posted: 20.8.2005
PHẦN
THỨ BA: THI
TẬP Bài
1
SƠ ĐÁO LẠNG SƠN 1. Khứ tuế Gia Định nam (*) Kim
niên Lạng Sơn bắc Tây
nhân kí chỉnh cư Ngô
đoàn diệc khổng cức 5. Thuyền pháo nan để đương Lam
chướng dị kinh hoặc Tòng
lai chư duyên biên Vô
như thử kiệt tặc Bất
chiến tịch dư oai 10.
Xuất sư hữu hà lực Tuy
nhiên lang tử tâm Khởi
nghi ngọa tháp trắc Ngô
bối sỉ tố xan Hà
nhân đương nhục thực 15.
Nguyện tương dữ đồ hồi Hạnh
vật đạo cô tức Thiền
uyên thất độ hà Thằng
trì tư phấn dực Tư
mã sá binh nhung 20.
Thái tể thận cống chức Tỉnh
tuế lũ phong đăng Quan
binh đồng tâm đức Cẩu
túc đa tất thành Thử
chúng chiến tắc khắc 25.
Tận diệt bỉ cừ khôi Vô
ô ngã viên bức Dị
loại tuyệt tanh (tinh) chiên Lưỡng
kì đồng quách thức Duy
thiên tác 30.
Chúng tinh củng thần cực Khể
thủ bái vạn niên 32.
Vương hiến (du) ca doãn tắc. TRẦN
ĐẠI VINH phiên
âm
1 LẦN
ĐẦU ĐẾN LẠNG SƠN 1. Năm ngoái Gia Định nam Năm
nay Lạng Sơn bắc Bọn
Tây đã chễm chệ Lính
Tàu cũng nguy cấp 5. Thuyền súng khó cự đương Lam
chướng dễ kinh sợ Từ
đó các vùng biên Không
đâu như nghịch tặc Chẳng
đánh, mượn oai thừa 10.
Ra quân đâu có sức Tuy
nhiên lòng chó sói Há
để kề bên hông Bọn
ta thẹn ngồi không Kẻ
nào xứng ăn thịt 15.
Nguyện cùng nhau lo toan May
dân khỏi bức bách Vực
sâu khó qua sông Ao
trời lo sải cánh Tư
Mã thuận binh nhung 20.
Tể tướng thận tuyển cử Xem
xét năm được mùa Nhìn
lính cùng tâm đức Nếu
lúa nhiều ắt xong Lính
ấy đánh tất thắng 25.
Diệt hết lũ cừ khôi Khỏi
ô uế bờ cõi Diệt
loài tanh khác tộc Nhờ
trời dựng nước 30.
Muôn sao chầu Tử cực Cúi
đầu chúc muôn năm 32.
Ngợi đức vua thông suốt. TRẦN
ĐẠI VINH dịch
thơ 1 LẦN
ĐẦU TIÊN ĐẾN LẠNG SƠN 1. Năm ngoái [vào] Gia Định [ở phía]
nam Năm
nay [ra] Lạng Sơn [ở phía] bắc Người
Tây đã xong việc cướp đất (1) Đoàn
lính Ngô (2) cũng [đã] luồn thông gai góc (2) 5. Thuyền, [súng] pháo [lớn của ta] khó
chống lại,
đương đầu [Bởi]
sương núi khí độc dễ [tạo thêm] nỗi e ngại [và]
sự mờ lấp Cứ
theo những việc đã qua thì các vùng ven [biển], dọc
các ải [núi] Không
[bọn giặc nào] như bọn giặc hung ác này [Chúng]
không đánh, [chỉ] mượn oai thừa [của
bọn Tây] 10.
Ra quân, [chúng] nào có sức Tuy
nhiên, lòng chó sói quyết chết [bởi
ở thế cùng đường của chúng] Chẳng
lẽ [chúng] xứng đáng nằm [trên]
giường hẹp [thường được treo] nghiêng
[để dành tiếp khách quý] (3)? Bọn
ta xấu hổ [vì được ăn] cơm trắng [không độn] [Còn]
kẻ nào xứng đáng [với] thức ăn [là]
thịt [kia nữa]! 15.
