
Luke, Matthew, John và Mark đều không phải là tông đồ (môn sinh trực tiếp)
của ông Jesus. Chắc chắn là cả bốn ông đều được người ta kể lại
rồi theo đó mà ghi lại. Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình. Ở vào cái thuở
mà tin tức chỉ được loan truyền bằng miêng, lại được thêm mắm thêm
muối cho câu chuyên được đậm đà
thì làm sao có thể bảo đảm được
tính cách trung thực của các sự kiện trong câu chuyện. Hơn nữa, trong lúc
viết những chuyện được kể lại, các
ngài còn cường điệu, vẽ rắn thêm chân, bịa đặt ra nhiều phép lạ
làm cho câu chuyện thêm phần hào hứng. Tình trạng này cũng giống như những
văn nô Gia-tô người Việt thuờng víêt báo, viết sách nhằm để bốc
thơm cá nhân ông Ngô Đình Diệm và chế độ
của ông ta, cũng như nhằm để bốc thơm và chạy tội cho
Giáo Hội La Mã mà chúng ta đã từng thấy trong
cộng đồng người Việt hải ngoại. Những bản văn của các ông Luke, Matthew, John và
Mark sau này được Giáo Hội La Mã ra lệnh
sửa lại và thêm thắt cho thích hợp với chính sách khai thác những chuyện
hoang đường đã có sẵn, đặt thêm những chuyện hoang đường khác, đặt
thêm những tín lý mới và những phép lạ để lừa bịp người đời mà
Giáo Hội đã chủ trương. Bốn bản văn này gom lại cùng với những lá
thư của ông Paul (giao dịch với nhóm tín đồ khởi thủy) được gọi là
Tân Ước. Cuốn Thánh Kinh có sẵn của Do Thái giáo gọi là Cựu Ước
Kinh. Ngoài bốn ông Luke, Matthew, John và Mark, còn có một
vài tông đồ khác, đặc biệt nhất là ông Paul. Ông Paul vốn là một người
Do Thái sinh trưởng trong vùng Tiểu Á. Thuở thiếu thời, ông Paul cho rằng
những lời thuyết giảng về Ki Tô giáo mâu thuẫn với Do Thái giáo và
chính ông đã từng tham dự vào việc đàn áp những người Ki Tô giáo.
Chuyện rằng, một hôm, ông ta đang trên đường đi tìm bắt tín đồ Kitô
giáo, ông nhìn thấy hình ảnh ông Jesus. Kẻ từ đó, ông trở thành một
tín đồ thờ ông Jesus. Cũng từ đó cho đến khi ông qua đời vào năm 67,
ông đi chu du qua nhiều đô thị quanh vùng phía đông Biển Địa Trung Hải
để truyền bá cái thuyết thờ Thượng Đế theo quan niệm của đạo Do Thái
và cái quan niệm cho rằng ông Jesus là Chúa Cứu Thế của ông để cứu loài người khỏi cái
"tội tổ tông" ba vạ do ông
Chúa Cha Jehovah giáng cho loài người. Cái chủ thuyết tôn vinh ông Jesus lên
bậc Chúa và tin tưởng vào lời dạy hão huyền về ngày "Chúa sẽ trở lại trần gian để phán xét"
của ông Jesus được gọi là đạo Ki Tô hay đạo Thiên Chúa. (Chữ
Christianity do chữ Christ vì người ta tôn ông Jesus là Christ tức là Chúa Cứu Thế.)
Kể từ đó người ta gọi ông Jesus là Chúa Kitô. AI ĐÃ SÁNG LẬP RA ĐẠO KI-TÔ DO THÁI Như vậy là từ lúc bị bắt cho tới khi bị đóng vào thập giá rồi bị phơi thây ở Núi Sọ,
ông Jesus không hề hay biết rằng sau này lại có người tôn ông lên làm
Chúa Cứu Thế. Hồi đó, dân Do Thái đang căm thù quân xâm lăng La Mã và bọn Do Thái gian, (nhất là bọn
tu sĩ lãnh đạo giáo phái Pharisiens đang ẩn bóng dưới cái dù của quân
đế quốc xâm lăng La Mã để được vinh thân phì da), cho nên có nhiều người
quay ra theo đạo Ki Tô, coi như là một cách để tỏ lòng chống lại quân
cướp xâm lược La Mã và cũng là một lối thoát để xoa dịu lòng uất hận
của họ đối với những bọn lưu manh buôn thần bán thánh đội lốt thày
tu. Phần lớn những người Do Thái tiên phong theo đạo Ki Tô là những người
có liên hệ máu mủ với Chúa Jesus, đặc biệt nhất là những người bà
con về phía bà Maria và những người bà con của các tông đồ đi rao giảng.
