805-gdiem.gif (5390 bytes)

posted: 20.8.2005

PHẦN THỨ BA:

THI TẬP

Bài 1

                    SƠ ĐÁO LẠNG SƠN

1.  Khứ tuế Gia Định nam (*)

Kim niên Lạng Sơn bắc

Tây nhân kí chỉnh cư

Ngô đoàn diệc khổng cức

5.  Thuyền pháo nan để đương

Lam chướng dị kinh hoặc

Tòng lai chư duyên biên

Vô như thử kiệt tặc

Bất chiến tịch dư oai

10. Xuất sư hữu hà lực

Tuy nhiên lang tử tâm

Khởi nghi ngọa tháp trắc

Ngô bối sỉ tố xan

Hà nhân đương nhục thực

15. Nguyện tương dữ đồ hồi

Hạnh vật đạo cô tức

Thiền uyên thất độ hà

Thằng trì tư phấn dực

Tư mã sá binh nhung

20. Thái tể thận cống chức

Tỉnh tuế lũ phong đăng

Quan binh đồng tâm đức

Cẩu túc đa tất thành

Thử chúng chiến tắc khắc

25. Tận diệt bỉ cừ khôi

Vô ô ngã viên bức

Dị loại tuyệt tanh (tinh) chiên

Lưỡng kì đồng quách thức

Duy thiên tác Nam bang

30. Chúng tinh củng thần cực

Khể thủ bái vạn niên

32. Vương hiến (du) ca doãn tắc.

TRẦN ĐẠI VINH

phiên âm

                    1

LẦN ĐẦU ĐẾN LẠNG SƠN

1.   Năm ngoái Gia Định nam

Năm nay Lạng Sơn bắc

Bọn Tây đã chễm chệ

Lính Tàu cũng nguy cấp

5.   Thuyền súng khó cự đương

Lam chướng dễ kinh sợ

Từ đó các vùng biên

Không đâu như nghịch tặc

Chẳng đánh, mượn oai thừa

10. Ra quân đâu có sức

Tuy nhiên lòng chó sói

Há để kề bên hông

Bọn ta thẹn ngồi không

Kẻ nào xứng ăn thịt

15. Nguyện cùng nhau lo toan

May dân khỏi bức bách

Vực sâu khó qua sông

Ao trời lo sải cánh

Tư Mã thuận binh nhung

20. Tể tướng thận tuyển cử

Xem xét năm được mùa

Nhìn lính cùng tâm đức

Nếu lúa nhiều ắt xong

Lính ấy đánh tất thắng

25. Diệt hết lũ cừ khôi

Khỏi ô uế bờ cõi

Diệt loài tanh khác tộc

Nam Bắc cùng một mối

Nhờ trời dựng nước Nam

30. Muôn sao chầu Tử cực

Cúi đầu chúc muôn năm

32. Ngợi đức vua thông suốt.

TRẦN ĐẠI VINH

dịch thơ

1

LẦN ĐẦU TIÊN ĐẾN LẠNG SƠN

1.   Năm ngoái [vào] Gia Định [ở phía] nam

Năm nay [ra] Lạng Sơn [ở phía] bắc

Người Tây đã xong việc cướp đất (1)

Đoàn lính Ngô (2) cũng [đã] luồn thông gai góc (2)

5.   Thuyền, [súng] pháo [lớn của ta] khó chống lại,

            đương đầu

[Bởi] sương núi khí độc dễ [tạo thêm] nỗi e ngại

          [và] sự mờ lấp

Cứ theo những việc đã qua thì các vùng ven [biển],

           dọc các ải [núi]

Không [bọn giặc nào] như bọn giặc hung ác này

[Chúng] không đánh, [chỉ] mượn oai thừa

           [của bọn Tây]

10. Ra quân, [chúng] nào có sức

Tuy nhiên, lòng chó sói quyết chết

          [bởi ở thế cùng đường của chúng]

Chẳng lẽ [chúng] xứng đáng nằm

          [trên] giường hẹp [thường được treo]

          nghiêng [để dành tiếp khách quý] (3)?

Bọn ta xấu hổ [vì được ăn] cơm trắng [không độn]

[Còn] kẻ nào xứng đáng [với] thức ăn

          [là] thịt [kia nữa]!