[Hãy] nguyện cùng nhau vạch kế sách thu
hồi [đất đai] Tốt
đẹp [là] đừng khiến đạo lí [bị] lẻ loi [và
bị] tiêu diệt mất Vực
[có tên là] Thiền [giữa dòng], [chúng]
hết [đường] qua sông Ao
[mang địa danh là] Thằng, [ta] lo làm mạnh
cánh [bay] Tư
mã (4) phô trương (5) [lực lượng] quân đội 20.
Thái tể (6) cân nhắc [trong việc] tiến cử, đề
bạt [quan chức] Xét
năm [nay] nhiều lần được mùa [lúa, khoai] Thấy
lính tráng [cùng các quan] đồng tâm đức Nếu
[thóc gạo] đầy đủ, dồi dào ắt đánh thắng [Thì]
lính ấy chiến đấu tất trị được [giặc] 25.
[Phải] diệt sạch những tên cầm đầu ấy [Để]
khỏi ô uế ruộng vườn, bờ cõi [của] ta [Đối
với] bọn khác loài [Tây, Tàu xâm lược], [phải]
làm tiệt mùi tanh của dê, cừu
[ở chúng] Hai
kì (tả kì: cùng
ý chí [và] cùng biên cương, thành trì [Mong]
vì [lẽ] Trời [mà] xây dựng nước [Việt] 30.
Đông đảo ngôi sao [chầu] xoay quanh ngôi báu,
kinh
vua [Những
ngôi sao ấy] cúi đầu, bái lễ vạn năm (8) 32.
Mưu lược [của] nhà vua hát ca [về] biên cương
vững
chãi [một cách] chính đáng (tin cậy). (1)
Chỉnh cư: chiếm lấy mà ở; giặc chiếm ở đất mình (Đào Duy Anh, Từ điển Hán – Việt, bản in lần thứ
ba, Nxb. Trường Thi, Sài Gòn, 1957, tập thượng, tr. 175). (2)
Ngô: (từ chỉ chung người Tàu). Ngô đoàn, chỉ các đoàn quân phỉ vốn
là tàn quân Thái Bình Thiên Quốc tràn sang nước ta, còn gọi là giặc Cờ
(Đen, Vàng, Trắng). Pháp chỉ đạo Jean Dupuis, Puginier lợi dụng giặc này,
hỗ trợ súng đạn cho bọn chúng để quấy rối Bắc Kì nước ta. Câu thơ
còn chỉ chung về các triều đại phong kiến Trung Hoa: giặc Tàu đã nhiều
lần chiếm cứ nước ta, như hiện nay ở sáu tỉnh Nam Kì (sau 1867), giặc
Pháp đang “chỉnh cư”! (Xem chú thích (2) bản dịch nghĩa bài thơ số 4). (3)
Tác giả sử dụng điển tích cổ (sau đó Nguyễn Khuyến có dùng trong bài
“Khóc Dương Khuê”: “... Giường kia treo cũng hững hờ...”). Theo điển tích
đó, có một danh sĩ xưa, treo riêng một chiếc giường, đợi
khi bạn quý đến mới hạ xuống để tiếp bạn, nhằm bày tỏ lòng quý
trọng, ưu ái; về sau, bạn quý ấy mất, danh sĩ kia liền chẻ giường,
như Bá Nha đập vỡ đàn khi Tử Kì không còn nữa (Nguyễn Khuyến: “... Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn...”). (4),
(6) Tư mã, thái tể là hai chức không có dưới triều Nguyễn. Tác giả nhằm
chỉ đến thượng thư Bộ Binh, thượng thư Bộ Lại, thường kiêm Cơ mật
viện đại thần. (5)
Thượng thư Bộ Binh (7 âm lịch Kỉ tị, 1869) là Trần Tiễn Thành. Trước
đó, Trần Tiễn Thành đã được sung làm khâm sai ra Bắc (ĐNLT., tập 4,
sđd., tr. 164 - 165). Chữ “sá” này có nghĩa: phô trương, thị uy; không phải
“thét” [lệnh]. Lúc này, Trần Tiễn Thành chưa lộ hẳn bản chất! (7)
Hẳn nhắc đến bài thơ “Thần” của
Lí Thường Kiệt (xem VNSL., b. 1964, sđd., tr. 108). (8)
Về hai chữ “vạn niên”, xin xem thêm chi tiết b’ cuối chú thích (16) bản dịch nghĩa, bài
thơ số 56. 1 LẦN
ĐẦU ĐẾN LẠNG SƠN 1. Năm ngoái Gia Định nam Năm
nay Lạng Sơn bắc Tây
chễm chệ cướp đất Gai
góc giặc Cờ bươn 5. Súng, thuyền chống, khó đương Lam
chướng, dễ mờ lấp Từ
đấy, các vùng biên Giặc
ấy quả lạ khác! (1) Chẳng
đánh, mượn oai thừa 10.