(Vì tôn giáo này phát xuất từ nước Do Thái và
lúc đó chỉ có những người Do Thái theo tôn giáo này, cho nên các nhà viết
sử mới gọi tôn giáo này là “đạo Ki Tô Do Thái” (Jewish Christianity)
để phân biệt với "đạo Kitô La Mã" (the Roman
Christianity or The Roman Catholicism) và
các đạo Thiên Chúa khác như “Chính Thống
Giáo' (Christian Orthodox), Tin Lành (Protestantism) và Anh Giáo (Anglicanism). Khi còn sống, ông Jesus thường xưng với các môn đệ
là “Ta” và các môn đệ thường thưa với ông là “Thày”. Suốt trong mấy năm đi rao giảng "đao Do Thái",
ông không hề nói một lời nào ngụ ý
khởi lập
một tôn giáo nào cả. Sau khi bị chính quyền Đế Quốc La Mã
kết án tử hình và bị đóng đinh trên
thập tự giá cả hơn nửa thế kỷ,
ông mới được các môn đệ tôn lên làm Chúa và gọi là Christ. Rồi sau
đó mới nẩy sinh ra cái tôn giáo gọi là Kitô Giáo (Christianity) để tôn
vinh ông. Do đó, ta có thể kết luận rằng người sáng lập ra Ki Tô Giáo
hay Cơ Đốc Giáo (Thiên Chúa Giáo) là các tông đồ của ông Jesus trong đó
có ông Peter, chứ không phải ông Jesus. Điều này cũng được ông Trúc Anh
ghi lại trong bài viết “Jesus Christ: Sự Thật Mà Bạn Đã Biết Chăng?”
đăng trong Văn Nghệ Tiền Phong Số 411 (tháng 3 năm 1993), nguyên văn như
sau: “Hãy lục lọi xới
xốc toàn bộ quyển Thánh Kinh lên, các bạn cũng chẳng tìm được nơi nào
Jesus tự xưng mình là Đấng Tối Cao của vũ trụ cả. Ngược lại, ngài
đã khẳng định trước mặt dân Do Thái rằng ngài không phải Thượng Đế,
mà là “Con Của Thượng Đế” (Giăng 10:37). Nhiều người Việt đọc
Kinh Thánh vẫn thường lầm lẫn giữa hai chữ Chúa Trời (Dieu, God) và chữ
Chúa (Lord, Seigneur) nên càng tưởng Jesus là Chúa Trời.” [14] Như vậy, rõ ràng là ông Jesus không hề có ý định
lập đạo Kitô. Những người sáng lập ra đạo Kitô là những đệ tử
hay những người tự nhận là đệ tử của ông ta. Một trong những người
này là ông Peter. NHẬN XÉT VÊ VIỆC LẬP ĐẠO KI-TÔ DO THÁI Chúng ta biết rằng, ở vào thời đại cách đây hơn
cả 2000 năm, trình độ dân trí của người thời bấy giờ còn thấp kém,
lại nặng đầu óc mê tín và tin rằng bất cứ ỏ nơi nào ở trên thế
gian này cũng có thần thánh hay hồn ma bóng quỷ ngự trị. Tình trạng này
khiến cho người ta càng tin vào những điều nhảm nhí. Đối với những
người ngu dốt đã nhắm mắt tin vào những chuyện nhảm nhí và láo khoét
ở trong Cựu Ước Kinh thì mức độ tin nhảm nhí của họ càng sâu nặng
hơn nữa. Một khi đã có nhiều người tin tưởng sâu nặng vào những điều
nhảm nhí thì tất nhiên lại có những bọn người lợi dụng và khai thác lòng tin nhảm nhí này hầu thủ lợi
hay lập đạo thờ cúng những chuyện nhảm nhí để mượn danh đạo tạo
danh đời. Ông Peter và đồng bọn của ông ta đã lợi dụng chuyện nhảm
nhí này mà sáng lập ra đạo Kitô.