15. [Hãy] nguyện cùng nhau vạch kế sách

          thu hồi [đất đai]

Tốt đẹp [là] đừng khiến đạo lí [bị] lẻ loi

          [và bị] tiêu diệt mất

Vực [có tên là] Thiền [giữa dòng],

          [chúng] hết [đường] qua sông

Ao [mang địa danh là] Thằng, [ta] lo làm mạnh cánh [bay]

Tư mã (4) phô trương (5) [lực lượng] quân đội

20. Thái tể (6) cân nhắc [trong việc] tiến cử,

          đề bạt [quan chức]

Xét năm [nay] nhiều lần được mùa [lúa, khoai]

Thấy lính tráng [cùng các quan] đồng tâm đức

Nếu [thóc gạo] đầy đủ, dồi dào ắt đánh thắng

[Thì] lính ấy chiến đấu tất trị được [giặc]

25. [Phải] diệt sạch những tên cầm đầu ấy

[Để] khỏi ô uế ruộng vườn, bờ cõi [của] ta

[Đối với] bọn khác loài [Tây, Tàu xâm lược],

           [phải] làm tiệt mùi tanh của dê,

           cừu [ở chúng]

Hai kì (tả kì: Nam; hữu kì: Bắc)

           cùng ý chí [và] cùng biên cương, thành trì

[Mong] vì [lẽ] Trời [mà] xây dựng nước [Việt] Nam (7)

30. Đông đảo ngôi sao [chầu] xoay quanh ngôi báu,

                                                          kinh vua

[Những ngôi sao ấy] cúi đầu, bái lễ vạn năm (8)

32. Mưu lược [của] nhà vua hát ca [về] biên cương

                 vững chãi [một cách] chính đáng (tin cậy).

          (1) Chỉnh cư: chiếm lấy mà ở; giặc chiếm ở đất mình (Đào Duy Anh, Từ điển Hán – Việt, bản in lần thứ ba, Nxb. Trường Thi, Sài Gòn, 1957, tập thượng, tr. 175).

          (2) Ngô: (từ chỉ chung người Tàu). Ngô đoàn, chỉ các đoàn quân phỉ vốn là tàn quân Thái Bình Thiên Quốc tràn sang nước ta, còn gọi là giặc Cờ (Đen, Vàng, Trắng). Pháp chỉ đạo Jean Dupuis, Puginier lợi dụng giặc này, hỗ trợ súng đạn cho bọn chúng để quấy rối Bắc Kì nước ta. Câu thơ còn chỉ chung về các triều đại phong kiến Trung Hoa: giặc Tàu đã nhiều lần chiếm cứ nước ta, như hiện nay ở sáu tỉnh Nam Kì (sau 1867), giặc Pháp đang “chỉnh cư”! (Xem chú thích (2) bản dịch nghĩa bài thơ số 4).

          (3) Tác giả sử dụng điển tích cổ (sau đó Nguyễn Khuyến có dùng trong bài “Khóc Dương Khuê”: “... Giường kia treo cũng hững hờ...”). Theo điển tích đó, có một danh sĩ xưa, treo riêng một chiếc giường, đợi khi bạn quý đến mới hạ xuống để tiếp bạn, nhằm bày tỏ lòng quý trọng, ưu ái; về sau, bạn quý ấy mất, danh sĩ kia liền chẻ giường, như Bá Nha đập vỡ đàn khi Tử Kì không còn nữa (Nguyễn Khuyến: “... Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn...”).

          (4), (6) Tư mã, thái tể là hai chức không có dưới triều Nguyễn. Tác giả nhằm chỉ đến thượng thư Bộ Binh, thượng thư Bộ Lại, thường kiêm Cơ mật viện đại thần.

          (5) Thượng thư Bộ Binh (7 âm lịch Kỉ tị, 1869) là Trần Tiễn Thành. Trước đó, Trần Tiễn Thành đã được sung làm khâm sai ra Bắc (ĐNLT., tập 4, sđd., tr. 164 - 165). Chữ “sá” này có nghĩa: phô trương, thị uy; không phải “thét” [lệnh]. Lúc này, Trần Tiễn Thành chưa lộ hẳn bản chất!