Ra quân, chúng đuối sức Nhưng
lòng sói quyết chết Há
nằm giường sẵn dành? Bọn
ra thẹn trắng cơm (2) Kẻ
nào xứng chén thịt 15.
Nguyện cùng lo thu đất May
đạo lí khỏi tan Vực
Thiền, hết qua sông Đầm
Thằng, lo cánh vút Bộ
thị uy binh nhung 20.
Viện tiến cử cân nhắc Xét
năm được nhiều mùa Nhìn
lính cùng tâm đức Nếu
thóc nhiều tất xong Lính
ấy đánh phải được 25.
Diệt sạch lũ cầm đầu Khỏi
ô uế Đất Nước Tiệt
cừu tanh khác loài Cùng
một mối Vì
lẽ trời, dựng Việt 30.
Ngôi báu, muôn sao chầu: Cúi
đầu, lạy vạn năm 32.
Biên vững, trí vua hát. (bản
biên soạn) (1)
Nguyên bản: “Không nơi đâu có bọn giặc
hung tợn như thế”. (2)
Xấu hổ với người ăn cơm hẩm gạo mốc (người dân). Cước chú của bài thơ
số 1, thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn
Văn Tường): (*) Các bài
dài, chúng tôi (TXA. [người biên soạn, viết tắt: nbs.]) tạm đánh số thứ
tự các dòng thơ để tiện đối chiếu (không phải phân đoạn). Bài
2 HỌA
LẠNG VŨ (PHỦ) ĐẶNG VỊNH
CÚC NGUYÊN
VẬN
Tiểu xuân mai vị báo
Li
hạ cúc phương khai
Chính
sắc khi quần phổ
Kì
hương yếm chúng tài
Tự
phi chủ ý hảo
An
đắc vãn hoa lai
Mạc
vị tái phong lãnh
Tầm
phương phụ thử hồi. TRẦN
ĐẠI VINH
phiên
âm 2
Mai chửa báo sơ xuân
Cúc
đã nở ngoài giậu
Sắc
thắm khinh muôn hoa
Hương
thơm hơn mọi thức
Nếu
không có ý tốt
Sao
được hoa muộn màng
Chớ
bảo gió biên lạnh
Phụ
lòng, mà kiếm hương. TRẦN
ĐẠI VINH dịch
thơ 2
Hoa
mai chưa báo tiết tiểu xuân (2) Dưới
hàng giậu, hoa cúc vừa mới nở Sắc
đẹp đích thực [khiến]
mọi sách phổ [chép về hoa] dối lòng (3) Mùi
hương lạ lùng [làm]
mọi chồi non [:tài năng trẻ] (4) nản [chí] Bởi
không [có] ý chuyên tốt lành (hoặc: chủ ý xong xuôi) Sao
được hoa [nở] muộn về sau (/ : đến [thăm]) [như thế]? [Xin]
chớ bảo gió biên ải lạnh lùng [Mà]
tìm danh thơm (5), [lại] phụ rẫy sự trở về này
[của
cúc]. (1)
Đặng Toán (căn cứ vào: Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục,
chính biên, Viện Sử học dịch,
Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1971, tập 31, tr. 235, 287; và Đại Nam liệt
truyện, bản dịch Viện Sử học, Nxb. Thuận Hóa, 1993, tập 4, tr.
