posted: 20.8.2005
Bài
11 HỌA
AN DŨNG HUYỆN DOÃN BÙI NGUYÊN
VẬN
Cuồng phân vũ báo bắc sơn biên
Phục
việt nhân xưng Triệu Lí hiền
Bất
sủy dung tài thao dữ tá
Cố
linh nan bộ thất phù điên
Hà
dương đới lệ tồn lao tích
Vô
phụ giang sơn cửu thiệp duyên
Phương
lược khả ư hình thế định
Thâm
tâm nan đắc hoạch lai tiền.
TRẦN
ĐẠI VINH
phiên
âm 11 HỌA
NGUYÊN VẦN THƠ CỦA TRI
HUYỆN AN DŨNG HỌ BÙI
Gió lùa dữ từ bắc sơn biên
Giấu
búa đời khen Triệu Lí hiền
Chẳng
liệu gỗ thường khôn chống đỡ
Cho
nên khốn bước, lỡ phò nghiêng
Bao
giờ sông núi ghi công trạng
Chẳng
phụ non sông mấy nỗi niềm
Phương
lược còn ra hình thế đặt
Trong
lòng khó hoạch định ngay liền. TRẦN
ĐẠI VINH dịch
thơ 11 HỌA
NGUYÊN VẦN THƠ CỦA TRI
HUYỆN YÊN DŨNG (1) HỌ BÙI (2) Sương
mù cuồng điên [thổi] tờ truyền tin có gắn lông chim (3)
[đến] núi biên giới [phía] bắc Giấu
cây búa hình phạt (4), người [đời] gọi Triệu, Lí (5)
[là
những người] hiền [tài] Không
đo lường [loại] gỗ tầm thường (: tài xoàng)
[vốn]
tham lạm giao hảo với [các] tướng
ngoại
bang (hoặc tả tướng bên vua,
hoặc
bọn tả đạo) (6) Nên
khiến [cho] khốn bước, [trót] sai lầm phò giúp
đỉnh
cao nghiêng (7) Bao
giờ xứng đáng [cho dù] “non mài sông dải” (8) vẫn còn [ghi
nhận, bảo tồn các] công lao, chiến tích Đừng
phụ bạc núi sông [đã] nén chịu (chịu đựng)
[bao
nhiêu] việc liên lạc (giao dịch)
[phải]
trải qua (9) Phương
cách, sách lược có thể tùy theo địa hình,
tình
thế [mà] định ra Tâm
trí sâu xa khó [bề] vạch [ra] được [từ] trước
[cho
đến mãi] về sau (một cách cố định,
bất
chấp sự chuyển biến của thời và thế). (1)
An (?) Dũng (tên huyện); ĐNNTC., tập 4, sđd., tr. 66 - 67, phiên âm là Yên Dũng,
thuộc Bắc Ninh. (2)
Chưa rõ vị tri huyện họ Bùi này là ai. (3)
“Vũ báo”: tờ truyền tin có gắn lông vũ, biểu tượng cho việc thông
tin khẩn cấp. Xem từ “vũ hịch”, TĐHV., sđd., tập hạ, tr. 566. (4) “Phục việt”: giấu búa. Búa là vật biểu
trưng cho uy quyền thi hành hình án (xem từ “phủ việt”, TĐHV., sđd., tập
hạ, tr. 136). Dịch là “giấu uy”? (5)
Có lẽ là Triệu Thị Trinh (Bà Triệu, mất năm 248, lúc mới 23t) và Lí Nam
Đế (tức Lí Bôn, khởi nghĩa chống nhà Lương, Trung Hoa đô hộ, vào năm
544 - 548). Hay Triệu là Triệu Quang Phục (Triệu Việt Vương, từng giúp Lý
(6)
Tá = tả. Lúc này tác giả đang lãnh nhận nhiệm vụ thương thuyết với các
tướng nhà Thanh (ĐNTL.CB., tập 31, tr. 357, 371; tập 32, tr. 11, 30, 69 - 72). (7)
Chỉ các tướng ở mặt trận biên giới phía bắc. (8) Lệ Sơn đái Hà (núi Thái Sơn chỉ còn
nhỏ như viên đá mài, sông Hoàng Hà bé lại như đai áo); hoặc: đái (đới) lệ Sơn Hà, cũng với nghĩa như trên. “Núi
mài sông dải” là thành ngữ từ điển tích này. Đó
là lời thề của Hán Cao Tổ với nghĩa bóng: cho dù Trung Hoa có sự thay đổi
lớn lao nào (như dâu bể) thì con cháu chư hầu vẫn muôn đời trường cửu.
