805-gdiem.gif (5390 bytes)

posted: 13.8.2005

Nguyễn Mạnh Quang

SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO DO THÁI
VÀ ĐẠO KI-TÔ DO THÁI

Người viết gọi đạo Do Thái là chế độ đạo phiệt Do Thái vì tôn giáo này ôm đồm cả quyền lực chính trị rồi đem những tín lý hoang đường, phi nhân bản, phản khoa học cùng những giáo luật hà khắc, nặng tính cách vơ vào và bóc lột biến thành luật pháp quốc gia cưỡng bách người dân phải tuân hành. Cũng vì thế mà ngay từ lúc mới hình thành, Do Thái Giáo (Judaism) cũng là quốc giáo của dân tộc Do Thái. Tôn giáo này ra đời sớm nhất và chia là hai thời kỳ. Thời kỳ thứ nhất (Pre-Mosaic Judaism) hình thành vào khoảng năm 2000 TCN kéo đến khoảng năm 1266 TCN thì biến thể thành đạo Do Thái mới gọi là Mosaic Judaism. Sau này đạo Do Thái mới này lại phân hóa thành nhiều hệ phái khác nhau (sẽ được trình bày ở phần sau).

ĐẠO DO THÁI THỜI NGUYÊN THỦY
(PRE-MOSAIC JUDAISM)

Vào khoảng năm 2000 trước công nguyên, ông Abraham dẫn một nhóm người đồng hương di cư từ thành Our thuộc xứ Chaldée (ngày nay là nước Irak) ở phía đông sông Euphrate   đến định cư tại vùng đất Canaan nằm ở phía tây sông Euphrate và đặt ra một số quy luật để quản lý đòan người tha phương cầu thực này. Sách Công Giáo - Huyền Thoại và Tội  Ác ghi lại  sự kiện này như sau:

“Năm 2000 trước Công Nguyên, Abraham được tôn lên làm vị lãnh đạo các tộc trưởng Do Thái trong đế quốc Babylon. Abraham dẫn dắt dân Do Thái rời khỏi đế quốc Babylon (the leader of all patriarchs of Jews).  Abraham dẫn dân Do Thái rời khỏi đế quốc Babylon về miền Đất Hứa là vùng Canaan, hiện nay được gọi là West Bank (tả ngạn phía Tây sông Jordan).  Tại đây,  Abrahma kết hợp với các bộ lạc Do Thái khác với ý định thành lập một quốc gia cho các nhóm dân tộc Do Thái. Ông có nhiều vợ – dân tộc Do Thái rất tự hào xưng là con cháu của Abraham (the children of Abraham), nhưng thuộc dòng Sarah, con trai của Abraham và bà vợ cả của Abraham là Sarah. Các dân tộc Hồi, Ả Rập cũng tự xưng là con cháu của Abraham, nhưng thuộc dòng Ismael, con trai của Abraham và một bà vợ bé tên là Hagar”. [1]

 Cũng nên biết rằng, vào thời kỳ này, nhân loại đã bước vào Thời Kỳ Đồng Thau [Bronze Age] (3150-1200), tương đương với Nhà Hạ (2205-1766 TCN) ở bên Trung Hoa. Về niềm tin tôn giáo của người Do Thái trong thời kỳ này là một mớ tạp nham các truyền thuyết của các dân tộc sống trong vùng Lưỡng Hà Châu (Mesopotamia), một vùng đồng bằng nằm trong lưu vực của hai con sông Tigris và Euphrates. Vị thần linh được họ tôn thờ là Thượng Đế và cũng gọi là Thiên Chúa Elohim có hình tượng là một con bò đực. Trong ngôn ngữ Do Thái, từ “El” được gọi là “Elim” (con bò) và “Elohim” là dạng số nhiều của “Elim”. Người Do Thái sử dụng dạng số nhiều “Elohim” là có ý muốn nói vị thần Elohim (những con bò vàng) này là thần của tất cả mọi người. Ông Charlie Nguyễn giải thích ý nghĩa này như sau:

“Tiếng Semitic (Do Thái) gọi El là Elim. Elim là danh từ số ít, Elohim là danh từ số nhiều, nhưng lại có nghĩa là MỘT (Elohim is one) vì Elohim bao hàm ý nghĩa thần El là vị thần của tất cả mọi sự (The All-God). Thần El là Toàn Thể (The one who is All) gần tương tự như Toàn Năng (The Almighty – The Absolute Power). Thần El là vị thần chân thực của các thần (The one true God of gods) là vị thần được mọi người gọi bằng nhiều tên khác nhau nhưng sự thực chỉ là một (many names of the one true God). Thần El là tổng thể của mọi sự thiêng liêng (The totality of the Divine).” [2]

      Theo các nhà sử học, vị thần linh này  vốn là quan niệm về ông Trời của người dân trong Đế Quốc Babylon trước đó. Ông Charlie Nguyễn viết:

“Căn cứ  vào các cổ vật và các sử liệu khách quan, các nhà nghiên cứu đã xác định Babylon mới thực sự là nơi xuất phát đầu tiên của các đạo Thiên Chúa. Trước đó, mọi người đã lầm tưởng Jerusalem, thủ đô Do Thái, là thánh địa của các đạo này. Người Babylon quan niệm cuộc sống trên thế gian chỉ là tạm bợ. Cuộc sống đời sau ở thiên đàng mới đích thực là hạnh phúc vĩnh cửu. Họ tin rằng thế gian  này sẽ bị tiêu hủy trong một lúc nào đó gọi là ngày tận thế. Sau ngày tận thế,  nước trời sẽ được thiết lập ở thế gian. Hai ý niệm  về thiên đàng và ngày tận thế luôn luôn quyện với nhau. Đó là những ý niệm xuyên suốt từ Babylon (Gate of God) qua Jerusalem (đạo Do Thái) và Vatican ngày nay (đạo Kitô La Mã).

Những tư tưởng đầu tiên của Abraham chưa hẳn là đã xác định có một Thiên Chúa Duy Nhất (The Only One God) mà ông chỉ có ý định chọn một vị thần mạnh nhất trong các vị thần của dân Sumerians để tôn thờ mà thôi. Vị thần mà Abraham chọn là thần El, một con bò đực mạ vàng. Hiện nay, tại bảo tàng viện Baghdah có trưng bày tượng bò đực mạ vàng của dân Sumerians thuộc thời đại đế quốc Babylon (3000 TCN)”. [3] .

Chế độ đạo phiệt Do Thái trong thời kỳ này còn ở trong một mức độ nhẹ nhàng không chuyên đóan, không có giai cấp giáo sĩ  và cũng không nặng tính bóc lột tín đồ. Các nhà viết sử gọi thời kỳ này là đạo Do Thái Nguyên Thủy (Pre-Mosaic Judaism). Đạo Do Thái Nguyên Thủy kéo dài được khoảng 750, (tức là vào khoảng từ năm 2000 TCN đến khoảng  năm 1266 TCN) thì biến thể thành đạo Do Thái Mới sau này.

Không biết vì lý do nào mà người Hebrew lại bỏ thành Our di cư về lập nghiệp ở Canaan. Có giả thuyết cho rằng họ không chấp nhận cái tín ngưỡng đa thần của người dân xứ Chaldée. Tương tuyền rằng khi vừa tới Canaan thì ông Abraham nghe thấy Thượng Đế nói với ông rằng “Ta cho con cháu đất này”. Thế là gia đình ông Abraham ở lại đây lập nghiệp. Ông Abraham trở thành ông tổ của người Do Thái và là người sáng lập ra Do Thái giáo (Judaism).

Theo học giả Nguyễn Hiến Lê viết trong cuốn Bài Học Do Thái, trải qua đời con ông Abraham là Isaac và đời con của Issac là Jacob rồi đến đời con của Jacob là Joseph mới gây dựng nên “dân tộc” Do Thái. (Thiết tưởng ở đây nên sử dụng từ “thị tộc” thay vì “dân tộc” vì lúc đó dân Do Thái mới chỉ có một số người giống như là một thị tộc.) Về sau, vì những biến chuyển về thời thế, ông Joseph cùng một nhóm dân Do Thái, tất cả là 70 người (trang 27) di cư sang Ai Cập sinh sống. Những người theo đạo Ki-tô kể rằng ông Joseph nhờ tài đoán chiêm bao mà được vua nước Ai Cập trọng dụng, cho làm đến chức thượng thư (bộ trưởng) trong triều đình Ai Câp. Tuy nhiên,  sau đó họ lại bị bắt làm nô lệ.

Theo sách Công Giáo – Huyền Thoại và Tội Ác, vua Ai Cập là Ramses (1304-1237)  ham thích xây kim tự tháp cùng các đền đài và dinh thự nguy nga tráng lệ. Vì nhu cầu cần có lao nô phục dịch cho các công trình xây cất trên đây mà dân Do Thái ở Ai Cập, [một thứ dân ngụ cư (ăn nhờ ở đậu)], bị cưỡng bách phải hy sinh làm nô lệ để đáp ứng cho nhu cầu này (trang 115-116).  Theo sách Bài Học Do Thái, đến năm 1583 trước Công Nguyên, vì căm hận, những người dân Do Thái này đã tiếp tay với kẻ thù ngoại nhập trong những năm Ai Cập bi quân Hyksos xâm lăng. Vì lý do này, chính quyền Ai Cập mới  bắt họ làm nô lệ và đối xử với họ rất là tàn nhẫn. Tình trạng này kéo dài hơn 300 năm. Sự kiện này được học giả Nguyễn Hiến Lê viết như sau:

“Khi Ai Cập bị dân tộc Hyksos  xâm lăng, họ (người Do Thái) bắt buộc phải cộng tác với kẻ (chiến) thắng   Sau khi  đuổi được kẻ thù, Ai Cập oán họ đã phản bội, bắt họ làm nô lệ. Họ cực khổ trăm chiều, muốn trốn mà không được. Một vị thiếu niên anh tuấn đau lòng cho nòi giống, nhất quyết dắt đồng bào thoát khỏi cái ách Ai Cập, vào chân núi Sinai, sống đời lang thang, cực khổ... Vị trẻ tuổi ấy là Moise...”. [4]  