294). (2)
Tiết tiểu xuân: tiết trời vào khoảng tháng mười âm lịch hằng năm. (3)
Nguyên văn: “khi” (dối lòng mình; lấn áp). Tất cả loại sách phổ
(niên phổ, chủng phổ; ở đây là hoa phổ
[: chép về phả hệ các loài hoa])
đều biểu hiện sự dối lòng trước một loại hoa đẹp, đẹp
một cách đích thực, bằng sự hờn ghen, vô lễ. Trong tiếng Việt có các
từ: khinh khi, khi dể, khi quân; trong đó,
từ tố “khi” có các sắc thái ngữ
nghĩa hơi khác nhau. Cũng
như câu thứ tư, câu này được sử dụng thủ pháp đảo trang (đảo ngữ):
vị ngữ (“khi”, “yếm”) đứng trước chủ ngữ (“quần phổ”, “chúng
tài”). (4)
Nguyên văn: “tài” (trồng trỉa; chồi non). Hiểu như một ẩn dụ toàn
bài (trường dụ): Cái tài năng của
hoa (người tài) chính là mùi hương (giá trị tinh thần, trí tuệ) cống
hiến cho đời. Xem chú thích (5): “vãn tiết
hoàng hoa”. (5)
Phương: danh thơm; mùi thơm. Tạm dịch: mùi trầm, khói trầm. Các quan ngày
xưa thường đốt trầm tiếp khách quý hoặc để làm thơ, ngâm thơ, cũng
có thể đốt chút trầm trong lồng ấp, sưởi cho ấm cúng khi trời rét. Với
nhà thơ Nguyễn Văn Tường, hoa cúc nở muộn vào tháng mười, sắc vàng
màu nắng, màu thật của cúc, cũng sưởi ấm mắt nhìn người lính ở
biên phòng. “Tầm
phương”, nghĩa bóng còn là: “đi tìm
tình nhân; thăm chỗ phong cảnh đẹp” (TĐHV.,
sđd., quyển hạ, tr. 246). Ngoài
hai nghĩa trên, hoa cúc nở vào tiết mùa đông còn là biểu tượng chỉ tiết
tháo người quân tử thời loạn (TĐHV. sđd., tập hạ, tr. 536): “vãn tiết hoàng hoa”. Xin xem chú thích
(2), bản dịch nghĩa bài thơ số 24. 2 “NGỢI
CA HOA CÚC”
Họa
thơ Đặng Toán Xuân
non mai hứa báo Bừng
cúc dưới chân thành Sắc,
hờn muôn sách đỏ (1) Hương,
nản vạn chồi xanh Không
lòng chuyên tốt giữ (2) Được
cúc muộn xinh dành? (2) Chớ
bảo gió biên rét Phụ
hoa về, dạo quanh!