          (7) Hẳn nhắc đến bài thơ “Thần” của Lí Thường Kiệt (xem VNSL., b. 1964, sđd., tr. 108).

(8) Về hai chữ “vạn niên”, xin xem thêm chi tiết b cuối chú thích (16) bản dịch nghĩa, bài thơ số 56.

1

LẦN ĐẦU ĐẾN LẠNG SƠN

1.   Năm ngoái Gia Định nam

Năm nay Lạng Sơn bắc

Tây chễm chệ cướp đất

Gai góc giặc Cờ bươn

5.   Súng, thuyền chống, khó đương

Lam chướng, dễ mờ lấp

Từ đấy, các vùng biên

Giặc ấy quả lạ khác! (1)

Chẳng đánh, mượn oai thừa

10. Ra quân, chúng đuối sức

Nhưng lòng sói quyết chết

Há nằm giường sẵn dành?

Bọn ra thẹn trắng cơm (2)

Kẻ nào xứng chén thịt

15. Nguyện cùng lo thu đất

May đạo lí khỏi tan

Vực Thiền, hết qua sông

Đầm Thằng, lo cánh vút

Bộ thị uy binh nhung

20. Viện tiến cử cân nhắc

Xét năm được nhiều mùa

Nhìn lính cùng tâm đức

Nếu thóc nhiều tất xong

Lính ấy đánh phải được

25. Diệt sạch lũ cầm đầu

Khỏi ô uế Đất Nước

Tiệt cừu tanh khác loài

Cùng một mối Nam Bắc

Vì lẽ trời, dựng Việt

30. Ngôi báu, muôn sao chầu:

Cúi đầu, lạy vạn năm

32. Biên vững, trí vua hát.

(bản biên soạn)

          (1) Nguyên bản: “Không nơi đâu có bọn giặc hung tợn như thế”.

          (2) Xấu hổ với người ăn cơm hẩm gạo mốc (người dân).

Cước chú của bài thơ số 1, thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường):  

(*) Các bài dài, chúng tôi (TXA. [người biên soạn, viết tắt: nbs.]) tạm đánh số thứ tự các dòng thơ để tiện đối chiếu (không phải phân đoạn).

Bài 2

HỌA LẠNG VŨ (PHỦ) ĐẶNG

VỊNH CÚC

NGUYÊN VẬN

                   Tiểu xuân mai vị báo

                   Li hạ cúc phương khai

                   Chính sắc khi quần phổ

                   Kì hương yếm chúng tài

                   Tự phi chủ ý hảo

                   An đắc vãn hoa lai

                   Mạc vị tái phong lãnh

                   Tầm phương phụ thử hồi.

TRẦN ĐẠI VINH

                                                phiên âm

2

HỌA NGUYÊN VẦN BÀI VỊNH CÚC
CỦA TUẦN VŨ LẠNG SƠN HỌ ĐẶNG

                   Mai chửa báo sơ xuân

                   Cúc đã nở ngoài giậu

                   Sắc thắm khinh muôn hoa

                   Hương thơm hơn mọi thức

                   Nếu không có ý tốt

                   Sao được hoa muộn màng

                   Chớ bảo gió biên lạnh

                   Phụ lòng, mà kiếm hương.

TRẦN ĐẠI VINH

dịch thơ

2

HỌA NGUYÊN VẦN BÀI “VỊNH CÚC”
CỦA TUẦN VŨ LẠNG SƠN HỌ ĐẶNG (1)

Hoa mai chưa báo tiết tiểu xuân (2)

Dưới hàng giậu, hoa cúc vừa mới nở

Sắc đẹp đích thực

          [khiến] mọi sách phổ [chép về hoa] dối lòng (3)

Mùi hương lạ lùng

[làm] mọi chồi non [:tài năng trẻ] (4) nản [chí]

Bởi không [có] ý chuyên tốt lành (hoặc: chủ ý xong xuôi)

Sao được hoa [nở] muộn về sau (/ : đến [thăm]) [như thế]?

[Xin] chớ bảo gió biên ải lạnh lùng

[Mà] tìm danh thơm (5), [lại] phụ rẫy sự trở về này

                                                               [của cúc].