ĐẠO DO THÁI BIẾN ĐỔI THÀNH
MỘT THỨ ĐẠO PHIỆT TỪ THỜI ÔNG MOSES

Sách sử Do Thái nói rằng khi ông Moses được ông Thượng Đế Jehovah "mặc khải" phải dẫn đoàn người Do Thái về bờ biển phía Đông Hồng Hải để nhận "luật" của ông thượng đế này theo đó mà cai trị dân. Ông Moses tuân lệnh đã  dẫn đoàn người Do Thái của ông về đến núi Sinai. Tại đây ông Moses gặp được vị thần có tên là Jehovah "mặc khải" (truyền dạy) cho ông biết những tín lý và phương cách thờ phượng ông thần này. Trong cuốn Bài Học Do Thái, Học giả Nguyễn Hiến ghi lại chuyện này như sau:

"Một hôm ông (Moses) nghe được lời Thượng Đế ra  lệnh phải giải thoát đồng bào, dắt họ qua bờ bên kia Hồng Hải tới núi Sinai để nhận "luật" của Thượng Đế. Thế là năm 1266 trước tây lịch ông cầm đầu đồng bào đưa họ di cư về Đất Hứa. Tới Sinai, họ sống đời lang thang cực khổ nhưng tự do của tổ tiên như vậy trong bốn chục năm. Ở Núi Sinai, Moise (Moses) do Thượng Đế khải thị mà đặt có sở cho Do Thái giáo. Abraham trước kia chỉ  có một ý thức về một tôn giáo nhất thần, thờ thần Jahvé (Jehovah), một vị thần vạn trí, vạn năng chí công, chí nhân tạo ra trời đất và là cha sinh ra muôn loài."  [5]

"Luật" mà ông Moses nhận được ông Thượng Đế Jehovah là luật như thế nào? Đây là một số rất nhiều luật được ghi trong các sách Sáng Thế, Phục Luật, Dân Số, Leviticus, Xuất Hành, v.v... trong Cựu Ước Kinh. Một số những luật này được ông Trần Quý ghi lại trong cuốn "Lòng Tin Âu Mỹ Đấy!" với nguyên văn như sau:

 “LUẬT SỢ CHÚA.- “Dùng danh nghĩa thiên-chúa Giê-hô-va, bọn giáo-sĩ chế (bịa) ra các luật ở bảng thứ nhất để bắt dân phải cung phụng họ, chỉ được thờ vị thần do họ đưa ra, phải diệt (hết) các đạo khác, phải giết nhưng người thay đổi đạo mà họ đã đặt ra, phải giết vợ con, bạn hữu nếu những người này tuyên truyền cho các đạo khác, phải không có lòng thương xót khi giết người.

"LUẬT QUY ĐỊNH VIỆC CUNG PHỤNG GIÁO SĨ.- "Dân cúng thiên-chúa Giê-hô-va bằng bò hay cừu thì phải dâng cho giáo-sĩ cái vai, cái hàm, cái bụng (Phục-luật 18:3). Dân vừa mới thu hoạch được nông phẩm thì phải biếu giáo-sĩ của đầu mùa từ rượu cho họ uống, gạo cho họ ăn cho đến lông chiên (cừu) cho họ làm áo (Phục-luật 18:3).

LUẬT QUY ĐỊNH VIỆC CUNG PHỤNG THIÊN CHÚA: Môi-se ra lệnh cho đám dân Do Thái giặc cướp phải giết hết người nam, giết hết đàn bà, con gái đã ăn nằm với đàn ông, chỉ giữ lại con gái trinh thôi (Dân số 31:17-18). Giê-ho-va đòi dân đi ăn cướp về phải chia của cướp được cho mình. Của này phải giao cho các giáo sĩ giữ từ cừu, bò cho tới những người con gái (Dân số 31:28 và 31:40). Thân hình thiên chúa Giê-hô-va và thân hình người đàn ông (Sáng Thế 1:26) giống nhau nên vị thiên chúa đó đòi dâng con gái của loài người không có gì là lạ. Cha sao, con vậy. Thảo nào các con của vị thần đó cũng ham (Sáng Thế 6:4) con gái loài người. Vị thần ăn cướp gọi là Thiên-chúa Giê-hô-va đòi tín đồ chỉ được thờ có một mình mình thôi, cho nên vị thần ấy đòi tín đồ thẳng tay tiêu diệt quyền tự do tôn giáo, đòi như sau:

Phải dứt khoát giết những người đi lễ (bất kỳ) vị thần nào khác ngoài Giê-hô-va (Xuất Hành 22:20)

Phải giết những kẻ tiên tri nào dám nhân danh các vị thần khác mà nói (Phục Luật 18:20)

Chớ theo những vị thần của các dân tộc ở chung quanh các ngươi (Phục Luật 6:14).

Dân Do Thái phải dâng con đầu lòng cho Giê-hô-va (Xuất Hành 13:12).Dân Do Thái hay dân khác sống trên đất Do Thái mà dâng con cho thần Mo-lóc thì phải bị xử tử (Lê-vi: 20:2).Không được tha mạng sống cho các thầy phù thủy (Xuất Hành 22:18).

Những người đi hỏi thầy phù thủy hay hỏi thầy bói cũng phải dứt khoát bị trừng trị. Giê-hô-va nói: “Ta sẽ đối mặt kẻ đó và sẽ cắt phăng kẻ đó khỏi dân chúng (Lê-vi 20:6).

Giê-hô-va tự nhận là thần Ganh-ghét, không tiếc lời căn dặn tín đồ mọi chi tiết về việc phá các đạo khác: Phàm những dân tộc nào mà các ngươi đuổi đi được, các ngươi phải:*Phá sạch những nơi thờ thần của họ (Thánh Kinh Tin Lành dùng cụm từ “chúng nó” thay cho “họ") trên núi cao, trên đồi, dưới bóng cây xanh,  đập tan bàn thờ, đâp vụn cột đền, lấy lửa đốt rụi hết các tượng của họ, * đục khoét cho mất hết mọi hình chạm trổ các tượng thần của họ,* và xóa tên những thần ấy ở những nơi đó (Phục Luật 12:2-3).Một nhóm dân Do Thái thờ thần Ba-an Pê-o khiến cho Giê-hô-va nổi giận lôi đình rồi ra lệnh cho Môi-se:“Hãy đem hết các thủ lãnh của đám dân này ra treo cổ ở ngoài nắng trước mặt Gia-vê để cơn giận của Gia-vê không chĩa vào dân Do Thái (Dân Số 25:3-5).

* LUẬT BẮT NÓI ĐÚNG LỜI  GIÊ-HÔ-VA: Phải giết kẻ tiên tri nào dám nhân danh Ta nói điều gì Ta không bảo nói (Phục Luật 18:20).

LUẬT GIẾT VỢ CON, BẠN HỮU NẾU NHỮNG NGƯỜI NÀY TUYÊN TRUYỀN CHO CÁC ĐẠO KHÁC: Khi anh em một mẹ với ngươi, hay con trai người   hay con gái ngươi, hay người vợ yêu mến của ngươi, kín đáo xúi giục ngươi bảo ngươi rằng “Ta hãy đi thờ các thần khác.” Đó là những thần khác mà các ngươi và tổ tiên các ngươi chưa hề biết. Đó là những thần của những dân tộc sống chung quanh các ngươi hoặc gần hoặc xa... Các ngươi hãy chớ theo nó. Các ngươi đừng thương nó. Các ngươi chớ có xót-xa mà che chở cho nó, các ngươi phải giết nó. Các ngươi phải giết nó trước rồi mới tới tay dân chúng (Phục Luật 13:6-9)....”. [6]

LUẬT TRỊ NGƯỜI.-“Các luật trị người mang danh là của thần Giê-hô-va chẳng qua là bắt chước bộ luật của Ham-mu-ra-bi khắc trên bia đá ở đền thờ thần Ma-đúc (Marduk) trong thành Ba-by-lon. Bộ luật ấy có trước khi Môi-se đắt dân Do-thái bỏ Ai Cập di chuyển về hướng Pa-le-stin cả bao nhiêu thế kỷ. Vua Ham-mu-ra-bi (1792-1749 trước dương lịch) cai trị xứ Ba-by-lon, là một người nổi tiếng anh hùng. Triều đình ông gom góp nhiều luật đã được các chính quyền vùng lưỡng-hà tạo ra trong mấy trăm năm thành một bộ luật để xét xử các vụ án từ các cuộc xung đột gia đình đến các vụ phạm pháp nặng hay nhẹ trong xã hội. Năm 1901, một nhà khảo cổ người Pháp tên là Jean-Vincent Scheil tìm ra thấy ở vùng Susa một tấm bia đá khắc luật Ham-mu-ra-bi. Nhờ vậy mà ngày nay sử gia mới biết rõ rằng nếu có thần Giê-hô-va thì vị thần này đã học luật dân sự để trong đền thờ thần Ma-đúc (Marduk) rồi đọc cho Môi-se chép.

Nhóm Lệnh Trị Người cho ta thấy dân thời cổ ở Trung Đông bị cai trị rất là nghiêm khắc. Đằng sau lệnh “Hãy Hiếu Kính Với Cha Mẹ” có một bản án tử hình. Đứa con khó dạy, bội-nghịch, hoang-đàng, say-sưa có thể bị cha mẹ giao cho các trưởng lão trong thành, rồi bị dân chúng ném đá cho chết (Phục-luật 21:18-21). Đằng sau lệnh “Chớ Tà Dâm” có nhiều bản án tử hình. Con gái mất trinh trước khi lấy chồng, nếu bị chồng tố cáo thì sẽ bị dẫn về nhà của cha mẹ đẻ rồi bị dân ném đá cho chết tại đây. (Phục-luật 22:13-21). Con gái đã hứa hôn mà còn đi ngủ với trai thì cả hai đều bị ném đá cho chết. (Phục-luật 22:23).