Bài viết về những huyền thoại bao quanh ông Jesus của Giáo-sư Trần Chung
Ngọc được ghi lại dưới đây cho chúng ta thấy rõ sự kiện này và cái
nền tảng tín lý của đạo Kitô: “Lý lịch mù mờ của
Jesus, do đó, là một lợi điểm để Giáo Hội khai thác và mê hoặc những
tín đồ đầu óc thấp kém, vì Giáo Hội muốn giải thích thế nào cũng
được, bịa ra chuyện nào cũng xong, và với phương pháp nhồi sọ tín đồ
ngay từ trong sữa mẹ, uốn nắn đầu óc để cho tín đồ tuân phục hệ
thống quyền lực trong Giáo Hội, tín đồ chỉ có việc tin theo, khỏi cần
thắc mắc hay bàn cãi. Từ đó, tín đồ
với những đầu óc thấp kém này bị nhồi vào đầu những huyền thoại
về tội tổ tông, về tư cách thần thánh của Jesus, về khả năng “cứu
rỗi” của Jesus, do đó tin rằng con người sinh ra là có tội, cần sự
“chuộc tội” và “cứu rỗi” của Jesus, và tin vào những lời hứa hẹn
hão huyền về một đời sau. Hão huyền vì từ xưa cho tới nay chưa có ai
từ thế giới bên kia trở về để cho thế gian biết về thực chất của
sự “cứu rỗi” đó như thế nào, vì sự “cứu rỗi” này chỉ xẩy
ra, nếu có, sau khi chết. Jesus là một
người Do Thái đã chết như mọi người, nhưng được vài tín đồ sùng
bái, đơn phương khẳng định ông là con một của Thần Kitô, đã sống lại
và bay lên trời, rồi lại trở lại trần gian để phán xét mọi người,
sống cũng như chết, và những ai tin vào ông sẽ được ông “cứu rỗi”,
cho lên Thiên Đường ở cùng với ông, v.v..., một huyền thoại được kể
lại với nhiều chi tiết mâu thuẫn khác nhau bởi những người viết Tân
Ước, và lẽ dĩ nhiên chưa ai có thể kiểm chứng được sự “cứu rỗi”
này suốt trong hai ngàn năm lịch sử của Kitô Giáo. Trái lại, ngày nay
các chuyên gia nghiên cứu tôn giáo và cổ sử trong và ngoài Giáo Hội đã
bác bỏ hoàn toàn những huyền thoại về Jesus kể trên, như sẽ được trình
bày trong những phần phân tích sau đây. Niềm tin vào một
sự “cứu rỗi” của Jesus vô hại vì nó đáp ứng được một sự khao
khát tinh thần nào đó của con người, khi con người phải đối diện với
những khó khăn, nghịch cảnh, bất trắc, và tính vô thường của mọi vật
ở trên đời này, nên mơ tưởng đến một đời sau tốt đẹp hơn. Nếu
những tín đồ này cứ an vui với niềm tin của mình và để yên cho người
khác an vui với niềm tin riêng của họ thì thế giới nay đã tốt đẹp biết
bao! Bất hạnh thay, như Tiến-sĩ Madalyn O’hair đã viết trong cuốn “Tất
Cả Những Câu Hỏi Mà Các Bạn Muốn Hỏi Những Người Mỹ Vô Thần” (All The Questions You Ever Wanted To
Ask American Atheists, Back cover): “Cái tiền đề
căn bản của kitô giáo là sự bất khoan nhượng. Tín đồ Kitô không thể
chỉ theo tín ngưỡng của mình và để cho mọi người khác theo tín ngưỡng
của họ. Jesus Kitô đòi hỏi rằng các tín đồ Kitô phải đi cải đạo
người khác (nghĩa là muốn cho mọi người đều phải tin vào Jesus và điều
này đã gây nên nhiều sự đau khổ cho nhân loại hơn bất cứ tôn giáo
nào khác. Những vị thần của các tôn giáo đa thần sống hòa bình với
nhau. Nhưng khi Kitô Giáo xuất hiện với tính chất riêng biệt độc nhất
của nó, dựa trên điều răn thứ nhất của 10 Điếu Răn, “Người không
được thờ Thần nào khác”, thì sự giết chóc bắt đầu. (The basic permise
of the Christianity is intolerance. The Christian cannot just have his belief and permit