          (1) Đặng Toán (căn cứ vào: Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, chính biên, Viện Sử học dịch, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1971, tập 31, tr. 235, 287; và Đại Nam liệt truyện, bản dịch Viện Sử học, Nxb. Thuận Hóa, 1993, tập 4, tr. 294).

          (2) Tiết tiểu xuân: tiết trời vào khoảng tháng mười âm lịch hằng năm.

          (3) Nguyên văn: “khi” (dối lòng mình; lấn áp). Tất cả loại sách phổ (niên phổ, chủng phổ; ở đây là hoa phổ [: chép về phả hệ các loài hoa]) đều biểu hiện sự dối lòng trước một loại hoa đẹp, đẹp một cách đích thực, bằng sự hờn ghen, vô lễ. Trong tiếng Việt có các từ: khinh khi, khi dể, khi quân; trong đó, từ tố “khi” có các sắc thái ngữ nghĩa hơi khác nhau.  

          Cũng như câu thứ tư, câu này được sử dụng thủ pháp đảo trang (đảo ngữ): vị ngữ (“khi”, “yếm”) đứng trước chủ ngữ (“quần phổ”, “chúng tài”).

          (4) Nguyên văn: “tài” (trồng trỉa; chồi non). Hiểu như một ẩn dụ toàn bài (trường dụ): Cái tài năng của hoa (người tài) chính là mùi hương (giá trị tinh thần, trí tuệ) cống hiến cho đời. Xem chú thích (5): “vãn tiết hoàng hoa”.

          (5) Phương: danh thơm; mùi thơm. Tạm dịch: mùi trầm, khói trầm. Các quan ngày xưa thường đốt trầm tiếp khách quý hoặc để làm thơ, ngâm thơ, cũng có thể đốt chút trầm trong lồng ấp, sưởi cho ấm cúng khi trời rét. Với nhà thơ Nguyễn Văn Tường, hoa cúc nở muộn vào tháng mười, sắc vàng màu nắng, màu thật của cúc, cũng sưởi ấm mắt nhìn người lính ở biên phòng.

          “Tầm phương”, nghĩa bóng còn là: “đi tìm tình nhân; thăm chỗ phong cảnh đẹp” (TĐHV., sđd., quyển hạ, tr. 246).

Ngoài hai nghĩa trên, hoa cúc nở vào tiết mùa đông còn là biểu tượng chỉ tiết tháo người quân tử thời loạn (TĐHV. sđd., tập hạ, tr. 536): “vãn tiết hoàng hoa”. Xin xem chú thích (2), bản dịch nghĩa bài thơ số 24.

2

“NGỢI CA HOA CÚC”

                             Họa thơ Đặng Toán

Xuân non mai hứa báo

Bừng cúc dưới chân thành

Sắc, hờn muôn sách đỏ (1)

Hương, nản vạn chồi xanh

Không lòng chuyên tốt giữ (2)

Được cúc muộn xinh dành? (2)

Chớ bảo gió biên rét

Phụ hoa về, dạo quanh!                 

                   (bản biên soạn 2/1)

Xuân chớm, nhựa mai hứa báo

Cúc vừa nở dưới giậu xanh

Thật sắc, khiến hờn hoa phả

Lạ hương, làm nản thảo danh

Không vì ý lành giữ ngọc (2)

Được sao cúc muộn lưu cành? (2)

Đừng bảo gió biên ải lạnh

Mặc hoa, trầm cứ kiếm quanh!

(bản biên soạn 2/2)

          (1) Chữ “phổ” (phả); hiểu linh hoạt (tất nhiên không đúng nguyên văn): loại sách đỏ, viết về các loại động thực vật quý hiếm, cần được bảo vệ. “Sách đỏ” đối với “chồi xanh”. Ở bản 2/2 (lục ngôn biến thể), “hoa phả” sẽ được đối với “thảo danh” (: tên hoặc danh vị các loài hoa).