Giê-hô-va (ban) ra biết bao nhiêu luật giết người, kể cả bắt người ta giết vợ con để bảo vệ sự thờ cúng một mình mình. Các Lệnh Sợ Chúa trong bảng thứ nhất được ưu tiên, vượt trên các Lệnh Trị Dân trong bảng thứ nhì. Nếu không thì lệnh “Chớ Giết Người” của Giê-hô-va chỉ là lời hài hước trong chuyện tiếu lâm, hoặc là một sự vụng về nhái lại luật Ham-mu-ra-bi”. [7]

Căn cứ vào những "luật" trên đây, chúng ta có thể nói hệ thống luật pháp này là một thứ đạo lý hỗn hợp gồm có những tín lý nhảm nhí được  pha trộn  với luật lệ chuyên chế hà khắc của bạo quyền của một tổ chức xã hội của thời bán khai nhằm để củng cố quyền lực của giai cấp thống trị và cũng là  để cưỡng bách người dân phải làm nô lệ phục vụ cho cả tôn giáo lẫn chính quyền. Nói một cách khác, Do Thái Giáo là một thứ tôn giáo nhập nhằng và   trộn lộn với chính quyền  và hòa nhập với nhau làm một cơ chế duy nhất, biến thành một hệ thống luật pháp ôm đồm cả hai thứ giáo luật và quốc luật trộn lộn với  nhau, rồi dùng bạo lực của chính quyền cưỡng bách người dân qua đời này đến các đời kế tiếp theo đó mà làm nô lệ cho chính quyền và ứng xử với nhau. Như vậy là nhân dân bị cưỡng bách phải phục vụ cho tôn giáo và chính quyền. Nói riêng về tôn giáo, ta có thể gọi đó là thứ tôn giáo "cưỡng bách nhân dân phải phục vụ cho tôn giáo”.(mà thực sự là phục vụ cho giai cấp giáo sĩ và bọn người tay sai của họ). Đây là một thứ tôn giáo vô cùng bạo ngược, dựa trên một số tín điều láo khoét được bịa đặt ra để lừa gạt người đời rồi dùng chính quyền chuyên chế (bạo lực) làm phương tiện cho bọn tu sĩ biến người dân dưới quyền   trở thành tín đồ để làm nô lệ phục vụ cho họ. Nội dung của Luật Sợ Chúa và Luật Cung Phụng Giáo Sĩ   là bằng chứng cho cái dã tâm thâm độc này.

TRỞ VỀ DO THÁI

Mãi tới đời sau, đời ông Josué, nhóm người Do Thái trên đây mới về chiếm lại được xứ Canaan, nơi mà họ gọi là Đất Hứa. Rồi dần dà, họ lập thành quốc gia Do Thái. Lúc đó, ông Saul được tôn lên làm vua và là vị quốc vương đầu tiên của người Do Thái. Vua Saul lãnh đạo dân Do Thái đánh đuổi người Philistin, nhưng chẳng may bị tử trận. Con ông Saul là David lên nối nghiệp, tiếp tục chiến đấu và chiến thắng chiếm được toàn vùng Canaan, thiết lập thủ đô tại Jerusalem. Ông David mất, ông Solomon lên nối ngôi vào năm 977 trước CN và đưa nước Do Thái vào thời kỳ cực thịnh. Ông tổ chức các cơ cấu hành chánh, tài chánh và quân sự giống như nước Việt Nam ta vào thời nhà Lý. Cũng vào thời cai trị của vua Solomon, người Do Thái đã biết sáng chế ra một thứ lịch giống như âm lịch do người Trung Hoa phát minh.

Vua Solomon băng hà vào năm 937 trước CN. Bảy năm sau, vào khoảng năm 930 trước CN, nước Do Thái bị phân hóa ra làm thành hai nước nhỏ: nước Israel ở miền Bắc và nước Judée ở miền Nam. Hai nước tranh giành nhau khiến cho cả hai cùng suy yếu. Bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi. Năm 722 trước  CN, người Assyrians đến tấn chiếm nước Israel ở miền Bắc. Năm 586 trước CN, người Babylone đến tấn chiếm nước Judée ở miền Nam. Ít lâu sau, người Ba Tư đến đánh đuổi người Babylone thống trị cả toàn vùng. Thời gian sau, người Hy Lạp với sức mạnh của đoàn quân của Đại Đế Alexander đến đánh đuổi người Ba Tư và trở thành chủ nhân ông vùng đất này. Sau người Hy Lạp đến người Syrie. Năm 164 trước CN, dân Israel nổi lên đánh đuổi được người Syrians giành lại chủ quyền. Năm 63 trước CN, người La Mã tràn tới chiếm xứ Judée làm thuộc địa, nhưng vẫn để vua bản địa cai trị như một thứ vua gỗ, y hệt như  Liên Minh Thập Ác Vatican và  Pháp để cho các vua Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định và Bảo Đại làm tượng gỗ trên cái ngai vàng của triều đình nhà Nguyễn tại kinh thành Huế trong những năm 1885-1945.

Kiểm điểm lại, chúng ta thấy, từ năm 722 trước công nguyên, Do Thái liên tiếp bị các cường quốc lân bang tấn chiếm và thống trị, dân tộc Do Thái trở thành dân bị trị của các cường lân xâm lược. Tôn giáo của các cường quốc xâm lăng được tự do du nhập vào Do Thái mà tín đồ Do Thái không có khả năng tuân hành những lời dạy của Chúa ghi trong các sách Leviticus (26:1-18),   Phục Luật (12:2-3,  13: 6-9), Dân Số  (25:3-5) để tiêu diệt các tôn giáo khác.

Cũng từ đó, giáo sĩ   Do Thái cũng không còn quyền lực để cưỡng bách tín đồ phải cung phụng cho họ những thứ như đã quy định trong  sách Phục Luật (18:3), cũng không thể cưỡng bách họ phải cung phụng Thiên Chúa những thứ như đã quy định trong sách Dân Số (31:17-18)  và cũng không thế áp dụng Luật Trị Người như đã quy định trong sách Phục Luật (21: 18-21 và 22: 13-23).

Kết quả là  đạo Do Thái mất hẳn đi tính cách đạo phiệt của nó. Tất cả những ác tính này đã  trở thành dĩ vãng. Mất đi các quyền lực trên đây, họ fđặc biệt là giới tu sĩ Do Thái, mất luôn cả cái địa vị thượng đẳng trong xã hội, có còn chăng thì cũng chỉ là còn trong kỷ niệm và mơ tưởng ngày PHỤC QUỐC và cũng là PHỤC HỒI cái địa vị thượng đẳng của họ ở trong xã hội như ngày nào.

NHẬN XÉT VỀ ĐẠO DO THÁI

Vào khoảng năm 2000 trước công nguyên, ông Abraham đem đoàn người Hébrew di cư từ thành Our thuộc xứ Chaldée (ngày nay là nước Irak) ở phía đông sông Euphrate sang định cư tại vùng đất Canaan lập ra nước Do Thái và lập ra đạo Do Thái  mà đối tượng thờ phượng là vị thần "Thần El (có hình của con bò) là tổng thể của mọi sự thiêng liêng".  Làm như vậy, phải chăng ông Abraham có chủ tâm lợi dùng uy quyền của thế giới thần linh để làm cho đám dân dưới quyền của ông khiếp sợ mà khuất phục?

Cũng nên biết rằng thuở đó là thời bán khai, người dân còn ở trong tình trạng ngu dốt lại nặng lòng mê tín dị đoan, thường tin rằng bất kỳ nơi nào ở trong cõi trần gian này cũng đều có một đấng thần linh ngự trị: Đất có thổ công, sông có hà bá, rừng có ma rừng, núi có thần núi và bất kỳ hiện tượng thiên nhiên nào cũng do thần thánh tạo nên hay gây ra cả. Tình trạng dân trí thấp kém như vậy đã giúp cho ông Abraham thành công trong sứ mạng lãnh đạo đoàn người tha phương cầu thực quy tụ với nhau ở nơi đất lạ xứ người để nương tựa nhau mà sống và tồn tại. Cũng vì thế mà ông Abraham   mới trở thành tổ phụ của nước Do Thái và cũng là tổ phụ của đạo Do Thái. Trong hoàn cảnh mới di cư đến một vùng đất mới, tất nhiên là họ phải sát cánh nương tựa nhau để đối phó với mọi bất trắc có thể xẩy ra vào bất cứ lúc nào. Những người Do Thái đầu tiên ở đất Canaan này bắt buộc phải sống theo quy luật  do ông Abraham và những người thân cận của ông ta đặt ra. (Tình trạng này giống y hệt như những thuyền nhân Việt Nam mới bước chân đến  lập trại tỵ nạn tạm cư tại một trong các nưóc Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, chờ ngày được đưa đến định cư ở quốc gia tiếp nhận). Những luật lệ do ông Abraham đặt ra vừa là những tín điều tôn giáo vừa là quy luật điều hành cuộc trong cộng đồng dân Do Thái lúc bấy giờ.

Như vậy là những tín điều của tôn giáo lẫn lộn với quy luật của tập thể. Khi tập thể phát triển thành một dân tộc và chiếm cứ một vùng lãnh thổ thì tình trạng này trở thành tín điều của tôn giáo trọn lộn với luật pháp của quốc gia. Như vậy là ngay từ khi mới lập quốc, Do Thái đã ở vào tình trạng tôn giáo nhập nhằng với chính quyền. Ta gọi nó là một chế độ đạo phiệt. Đây là chế độ đạo phiệt ở vào thời kỳ phôi thai. Dù là ở trong tình trạng phôi thai, tự nó cũng  đã trở thành những hạt giống của những gian dối, lừa bịp, thủ đọan, bóc lột và bạo lực.

