805-gdiem.gif (5390 bytes)

posted: 20.8.2005

Bài 11

HỌA AN DŨNG HUYỆN DOÃN BÙI

NGUYÊN VẬN

                   Cuồng phân vũ báo bắc sơn biên

                   Phục việt nhân xưng Triệu Lí hiền

                   Bất sủy dung tài thao dữ tá

                   Cố linh nan bộ thất phù điên

                   Hà dương đới lệ tồn lao tích

                   Vô phụ giang sơn cửu thiệp duyên

                   Phương lược khả ư hình thế định

                   Thâm tâm nan đắc hoạch lai tiền.

                                                TRẦN ĐẠI VINH

                                                phiên âm

11

HỌA NGUYÊN VẦN THƠ CỦA

TRI HUYỆN AN DŨNG HỌ BÙI

                   Gió lùa dữ từ bắc sơn biên

                   Giấu búa đời khen Triệu Lí hiền

                   Chẳng liệu gỗ thường khôn chống đỡ

                   Cho nên khốn bước, lỡ phò nghiêng

                   Bao giờ sông núi ghi công trạng

                   Chẳng phụ non sông mấy nỗi niềm

                   Phương lược còn ra hình thế đặt

                   Trong lòng khó hoạch định ngay liền.

TRẦN ĐẠI VINH

dịch thơ

11

HỌA NGUYÊN VẦN THƠ CỦA

TRI HUYỆN YÊN DŨNG (1) HỌ BÙI (2)

Sương mù cuồng điên [thổi] tờ truyền tin có gắn

        lông chim (3) [đến] núi biên giới [phía] bắc

Giấu cây búa hình phạt (4), người [đời] gọi Triệu, Lí (5)

                          [là những người] hiền [tài]

Không đo lường [loại] gỗ tầm thường (: tài xoàng)

              [vốn] tham lạm giao hảo với [các] tướng

                    ngoại bang (hoặc tả tướng bên vua,

                                  hoặc bọn tả đạo) (6)

Nên khiến [cho] khốn bước, [trót] sai lầm phò giúp

                                        đỉnh cao nghiêng (7)

Bao giờ xứng đáng [cho dù] “non mài sông dải” (8) vẫn

         còn [ghi nhận, bảo tồn các] công lao, chiến tích

Đừng phụ bạc núi sông [đã] nén chịu (chịu đựng)

                            [bao nhiêu] việc liên lạc (giao dịch)

                                               [phải] trải qua (9)

Phương cách, sách lược có thể tùy theo địa hình,

                                       tình thế [mà] định ra

Tâm trí sâu xa khó [bề] vạch [ra] được [từ] trước

                 [cho đến mãi] về sau (một cách cố định,

                 bất chấp sự chuyển biến của thời và thế).

          (1) An (?) Dũng (tên huyện); ĐNNTC., tập 4, sđd., tr. 66 - 67, phiên âm là Yên Dũng, thuộc Bắc Ninh.

          (2) Chưa rõ vị tri huyện họ Bùi này là ai.

(3) “Vũ báo”: tờ truyền tin có gắn lông vũ, biểu tượng cho việc thông tin khẩn cấp. Xem từ “vũ hịch”, TĐHV., sđd., tập hạ, tr. 566.

(4)  “Phục việt”: giấu búa. Búa là vật biểu trưng cho uy quyền thi hành hình án (xem từ “phủ việt”, TĐHV., sđd., tập hạ, tr. 136). Dịch là “giấu uy”? 

          (5) Có lẽ là Triệu Thị Trinh (Bà Triệu, mất năm 248, lúc mới 23t) và Lí Nam Đế (tức Lí Bôn, khởi nghĩa chống nhà Lương, Trung Hoa đô hộ, vào năm 544 - 548). Hay Triệu là Triệu Quang Phục (Triệu Việt Vương, từng giúp Lý Nam Đế, sau đó tiếp tục khởi nghĩa chống ách đô hộ Trung Hoa từ 549 - 571)?

          (6) Tá = tả. Lúc này tác giả đang lãnh nhận nhiệm vụ thương thuyết với các tướng nhà Thanh (ĐNTL.CB., tập 31, tr. 357, 371; tập 32, tr. 11, 30, 69 - 72).

          (7) Chỉ các tướng ở mặt trận biên giới phía bắc.