Lời thề ấy Hán Cao Tổ (Lưu Bang) thề trước các người được phong hầu
kiến ấp (chư hầu thời phong kiến) [xem Bửu Kế, Từ điển từ ngữ tầm nguyên, Nxb. Trẻ, 2000, tr. 177 và tr. 372]. (9)
Nỗi khổ tâm của Nguyễn Văn Tường khi nhận lãnh nhiệm vụ thương thuyết
với các tướng nhà Thanh (bấy giờ, trong nhân dân có lắm người nghi ngại,
phẫn nộ về việc quân nước Thanh lần này kéo sang nước ta, do ám ảnh
về quân nhà Minh, nhà Thanh trước đó...). Xin xem tiếp các bài thơ khác của
tác giả, ghi nhận về việc thương thuyết này: bài 12 và bài 26. 11 HỌA
NGUYÊN VẦN THƠ CỦA TRI
HUYỆN YÊN DŨNG HỌ BÙI
Sương
cuồng, tin khẩn, Bắc đồn biên
Giấu
búa, đời khen Triệu, Lí hiền
Chẳng
liệu gỗ thường tham chạm “tả” (1)
Nên
sai chân khốn trót phù “nghiêng” Xứng
cùng đai đá (2), còn công trạng
Chẳng
phụ non sông phải ngoại liên
Phương
lược còn tùy hình thế đặt
Trước
sau khó vạch giữa lòng riêng.
(bản
biên soạn)
(1)
Xem chú thích (6), bản dịch nghĩa bài thơ này. Ở
đây tạm dùng hai chữ “chạm “tả””. Trong tiếng Việt có các từ
ghép: chạm mặt, chạm lời, chạm ngõ, chạm súng, chạm khắc... “Gỗ”
ở đây là tài năng của phái viên thương thuyết, có thể “chạm” với
các nghĩa trên. Nguyễn Văn Tường đã “chạm khắc” lẫn “chạm
súng...” trong thơ, tấu sớ, công văn giao thiệp... với một tài năng lớn
đích thực. (2)
Xem chú thích (8), bản dịch nghĩa bài thơ này. Xin
dịch thoát cho để ý thơ của tác giả dễ cảm thụ:
“Cạn sông mòn núi còn công giúp
Lo
nước thương dân chịu “ngoại” phiền” “Ngoại”
(trong dấu nháy nháy với ý phản cảm
(*)): quân nhà Thanh giúp ta tiễu phỉ nhưng cũng gây nhiễu nhương cho nhân
dân. Cước chú của bài thơ số 11, thuộc Phần
thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường): (*) Ở các
trường hợp như thế này, dấu ngoặc kép thường đọc là dấu nháy
nháy,
khác với các trường hợp
khác vẫn đọc là ngoặc kép một cách
bình thường, với ý nghĩa đúng quy tắc. Xin vui lòng lưu ý: trong cuốn
sách này chỉ có một vài trường hợp là dùng dấu nháy nháy với ý phản cảm (sắc thái phản cảm đó chủ yếu do
ngữ cảnh cụ thể quy định). Bài
12 HỌA
THANH QUỐC THÁI BÌNH PHỦ TỪ
DIÊN HÚC NGUYÊN VẬN
Viêm giao nhật úc trục minh diên
Cận
bách chu tinh kháp hảo thiên
Xuất
hiệp biên ngung thành hổ huyệt
Huyền
thao nhung trướng khởi long niên
Tứ
thành sô túc lao phi vãn
Tam
tải nham khê phí thiệp duyên
Tráng
du cụ tại quy nguyên lão
Trùng
đáo nan lưu Hán thú hiền.
