posted: 20.8.2005
Page
3. Bài
22 CỬU
NGUYỆT NGỘ HÚY CẢM TÁC
Thu tiêu sắt sắt lậu canh trường
Lữ
xá cô đăng dạ khí lương
Trùng
trập vô thanh kinh vãn hậu
Giản
hoàng hà xứ chú dư hương
Tựu
miên cầu kiến nan thành mộng
Đãi
đán thư hoài bách trụy sương
Viễn
khách ứng đa phong thụ cảm
Huống
kinh sổ nẫm trệ nhung trường. TRẦN
ĐẠI VINH
phiên âm 22 THÁNG
CHÍN, GẶP
NGÀY HÚY CẢM TÁC
Gió thu hiu hắt khắc canh chầy
Quán
khách đèn côi đêm lạnh thay
Giun
dế không kêu, kinh tiết muộn
Hương
thừa lan tỏa, suối khe này
Ngủ
mong nằm thấy, khôn thành mộng
Chờ
sáng khuây sầu, buộc móc đầy
Viễn
khách cảm hoài cây trước gió
Huống
bao năm tháng chiến trường đây.
TRẦN
ĐẠI VINH dịch
thơ 22 THÁNG
CHÍN, GẶP
[NGÀY] GIỖ [VỢ], CẢM TÁC Gió
mạnh mùa thu thê thiết, [đồng hồ] nhỏ giọt (1) [suốt từng] canh (2) dài Quán
khách, đèn lẻ loi, khí đêm lạnh lẽo [Các]
loài côn trùng ẩn trốn [cùng] sâu bọ [đều] không tiếng [kêu], trải qua
niềm hi vọng (hoặc: thời tiết)
muộn mằn [Những]
khe núi, hào rãnh quanh thành khô cạn, [từ] nơi đâu, [vẫn] rót vào làn hương
sót lại [của mùa hoa trước] Vào
giấc ngủ, mong [được] thấy [nàng], [nhưng] khó thành giấc mộng Chờ
sáng sớm, khuây nguôi nỗi nhớ, [sao vòm trời] buộc làn sương trĩu xuống
[la đà]! Người
lính phương xa (3) cảm ứng [với] cảm xúc [của] cây cối lắm gió Huống
chi [đã] trải qua nhiều năm (chất chứa) [nỗi niềm], [giữa] chiến trường
trì đọng! (1)
Loại đồng hồ cũ, đo lường thời gian bằng nước trong bình (hoặc bằng
cát). Bình có vạch chỉ mức; nước (hoặc cát) nhỏ giọt (rơi) đều đặn.
Xem thêm bị chú. (2)
Đêm tính bằng canh (“Đêm năm canh, ngày
sáu khắc”). (3)
Dịch từ hai chữ “viễn khách”
(khách: người; viễn: [ở] phương xa), tương tự như “lữ khách” (người
đi xa), “chinh nhân”, “chinh phu” (người [đàn ông hoặc chồng] chiến
đấu phương xa). 22 THÁNG
CHÍN, GẶP
TÊN NGƯỜI ĐÃ MẤT, CẢM TÁC
Gió thu thê thiết, giọt canh dài
Quán
khách, đèn côi, đêm lạnh thay
Không
tiếng dế giun, hi vọng – muộn (1)
Đâu
nơi mương suối, dư hương – đầy
Mong
đêm (2), vào giấc, mộng thành khó
Chờ
sáng, khuây sầu, sương trĩu dày
Viễn
khách cảm niềm cây lắm gió
Huống
bao năm nghẹn chiến trường đây!
(bản
biên soạn) (1)
Hậu: hi vọng, chờ; khí tiết (thời tiết); tình trạng sự vật (TĐHV.,
sđd., tập thượng, tr. 353). Có lẽ tác giả có một người yêu (người vợ?)
mất tích (vì đi đường biển, đi đường rừng...), chưa rõ sống, chết.