          (8) Lệ Sơn đái Hà (núi Thái Sơn chỉ còn nhỏ như viên đá mài, sông Hoàng Hà bé lại như đai áo); hoặc: đái (đới) lệ Sơn Hà, cũng với nghĩa như trên. “Núi mài sông dải” là thành ngữ từ điển tích này.

          Đó là lời thề của Hán Cao Tổ với nghĩa bóng: cho dù Trung Hoa có sự thay đổi lớn lao nào (như dâu bể) thì con cháu chư hầu vẫn muôn đời trường cửu. Lời thề ấy Hán Cao Tổ (Lưu Bang) thề trước các người được phong hầu kiến ấp (chư hầu thời phong kiến) [xem Bửu Kế, Từ điển từ ngữ tầm nguyên, Nxb. Trẻ, 2000, tr. 177 và tr. 372].

          (9) Nỗi khổ tâm của Nguyễn Văn Tường khi nhận lãnh nhiệm vụ thương thuyết với các tướng nhà Thanh (bấy giờ, trong nhân dân có lắm người nghi ngại, phẫn nộ về việc quân nước Thanh lần này kéo sang nước ta, do ám ảnh về quân nhà Minh, nhà Thanh trước đó...). Xin xem tiếp các bài thơ khác của tác giả, ghi nhận về việc thương thuyết này: bài 12 và bài 26. 

11

HỌA NGUYÊN VẦN THƠ CỦA

TRI HUYỆN YÊN DŨNG HỌ BÙI

                   Sương cuồng, tin khẩn, Bắc đồn biên

                   Giấu búa, đời khen Triệu, Lí hiền

                   Chẳng liệu gỗ thường tham chạm “tả” (1)

                   Nên sai chân khốn trót phù “nghiêng”

Xứng cùng đai đá (2), còn công trạng

                   Chẳng phụ non sông phải ngoại liên

                   Phương lược còn tùy hình thế đặt

                   Trước sau khó vạch giữa lòng riêng.                                                

(bản biên soạn)

                   (1) Xem chú thích (6), bản dịch nghĩa bài thơ này.

          Ở đây tạm dùng hai chữ “chạm “tả””. Trong tiếng Việt có các từ ghép: chạm mặt, chạm lời, chạm ngõ, chạm súng, chạm khắc... “Gỗ” ở đây là tài năng của phái viên thương thuyết, có thể “chạm” với các nghĩa trên. Nguyễn Văn Tường đã “chạm khắc” lẫn “chạm súng...” trong thơ, tấu sớ, công văn giao thiệp... với một tài năng lớn đích thực.

          (2) Xem chú thích (8), bản dịch nghĩa bài thơ này.

          Xin dịch thoát cho để ý thơ của tác giả dễ cảm thụ:

                   “Cạn sông mòn núi còn công giúp

                   Lo nước thương dân chịu “ngoại” phiền”

          “Ngoại” (trong dấu nháy nháy với ý phản cảm (*)): quân nhà Thanh giúp ta tiễu phỉ nhưng cũng gây nhiễu nhương cho nhân dân.

Cước chú của bài thơ số 11, thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường):

(*) Ở các trường hợp như thế này, dấu ngoặc kép thường đọc là dấu nháy nháy, khác với các trường hợp khác vẫn đọc là ngoặc kép một cách bình thường, với ý nghĩa đúng quy tắc. Xin vui lòng lưu ý: trong cuốn sách này chỉ có một vài trường hợp là dùng dấu nháy nháy với ý phản cảm (sắc thái phản cảm đó chủ yếu do ngữ cảnh cụ thể quy định).

Bài 12

HỌA THANH QUỐC THÁI BÌNH PHỦ

TỪ DIÊN HÚC NGUYÊN VẬN

                   Viêm giao nhật úc trục minh diên

                   Cận bách chu tinh kháp hảo thiên

                   Xuất hiệp biên ngung thành hổ huyệt

                   Huyền thao nhung trướng khởi long niên

                   Tứ thành sô túc lao phi vãn

                   Tam tải nham khê phí thiệp duyên

                   Tráng du cụ tại quy nguyên lão

                   Trùng đáo nan lưu Hán thú hiền.                                  