TRẦN
ĐẠI VINH
phiên
âm 12 HỌA
NGUYÊN VẦN THƠ
CỦA TRI PHỦ THÁI BÌNH NƯỚC THANH
TỪ DIÊN HÚC
Trời nóng nước
Gần
trăm năm mới đẹp trời cao
Biên
cương sổ cũi thành vùng máu
Võ
trướng treo mưu, mở Tết đào
Cỏ
lúa bốn thành sờn huyệt mộ
Ba
năm khe suối phí công lao
Mưu
hay còn đó, về nguyên lão
Đến
nữa khôn lưu “hảo hớn” nào! TRẦN
ĐẠI VINH dịch
thơ 12 HỌA
NGUYÊN VẦN THƠ CỦA TRI PHỦ THÁI
BÌNH NƯỚC THANH TỪ DIÊN HÚC (1) Ruộng
đồng (ngoại thành) nồng nực, đầm phá ngập
nắng,
[lũ] diều hâu [ăn xác người]
liên
tục gào réo Gần
trăm vòng quay [của các] ngôi sao,
hành
tinh (2), chim muông hót gọi
(:
chúng ta xứng hợp dưới) vòm trời tốt lành Xảy
ra sự lờn mặt, góc biên cương thành hang cọp Treo
cao (giấu kín) phương sách chiến đấu, [nơi]
màn
trướng quân đội (nơi tướng sĩ
bàn
mưu tính kế), khởi động năm rồng Bốn
thành lũy, cỏ khô [và] thóc gạo, [nhân dân]
mệt
khàn [với] sự thăm viếng tang chế
gấp
gáp (chôn cất vội vàng) Ba
năm, hang núi, khe non, hao tổn [bởi các cuộc]
giao dịch [phải] lặn lội, leo trèo Mưu
lược
mạnh mẽ [như trai trẻ] bày
biện đủ đầy [mãi] còn đó; [khi]
về [nước sẽ được trọng vọng như] nguyên lão (vị
quan
lão thành có ngôi cao) [Nếu]
lại đến, [nước (1)
Từ Diên Húc còn là tác giả “An Nam thực
lục”, cuốn sách ghi chép, nghiên cứu về Việt Nam (ĐNTL.CB., tập 32,
101 - 102; tập 35, tr. 194...; NĐNĐDVP. & TH., tr. 140 - 141). (2)
Có lẽ tính từ năm Quang Trung đánh bại quân Thanh (1789). Hẳn tác giả vừa
giao thiệp vừa ngầm nhắc lại mốc lịch sử đó? Hoặc giả, nhắc đến
mối quan hệ giữa Nguyễn Ánh và Thanh triều? (3)
Đây là một việc khá tế nhị trong ngoại giao, chính trị bởi mâu thuẫn
giữa Thái Bình Thiên Quốc (tàn dư, biến tướng là bọn giặc Cờ quấy
phá nước ta) với nhà Thanh còn là mâu thuẫn dân tộc (Hán tộc, Mãn tộc).
Câu này còn ngầm lời cảnh cáo... Xin xem thêm chú thích (1), bản dịch nghĩa,
bài số 26. 12 HỌA
NGUYÊN VẦN THƠ CỦA TRI
PHỦ THÁI BÌNH NƯỚC THANH TỪ
DIÊN HÚC
Diều cú réo hoài xứ nắng hồng
Trăm
năm chim hót đẹp trời Đông
Góc
biên, lờn mặt, thành hang cọp!
Doanh
tướng, giấu mưu, mở dịp rồng
Thóc
cỏ, bốn thành, than khàn đám
Suối
hang, ba Tết, lội tổn công
Ở
nên hùng kế, về nguyên lão
Lại
đến, khó lưu tài “Hán” ông!
(bản
biên soạn) Bài
13 ỨC
KINH ẤU NỮ
Kim niên ấu nữ ngũ niên xuân
Mỗi
ức thần hôn lãng tiếu tần
Dục
tỉ nam nhi an nhĩ mẫu
Khước
kinh hồ thỉ lão biên trần.