(bản
biên soạn 2/1) Xuân
chớm, nhựa mai hứa báo Cúc
vừa nở dưới giậu xanh Thật
sắc, khiến hờn hoa phả Lạ
hương, làm nản thảo danh Không
vì ý lành giữ ngọc (2) Được
sao cúc muộn lưu cành? (2) Đừng
bảo gió biên ải lạnh Mặc
hoa, trầm cứ kiếm quanh! (bản
biên soạn 2/2) (1)
Chữ “phổ” (phả); hiểu linh hoạt (tất nhiên không đúng nguyên văn):
loại sách đỏ, viết về các loại động thực vật quý hiếm, cần được
bảo vệ. “Sách đỏ” đối với “chồi xanh”. Ở bản 2/2 (lục ngôn biến
thể), “hoa phả” sẽ được đối với “thảo danh” (: tên hoặc danh vị
các loài hoa). (2)
“Tự”: bởi (đối với “an”: tại sao); không thể dịch là mình, tự
thân. Giả định là “mình”, đại
từ ngôi thứ nhất, được dùng như ngôi thứ hai để tỏ sự thân
tình, xem bạn như mình: “Ý lành, mình
không cốt, Hoa muộn, ấy sao thăm? Gió ải đừng than lạnh; Phụ hoa, lại
kiếm trầm!”. “Về
sau” được thay bằng ý niệm “để dành”. Từ đó, có các cặp tiểu
đối: “tốt giữ – xinh dành”; “giữ
ngọc – lưu cành”. Bài
3 SƯ
THỨ CAO BẰNG
Bắc vọng quần sơn sơn chính cao
Thiên
tương sơn thế tác ba đào
Địa
liên Thanh giới phân đình chướng
Dân
tạp Man Nùng đới kiếm đao
Phụ
hiểm Mạc gia dư thổ lũy
Yết
kì Trình thị xướng nhân hào
Tam
Trung tinh sảng kim an tại?
Sơn
sắc tuyền thanh nguyệt hạ xao.
TRẦN
ĐẠI VINH phiên
âm 3 ĐÓNG
QUÂN Ở CAO BẰNG
Trông phía Bắc, chồng chất núi cao
Trời
nhân thế núi dấy ba đào
Đất
liền Trung Quốc chia ngăn trở
Dân
lẫn Mán Nùng vác kiếm đao
Hiểm
yếu tăng thêm là lũy Mạc
Dựng
cờ kêu gọi ấy Trình hào
Tam
Trung linh khí nay còn mất?
Tiếng
suối màu non bóng nguyệt xao. TRẦN
ĐẠI VINH dịch
thơ 3 ĐOÀN
QUÂN CAO BẰNG (1) [Xứ]
Bắc ngẩng trông [các] cụm núi; núi sắp đặt
lại
tầm cao Trời
định làm thế núi nổi sóng [như sóng biển] (1) Đất
[ấy] liền [với] biên giới nước Thanh (2), [cùng]
chia ra rào cản (bình phong) (3), nhà trạm Dân
[ở đó], [người] Thượng (4) [ở] lẫn [với]
[người]
Nùng (5), [đều] đội kiếm đao (4) (5) Cậy
vào [thế] hiểm yếu, nhà Mạc (6) thừa thãi [hoặc:
trơ ra]
lũy
[đắp bằng] đất Mở
giăng [ngọn] cờ, [những người] họ Trình (7)
kêu
gọi tài sức [của] con người [Sự]
trong sáng tinh thần [của] Tam Trung (8),
nay
còn chăng? Màu
núi, tiếng suối, dưới trăng, xao xuyến. (1)
Cao Bằng là tên gọi của một vùng đất ở biên giới phía bắc nước
ta, từ thời Tây Sơn, thời Nguyễn. Trước đó gọi là Cao Bình. “Bình”
hay “Bằng” đều cùng một nghĩa, một mặt chữ Hán. Hai câu đề của bài
thơ thể hiện sự cấu tứ từ địa danh. Đó là vùng đất bằng dậy sóng,
núi cần phải cao hơn để chặn giặc Tàu, nhưng cũng vì thế nên nhà Mạc
có nơi nương náu lúc suy vi, và lắm phỉ. (2)
Nước Thanh: Trung Quốc thời nhà Thanh có quốc hiệu là Đại Thanh. (3)
Đường ranh giới thời Nguyễn có rào gỗ hoặc lấy sống núi làm mốc.
Có một ngọn núi như bức bình phong, gọi là núi Bình Phong. (4),
(5) Số người miền xuôi (Kinh, còn gọi là Chữ
“man” Nguyễn Văn Tường sử dụng ở đây là theo ước lệ ngôn ngữ của
thời đại ông. Ông cũng gọi bọn giặc Cờ là “man rợ”, mặc dù giặc
Cờ là tàn dư Thái Bình Thiên Quốc (ở Trung Hoa, 1850 - 1864; xem Phan Khoang, Trung Quốc sử lược, in lần thứ ba tại ấn quán Hồng Phát, Chợ
Lớn, 1958, tr. 363-368). Giặc Cờ hầu hết là người Hán, phù Hán tộc, chống nhà Thanh.