TRẦN ĐẠI VINH

                                                phiên âm

12

HỌA NGUYÊN VẦN

THƠ CỦA TRI PHỦ THÁI BÌNH NƯỚC

THANH TỪ DIÊN HÚC

                   Trời nóng nước Nam giục quạ gào

                   Gần trăm năm mới đẹp trời cao

                   Biên cương sổ cũi thành vùng máu

                   Võ trướng treo mưu, mở Tết đào

                   Cỏ lúa bốn thành sờn huyệt mộ

                   Ba năm khe suối phí công lao

                   Mưu hay còn đó, về nguyên lão

                   Đến nữa khôn lưu “hảo hớn” nào!

TRẦN ĐẠI VINH

dịch thơ

12

HỌA NGUYÊN VẦN THƠ CỦA TRI PHỦ

THÁI BÌNH NƯỚC THANH TỪ DIÊN HÚC (1)

Ruộng đồng (ngoại thành) nồng nực, đầm phá ngập

                  nắng, [lũ] diều hâu [ăn xác người]

                                               liên tục gào réo

Gần trăm vòng quay [của các] ngôi sao,

                      hành tinh (2), chim muông hót gọi

              (: chúng ta xứng hợp dưới) vòm trời tốt lành

Xảy ra sự lờn mặt, góc biên cương thành hang cọp

Treo cao (giấu kín) phương sách chiến đấu, [nơi]

                   màn trướng quân đội (nơi tướng sĩ

                    bàn mưu tính kế), khởi động năm rồng

Bốn thành lũy, cỏ khô [và] thóc gạo, [nhân dân]

              mệt khàn [với] sự thăm viếng tang chế

                                gấp gáp (chôn cất vội vàng)

Ba năm, hang núi, khe non, hao tổn [bởi các cuộc]

                                giao  dịch [phải] lặn lội, leo trèo

Mưu lược mạnh mẽ [như trai trẻ] bày biện đủ đầy [mãi] còn đó;

          [khi] về [nước sẽ được trọng vọng như] nguyên lão (vị                                quan lão thành có ngôi cao)

[Nếu] lại đến, [nước Nam] khó [lòng] lưu giữ [cho dù là] người hiền tài có đức liêm khiết “Hán tộc” (3).

          (1) Từ Diên Húc còn là tác giả “An Nam thực lục”, cuốn sách ghi chép, nghiên cứu về Việt Nam (ĐNTL.CB., tập 32, 101 - 102; tập 35, tr. 194...; NĐNĐDVP. & TH., tr. 140 - 141).

          (2) Có lẽ tính từ năm Quang Trung đánh bại quân Thanh (1789). Hẳn tác giả vừa giao thiệp vừa ngầm nhắc lại mốc lịch sử đó? Hoặc giả, nhắc đến mối quan hệ giữa Nguyễn Ánh và Thanh triều?

          (3) Đây là một việc khá tế nhị trong ngoại giao, chính trị bởi mâu thuẫn giữa Thái Bình Thiên Quốc (tàn dư, biến tướng là bọn giặc Cờ quấy phá nước ta) với nhà Thanh còn là mâu thuẫn dân tộc (Hán tộc, Mãn tộc). Câu này còn ngầm lời cảnh cáo... Xin xem thêm chú thích (1), bản dịch nghĩa, bài số 26.

12

HỌA NGUYÊN VẦN THƠ CỦA

TRI PHỦ THÁI BÌNH NƯỚC THANH

TỪ DIÊN HÚC

                   Diều cú réo hoài xứ nắng hồng

                   Trăm năm chim hót đẹp trời Đông

                   Góc biên, lờn mặt, thành hang cọp!

                   Doanh tướng, giấu mưu, mở dịp rồng

                   Thóc cỏ, bốn thành, than khàn đám

                   Suối hang, ba Tết, lội tổn công

                   Ở nên hùng kế, về nguyên lão

                   Lại đến, khó lưu tài “Hán” ông!                                    

(bản biên soạn)

Bài 13

ỨC KINH ẤU NỮ

                   Kim niên ấu nữ ngũ niên xuân

                   Mỗi ức thần hôn lãng tiếu tần

                   Dục tỉ nam nhi an nhĩ mẫu

                   Khước kinh hồ thỉ lão biên trần.                                   

TRẦN ĐẠI VINH

                                                phiên âm

13

NHỚ CON GÁI TRẺ THƠ Ở KINH ĐÔ

                   Năm nay tuổi bé lên năm rồi

                   Mỗi nhớ sớm hôm chợt nói cười

                   Muốn sánh con trai yên trí mẹ

                   Chợt lo hồ thỉ bụi già đời.