Hoàn cảnh của đoàn người Do Thái được ông Moses dẫn đi chạy trốn khỏi nước Ai Cập về tới núi Sinai vào khoảng năm 1266 Trước CN (có sách nói là năm 1250 trước CN)  không khác gì hoàn cảnh của đoàn người Do Thái của ông Abraham mới tới định cự ở Canaan vào năm 2000 trước CN, và đoàn ngươi Pilgrim đến định cư ở vùng ven biển thuộc tiểu bang Massachusetts  vào năm 1620. Theo gương ông Abraham, Ông Moses tổ chức đoàn người Do Thái chạy trốn khỏi Ai Cập với những luật lệ gần giống như ông Abraham đã làm, nhưng lại không gọi ông Thượng Đế là “Elohim” nữa, màlại gọi là  “Yahveh” (Jehovah)  và thêm vào các Luật Sợ Chúa, Luật Trị Người, Luật Quy Định Cung Phụng Giáo Sĩ, Luật Quy Định Việc Cung Phụng Thiên Chúa và nhiều luật khác. Những luật này đều có tính cách sắt máu, phi nhân, bạo ngược, nặng tính vị kỷ và bóc lột nhân dân, nói là  để phục vụ Thiên Chúa  mà sự thực là phục vụ cho giai cấp giáo sĩ  và giới người thống trị. Đây cũng là một chế độ đạo phiệt giống như chế độ đạo phiệt trong thời ông Abraham, những ở mức độ hà khắc hơn, tàn ác hơn, bóc lột nhân dân một cách tinh vi hơn và tận tình hơn. Sự kiện này đã được nhà biên khảo lịch sử Trần Quý ghi lại như đã  trình bày ở trên.

Qua lời nhận xét với những dẫn chứng đầy đủ trên đây của học giả Trần Quý, một người với khả năng  thông minh dưới mức trung bình cũng có thể nhìn thấy rõ hệ thống tín lý và giáo luật trong đạo Do Thái chẳng có một chút gì là  nhân bản cả. Rõ ràng là những ý niệm về tình thương, nhân ái, khoan dung, độ lượng và hào hiệp không có chỗ đứng trong cái tôn giáo này. Đây là một thứ tôn giáo vị kỷ. (Xã hội này không có đạo lý, tức là không có ý niệm về công bằng và công lý).

Như vậy là khi dẫn  đoàn người từ Ai Cập về tới núi Sinai, ông Moses đã phỏng theo mô thức tổ chế độ đạo phiệt của ông Abraham  trước kia để tổ chức bộ  máy quản trị tập thể người Do Thái của ông, nhưng với mức độ hà khắc hơn và dành quá nhiều đặc quyền và đặc lợi cho giai cấp giáo sĩ. Càng dành nhiều đặc quyền đặc lợi cho giai cấp giáo sĩ thì giáo dân và giai cấp bị trị càng bị bóc lột nhiều hơn. Kể từ đó,   bộ máy cai trị chính quyền Do thái được tổ chức theo mô thức này. Căn cứ vào những luật đã được viện dẫn ở trên, ta có thể nói đạo Do Thái là  một chế độ đạo phiệt (độc tài tôn giáo) với những đặc tính:

1.- Ôm  đồm  cả tôn giáo và chính quyền  vào trong tay,

2.- Lấy việc thờ phương ông Thượng Đế  bạo ngược Jehovah với chủ đích là để phục vụ cho nhu cầu chính trị  (có thể cho là nhu cầu cấp thời vào lúc bấy giờ),

3- Tôn giáo chỉ đạo chính quyền (Chính quyền là công cụ của tôn giáo)

4.- Người lãnh đạo tôn giáo (Do Thái Giáo) cũng là nhà lãnh đạo chính quyền.

4.- Quy luật của tôn giáo cũng là luật pháp của quốc gia

5.- Không có công lý và công bằng xã hội vì rằng quy luật hay lời dạy trong tôn giáo thay thế   cho công lý, mà quy luật cua tôn giáo như Lụật Sợ Chúa và Luật Cung Phụng Giáo Sĩ,  Luật Quy Định  Việc Cung Phụng Thiên Chúa, Luật Trị Người (như đã trình bày ở phần trên), nặng tích cách bóc lột, biến tín đồ và giai cấp bị trị  thành một bầy nô lệ cho giai cấp giáo sĩ.- (có vợ con như người dân thường), biến giai cấp giáo sĩ thành một giai cấp thượng đẳng trong xã hội được hưởng những đặc quyền về chính trị, xã hội, kinh tế và nắm độc quyền thao túng chính quyền, nắm độc quyền thống trị đất nước. Như vậy, đạo lý  trong đạo Do Thái đã  nhập nhằng đồng hóa  giai cấp này với tôn giáo và quốc gia, giống như Giáo Hội La Mã đã  nhập nhằng đồng hóa Giáo Hội và  những ngưới "mang chức thánh" của Giáo Hội với Chúa Cha Jehovah và Chúa Con Jesus, y hệt như thời quân chủ phong kiến, người ta đã nhập nhằng đồng hóa nhà vua hay hoàng   đế với quốc gia hay tổ quốc.

6.- Kỳ thị và khinh rẻ nữ giới  và biến họ thành một giai cấp nô lệ cho nam giới.

7.- Vi phạm nhân quyền một cách hết sức là trắng trợn.

8.- Không công nhận sự hiện diện của các tôn giáo khác.

9.- Không công nhận quyền tự do tôn giáo của người dân.

10.- Hủy diệt  tình thương lứa đôi, phá nát tình yêu thương giữa cha mẹ và con cái, giữa con cái và cha mẹ, giữa anh em với nhau (Lụật Giết Vợ  Con  nói trên là bằng chứng).

11.- Hủy diệt nền văn minh nhân loại.

12.- Giai cấp bị trị bị bóc lột đến tận xương tận tủy.

13- Chấp nhận chế độ nô lệ.

Với những đặc tính trên đây, ta có thể nói  đây là một chế độ đạo phiệt độc ác, tàn ngược, dã man và bóc lột nhân dân tối đa. (Luật Cung Phụng Giáo Sĩ và Luật Quy Định Cung Phụng Thiên Chúa là bằng chứng.)

Tất cả những đặc tính bất công, cbuyên chế, hà khắc nêu lên trên đây cùng với ông Thượng Đế Jehovah hung dữ, bạo ngược, đọc ác, dã man và lòng tham lam, vơ vào và bóc hốt của giai cấp giáo sĩ chứng tỏ rằng tất cả các xã hội bị cưỡng bách phải theo các tôn giáo thờ phượng ông Jehovah  này chẳng có một chút gì là đạo lý và cũng chẳng có gì là nhân đạo cả.

Lịch sử loài người đã từng có nhiều nhóm người từ bỏ quê hương đất tổ, kéo nhau đến vùng đất mới để mưu tìm cuộc đời tốt đẹp hơn. Nhóm dân nào cũng đặt ra luật lệ theo kinh nghiệm sống và trình độ hiểu biết của mỗi nhóm để duy trì an ninh, trật tự và quản lý nội bộ. Nhưng không có nhóm dân nào lại bị áp đặt những tín lý và quy luật hết sức bạo ngược và vô cùng dã man như nhóm dân Do Thái dưới quyền lãnh đạo của ông Moses.

MẶC KHẢI LÀ MỘT CHUYỆN ĐẠI BỊP

(SIÊU HOANG ĐƯỜNG)

Về chuyện ông Moses được Thượng Đế ra  lệnh (mặc khải) phải giải thoát đồng bào, dắt họ qua bờ bên kia Hồng Hải tới núi Sinai để nhận "luật" của Thương Đế, ai cũng biết đây là chuyện bịa đặt. Trong lịch sử, không phải chỉ có một mình ông Moses đã bịa đặt ra một chuyện siêu hoang đường như vậy. Ở bên Trung Hoa Hoa, bà Võ Tắc Thiên sau này cũng làm một chuyện bịa đặt tương tự như vậy. Việc làm của Bà Võ Tắc Thiên được học giả Lâm Ngữ Đường ghi lại như sau:

"Tháng tư năm 688, y (Võ Thừa Tự) dùng một phiến đá cổ đẽo thành một tấm bia lớn có khắc tám chữ “Thánh Mẫu xuống trần, Trường thịnh nghiệp đế.”  Sau đó y sai người liệng tấm bia xuống sông Lạc. Một gã nhà quê tình cờ trông thấy tấm bia bèn vào triều tâu cho Võ Hậu hay. Võ Hậu làm bộ ngạc nhiên và hoan hỉ. Bà phong cho gã làm Khâm Sai Đại Thần và cho đổi quốc hiệu là Trường Thịnh. Tháng năm và tháng sáu năm đó, Võ Hậu tổ chức những buổi lễ Thiên Địa tại khu ngoại thành phía nam để tạ ơn trời đất. Bà đổi tên sông Lạc thành sông Trường Thịnh, gọi tấm bia đá kia là Bia Thánh Linh và gọi khúc sông tìm thấy tấm bia là Suối Thánh Linh. Dân chài lưới không được đánh cá tại khu vực này. Ngoài ra, bà còn ra lệnh ân xá các tội phạm để ăn mừng... Tất cả những hành động của Võ Hậu khiến người ta có cảm tưởng rằng bà là một nạn nhân khờ khạo của trò bịp bợm do chính bà bày ra. Tuy nhiên,  bà không khờ khạo. Bà biết rõ dân chúng thích thấy và tin tưởng những chuyện huyễn hoặc, những phép mầu và những điềm lạ.[8] .