TRẦN
ĐẠI VINH
phiên
âm 13 NHỚ
CON GÁI TRẺ THƠ Ở KINH ĐÔ
Năm nay tuổi bé lên năm rồi
Mỗi
nhớ sớm hôm chợt nói cười
Muốn
sánh con trai yên trí mẹ
Chợt
lo hồ thỉ bụi già đời. TRẦN
ĐẠI VINH dịch
thơ 13 NHỚ
CON GÁI TRẺ THƠ Ở KINH ĐÔ (1) Năm
nay con gái trẻ thơ [đã trải qua] năm mùa xuân Mỗi
lần [nhớ con, đều] nhớ [từ] sáng sớm [đến] chiều hôm [con] hồn
nhiên, tinh nghịch, cười hoài (nhiều lần) Muốn
ví [con] là con trai [cho] yên [lòng] người mẹ
[của]
con Chợt
lo [là con trai sẽ bị] cung, tên (2) [của chiến tranh] lại
làm [cho] già nua với [khói] bụi biên giới! (1)
Kinh đô Huế. (2)
Hồ thỉ (cung tên): chí làm trai. 13 NHỚ
CON GÁI TRẺ THƠ Ở KINH ĐÔ
Năm nay con gái lên năm rồi
Hoài
nhớ sớm hôm hay nhoẻn cười
Muốn
ví là trai yên dạ mẹ
Chợt
lo súng ải (1) bụi già đời!
(bản
biên soạn)
(1)
Hồ (cung), thỉ (tên) + biên (biên giới). Tạm dịch: Súng ải. (2)
“Hồ thỉ”: chí làm trai; nếu dịch theo nghĩa bóng này:
“Chợt lo tráng chí bụi già đời!”. Bài
14 ĐẮC
BÁO NGUYÊN TÔN SINH
Thử thân gia khánh hựu quân ân
Cuộc
ngoại phù trầm khởi túc luân (luận)
Niên
cận ngũ tuần tằng sự tổ
Thư
lai thiên lí báo sinh tôn (1)
Quyên
ai vị đáp thường ưu lão
Lam
chướng tuy thâm cảm ái ôn
Trung
hiếu ngô môn bồi dưỡng hậu
Miễn
tai tố nghiệp các nghi đôn.
TRẦN
ĐẠI VINH
phiên
âm 14 ĐƯỢC
TIN SINH CHÁU NỘI ĐẦU Thân
này, mừng họ, ơn vua ban Chìm
nổi giữa đời chẳng đủ bàn Năm
chục, ta cầu, tiên tổ sáng Dặm
nghìn, con viết, đích tôn ngoan Ơn
sâu chưa đáp từng lo lão Lam
chướng đã nhiều dám thích nhàn Trung
hiếu nhà ta bồi dưỡng tốt Gắng
noi nghiệp cũ, trau nếp văn. TRẦN
ĐẠI VINH dịch
thơ (1)
Bản chép chữ Hán nhầm, cứ chép theo đầu đề là “tôn sinh”. “Sinh
tôn” mới hợp vần và chỉnh đối, nghĩa vẫn vậy. 14
ĐƯỢC
TIN SINH CHÁU NỘI ĐẦU Đó
là phúc của bản thân mình, cũng là
ơn vua (1) [Nhưng]
chìm nổi [như thể] ngoài cuộc, bàn lo [cho lễmừng ấy] làm sao đủ đầy,
trọn vẹn! Tuổi
[đã] gần năm mươi, [thường] trải việc thờ phụng tổ tiên (2) Thư
đến [từ] ngàn dặm, [mới] báo [đứa] cháu [được]
sinh
ra Bụi
bặm [giũ sạch ở] khe nước (: ơn mưa móc)
(3) chưa đáp đền,
[nên] mãi lo [bản thân chóng] già nua Bệnh
sốt rét [do] khí núi độc (3), tuy lạm (nhiễm quá mức), [vẫn đâu] dám
yêu thích vẻ ấm áp
[của
cảnh nhà]! Lòng
trung, đức hiếu nhà (họ) mình vun đắp, nuôi
dưỡng
đầy đặn (4) Gắng
nhé! [Cố sức cho] truyền thống gia phong cao khiết,
trong
sạch [hoặc vốn có], [mọi điều,
mọi người]
đều [phải] nên trau dồi [dốc sức] (4). (1),
(2), (4) Có lẽ ngoài điều tâm niệm của kẻ sĩ Nho giáo là tam ân (ơn dân, ơn nước, ơn vua), tác giả
còn muốn nhắc đến sự khoan dung khỏi bị tội lây do thân nhân (thân
sinh dính líu vào một cuộc nổi dậy nhỏ bởi sự áp bức của quan huyện