TRẦN ĐẠI VINH

dịch thơ

13

NHỚ CON GÁI TRẺ THƠ Ở KINH ĐÔ (1)

Năm nay con gái trẻ thơ [đã trải qua] năm mùa xuân

Mỗi lần [nhớ con, đều] nhớ [từ] sáng sớm [đến] chiều hôm [con] hồn nhiên, tinh nghịch, cười hoài (nhiều lần)

Muốn ví [con] là con trai [cho] yên [lòng] người mẹ                                                                            [của] con

Chợt lo [là con trai sẽ bị] cung, tên (2) [của chiến

         tranh] lại làm [cho] già nua với [khói] bụi biên giới!

          (1) Kinh đô Huế.

          (2) Hồ thỉ (cung tên): chí làm trai.

13

NHỚ CON GÁI TRẺ THƠ Ở KINH ĐÔ

                   Năm nay con gái lên năm rồi

                   Hoài nhớ sớm hôm hay nhoẻn cười

                   Muốn ví là trai yên dạ mẹ

                   Chợt lo súng ải (1) bụi già đời!                                              

(bản biên soạn)

                   (1) Hồ (cung), thỉ (tên) + biên (biên giới). Tạm dịch: Súng ải.

          (2) “Hồ thỉ”: chí làm trai; nếu dịch theo nghĩa bóng này:

                   “Chợt lo tráng chí bụi già đời!”.

Bài 14

ĐẮC BÁO NGUYÊN TÔN SINH

                   Thử thân gia khánh hựu quân ân

                   Cuộc ngoại phù trầm khởi túc luân (luận)

                   Niên cận ngũ tuần tằng sự tổ

                   Thư lai thiên lí báo sinh tôn (1)

                   Quyên ai vị đáp thường ưu lão

                   Lam chướng tuy thâm cảm ái ôn

                   Trung hiếu ngô môn bồi dưỡng hậu

                   Miễn tai tố nghiệp các nghi đôn.                                            

TRẦN ĐẠI VINH

                                                phiên âm

14

ĐƯỢC TIN SINH CHÁU NỘI ĐẦU

Thân này, mừng họ, ơn vua ban

Chìm nổi giữa đời chẳng đủ bàn

Năm chục, ta cầu, tiên tổ sáng

Dặm nghìn, con viết, đích tôn ngoan

Ơn sâu chưa đáp từng lo lão

Lam chướng đã nhiều dám thích nhàn

Trung hiếu nhà ta bồi dưỡng tốt

Gắng noi nghiệp cũ, trau nếp văn.

TRẦN ĐẠI VINH

dịch thơ

          (1) Bản chép chữ Hán nhầm, cứ chép theo đầu đề là “tôn sinh”. “Sinh tôn” mới hợp vần và chỉnh đối, nghĩa vẫn vậy.

14

ĐƯỢC TIN SINH CHÁU NỘI ĐẦU

Đó là phúc của bản thân mình, cũng là ơn vua (1)

[Nhưng] chìm nổi [như thể] ngoài cuộc, bàn lo [cho lễmừng ấy] làm sao đủ đầy, trọn vẹn!

Tuổi [đã] gần năm mươi, [thường] trải việc thờ phụng tổ tiên (2)

Thư đến [từ] ngàn dặm, [mới] báo [đứa] cháu [được]                                                               sinh ra

Bụi bặm [giũ sạch ở] khe nước (: ơn mưa móc)   (3) chưa

        đáp đền, [nên] mãi lo [bản thân chóng] già nua

Bệnh sốt rét [do] khí núi độc (3), tuy lạm (nhiễm quá mức), [vẫn đâu] dám yêu thích vẻ ấm áp

                [của cảnh nhà]!

Lòng trung, đức hiếu nhà (họ) mình vun đắp, nuôi                                                             dưỡng đầy đặn (4)

Gắng nhé! [Cố sức cho] truyền thống gia phong cao khiết,

                   trong sạch [hoặc vốn có], [mọi điều,

            mọi người] đều [phải] nên trau dồi [dốc sức] (4).