Ông cũng gọi người Pháp (Phú Lãng Sa)
là “bọn mọi rợ”, xét về bản chất thực dân của chúng và phong tục
của người Phương Tây (phong tục Phương Tây theo mắt nhìn Việt Nam hồi
đó là dã man). Nguyễn Văn Tường không có tư tưởng miệt thị dân tộc,
nhân tộc, mà trái lại, như tác giả Hạnh Thục ca (Nguyễn Nhược thị Bích) đã ghi nhận:
“Nhưng người lấy đức rộng bao
Tín
thành cảm đến Mọi, Lào mến ân...”
(Hạnh Thục ca, sđd, tr. 16) Tác
giả bài ca trên cho rằng, chính nhờ lòng yêu mến, trân trọng các nhân tộc
ít người ở nước ta và ở nước láng giềng mà khâm sai đại thần Nguyễn
Văn Tường đã chiến thắng giặc Pháp trên mặt trận ngoại giao, 1874, và
sau đó, đã cảm hóa được khâm sứ Pháp Philastre, khi Nguyễn Văn Tường
đã là Kì Vĩ bá [xem Delvaux, Ngoại vụ Paris tại Việt Nam, “Phái bộ Pháp ở Huế và những phái viên
đầu tiên”, Những người bạn cố đô Huế (BAVH., 1916), tập 3, sđd., tr. 32, 36 - 37].
Không những “sài lang” Pháp phải “thói
dữ chút răn, đất thành giao lại, quan
quân tha về”, mà còn tự “dẹp thói lung lăng” (HTC., sđd., tr.
16) của chúng. Philastre đã “đầu hàng”, “phản bội” Puginier,
Rheinart, bọn thực dân quyết tâm xâm lược Bắc Kì và một bộ phận dân
Bắc Kì theo Pháp, tả đạo (Tsuboi, NĐNĐDVPVTH., sđd., tr. 117 và 237 - 238), lại
“chịu ảnh hưởng”, tâm phục Nguyễn Văn Tường (Delvaux, bài viết
trên, sđd., tập 3, tr. 36 - 37). Sự tâm phục đó là sự tâm cảm ý thức
bình đẳng nhân tộc. (6)
Nhà Mạc: triều đại do Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Hậu Lê dựng nên;
về sau trở thành Bắc triều, chống cự với (7)
Họ Trình: chắc chắn không phải là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, người
góp ý cho nhà Mạc về việc chọn Cao Bằng làm nơi nương náu khi đã suy
vong. “Trình” chỉ là mĩ hiệu (Trình [quốc công]). Họ Trình ở đây là
Trình Văn Châu, Trình Văn Quang thời Minh Mạng có công dẹp phỉ. Trình Văn
Châu với 36 xã thôn và nhiều người cùng có công khác được ban biển ngạch
“Hiếu nghĩa tri phương” (hiếu nghĩa,
danh thơm được biết đến). Trình Văn Quang được thờ ở đền Trung
Nghĩa. (8)
Tam Trung: đền Tam Trung (“Tam Trung từ”)
ở xã Gia Cung, huyện Thạch An, Cao Bằng, thời Nguyễn, thờ 3 liệt sĩ giữ
thành, tử tiết do bị bè đảng của Nông Văn Vân ở Tuyên Quang vây đánh
– Nông Văn Vân và Lê Văn Khôi ở Gia Định (Nam Kì) có liên can với nhau,
trong việc nổi loạn, thời Minh Mạng. “Tam Trung” là Nguyễn Huy Tăng (bố
chính sứ), Phạm Đình Trạc (án sát sứ), Phạm Văn Lưu (lãnh binh). [Xem
thêm: Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại
Nam nhất thống chí (ĐNNTC.), tập 4, Phạm Trọng Điềm dịch, Đào
Duy Anh hiệu đính, Nxb. Thuận Hóa, 1992, tr. 401 - 430, về các chú
thích trên]. 3 ĐOÀN
QUÂN CAO BẰNG
Ngàn núi Bắc trông, núi thẳng (1) cao
Trời
toan: thế núi sóng vươn gào!