Sau này, trong cuộc chiến (1418-1427) đánh đuổi quân Minh ra khỏi đất nước, cụ Nguyễn Trãi cũng dùng phương cách này để động viên nhân dân bằng cách lấy mật viết tám chữ “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần” vào lá cây rừng, và để cho kiến ăn thủng lá, hiện ra những chữ trên đây rồi đem những lá này thả trên thương nguồn các dòng nước cho trôi về xuôi. Người dân trong vùng nhìn thấy những chiếc lá khác thường như vậy,  loan truyền từ người này qua người nọ. Thế rồi,  tiềng đồn lan truyền ra nhiều nơi khác, và càng ngày càng có nhiều người tin rằng  Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần”, có nghĩa là cuộc kháng chiến của nhân dân ta do ông Lê Lợi làm minh chủ và ông Nguyễn Trãi làm quân sư là do Trời đã  xếp đặt. Chuyện này được sử gia Phạm Văn Sơn ghi lại như sau:

“Vì cuộc bại trận của nhà Hồ và nhà Hậu Trần,  lòng người còn hoang mang, Nguyễn Trãi phải lợi dụng lòng mê tín của nhân dân như Trần Thắng của đời Tần (Trần Thắng viết ba chữ “Trần Thắng Vương” vào mảnh lụa, giấu vào bụng cá. Quân sĩ mổ cá thấy cho là trời đã định nên tin theo Thắng, nhưng sau Thắng cũng thất bại), ông cho nhúng bút vào mật viết lên nhiều lá cây trong rừng tám chữ; “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần”, sau đó kiến theo đường mật ăn thủng lá thành hình tám chữ kể trên. Nhân dân cho là điềm thần dị, đồn đại rất nhiều nên người ta theo mỗi ngày một đông.” [9]

Cuối cùng, nhân dân ta đại thắng quân Minh và giành lại quyền tự chủ cho nước nhà. Có thể là nhờ phương cách động viên này mà cuộc kháng chiến chống quân Minh do ông Lê Lợi  và ông Nguyễn Trãi lãnh đạo đã được đại khối nhân dân ta lúc bấy giờ dốc lòng tin tưởng,  nhiệt liệt ủng hộ và quyết tâm lên đường vào chiến khu  đi đòi lại núi sông cho dân tộc. Nhờ vậy mà cuộc chiến có thể kéo dài cả gần mười năm và cuối cùng quân Minh bị đánh bại và phải cuốn gói ra đi. Vì thành tích này, trong thời gian từ tháng 7 năm 1954 cho đến tháng 4 năm 1975, tại miền Nam Việt Nam, cụ Nguyễn Trãi được tôn lên là thánh tổ trong ngành tâm lý chiến. 

Dù sao, chúng ta cũng phải thành thực mà nói rằng cái phương cách động viên nhân dân như vậy là một mưu kế chính trị có tính cách đoản kỳ để khích động và lôi cuốn nhân dân hăng say lên đường chiến đấu chống lại kẻ thù của dân tộc, chứ không phải phương cách trường kỳ dùng để hướng dẫn và giáo dục người dân sống theo đạo lý.

Từ  chuyện bịp Trần Thắng Vương  của Trần Thắng qua chuyện bịp  Thánh Mẫu xuống trần, Trường thịnh nghiệp đế” của bà Võ Tắc Thiên và chuyện   Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trải vi thần” của cụ Nguyễn Trải trên đây, chúng ta có thể suy ra rằng chuyện ông Moses được Thượng Đế "mặc khải" cho ông viết những luật ở trên núi Sinai đều là chuyện láo khoét. Những gì được ghi khắc trên hai tấm bia đá mà ông ta vác từ trên núi Sinai xuống chân núi là do ông ta chủ mưu viết ra và khắc vào hai tấm đá đó, rồi nói láo  là do Thượng Đế làm ra với chủ đích động viên và làm cho đoàn người Do Thái này (có thể là chưa nhất trí  và có một số người không dốc lòng phục tùng ông)  hăng say tin tưởng vào khả năng lãnh đạo của ông trong công cuộc dẫn dắt họ vượt qua những khó khăn gian khổ trên đường trở về đất tổ.

Tất cả các ông Moses, Trần Thắng, bà Võ Tắc Thiên và cụ Nguyễn Trãi đều mượn danh nghĩa Thượng Đế hay ông Trời đặt ra một chuyện láo khoét nặng tính cách lừa bịp và mê hoặc lòng dân để lôi cuốn họ lao vào con đường phục vụ cho một mưu đồ chính trị trong một giai đoạn cấp thiết nhất thời. Trong những người này, ông  Moses và cụ Nguyễn Trãi  thì thành công vì   đã biết sử dụng phương cách lừa bịp này để động viện nhân dân hăng say tham gia vào đại sự quốc gia. Trái lại, ông Trần Thắng và bà Võ Tắc Thiên lại bị thất bại thảm thương, làm trò cười cho người đời và hậu thế vì không có chính nghĩa, vì chủ tâm sử dụng thủ đoạn bịp bợm này vào một việc làm vị kỷ, nhằm phục vụ cho quyền lợi cá nhân của họ, chứ không phải cho phúc lợi của toàn thể cộng đồng dân tộc, cho nên không được nhân dân ủng hộ.

Riêng về trường hợp của ông Moses, sau khi thành công trong việc sử dụng mánh mung bịp bợm này để phục vụ mưu đồ chính trị, rồi sau đó, chính ông Moses và những người lãnh đạo Do Thái Giáo  cũng như các hệ phái phát sinh từ Do Thái Giáo vẫn còn tiếp  tục sử dụng và khai triển những mánh mung này thành một hệ thống tín lý bằng những luật lệ mang nặng tích cách võ đoán, tự tôn, chuyên chế, cưỡng bách, đượm mầu sắc huyền bí thiêng liêng, nhưng lại nặng tính kỳ thị chủng  tộc, kỳ thị tín ngưỡng, và dành những đặc quyền đặc lợi cho giới giáo sĩ cùng giai cấp thống trị (tức là bóc lột đại khối nhân dân bị trị).  Đặc biệt và ghê gớm hơn nữa, sau này, kể  từ năm 325,  cái hệ thống tín lý bịp bợm này lại được Giáo Hội La    liên tục  khai triển tối đa rồi tổng hợp với  những tín lý, giáo lý, giáo lụật, “lời của Chúa” và  phép lạ. cùng những phép bí tích do chính Giáo Hội bịa đặt ra, rồi hệ thống hóa thành nền tảng triết lý thần  học cho cái gọi là "đạo cứu rỗi", để cho Giáo Hội dùng làm chiêu bài tôn giáo, (giống như  một bức bình phong)  che đậy cho dã tâm  lừa bịp và khai thác lòng mê tín dị đoan của người đời hầu  thủ lợi. (Chuyện này  sẽ được trình bày rõ ràng hơn trongChương 3 ở sau). 

Như vậy là đến thời kỳ này, gíống như ông Abrahma trước kia, ông Moses cũng lại ôm đồm   cả tôn giáo và chính quyền vào trong tay, lấy việc thờ phương ông Thượng Đế  bạo ngược Jehovah làm phương tiện phục vụ cho nhu cầu chính trị cấp thới của ông. Cũng nên biết,  lúc đó, ông  Moses vừa là giáo chủ của Do Thái Giáo vừa là nhân vật lãnh đạo số 1 của đoàn người Do Thái quy hồi cố hương với ý chí quyết tâm chiếm lại mảnh đất của tiền nhân đã chiếm được trước kia làm cứ địa trường tồn cho dân tộc. Sự kiện này cho chúng ta thấy rằng cả hai ông Abraham và ông Moses đều đưa ra chủ trương tôn giáo  nhập nhằng trộn lộn với chính quyền như một cặp vợ chồng theo truyền thống “phu xứơng phụ tùy”tôn giáoông chồng, chính quyềnbà vợ, rồi  lập ra những khuôn mẫu đạo lý để rèn luyện người dân Do Thái lấy Do Thái Giáo và quốc gia Do Thái làm lẽ sống. Sự kiện này được ông Charlie Nguyễn ghi nhận như sau:

"Lịch sử Do Thái là lịch sử của Thánh Kinh Cựu Ước. Đối với Do Thái, quốc gia và tôn giáo là một. Chết vì nước cũng là chết vì Chúa của đạo Do Thái. Người Do Thái sống trong hiện tại với những chứng tích của lịch sử. Tâm linh của người Do Thái trong hiện tại luôn luôn gắn bó với tâm linh dân tộc trong lịch sử. Đó là lý do khiến người Do Thái đoàn kết và kiên cường chiến đấu." [10].

Nói tóm lại, đạo Do Thái là một tổ chức đại bịp để lường gạt người đời bằng  một ông là thượng đế với những quyền năng vô biên và ác tính siêu đẳng để hù dọa người sử dụng chính quyền độc tài  làm phương tỉện để cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải tuân phục vô điều kiện tất cả những gì do họ (tổ chức) đặt ra. Nói một cách khác, Do Thái Giáo là một thứ đạo phiệt (đứng trên chính quyền), sử dụng chính quyền như là một công cụ để thi hành những mệnh lệnh của tôn giáo. Những mệnh lệnh này vừa là giáo luật vừa là luật pháp và được coi như là những quy tắc đạo lý mà tất cả mọi người dân đều bị  cưỡng bách phải tuân hành. Như vậy là nhân dân bị cưỡng bách phải phục vụ cho  cả tôn giáo lẫn chính quyền. Nói riêng về tôn giáo, ta gọi đó là thứ tôn giáo   "cưỡng bách nhân dân phải phục vụ cho tôn giáo” (mà thực sự là phục vụ cho giai cấp giáo sĩ và bọn người tay sai của họ). Đây là một thứ tôn giáo vô cùng bạo ngược, dựa trên một số tín điều láo khoét được bịa đặt ra để lừa gạt người đời rồi dùng chính quyền chuyên chế (bạo lực)  làm phương tiện cho bọn tu sĩ  nô lệ hóa con người và bóc lột tín đồ đến tận xương tận tuỷ. Luật Sợ Chúa và Luật Cung Phụng Giáo Sĩ là bằng chứng.

ĐẠO DO THÁI BỊ PHÂN HÓA

Quy luật thiên nhiên là “vạn vật biến đổi không ngừng”. Vạn vật có thể lầ vật thể, có thể là sự vật và cũng có thể lả sinh vật. Sự biến đổi của sự vật và sinh vật có thể xẩy ra vì bản chất sinh tồn để thích nghi với môi sinh hay hoàn cảnh mới, nếu không tự thay đổi thì sẽ bị hủy diệt. Các tổ chức chính trị, xã hội, kinh tế, tôn giáo, v.v... cũng không thoát khỏi quy luât này. Sự biến đổi  cũng có thể là do những mâu thuẫn nội tại rồi sinh ra lủng củng, tranh chấp, thanh toán lẫn nhau rồi phân hóa thành nhiều hệ phái. Từ ngàn xưa, muôn vật ở trong vũ trụ này đều vận hành theo quy luật này. Đạo Do Thái cũng  ở trong trường hợp này.