everyone else to have theirs. Jesus Christ demanded that the Christian convert and this
has caused more grief to mankind than any other religion. The old pegan gods lived side by
side. But when Christianity came with its exclusivism, based on the first of the Ten
Commandments, “Thou shalt have no other God before me,” the killing began. Ngày nay, các học
giả nghiên cứu Thánh Kinh, ở trong cũng như ở ngoài Kitô Giáo, đều đồng
ý là cái câu đòi hỏi tín đổ đi cải đạo người khác trên toàn thế
giới, cũng như nhiều câu về những vấn đề khác, mà người ta cho là
Jesus nói, thực ra chỉ là sự ngụy tạo thêm thắt và Thánh Kinh của Giáo
Hội Gia-tô với mưu đồ Gia-tô hóa toàn cầu, mê hoặc đám dân thấp
kém, nhằm mục đích tạo nên quyền lực vật chất và tinh thần cho hàng
giáo phẩm Gia-tô gồm từ Giáo Hoàng trở xuống đến hàng linh mục. Đúng là một sự ngụy tạo, vì Thánh Kinh
đã viết rõ: Jesus tin rằng chính mình là đấng cứu thế của dân Do
Thái, ngày tận thế sắp tới (Mathew 10:23. 16:28, 24:34; Mark 9:1, 13:30; Luke
21:30; Rom 13:11) và Jesus sẽ trở lại thế gian (second coming) một ngày gần
đây. Bao giờ trở lại?
Chúng ta có thể trích dẫn 2 đoạn khác trong Thánh Kinh: Mathew 16:17-18:
“Ta sẽ trở lại với các thiên sứ trong vinh quang của cha ta để thưởng
phạt mỗi người tùy theo việc họ làm. Ta bảo đảm với các ngươi, vài
người đang đứng đây sẽ vẫn còn sống cho đến khi thấy ta đi vào
trong vương quốc của ta.” [For the Son of Man will come in glory of his Father
with his angels, and the he will reward each according to his work. Assuredly, I say to
you, there are some standing here who shall not taste death till they see the Son of Man
coming in his kingdom.) Mark 9:1: Và Chúa
nói với các môn đệ: “Ta bảo đảm với các ngươi là vài người đang
đứng nơi đây sẽ vẫn còn sống cho tới khi thấy vương quốc của Thượng
Đế đầy uy quyền.” (And He said to them, “Assuredly, I sayto you that there are
some standing here will not taste death till they see the Jesus hứa hẹn sẽ trở lại thế gian để phán xét con người, nghĩa là cho ai lên Thiên Đường thì cho, bắt ai xuống hỏa ngục thì bắt, ngay trong thời mà một số người đồng thời với lúc ông còn sống, nhưng lời hứa này đã trở thành lời hứa suông, và trong 2000 năm qua, tín đồ Gia-tô cứ dài cổ ra ngóng ngày phán xét để lên Thiên Đường cùng Chúa. Nhưng Thiên Đường của Chúa, hay nước Trời lại cũng chỉ là điều Giáo Hội bịa đặt ra để dụ dỗ đám tín đồ thấp kém, nhẹ dạ, cả tin. Vì những tiến bộ trí thức của nhân loại, Giáo Hoàng John Paul II không còn cách nào khác là phải tuyên bố cùng giáo dân khi đi hành hương ở Rô Ma, ngày 21/7/1999, là chẳng có Thiên Đường nào ở trên trời, tất cả là ở trong tâm con người và ngay trong đời này, chứ chẳng phải ở đời sau. Rồi, một tuần lễ sau, ngày 28/7/1999, Ngài lại tuyên bố là chẳng có Hỏa Ngục nào ở dưới lòng đất, tất cả cũng chỉ do tâm con người trong đời sống hiện tại. Vậy, chuyện Chúa sống lại và xác bay lên Thiên Đường ngồi bên phải Chúa Cha, và khả năng “cứu rỗi” của Jesus cũng như chuyện đầy đọa những ngưởi không tin theo Jesus xuống Hỏa Ngục rốt cuôc cũng chỉ là những chuyện hoang đường, bịa đặt như Giáo Hoàng (John Paul II) đ |