          (2) “Tự”: bởi (đối với “an”: tại sao); không thể dịch là mình, tự thân. Giả định là “mình”, đại từ ngôi thứ nhất, được dùng như ngôi thứ hai để tỏ sự thân tình, xem bạn như mình: “Ý lành, mình không cốt, Hoa muộn, ấy sao thăm? Gió ải đừng than lạnh; Phụ hoa, lại kiếm trầm!”. 

          “Về sau” được thay bằng ý niệm “để dành”. Từ đó, có các cặp tiểu đối: “tốt giữ – xinh dành”; “giữ ngọc – lưu cành”.

Bài 3

SƯ THỨ CAO BẰNG

                   Bắc vọng quần sơn sơn chính cao

                   Thiên tương sơn thế tác ba đào

                   Địa liên Thanh giới phân đình chướng

                   Dân tạp Man Nùng đới kiếm đao

                   Phụ hiểm Mạc gia dư thổ lũy

                   Yết kì Trình thị xướng nhân hào

                   Tam Trung tinh sảng kim an tại?

                   Sơn sắc tuyền thanh nguyệt hạ xao.                            

TRẦN ĐẠI VINH

phiên âm

3

ĐÓNG QUÂN Ở CAO BẰNG

                   Trông phía Bắc, chồng chất núi cao

                   Trời nhân thế núi dấy ba đào

                   Đất liền Trung Quốc chia ngăn trở

                   Dân lẫn Mán Nùng vác kiếm đao

                   Hiểm yếu tăng thêm là lũy Mạc

                   Dựng cờ kêu gọi ấy Trình hào

                   Tam Trung linh khí nay còn mất?

                   Tiếng suối màu non bóng nguyệt xao.

TRẦN ĐẠI VINH

dịch thơ

3

ĐOÀN QUÂN CAO BẰNG (1)

[Xứ] Bắc ngẩng trông [các] cụm núi; núi sắp đặt

                                           lại tầm cao

Trời định làm thế núi nổi sóng [như sóng biển] (1)

Đất [ấy] liền [với] biên giới nước Thanh (2),

           [cùng] chia ra rào cản (bình phong) (3), nhà trạm

Dân [ở đó], [người] Thượng (4) [ở] lẫn [với]

             [người] Nùng (5), [đều] đội kiếm đao (4) (5)

Cậy vào [thế] hiểm yếu, nhà Mạc (6) thừa thãi [hoặc: trơ ra]

                                              lũy [đắp bằng] đất

Mở giăng [ngọn] cờ, [những người] họ Trình (7)

                                   kêu gọi tài sức [của] con người

[Sự] trong sáng tinh thần [của] Tam Trung (8),

                                                    nay còn chăng?

Màu núi, tiếng suối, dưới trăng, xao xuyến.

          (1) Cao Bằng là tên gọi của một vùng đất ở biên giới phía bắc nước ta, từ thời Tây Sơn, thời Nguyễn. Trước đó gọi là Cao Bình. “Bình” hay “Bằng” đều cùng một nghĩa, một mặt chữ Hán. Hai câu đề của bài thơ thể hiện sự cấu tứ từ địa danh. Đó là vùng đất bằng dậy sóng, núi cần phải cao hơn để chặn giặc Tàu, nhưng cũng vì thế nên nhà Mạc có nơi nương náu lúc suy vi, và lắm phỉ.

          (2) Nước Thanh: Trung Quốc thời nhà Thanh có quốc hiệu là Đại Thanh.

          (3) Đường ranh giới thời Nguyễn có rào gỗ hoặc lấy sống núi làm mốc. Có một ngọn núi như bức bình phong, gọi là núi Bình Phong.

          (4), (5) Số người miền xuôi (Kinh, còn gọi là Nam) trung thành với nhà Mạc sau khi bị họ Trịnh (phù Lê) đánh bại. Những người Kinh này dần dà đã Tày, Nùng hóa (“Kinh già hóa Thổ”) [xem Trần Quốc Vượng, Việt Nam, cái nhìn địa văn hóa, Nxb. Văn hóa dân tộc, 1998, tr. 23]. Nhưng đó chỉ là một bộ phận, còn phần lớn người Kinh định cư ở đó qua nhiều thời kì khác nhau, kể từ thời cổ đại.