Tác giả mãi đợi chờ và lấy vợ muộn (xem bài số 14: “Được tin sinh cháu nội đầu”). Cũng
do vậy, lúc này (căn cứ vào văn cảnh), có lẽ tác giả đang lặng lẽ
cam chịu nỗi mất mát ấy với một niềm hi vọng muộn màng, gần như vô
vọng (mặc dù đã có vợ con...). Có
thể cảm nhận lại từ “viễn khách” để rõ hơn nỗi niềm của tác
giả. Hồ
Dzếnh có đoạn thơ trong bài Chiều nổi
tiếng: “Tôi
là người lữ
khách (# viễn khách) Màu
chiều khó làm khuây! Ngỡ
lòng mình là rừng Ngỡ
lòng mình là mây Nhớ
nhà châm điếu thuốc Khói
chiều bay lên cây”. Rõ
ràng với văn cảnh này, “nhà” ở
đây là gia đình riêng, hoặc “nhà” là vợ; nhưng cũng có thể Hồ Dzếnh
đang tự xưng “tôi” (ngôi thứ nhất) trong khoảnh khắc thì thầm tâm sự
với người tình yêu dấu nào đó (ngôi thứ hai, ngang trang lứa) về nỗi
“nhớ nhà” (gia đình lớn, song thân) của mình. Tuy nhiên, sắc thái nỗi
nhớ cùng sắc thái các hình ảnh gợi nhớ trong bài Chiều, khiến người đọc vẫn cảm nhận đó là nỗi
nhớ về gia đình riêng, nỗi nhớ về người vợ (“nhà”) ở quê
hương. Đúng
là chỉ có quan hệ ngang trang lứa mới tự xưng như vậy. Chính từ “viễn khách” này đã xác định rõ rệt
hơn quan hệ
giữa tác giả và người đã mất là quan hệ vợ chồng, quan hệ hứa hôn
hoặc yêu đương chung thuỷ. Trên
đây chỉ là cảm nhận do không khí của bài thơ. Hiện chúng tôi chưa có
tư liệu nào về nỗi niềm riêng tư này. (2)
Nguyên văn: “cầu kiến” (mong thấy). Bài
23 KÍ
BANG BIỆN QUÂN VỤ VŨ
Ưu quốc vị thành song mấn bạch
Tranh
thần (thời) vô nại nhất thiên thương
Bất
tài huống thả phùng đa sự
Ngạnh
đoản tiên trường chỉ tự thương.
TRẦN
ĐẠI VINH
phiên âm 23 GỞI
BANG BIỆN QUÂN VỤ HỌ VÕÕ Lo
nước chưa xong đầu đã bạc Tranh
thời chẳng được, một trời sâu Không
tài lại gặp lúc đa sự Cành
ngắn roi dài chỉ tự đau!
TRẦN
ĐẠI VINH dịch
thơ 23 GỬI
BANG BIỆN QUÂN VỤ HỌ VŨ (VÕ) (1) Lo
toan việc nước (2), chưa xong, hai mái tóc [đã] bạc Giành
giật thời gian (: tranh thủ tâm trí [giặc]) chẳng [làm sao] được; một bầu
trời [vô tình vẫn] xanh! Không
tài năng, phương chi [còn] thư thả (3), [lại] gặp [lúc] lắm việc (rối
chuyện) Cành
ngắn roi dài, chỉ tự làm đau (tổn thương) [mình]! (4) (1)
Vũ Trọng Bình, nguyên là thượng thư Bộ Lại, Cơ mật viện đại thần,
hiệp biệp đại học sĩ, có tính tình thẳng thắn, đức liêm khiết nổi
tiếng. Ông cùng Nguyễn Tri Phương (thượng thư Bộ Binh) đấu tranh với nhóm
Trần Tiễn Thành, nhưng nhóm Trần Tiễn Thành hầu như được Tự Đức
ủng hộ. Do đó, ông rồi Nguyễn Tri Phương đều phải ra mặt trận phía
Bắc. Lúc Nguyễn Văn Tường sáng tác bài này, hẳn là sau khi Vũ Trọng Bình