          (1), (2), (4) Có lẽ ngoài điều tâm niệm của kẻ sĩ Nho giáo là tam  ân (ơn dân, ơn nước, ơn vua), tác giả còn muốn nhắc đến sự khoan dung khỏi bị tội lây do thân nhân (thân sinh dính líu vào một cuộc nổi dậy nhỏ bởi sự áp bức của quan huyện hoặc lí tưởng) (?) và sự xóa án về chữ “Phúc” (Phúc Tường: cái tốt đẹp trong lòng; Văn Tường: cái đẹp phô trương ra ngoài), khi Tự Đức lên ngôi vua (xem ân chiếu chung, ĐNTL.CB., sđd., tập 27, tr. 39 - 40). Án về chữ “Phúc” (còn đọc là “Phước”), chỉ do sự chép nhầm từ “Phúc” nghĩa là “nỗi niềm trong lòng”, “trong lòng dạ” thành chữ “Phúc” có nghĩa là “những điều may mắn, tốt đẹp” – chữ “Phúc” của họ Nguyễn Phúc (hoàng tộc) –, bởi các học quan (Bộ Lễ), quan chủ khảo, quan đề điệu, trên danh sách tú tài trúng tuyển do chính các quan ấy viết... Phải chăng là vậy? Vả lại, họ Nguyễn Phúc hoàng tộc đã được vua Minh Mạng đổi thành Tôn Thất (đối với chi xa), hoặc đã định cách đặt tên theo đế hệ thi (chi chính), phiên hệ thi (chi gần), từ trước năm 1832 (Xem: ĐNTL.CB., tập 11, sđd., tr. 222; tập 23, sđd., tr. 119 – 122)… Về bản án “Nguyễn Phúc”, họ vua, xem ĐNTL.CB., sđd., tập 24, tr. 163 - 165; Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục, bản dịch, sđd., Nxb. TP. HCM., 1993, tr. 297: [?!]. Xin xem chú thích (16) ở bản dịch nghĩa bài số 56 (*).

           (3) Nguyên văn: “quyên ai” (bụi bặm / trong sạch; dòng nước nhỏ [và] bụi bặm; lần lượt [được] chọn lọc [?]...).

          “Quyên ai” đối với “lam chướng”.

          “Lam” (khí núi bốc lên); “chướng” (bệnh ở bên trong).

          Đó là hai cặp từ ghép chính phụ hoặc đẳng lập (danh từ + danh từ):

          Bụi-bặm [và / ở] khe-nước-nhỏ...

          Bệnh-sốt-rét [và / do] khí-độc-núi-rừng.

          Do đó, có lẽ “quyên ai” là từ chỉ việc tắm gội (các nhà nho thường dùng thành ngữ: “tắm gội ơn mưa móc”), lễ tẩy trần, quyên cát (trai giới trong sạch, chuẩn bị cho việc thiêng liêng như mừng năm mới, kị giỗ...).

          Chắc “quyên ai” là nghi thức đền đáp, nho sĩ Nguyễn Văn Tường, trang trọng một cách lặng lẽ, thực hiện khi nhận được tin có cháu nội đầu (“nguyên tôn”), với niềm xúc động sâu xa.

          Tuổi gần năm mươi mới có cháu nội đầu tiên là khá muộn, trong thời bấy giờ!

          Bài thơ hé mở về thân thế, hoàn cảnh riêng tư của tác giả.

          [Về các từ, xem TĐHV., sđd., tr. 4, 191, 480 (tập thượng), 169 (tập hạ)].

          Tuy nhiên, “quyên ai”, theo Thiều Chửu, HVTĐ., sđd., tr. 232, 345, còn có nghĩa là hạt bụi tí tẹo, ví với sự bé mọn. Với nghĩa này, từ tố “quyên” (dòng khe nhỏ, tia nước nhỏ) bị mờ nghĩa hoàn toàn. Lẽ ra phải là “hạt bụi tơ sương”. “Quyên ai” trở thành một hình ảnh tự ví, tự xưng, với tập quán khiêm tốn: thân bụi, phận sương.

          Xin ghi chép thêm cho rộng đường cảm thụ, cùng với vài dòng mạo muội suy luận.

14

ĐƯỢC TIN SINH CHÁU NỘI ĐẦU

                   Ơn vua, thọ tộc, phúc thông gia

                   Ngoài cuộc, sao bàn! Chìm nổi xa!

                    Năm chục, tuổi kề, hương lạy vọng

                   Dặm ngàn, thư báo, cháu sinh ra

                   Chưa đền, bụi – suối (1) lo mau lão

                   Dẫu lạm sốt – sương, dám ấm nhà!