Thực tế, trong quá khứ, Do Thái Giáo đã một lần biến đổi từ Do Thái Giáo Nguyên Thủy (thời ông Abraham) đến Do Thái Giáo Mới (thời ông Moses) với một ông Thượng Đế  hoàn toàn khác hẳn cả về danh xưng và bản chất. Hơn nữa, ngoài những  những Luật Sợ Chúa, Luật Trị Người, Luật Định Cung Phụng Giáo Sĩ, Luật Quy Định Việc Cung Phụng Thiên Chúa, lại còn có nhiều luật lệ chuyên chế khác (cũng đều mang tính cách luật thánh)  do sự hứng chí của các nhà thần học hay các ông giáo sĩ và cũng là nhà cầm quyền thêm vào để tăng cường mức độ bóc lột nhân dân và vơ vét cho đầy túi tham. Sau này, hoàn cảnh xã hội thay đổi theo thời gian thì tất nhiên những giáo luật và “lời Chúa” cũng phải được thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh mới. Thế nhưng,  kẹt một nỗi là khi ban hành những luật lệ chuyên chế (tự nó đã mang nặng tính cách bất chính, bất nhân và bất nghĩa), các ông giáo sĩ hay các nhà cầm quyền đều nói láo rằng họ đã được các đấng thánh linh "mặc khải" và gọi những luật đó là những "Thánh Luật" hay "Lời Chúa". Đã là "Thánh Luật" hay "Lời Chúa" thì  làm sao có thể thay đổi được?  Hơn nữa, có thay đổi hay không là do thiện chí của các ông giáo sĩ và những người có quyền lực. Khốn nỗi, những tín điều, giáo luật và “Lời Chúa” trên đây đã dành cho giới tu sĩ và giai cấp thống trị quá nhiều đặc quyền, đặc lợi  thì làm sao họ có thể thay đổi được! Chẳng lẽ thay đổi để cho họ chịu thiệt thòi hay sao?

Một khi mà những tín lý, giáo luật, thánh luật và “Lời Chúa” không thể thay đổi được trong khi tín đồ vẫn phải sống trong cảnh bất công và vẫn bị giai cấp   giáo sĩ  bóc lột đến tận xương tận tủy thì tất nhiên họ phải có cái nhìn hoài nghi, nếu không muốn nói là bất tín và khinh bỉ cái hệ thống tín lý, giáo luật, thánh luật và “Lời Chúa”  của Giáo Hội. Từ chỗ có cái nhìn hoài nghi hay khinh bỉ và bất tín, mẫu thuẫn nội tại bắt đầu nẩy sinh. Có mâu thuẫn nội tại mà không tương nhượng lẫn nhau để “dĩ hoà vi qúy” thì tất nhiên là đi đến chỗ phân hóa. Người viết cũng không biết đích xác đạo Do Thái Giáo Mới này bị phân hóa từ bao giờ. Theo ông Charlie Nguyễn thì tôn giáo này đã phân hóa ra thành ba hệ  phái vào những năm đầu thế kỷ thứ 2 trước công nguyên. Ba hệ phái này là:

1.- Giáo phái  Pharisees.- Giáo phái này có lập trường chính trị ôn hòa. Khi Đế Quốc La Mã đem quân đến tấn chiếm và thống trị đất nước Do Thái thì giới lãnh đạo của giáo phái này hợp tác với tân trào, rồi trở nên thành phần tin cẩn của chính quyền đương thời. Nhờ vậy mà họ trở thành giai cấp thương lưu hay trí thức trong xã hội Do Thái lúc bấy giờ. Cũng vì thế mà nhân dân Do Thái mới lên án giáo phái này là những “quân đạo đức giả”.  Không biết họ sử dung cụm từ “đạo đức giả” có phải là để tránh né khỏi phải sử dụng cụm từ “Do Thái gian” hay không. Có điều chắc chắn là nhân dân (đúng hơn là dân tộc) Do Thái rất khinh ghét và ghê tởm bọn người này giống như loài chó ghẻ. Cũng vì thế mà ngay nay, những người còn chịu ảnh hưởng của Do Thái Giáo như tí đồ Da-tô người Việt vẫn thường dùng từ “Pharisees” để ám chỉ   một người nào mà họ tỏ lòng khinh bỉ đối với người đó. Lúc đầu gia đình ông thợ mộc Joseph và Bà Maria thuộc hệ phái này.

2.- Giáo phái Sadducess.- Giáo phái này không những cuồng tín và bảo thủ mà lại còn  thuộc loại siêu máy móc, máy móc đến độ chỉ biết tin tưởng và tôn trọng những luật lệ thành văn, chứ không tôn trọng tục lệ bất thành văn. Giáo Phái này có tinh thần ái quốc rất cao cho nên họ chủ trương phải đánh đuổi quân thù xâm lược La Mã để giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc Do Thái.

3.- Giáo phái Essenes.- Giáo phái này có tinh thần xã hội đứng về phía dân nghèo và có chủ trương cộng đồng tài sản gần giống như cộng sản. Vì có tinh thần xã hội cho nên giáo phái này coi việc cải tiến dân sinh quan trọng hơn cả việc tranh đấu cho nền độc lập của dân tộc, và kịch liệt lên án hai hệ phái kia. Ông Jean Baptist theo hệ phái này. Thuở còn nhỏ, Ông Jesus theo phái Pharisees, nhưng khi ngoài 25 tuổi, ông đi theo ông Jean Baptist và đổi sang hệ phái này. Đạo Kitô Nguyên Thủy theo chủ trương của giáo phái này. Quý vị sẽ thấy rõ  hơn trong mục nói về đề tài này ở phần sau.

SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO KI TÔ DO THÁI

Khi ông Jesus chào đời, nước Do Thái hoàn toàn nằm dưới ách thống trị của Đế Quốc La Mã và đạo Do Thái đã phân hóa thành 3 hệ phái khác nhau. Dù là phân hóa, những căn bản tín lý, luật pháp cai trị nhân dân, địa vi thượng đẳng của giai cấp giáo sĩ vẫn không có gì thay đổi. Chỉ khác có một điều là chính quyền nằm ở trong tay Đế Quốc La Mã. Tình trạng này khiến cho giai cấp giáo sĩ của hệ phái nào thỏa hiệp với chính quyền Đế Quốc La Mã thi chiếm được ưu thế và được hưởng nhiêu đặc quyền đặc lợi. Hệ phái Pharasee đã lanh chân thỏa hiệp chính quyền Đế Quốc La Mã, cho nên giai cấp giáo sĩ của hệ phái này có thế giá và được ở vào địa vị ăn trên ngồi trước trong xã hội Do Thái vào thời kỳ này.

Thân thế và gia đình ông Jesus.- Ông Jesus sinh ra và lớn lên ở làng Nazaret trong vùng Galilee vào thời Đế Quốc La Mã thống trị cả vùng ven biển Địa Trung Hải, trong đó có  nước Do Thái, tổ quốc thân thương của ông. Thân phụ của ông tên là   Joseph làm nghề thợ mộc và thân mẫu tên là bà  Maria. (Người viết không biết ông Joseph là cha ruột hay cha ghẻ của ông Jesus.)  Ngoài ra, ông còn có một đàn em 7 người (có thể là cùng mẹ khác cha). Sự kiện này được sách sử ghi lại như sau:

“Bốn người anh em và nhiều chị em gái của ông Jesus đều được nói đến ở trong kinh sách của ông Mark 6. (Không có căn bản nào trong bản văn  này nói rằng những người anh chị em này là những người cùng cha khác mẹ hay là anh em con chú con bác đối với ông Jesus, và làm như vậy là phản lại động cơ giáo điều chủ nghĩa.) Tất các danh tính bà con của ông Jesus chứng tỏ rõ ràng cái tính chất thuần túy Do Thái của gia đình ông ta”. ["Four of Jesus' brothers and several sisters are mentioned in Mark 6. (There is no basis in the text for making them into half brothers and half sisters or cousins, and to do so betrays a dogmatic motive.) All his relatives' names testify the purely Jewish character of the family: his mother's name was Mary (miriam), his father's, Joseph, and his brothers', James (Jacob), Judas, and Simon names of Old Testament patriarchs".  [11]

Lớn lên, chính ông Jesus cũng tiếp cha làm nghề thợ mộc. Bất hạnh cho ông và cho cả nước Do Thái của ông, ngay từ lúc chào đời, nước Do Thái đã nằm dưới ách thống trị của quân xâm lăng La Mã với sự tiếp tay của bọn Do Thái gian Pharisee, bọn người chỉ biết “phô trương cái đạo đức vỏ để che đậy cuộc sống phóng đãng bỉ ổi"[12]. Chính gia đình ông Jesus cũng thuộc giáo phái Pharasee. Nhưng lớn lên, vào khoảng 30 tuổi, ông lại theo ông  Jean Baptists  thuộc giáo phái  Essenes, rồi theo giáo phái này và quay ra chỉ trích và lên án kịch liệt hệ phái Pharisee. Ông đi lang thang nhiều nơi trong nước Do Thái để giảng đạo Do Thái. Trong lúc hăng say giảng đạo, ông lộng ngôn tự xưng là Chúa Cứu Thế, lại thường hay công kích và lên án bọn tu sĩ thuộc hệ phái Pharisee  về những hành động bất chính của chúng. (Pharisee là  một trong ba hệ phái Do Thái Giáo  và thuộc phe thân chính quyền Đế Quốc La Mã đang cai trị nước Do Thái lúc bấy giờ).