hoặc lí tưởng) (?) và sự xóa án về chữ “Phúc” (Phúc Tường: cái tốt đẹp trong lòng; Văn Tường: cái đẹp
phô trương ra ngoài), khi Tự Đức lên ngôi vua (xem ân chiếu chung,
ĐNTL.CB., sđd., tập 27, tr. 39 - 40). Án về chữ “Phúc” (còn đọc là “Phước”),
chỉ do sự chép nhầm từ “Phúc” nghĩa là “nỗi niềm trong lòng”, “trong
lòng dạ” thành chữ “Phúc” có nghĩa là “những điều may mắn, tốt
đẹp” – chữ “Phúc” của họ Nguyễn Phúc (hoàng tộc) –, bởi các học
quan (Bộ Lễ), quan chủ khảo, quan đề điệu, trên danh sách tú tài trúng
tuyển do chính các quan ấy viết... Phải chăng là vậy? Vả lại, họ Nguyễn
Phúc hoàng tộc đã được vua Minh Mạng đổi thành Tôn Thất (đối với
chi xa), hoặc đã định cách đặt tên theo đế hệ thi (chi chính), phiên hệ
thi (chi gần), từ trước năm 1832 (Xem: ĐNTL.CB., tập 11, sđd., tr. 222; tập
23, sđd., tr. 119 – 122)… Về bản án “Nguyễn Phúc”, họ vua, xem
ĐNTL.CB., sđd., tập 24, tr. 163 - 165; Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục, bản dịch,
sđd., Nxb. TP. HCM., 1993, tr. 297: [?!]. Xin xem chú thích (16) ở bản dịch nghĩa
bài số 56 (*). (3) Nguyên văn: “quyên ai” (bụi bặm /
trong sạch; dòng nước nhỏ [và] bụi bặm; lần lượt [được] chọn lọc
[?]...). “Quyên
ai” đối với “lam chướng”. “Lam”
(khí núi bốc lên); “chướng” (bệnh ở bên trong). Đó
là hai cặp từ ghép chính phụ hoặc đẳng lập (danh từ + danh từ): Bụi-bặm [và / ở] khe-nước-nhỏ... Bệnh-sốt-rét
[và
/ do] khí-độc-núi-rừng. Do
đó, có lẽ “quyên ai” là từ chỉ việc tắm gội (các nhà nho thường
dùng thành ngữ: “tắm gội ơn mưa móc”), lễ tẩy trần, quyên cát (trai
giới trong sạch, chuẩn bị cho việc thiêng liêng như mừng năm mới, kị
giỗ...). Chắc
“quyên ai” là nghi thức đền đáp, nho sĩ Nguyễn Văn Tường, trang trọng
một cách lặng lẽ, thực hiện khi nhận được tin có cháu nội đầu (“nguyên
tôn”), với niềm xúc động sâu xa. Tuổi
gần năm mươi mới có cháu nội đầu tiên là khá muộn, trong thời bấy
giờ! Bài
thơ hé mở về thân thế, hoàn cảnh riêng tư của tác giả. [Về
các từ, xem TĐHV., sđd., tr. 4, 191, 480 (tập thượng), 169 (tập hạ)]. Tuy
nhiên, “quyên ai”, theo Thiều Chửu, HVTĐ., sđd., tr. 232, 345, còn có nghĩa
là hạt bụi tí tẹo, ví với sự bé mọn.
Với nghĩa này, từ tố “quyên” (dòng khe nhỏ, tia nước nhỏ) bị mờ
nghĩa hoàn toàn. Lẽ ra phải là “hạt bụi
tơ sương”. “Quyên ai” trở thành một hình ảnh tự ví, tự xưng, với
tập quán khiêm tốn: thân bụi, phận sương. Xin
ghi chép thêm cho rộng đường cảm thụ, cùng với vài dòng mạo muội suy
luận. 14 ĐƯỢC
TIN SINH CHÁU NỘI ĐẦU
Ơn vua, thọ tộc, phúc thông gia
Ngoài
cuộc, sao bàn! Chìm nổi xa!
Năm
chục, tuổi kề, hương lạy vọng
Dặm
ngàn, thư báo, cháu sinh ra
Chưa
đền, bụi – suối (1) lo mau lão
Dẫu
lạm sốt – sương, dám ấm nhà!
Trung
hiếu họ mình đầy đặn đắp
Gắng
trau nghiệp cũ, nếp ông cha!