                   Trung hiếu họ mình đầy đặn đắp

                   Gắng trau nghiệp cũ, nếp ông cha!                                        

(bản biên soạn)

          (1) Tạm dịch:

Bụi mưa, chưa đáp, lo mau lão

                   Sương sốt, dù vương, dám ấm nhà!

Hoặc:

                   Thân bụi chưa đền, lo sớm lão

                   Phận sương dù nhiễm, dám yên nhà!

Cước chú của bài thơ số 14, thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường):

(*) Xin xem thêm: Trần Xuân An, “PCĐT. Nguyễn Văn Tường”, bộ truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử, (bốn tập), tập I: truyện thứ nhất, “Quốc tính và người học trò tội đồ không chịu đổi tên”. Ở truyện này, vấn đề đó đã được giải quyết một cách chi tiết và xác thực hơn.

Bài 15

TẶNG BẮC PHIÊN

PHẠM QUAN THÀNH

QUY TỈNH THÂN BỆNH

                   Quân thúc quy trang, ngã hựu hành

                   Bạch đầu chỉ vị biệt li sinh

                   Lâm kì tương tống nan tương biệt

                   Vạn mộc tùng trung nhất điểu thanh.                                    

TRẦN ĐẠI VINH

                                                phiên âm

15

TẶNG BỐ CHÁNH BẮC NINH

PHẠM QUAN THÀNH

VỀ THĂM BỆNH CHA MẸ

                   Bạn gói hành trang, tôi lại đi

                   Bạc đầu chỉ sống với chia li

                   Đến khi đưa tiễn khôn từ tạ

                   Vọng giữa khóm cây tiếng tử quy! (1)

TRẦN ĐẠI VINH

dịch thơ

          (1) Tử quy, còn có tên khác, là đỗ quyên, thường gọi là chim cuốc hoặc chim quốc quốc. Thơ Bà Huyện Thanh Quan có câu:

                   Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

                   Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”

                                      (Qua đèo Ngang)

          Chúng tôi (TXA. – nbs.) tạm thay vào hai chữ “tử quy” này, bởi lúc bấy giờ nước ta đã bị Pháp bức chiếm ba tỉnh Miền Đông Nam Kì (1862) và Phan Thanh Giản “dâng đất” tiếp ba tỉnh Miền Tây (1867) cho chúng! Vả lại, tứ thơ rất sâu, cực kì hàm súc: “Vạn khóm cây trong một tiếng chim”, một tiếng chim gợi nên cả một miền Đất nước, một không gian mênh mông, xa cách... Cả một phức hợp cảm xúc, nỗi niềm! Nhưng, đây chỉ là một cảm nhận, có lẽ hơi khiên cưỡng, lúc ướm thử vần!

          Xin xem thêm : “Truyện đọc”, lớp 5, Đỗ Quang Lưu, Vân Thanh tuyển chọn, Nxb. Giáo Dục, 2000, tr. 31 - 36: “Sự tích chim quốc” (Nguyễn Đổng Chi sưu tầm, Kho tàng truyện cổ Việt Nam, tập 1). Đó là một truyện kể về tình bạn thắm thiết giữa hai nhân vật, Quắc và Nhân.

 15

TẶNG BỐ CHÁNH BẮC NINH

PHẠM QUAN THÀNH (1)

VỀ THĂM BỆNH THÂN SINH

Bạn gói gắm hành trang [để] về [nhà], tôi [cũng]

                             lại ra đi

Bạc đầu chỉ [chịu đựng] bởi đời sống [quá nhiều lần] chia biệt!

Đang khi cùng tiễn chân nhau [nhưng] khó cùng cách                                                  biệt nhau

[Ngỡ như nghe, thấy] vạn khóm cây [bạt ngàn lại chỉ gói trọn] trong một tiếng chim!

          (1) Phạm Thận Duật còn có biệt hiệu Vọng Sơn, Quan Thành. Ông là tác giả của các cuốn sách: Hưng Hóa kí lược, Quan Thành tấu tập, Vãng sứ Thiên Tân nhật kí, Quan Thành văn tập (*).

          “Quan Thành”: nhất định không thay đổi quan niệm (cách nhìn nhận).

          “Vọng Sơn”: ngọn núi để làm tiêu đích định hướng cho người đi đường rừng; núi để đặt trạm quan sát...

          Hình tượng trong danh hiệu tự đặt thường để tỏ chí mình.

15