Đất
liền Thanh ải, chia rào trạm
Dân
lẫn Di Nùng đội kiếm đao
Cậy
bẫy, Mạc tan, trơ lũy đất
Giăng
cờ, Trình gọi, lắm anh hào
Tam
Trung tâm sáng nay đâu nhỉ?
Tiếng
suối màu non dưới nguyệt xao!
(bản
biên soạn) (1)
Nguyên văn: “sơn chính cao”. Nếu chữ “chính” là động từ (làm vị
từ cho cụm chủ – vị này), xin tạm dịch như ở bản dịch nghĩa. Bản
dịch thơ này tạm xem như tính từ, không phải với nghĩa ngược với “phụ”
(chính sơn), mà với nghĩa “[núi] ngay thẳng [cao vút]”. Có thể đây là
một bài thơ chân cảm và dự cảm, với Phạm Thận Duật (nếu Phạm Thận
Duật lấy hiệu Vọng Sơn từ núi Khâu Sầm, vốn là vọng sơn của tỉnh,
một trong bốn quả núi được xem là “tứ trụ”; xem ĐNNTC., tập 4,
sđd., tr. 409 – 410 (*)), lúc cả hai người đang ở đất Bắc vào những năm
cuối thập niên sáu mươi, đầu thập niên bảy mươi, thế kỉ XIX. Có thể
với Nguyễn Văn Tường, đây là một địa thế kháng chiến rất tốt.
Ông đã từng quan tâm đến kinh nghiệm chiến đấu ở địa bàn miền núi
của các đầu mục giặc (phỉ) Cao Bằng (vì không trung thành với nhà Lê)
từ lúc chưa hề ra Cao Bằng, còn ở Thành Hóa (Cam Lộ), Quảng Trị để xây
dựng thượng đạo nối liền từ Bình Định ra đến Nghệ An; từng đệ
tấu xin vua Tự Đức đưa đầu mục phỉ Cao Bằng vào Thành Hóa (Cam Lộ),
(xem ĐNNTC., sđd., tập 31, tr. 86 - 89, 103 - 104), để trực tiếp học tập
kinh nghiệm và để cải tạo, sử dụng các đầu mục ấy. Tuy chỉ là suy
diễn từ bài thơ này, nhưng người đọc cũng có thể hình dung tầm nhìn
chiến lược của Nguyễn Văn Tường về các địa bàn miền núi của nước
ta trong phương án kháng chiến chống Pháp và tiễu phỉ (giặc Cờ...), từ
những năm ấy (1868 - 1873), kể cả quan điểm về công tác cải tạo, sử
dụng đối tượng phạm nhân vốn là phỉ... Nhưng
đó chỉ là suy diễn mở rộng, đào sâu . “Sơn
chính cao” chỉ là núi cao thẳng đứng, một chi tiết để miêu tả, biểu
đạt cảm nghĩ về non nước, lịch sử Cao Bằng yêu mến của tâm hồn
Nguyễn Văn Tường, với niềm bâng khuâng về “tâm sáng Tam Trung”, hình
ảnh cụ thể của một tiêu chí tư tưởng chính trị, lí tưởng thẩm mĩ
ở ông, khi còn là quan tán lí quân vụ - nhà thơ (mãi cho đến lúc trở
thành Kì Vĩ phụ chánh đại thần bị lưu đày và mất ở Tahiti). Cước chú của bài thơ số 3, thuộc Phần
thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường): (*) Ở tỉnh Ninh Bình cũng có một ngọn núi
được xem là vọng sơn, nên hai chữ Vọng
Sơn còn là danh từ riêng thứ hai của ngọn núi ấy. |