(bản
biên soạn) (1)
Tạm dịch: Bụi
mưa, chưa đáp, lo mau lão
Sương
sốt, dù vương, dám ấm nhà! Hoặc:
Thân bụi chưa đền, lo sớm lão
Phận
sương dù nhiễm, dám yên nhà! Cước chú của bài thơ số 14, thuộc Phần
thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường): (*) Xin xem thêm:
Trần Xuân An, “PCĐT. Nguyễn Văn Tường”,
bộ truyện – sử kí
– khảo cứu tư liệu
lịch sử, (bốn tập), tập I: truyện thứ nhất, “Quốc tính và người
học trò tội đồ không chịu đổi tên”. Ở truyện này, vấn đề đó
đã được giải quyết một cách chi tiết và xác thực hơn. Bài
15 TẶNG
BẮC PHIÊN PHẠM
QUAN THÀNH QUY
TỈNH THÂN BỆNH
Quân thúc quy trang, ngã hựu hành
Bạch
đầu chỉ vị biệt li sinh
Lâm
kì tương tống nan tương biệt
Vạn
mộc tùng trung nhất điểu thanh.
TRẦN
ĐẠI VINH
phiên
âm 15 TẶNG
BỐ CHÁNH BẮC NINH PHẠM
QUAN THÀNH VỀ
THĂM BỆNH CHA MẸ
Bạn gói hành trang, tôi lại đi
Bạc
đầu chỉ sống với chia li
Đến
khi đưa tiễn khôn từ tạ
Vọng
giữa khóm cây tiếng tử quy! (1) TRẦN
ĐẠI VINH dịch
thơ (1)
Tử quy, còn có tên khác, là đỗ quyên, thường gọi là chim cuốc hoặc
chim quốc quốc. Thơ Bà Huyện Thanh Quan có câu:
“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương
nhà mỏi miệng cái gia gia”
(Qua
đèo Ngang) Chúng
tôi (TXA. – nbs.) tạm thay vào hai chữ “tử quy” này, bởi lúc bấy giờ
nước ta đã bị Pháp bức chiếm ba tỉnh Miền Đông Nam Kì (1862) và Phan
Thanh Giản “dâng đất” tiếp ba tỉnh Miền Tây (1867) cho chúng! Vả lại,
tứ thơ rất sâu, cực kì hàm súc: “Vạn
khóm cây trong một tiếng chim”, một tiếng chim gợi nên cả một miền
Đất nước, một không gian mênh mông, xa cách... Cả một phức hợp cảm
xúc, nỗi niềm! Nhưng, đây chỉ là một cảm nhận, có lẽ hơi khiên cưỡng,
lúc ướm thử vần! Xin
xem thêm : “Truyện đọc”, lớp 5, Đỗ
Quang Lưu, Vân Thanh tuyển chọn, Nxb. Giáo Dục, 2000, tr. 31 - 36: “Sự tích
chim quốc” (Nguyễn Đổng Chi sưu tầm, Kho tàng truyện cổ Việt Nam,
tập 1). Đó là một truyện kể về tình bạn thắm thiết giữa hai
nhân vật, Quắc và Nhân. 15 TẶNG
BỐ CHÁNH BẮC NINH PHẠM
QUAN THÀNH (1) VỀ
THĂM BỆNH THÂN SINH Bạn
gói gắm hành trang [để] về [nhà], tôi [cũng]
lại
ra đi Bạc
đầu chỉ [chịu đựng] bởi đời sống [quá nhiều lần] chia biệt! Đang
khi cùng tiễn chân nhau [nhưng] khó cùng cách
biệt
nhau [Ngỡ
như nghe, thấy] vạn khóm cây [bạt ngàn lại chỉ gói trọn] trong một tiếng
chim! (1)
Phạm Thận Duật còn có biệt hiệu Vọng Sơn, Quan Thành. Ông là tác giả
của các cuốn sách: Hưng Hóa kí lược,
Quan Thành tấu tập, Vãng sứ Thiên Tân
nhật kí, Quan Thành văn tập (*). “Quan
Thành”: nhất định không thay đổi quan niệm (cách nhìn nhận). “Vọng
Sơn”: ngọn núi để làm tiêu đích định hướng cho người đi đường rừng;
núi để đặt trạm quan sát... Hình
tượng trong danh hiệu tự đặt thường để tỏ chí mình. 15 |