          Chữ “man” Nguyễn Văn Tường sử dụng ở đây là theo ước lệ ngôn ngữ của thời đại ông. Ông cũng gọi bọn giặc Cờ là “man rợ”, mặc dù giặc Cờ là tàn dư Thái Bình Thiên Quốc (ở Trung Hoa, 1850 - 1864; xem Phan Khoang, Trung Quốc sử lược, in lần thứ ba tại ấn quán Hồng Phát, Chợ Lớn, 1958, tr. 363-368). Giặc Cờ hầu hết là người Hán, phù Hán tộc, chống nhà Thanh. Ông cũng gọi người Pháp (Phú Lãng Sa) là “bọn mọi rợ”, xét về bản chất thực dân của chúng và phong tục của người Phương Tây (phong tục Phương Tây theo mắt nhìn Việt Nam hồi đó là dã man). Nguyễn Văn Tường không có tư tưởng miệt thị dân tộc, nhân tộc, mà trái lại, như tác giả Hạnh Thục ca (Nguyễn Nhược thị Bích) đã ghi nhận:

                   “Nhưng người lấy đức rộng bao

                   Tín thành cảm đến Mọi, Lào mến ân...”

                                      (Hạnh Thục ca, sđd, tr. 16)

Tác giả bài ca trên cho rằng, chính nhờ lòng yêu mến, trân trọng các nhân tộc ít người ở nước ta và ở nước láng giềng mà khâm sai đại thần Nguyễn Văn Tường đã chiến thắng giặc Pháp trên mặt trận ngoại giao, 1874, và sau đó, đã cảm hóa được khâm sứ Pháp Philastre, khi Nguyễn Văn Tường đã là Kì Vĩ bá [xem Delvaux, Ngoại vụ Paris tại Việt Nam, “Phái bộ Pháp ở Huế và những phái viên đầu tiên”, Những người bạn cố đô Huế (BAVH., 1916), tập 3, sđd., tr. 32, 36 - 37]. Không những “sài lang” Pháp phải “thói dữ chút răn, đất thành giao lại, quan quân tha về”, mà còn tự “dẹp thói lung lăng” (HTC., sđd., tr. 16) của chúng. Philastre đã “đầu hàng”, “phản bội” Puginier, Rheinart, bọn thực dân quyết tâm xâm lược Bắc Kì và một bộ phận dân Bắc Kì theo Pháp, tả đạo (Tsuboi, NĐNĐDVPVTH., sđd., tr. 117 và 237 - 238), lại “chịu ảnh hưởng”, tâm phục Nguyễn Văn Tường (Delvaux, bài viết trên, sđd., tập 3, tr. 36 - 37). Sự tâm phục đó là sự tâm cảm ý thức bình đẳng nhân tộc.

          (6) Nhà Mạc: triều đại do Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Hậu Lê dựng nên; về sau trở thành Bắc triều, chống cự với Nam triều của nhà Hậu Lê trung hưng do Trịnh Kiểm tôn phù. Nhà Mạc còn tồn tại ở đất Cao Bằng khá lâu, sau khi đã bị họ Trịnh quét sạch ở miền xuôi và ở các tỉnh miền núi khác, từ 1592 (tồn tại ở đấy thêm 96 năm).

          (7) Họ Trình: chắc chắn không phải là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, người góp ý cho nhà Mạc về việc chọn Cao Bằng làm nơi nương náu khi đã suy vong. “Trình” chỉ là mĩ hiệu (Trình [quốc công]). Họ Trình ở đây là Trình Văn Châu, Trình Văn Quang thời Minh Mạng có công dẹp phỉ. Trình Văn Châu với 36 xã thôn và nhiều người cùng có công khác được ban biển ngạch “Hiếu nghĩa tri phương” (hiếu nghĩa, danh thơm được biết đến). Trình Văn Quang được thờ ở đền Trung Nghĩa.

          (8) Tam Trung: đền Tam Trung (“Tam Trung từ”) ở xã Gia Cung, huyện Thạch An, Cao Bằng, thời Nguyễn, thờ 3 liệt sĩ giữ thành, tử tiết do bị bè đảng của Nông Văn Vân ở Tuyên Quang vây đánh – Nông Văn Vân và Lê Văn Khôi ở Gia Định (Nam Kì) có liên can với nhau, trong việc nổi loạn, thời Minh Mạng. “Tam Trung” là Nguyễn Huy Tăng (bố chính sứ), Phạm Đình Trạc (án sát sứ), Phạm Văn Lưu (lãnh binh).