cùng ông bị giáng chức, chịu án trảm giam hậu (tội bị chém nhưng cho
chịu giam giữ để xét lại), do để thất thủ thành Lạng Sơn. Tuy vậy,
lại được Tự Đức xóa án, vẫn cho giữ chức tham mưu, không nắm thực
quyền (bang biện, tán lí). (Xem ĐNTL.CB., tập 32, tr. 61 - 63, 70 - 72). (2)
“Ưu quốc”: chăm lo cho Đất nước. Chữ của sách Hán thư:
“Luận nghị cổ thông kim, ưu quốc như cơ khát giả, thần vị kiến giả”
(Bàn luận, thông hiểu việc xưa,
việc nay, lo lắng cho Đất nước như đói khát, kẻ bề tôi này chưa
từng thấy vậy), [TĐTNTN., sđd., tr. 737]. (3)
Nguyên văn: “thả” (còn đọc là “thư”): chậm rãi, thư thả. Nếu đi
với chữ “cẩu” (có nghĩa là sơ sài, không cẩn thận), thành từ ghép
“cẩu thả”, nghĩa có phần nặng hơn (tắc trách, qua loa, buông thả,
không hợp với đạo nghĩa Nho giáo là luôn giữ mình như đại thần phải
cầm hốt có gương soi khi chầu triều...). Tuy
nhiên, chữ “huống” (có bộ thủy ở bên trái) đi liền với chữ “thả”,
thành liên từ ghép “huống thả” với nghĩa là “phương chi”, “huống
nữa”. Bản dịch bài này của Trần Đại Vinh, không dịch “thả” là
“thư thả”... [Xem:
Thiều Chửu, Hán – Việt từ điển,
Nxb. TP. HCM. tái bản, 1999, các tr.: 3, 12, 336]. (4)
Một cách nói cay đắng nhất thời, ngầm ý phê phán sự “rối việc”,
“loạn việc” (chữ “loạn” xứ Huế...) của thời thế, cũng là lời
tự phê gay gắt trong tình thân bạn bè. 23 GỬI
BANG BIỆN QUÂN VỤ VŨ
TRỌNG BÌNH (VÕ TRỌNG BÌNH) Chưa
xong việc nước, hai đầu bạc Khó
níu ngày trời một sắc xanh! Cạn
trí, huống chi, thời lắm rối Ngắn
dài tự quất vết roi cành!
(bản
biên soạn 23/1) Lo
nước chưa xong, đầu bạc uá (1) Giành
tâm, không nén, trời hoa râm (2)! Bất
tài, lại gặp bời bời việc Cành
ngắn roi dài, tự xót thầm!
(bản
biên soạn 23/2) (1)
Hai câu đầu gợi nhớ đến bài “Thuật
hoài” của Đặng Dung (thời Hậu Trần):
“Thế sự du du nại lão hà
Vô
cùng thiên địa nhập hàm ca...
...
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỉ
độ Long Tuyền đới nguyệt ma”.
Việc nước rối bời, già được sao!
Khúc
say, trời rộng cũng đong vào...
...
Chưa đền nợ nước, đầu hoen bạc
Mấy
độ gươm mài, bóng nguyệt cao. [Hàm
(còn đọc là “cam”): say rượu ngà ngà]. (2)
“Thương”, còn có nghĩa là [tóc] hoa râm. Bài
24 HỌA
THỐNG ĐỐC HOÀNG ĐẠI NHÂN VỊNH
QUÂN TRUNG THỦY TIÊN NGUYÊN
VẬN
Mỗi ức hoa gian trạc dị anh
Ngãi
bồng phi cức cửu kinh dinh
Độc
tương thanh bạch di y mĩ
Tằng
duyệt phân ai bảo thử trinh
Cộâng
ngã du quan trang lữ thú
Liên
cừ liễu mạch hệ khuê tình
Linh
căn bão đắc băng hồ tĩnh
Thùy
tín Hằng Nga thố xứ sinh!