Nhân dân Do Thái  lúc đó đang sôi sục căm thù  Đế Quốc La Mã  và bọn Pharisee, cho nên khi thấy ông chỉ trích bọn Pharisee thì bái phục, tin ông là Chúa Cứu Thế thật sự, và mong muốn ông trở thành người lãnh đạo phong trào cách mạng để đánh đuổi quân xâm lăng La Mã. Tiếc rằng ông không phải là nhà chính trị, và cũng không phải là nhà cách mạng, cho nên ông đã không đáp ứng được lòng mong muốn của họ. Đã không đáp ứng được khát vọng của họ, ông lại còn huyên thuyên nói chuyện trên trời dưới đất, toàn những chuyện viển vông, không có  liên hệ gì đến đại cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Cung cách ăn nói và việc làm của ông khiến cho họ thất vọng và nhìn ông như một thứ chướng ngại vật  cần phải bứng đi cho rảnh. Sự kiện này được sách Living World History ghi lại như sau:

"Nhiều người Do Thái cũng tin rằng ông Jesus là Đáng Cứu Thế mà họ đã mong đợi từ lâu. Họ thúc gịuc ông đứng ra lãnh đạo lực lượng vũ trang giải phóng nhân dân Do Thái thoát khỏi ách thống trị của người Lã Mã, nhưng ông Jesus lại không quan tâm đến việc này. Ông tìm cách giải thoát con người về phương diện đạo đức và tinh thần. Trong cơn giận dữ và thất vọng, họ quay ra chống ông và lên án ông rồi bắt ông nộp cho các viên chức chính quyền La Mã  để hành hình ông. Vị thống đốc La Mã là Pntius Pilate ra lệnh   đóng đinh ông trên  một chiếc thập tự giá." ("Many Jews believed, as Jesus Himself  did, that he was the long-awaited Messiah, or Christ. They urged Him to help them win their freedom from Rome by force, but Jesus was not concerned with leading a Jewish rebellion. He sought to liberate men morally and spiritually. In anger, and disappointment, many Jews turned against Him. He was condemned and turned over to Rome officials  for execution, and the Rome governor, Pontitus Pilate, ordered Him crucified.”[13]

Bản chất tự nhiên của con người có văn hóa là thù ghét quân cướp ngoại xâm và những người đồng bang làm tay sai cho quân cướp ngoại thù. Ngược lại, chính quyền đế quốc ngoại xâm và bọn người  bản xứ muối mặt bán rẻ quê hương cho quân cướp ngoại thù cũng chẳng ưa gì những thành phần có nhiệt tâm yêu nước, quyết tâm chống lại   quân xâm lược. Ông Jesus ở vào trường hợp này. Và ông đã bị bọn Do Thái gian Pharisiens toa rập cùng với chính quyền Do Thái bù nhìn dưới quyền viên Thống Đốc La Mã là Pontius Pilate coi như kẻ tử thù (giống hệt như các ông truyền giáo đạo Thiên Chúa La Mã cùng đám việt gian Ngô Đình Khả, Trần Lục, Nguyễn Hữu Bài, Lế Phát Đạt (Huyện Sĩ), Cao Xuân Dục, Trần Lục, Trần Ba Lộc, v.v...   cấu kết với chính quyền Bảo Hộ Thập Ác Vatican và Pháp). Chính vì vậy mà ông Jesus mới bị bọn Pharisiens cùng với chính quyền Do Thái bù nhìn truy lùng và bắt cho bằng được để rồi hành quyết ông bằng cách đóng đinh ông lên cây thập tự.

Đạo Ki-tô Do Thái ra đời.-  Cái chết thảm thương của ông Jesus làm cho nhiều người mến mộ tiếc thương. Họ tôn phong ông là Chúa Ki Tô (Christ hay Christo). Có môt điểm chắc chắn là cả bốn ông Luke, Matthew, John và Mark đều không phải là tông đồ (môn sinh trực tiếp) của ông Jesus. Chắc chắn là cả bốn ông đều được người ta kể lại rồi theo đó mà ghi lại. Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình. Ở vào cái thuở mà tin tức chỉ được loan truyền bằng miêng, lại được thêm mắm thêm muối cho câu chuyên được đậm  đà thì  làm sao có thể bảo đảm được tính cách trung thực của các sự kiện trong câu chuyện. Hơn nữa, trong lúc viết  những chuyện được kể lại, các ngài còn cường điệu, vẽ rắn thêm chân, bịa đặt ra nhiều phép lạ làm cho câu chuyện thêm phần hào hứng. Tình trạng này cũng giống như những văn nô Gia-tô người Việt thuờng víêt báo, viết sách nhằm để bốc thơm cá nhân ông Ngô Đình Diệm và chế độ   của ông ta, cũng như nhằm để bốc thơm và chạy tội cho Giáo Hội La Mã mà chúng ta đã từng thấy  trong cộng đồng người Việt hải ngoại.

Những bản văn của các ông Luke, Matthew, John và Mark  sau này được Giáo Hội La Mã ra lệnh sửa lại và thêm thắt cho thích hợp với chính sách khai thác những chuyện hoang đường đã có sẵn, đặt thêm những chuyện hoang đường khác, đặt thêm những tín lý mới và những phép lạ để lừa bịp người đời mà Giáo Hội đã chủ trương. Bốn bản văn này gom lại cùng với những lá thư của ông Paul (giao dịch với nhóm tín đồ khởi thủy) được gọi là Tân Ước. Cuốn Thánh Kinh có sẵn của Do Thái giáo gọi là Cựu Ước Kinh.

Ngoài bốn ông Luke, Matthew, John và Mark, còn có một vài tông đồ khác, đặc biệt nhất là ông Paul. Ông Paul vốn là một người Do Thái sinh trưởng trong vùng Tiểu Á. Thuở thiếu thời, ông Paul cho rằng những lời thuyết giảng về Ki Tô giáo mâu thuẫn với Do Thái giáo và chính ông đã từng tham dự vào việc đàn áp những người Ki Tô giáo. Chuyện rằng, một hôm, ông ta đang trên đường đi tìm bắt tín đồ Kitô giáo, ông nhìn thấy hình ảnh ông Jesus. Kẻ từ đó, ông trở thành một tín đồ thờ ông Jesus. Cũng từ đó cho đến khi ông qua đời vào năm 67, ông đi chu du qua nhiều đô thị quanh vùng phía đông Biển Địa Trung Hải để truyền bá cái thuyết thờ Thượng Đế theo quan niệm của đạo Do Thái và cái quan niệm cho rằng ông Jesus là Chúa Cứu Thế  của ông để cứu loài người khỏi cái "tội tổ tông" ba vạ do ông Chúa Cha Jehovah giáng cho loài người. Cái chủ thuyết tôn vinh ông Jesus lên bậc Chúa và tin tưởng vào lời dạy hão huyền về ngày "Chúa sẽ trở lại trần gian để phán xét" của ông Jesus được gọi là đạo Ki Tô hay đạo Thiên Chúa. (Chữ Christianity do chữ Christ vì người ta tôn ông Jesus là Christ tức là  Chúa Cứu Thế.)   Kể từ đó người ta gọi ông Jesus là Chúa Kitô.

AI  ĐÃ SÁNG LẬP RA ĐẠO KI-TÔ DO THÁI

Như vậy là từ lúc bị bắt cho tới khi bị đóng  vào thập giá rồi bị phơi thây ở Núi Sọ, ông Jesus không hề hay biết rằng sau này lại có người tôn ông lên làm Chúa Cứu Thế. Hồi đó, dân Do Thái đang căm thù quân xâm lăng  La Mã và bọn Do Thái gian, (nhất là bọn tu sĩ lãnh đạo giáo phái Pharisiens đang ẩn bóng dưới cái dù của quân đế quốc xâm lăng La Mã để được vinh thân phì da), cho nên có nhiều người quay ra theo đạo Ki Tô, coi như là một cách để tỏ lòng chống lại quân cướp xâm lược La Mã và cũng là một lối thoát để xoa dịu lòng uất hận của họ đối với những bọn lưu manh buôn thần bán thánh đội lốt thày tu. Phần lớn những người Do Thái tiên phong theo đạo Ki Tô là những người có liên hệ máu mủ với Chúa Jesus, đặc biệt nhất là những người bà con về phía bà Maria và những người bà con của các tông đồ đi rao giảng.

(Vì tôn giáo này phát xuất từ nước Do Thái và lúc đó chỉ có những người Do Thái theo tôn giáo này, cho nên các nhà viết sử mới gọi tôn giáo này là “đạo Ki Tô Do Thái”  (Jewish Christianity)   để phân biệt với "đạo Kitô La Mã" (the Roman Christianity or The Roman Catholicism)  và các đạo Thiên Chúa khác như “Chính  Thống Giáo' (Christian Orthodox), Tin Lành (Protestantism) và Anh Giáo (Anglicanism).

Khi còn sống, ông Jesus thường xưng với các môn đệ là “Ta” và các môn đệ thường thưa với ông là “Thày”. Suốt  trong mấy năm đi rao giảng "đao Do Thái", ông không hề nói một lời nào ngụ  ý khởi  lập   một tôn giáo nào cả. Sau khi bị chính quyền Đế Quốc La Mã kết án tử hình và bị đóng đinh  trên thập tự giá cả  hơn nửa thế kỷ, ông mới được các môn đệ tôn lên làm Chúa và gọi là Christ. Rồi sau đó mới nẩy sinh ra cái tôn giáo gọi là Kitô Giáo (Christianity) để tôn vinh ông. Do đó, ta có thể kết luận rằng người sáng lập ra Ki Tô Giáo hay Cơ Đốc Giáo (Thiên Chúa Giáo) là các tông đồ của ông Jesus trong đó có ông Peter, chứ không phải ông Jesus. Điều này cũng được ông Trúc Anh ghi lại trong bài viết “Jesus Christ: Sự Thật Mà Bạn Đã Biết Chăng?” đăng trong Văn Nghệ Tiền Phong Số 411 (tháng 3 năm 1993), nguyên văn như sau:

“Hãy lục lọi xới xốc toàn bộ quyển Thánh Kinh lên, các bạn cũng chẳng tìm được nơi nào Jesus tự xưng mình là Đấng Tối Cao của vũ trụ cả. Ngược lại, ngài đã khẳng định trước mặt dân Do Thái rằng ngài không phải Thượng Đế, mà là “Con Của Thượng Đế” (Giăng 10:37). Nhiều người Việt đọc Kinh Thánh vẫn thường lầm lẫn giữa hai chữ Chúa Trời (Dieu, God) và chữ Chúa (Lord, Seigneur) nên càng tưởng Jesus là Chúa Trời.” [14]

Như vậy, rõ ràng là ông Jesus không hề có ý định lập đạo Kitô. Những người sáng lập ra đạo Kitô là những đệ tử hay những người tự nhận là đệ tử của ông ta. Một trong những người này là ông Peter.