          [Xem thêm: Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC.), tập 4, Phạm Trọng Điềm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb. Thuận Hóa, 1992, tr. 401 - 430, về các chú thích trên].

3

ĐOÀN QUÂN CAO BẰNG

                   Ngàn núi Bắc trông, núi thẳng (1) cao

                   Trời toan: thế núi sóng vươn gào!

                   Đất liền Thanh ải, chia rào trạm

                   Dân lẫn Di Nùng đội kiếm đao

                   Cậy bẫy, Mạc tan, trơ lũy đất

                   Giăng cờ, Trình gọi, lắm anh hào

                   Tam Trung tâm sáng nay đâu nhỉ?

                   Tiếng suối màu non dưới nguyệt xao!                                              

(bản biên soạn)

          (1) Nguyên văn: “sơn chính cao”. Nếu chữ “chính” là động từ (làm vị từ cho cụm chủ – vị này), xin tạm dịch như ở bản dịch nghĩa. Bản dịch thơ này tạm xem như tính từ, không phải với nghĩa ngược với “phụ” (chính sơn), mà với nghĩa “[núi] ngay thẳng [cao vút]”. Có thể đây là một bài thơ chân cảm và dự cảm, với Phạm Thận Duật (nếu Phạm Thận Duật lấy hiệu Vọng Sơn từ núi Khâu Sầm, vốn là vọng sơn của tỉnh, một trong bốn quả núi được xem là “tứ trụ”; xem ĐNNTC., tập 4, sđd., tr. 409 – 410 (*)), lúc cả hai người đang ở đất Bắc vào những năm cuối thập niên sáu mươi, đầu thập niên bảy mươi, thế kỉ XIX. Có thể với Nguyễn Văn Tường, đây là một địa thế kháng chiến rất tốt. Ông đã từng quan tâm đến kinh nghiệm chiến đấu ở địa bàn miền núi của các đầu mục giặc (phỉ) Cao Bằng (vì không trung thành với nhà Lê) từ lúc chưa hề ra Cao Bằng, còn ở Thành Hóa (Cam Lộ), Quảng Trị để xây dựng thượng đạo nối liền từ Bình Định ra đến Nghệ An; từng đệ tấu xin vua Tự Đức đưa đầu mục phỉ Cao Bằng vào Thành Hóa (Cam Lộ), (xem ĐNNTC., sđd., tập 31, tr. 86 - 89, 103 - 104), để trực tiếp học tập kinh nghiệm và để cải tạo, sử dụng các đầu mục ấy. Tuy chỉ là suy diễn từ bài thơ này, nhưng người đọc cũng có thể hình dung tầm nhìn chiến lược của Nguyễn Văn Tường về các địa bàn miền núi của nước ta trong phương án kháng chiến chống Pháp và tiễu phỉ (giặc Cờ...), từ những năm ấy (1868 - 1873), kể cả quan điểm về công tác cải tạo, sử dụng đối tượng phạm nhân vốn là phỉ...

          Nhưng đó chỉ là suy diễn mở rộng, đào sâu .

          “Sơn chính cao” chỉ là núi cao thẳng đứng, một chi tiết để miêu tả, biểu đạt cảm nghĩ về non nước, lịch sử Cao Bằng yêu mến của tâm hồn Nguyễn Văn Tường, với niềm bâng khuâng về “tâm sáng Tam Trung”, hình ảnh cụ thể của một tiêu chí tư tưởng chính trị, lí tưởng thẩm mĩ ở ông, khi còn là quan tán lí quân vụ - nhà thơ (mãi cho đến lúc trở thành Kì Vĩ phụ chánh đại thần bị lưu đày và mất ở Tahiti).

Cước chú của bài thơ số 3, thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường):

(*)  Ở tỉnh Ninh Bình cũng có một ngọn núi được xem là vọng sơn, nên hai chữ Vọng Sơn còn là danh từ riêng thứ hai của ngọn núi ấy.