NHẬN XÉT VÊ  VIỆC LẬP ĐẠO KI-TÔ DO THÁI

Chúng ta biết rằng, ở vào thời đại cách đây hơn cả 2000 năm, trình độ dân trí của người thời bấy giờ còn thấp kém, lại nặng đầu óc mê tín và tin rằng bất cứ ỏ nơi nào ở trên thế gian này cũng có thần thánh hay hồn ma bóng quỷ ngự trị. Tình trạng này khiến cho người ta càng tin vào những điều nhảm nhí. Đối với những người ngu dốt đã nhắm mắt tin vào những chuyện nhảm nhí và láo khoét ở trong Cựu Ước Kinh thì mức độ tin nhảm nhí của họ càng sâu nặng hơn nữa. Một khi đã có nhiều người tin tưởng sâu nặng vào những điều nhảm nhí thì tất nhiên lại có những bọn người lợi dụng và  khai thác lòng tin nhảm nhí này hầu thủ lợi hay lập đạo thờ cúng những chuyện nhảm nhí để mượn danh đạo tạo danh đời. Ông Peter và đồng bọn của ông ta đã lợi dụng chuyện nhảm nhí  này mà sáng lập ra đạo Kitô. Bài viết về những huyền thoại bao quanh ông Jesus của Giáo-sư Trần Chung Ngọc được ghi lại dưới đây cho chúng ta thấy rõ sự kiện này và cái nền tảng tín lý của đạo Kitô:

Lý lịch mù mờ của Jesus, do đó, là một lợi điểm để Giáo Hội khai thác và mê hoặc những tín đồ đầu óc thấp kém, vì Giáo Hội muốn giải thích thế nào cũng được, bịa ra chuyện nào cũng xong, và với phương pháp nhồi sọ tín đồ ngay từ trong sữa mẹ, uốn nắn đầu óc để cho tín đồ tuân phục hệ thống quyền lực trong Giáo Hội, tín đồ chỉ có việc tin theo, khỏi cần thắc mắc hay bàn cãi.

Từ đó, tín đồ với những đầu óc thấp kém này bị nhồi vào đầu những huyền thoại về tội tổ tông, về tư cách thần thánh của Jesus, về khả năng “cứu rỗi” của Jesus, do đó tin rằng con người sinh ra là có tội, cần sự “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Jesus, và tin vào những lời hứa hẹn hão huyền về một đời sau. Hão huyền vì từ xưa cho tới nay chưa có ai từ thế giới bên kia trở về để cho thế gian biết về thực chất của sự “cứu rỗi” đó như thế nào, vì sự “cứu rỗi” này chỉ xẩy ra, nếu có, sau khi chết.  Jesus là một người Do Thái đã chết như mọi người, nhưng được vài tín đồ sùng bái, đơn phương khẳng định ông là con một của Thần Kitô, đã sống lại và bay lên trời, rồi lại trở lại trần gian để phán xét mọi người, sống cũng như chết, và những ai tin vào ông sẽ được ông “cứu rỗi”, cho lên Thiên Đường ở cùng với ông, v.v..., một huyền thoại được kể lại với nhiều chi tiết mâu thuẫn khác nhau bởi những người viết Tân Ước, và lẽ dĩ nhiên chưa ai có thể kiểm chứng được sự “cứu rỗi” này suốt trong hai ngàn năm lịch sử của Kitô Giáo. Trái lại, ngày nay các chuyên gia nghiên cứu tôn giáo và cổ sử trong và ngoài Giáo Hội đã bác bỏ hoàn toàn những huyền thoại về Jesus kể trên, như sẽ được trình bày trong những phần phân tích sau đây.

Niềm tin vào một sự “cứu rỗi” của Jesus vô hại vì nó đáp ứng được một sự khao khát tinh thần nào đó của con người, khi con người phải đối diện với những khó khăn, nghịch cảnh, bất trắc, và tính vô thường của mọi vật ở trên đời này, nên mơ tưởng đến một đời sau tốt đẹp hơn. Nếu những tín đồ này cứ an vui với niềm tin của mình và để yên cho người khác an vui với niềm tin riêng của họ thì thế giới nay đã tốt đẹp biết bao! Bất hạnh thay, như Tiến-sĩ Madalyn O’hair đã viết trong cuốn “Tất Cả Những Câu Hỏi Mà Các Bạn Muốn Hỏi Những Người Mỹ  Vô Thần” (All The Questions You Ever Wanted To Ask American Atheists, Back cover):

“Cái tiền đề căn bản của kitô giáo là sự bất khoan nhượng. Tín đồ Kitô không thể chỉ theo tín ngưỡng của mình và để cho mọi người khác theo tín ngưỡng của họ. Jesus Kitô đòi hỏi rằng các tín đồ Kitô phải đi cải đạo người khác (nghĩa là muốn cho mọi người đều phải tin vào Jesus và điều này đã gây nên nhiều sự đau khổ cho nhân loại hơn bất cứ tôn giáo nào khác. Những vị thần của các tôn giáo đa thần sống hòa bình với nhau. Nhưng khi Kitô Giáo xuất hiện với tính chất riêng biệt độc nhất của nó, dựa trên điều răn thứ nhất của 10 Điếu Răn, “Người không được thờ Thần nào khác”, thì sự giết chóc bắt đầu.

(The basic permise of the Christianity is intolerance. The Christian cannot just have his belief and permit everyone else to have theirs. Jesus Christ demanded that the Christian convert and this has caused more grief to mankind than any other religion. The old pegan gods lived side by side. But when Christianity came with its exclusivism, based on the first of the Ten Commandments, “Thou shalt have no other God before me,” the killing began.

Ngày nay, các học giả nghiên cứu Thánh Kinh, ở trong cũng như ở ngoài Kitô Giáo, đều đồng ý là cái câu đòi hỏi tín đổ đi cải đạo người khác trên toàn thế giới, cũng như nhiều câu về những vấn đề khác, mà người ta cho là Jesus nói, thực ra chỉ là sự ngụy tạo thêm thắt và Thánh Kinh của Giáo Hội Gia-tô với mưu đồ Gia-tô hóa toàn cầu, mê hoặc đám dân thấp kém, nhằm mục đích tạo nên quyền lực vật chất và tinh thần cho hàng giáo phẩm Gia-tô gồm từ Giáo Hoàng trở xuống đến hàng linh mục. Đúng là một sự ngụy tạo, vì Thánh Kinh đã viết rõ: Jesus tin rằng chính mình là đấng cứu thế của dân Do Thái, ngày tận thế sắp tới (Mathew 10:23. 16:28, 24:34; Mark 9:1, 13:30; Luke 21:30; Rom 13:11) và Jesus sẽ trở lại thế gian (second coming) một ngày gần đây.

Bao giờ trở lại? Chúng ta có thể trích dẫn 2 đoạn khác trong Thánh Kinh:

Mathew 16:17-18: “Ta sẽ trở lại với các thiên sứ trong vinh quang của cha ta để thưởng phạt mỗi người tùy theo việc họ làm. Ta bảo đảm với các ngươi, vài người đang đứng đây sẽ vẫn còn sống cho đến khi thấy ta đi vào trong vương quốc của ta.” [For the Son of Man will come in glory of his Father with his angels, and the he will reward each according to his work. Assuredly, I say to you, there are some standing here who shall not taste death till they see the Son of Man coming in his kingdom.)

Mark 9:1: Và Chúa nói với các môn đệ: “Ta bảo đảm với các ngươi là vài người đang đứng nơi đây sẽ vẫn còn sống cho tới khi thấy vương quốc của Thượng Đế đầy uy quyền.” (And He said to them, “Assuredly, I sayto you that there are some standing here will not taste death till they see the kingdom of God present with power.”)

Jesus hứa hẹn sẽ trở lại thế gian để phán xét con người, nghĩa là cho ai lên Thiên Đường thì cho,  bắt ai xuống hỏa ngục thì bắt, ngay trong thời mà một số người đồng thời với lúc ông còn sống, nhưng lời hứa này đã trở thành lời hứa suông, và trong 2000 năm qua, tín đồ Gia-tô cứ dài cổ ra ngóng ngày phán xét để lên Thiên Đường cùng Chúa. Nhưng Thiên Đường của Chúa, hay nước Trời lại cũng chỉ là điều Giáo Hội bịa đặt ra để dụ dỗ đám tín đồ thấp kém, nhẹ dạ, cả tin. Vì những tiến bộ trí thức của nhân loại, Giáo Hoàng John Paul II không còn cách nào khác là phải tuyên bố cùng giáo dân khi đi hành hương ở Rô Ma, ngày 21/7/1999, là chẳng có Thiên Đường nào ở trên trời, tất cả là ở trong tâm con người và ngay trong đời này, chứ chẳng phải ở đời sau. Rồi, một tuần lễ sau, ngày 28/7/1999, Ngài lại tuyên bố là chẳng có Hỏa Ngục nào ở dưới lòng đất, tất cả cũng chỉ do tâm con người trong đời sống hiện tại. Vậy, chuyện Chúa sống lại và xác bay lên Thiên Đường ngồi bên phải Chúa Cha, và khả năng “cứu rỗi” của Jesus  cũng như chuyện đầy đọa những ngưởi không tin theo Jesus xuống Hỏa Ngục rốt cuôc cũng   chỉ là những chuyện hoang đường, bịa đặt như Giáo Hoàng (John Paul II) đ