VŨ
ĐỨC SAO BIỂN
phiên
âm 24 HỌA
NGUYÊN VẦN BÀI VỊNH HOA THỦY TIÊN TRONG QUÂN LỮ CỦA THỐNG ĐỐC ĐẠI NHÂN
HỌ HOÀNG Thường
nhớ đến vẻ đẹp lạ kì trội lên giữa muôn hoa Dọn
dẹp cỏ rối và gai góc, toan tính rất lâu Một
mình đem tặng vẻ đẹp thanh bạch ấy Từng
giữ lòng trong trắng trải qua nơi bụi bặm Cùng
ta mang mối tình quê đến trại đóng quân Thương
ngươi buộc mối tình khuê phòng bên bờ liễu Gốc
rễ tinh khôn ôm lấy bình nước trong sạch yên tĩnh Ai
tin rằng Hằng Nga sinh nhầm chỗ!
VŨ
ĐỨC SAO BIỂN
dịch
nghĩa 24 HỌA
NGUYÊN VẦN BÀI “VỊNH HỌA THỦY TIÊN TRONG QUÂN LỮ” CỦA THỐNG ĐỐC HOÀNG
ĐẠI NHÂN (1) Thường
nhớ giữa cõi hoa (thế giới các loài hoa), vút lên (trỗi vượt) [một] vẻ
đẹp kì lạ Cắt
cỏ, dọn gai, trải qua toan tính lâu dài Một
mình đem sự thanh bạch [để] tặng cái đẹp ấy Nhiều
đợt trải qua bụi bặm, hơi sương, [vẫn] giữ lòng trinh trắng này Chung
[lòng với] ta [tới] cửa ải [giữa rừng] cây du (2), trang hoàng cho
[thêm] sự ý vị của lính thú xa quê Thương
ai [buộc quanh ở] bờ liễu (2), [như thể] treo [lên] mối tình phòng the [của người vợ]! Gốc
rễ linh diệu ôm lấy bình nước trong sạch [một cách] yên tĩnh
(hoặc: ôm lấy sự trong sạch, tĩnh tại) Ai
tin [rằng] Hằng Nga (3) nhầm chỗ [mà] ra đời! (1)
Hoàng Tá Viêm (ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 94...). (2)
Du là một loài cây mọc ở rừng sâu, lá có hình mũi giáo, quả có cánh,
cùng họ với cây gỗ sến. “Du quan”, nghĩa bóng là cửa ải chốn rừng
sâu. [Xem HVTĐ., sđd., tr. 304; TĐTV., sđd., tr. 256]. Theo
Bửu Kế, Từ điển từ ngữ tầm nguyên,
sđd., tr. 376, hai chữ “liễu mạch” (nguyên nghĩa: cây liễu ở đường bờ
ruộng) có nghĩa sử dụng gần như “liễu hạng hoa nha” (“liễu ngõ hoa
tường”). Chúng tôi thấy nghĩa đó không phù hợp với văn cảnh, tứ
thơ toàn bài? Trường hợp này, nếu ép theo nghĩa ở TĐTNTN. vào văn cảnh,
tứ thơ này, lại là sự phê phán “lầu xanh”, “trăng gió”, “trên bộc
trong dâu”... Do
đó, tác giả dùng chữ “liên”, với nghĩa là “thương tiếc” (thương
xót và tiếc nuối), [TĐHV., tập thượng, sđd., tr. 504; HVTĐ., sđd., tr. 212
- 213). Tuy
vậy, chúng tôi vẫn hiểu theo nghĩa rất thanh cao và cảm động theo văn ngữ
cảnh của toàn bài. (3)
Hằng Nga (vẻ đẹp vĩnh hằng): tên do các nhà thơ đặt cho mặt trăng,
cũng là tên ở các truyện cổ dân gian. Đây chỉ là biểu tượng, chỉ
hoa thủy tiên. Hoa thủy tiên vừa là biểu tượng của cái đẹp nói chung,
gồm cả nhan sắc, tài năng xuất chúng và phẩm hạnh vượt trội (“dị
anh”). Chú thích của Những khúc ngâm chọn lọc, tập I (Lương Văn
Đang, Nguyễn Thạch Giang, Nguyễn Lộc giới thiệu, biên khảo, chú giải),
Nxb. ĐH. và THCN., 1987, tr. 119: “Hằng Nga
còn gọi là Thường Nga, vợ Hậu Nghệ,
đời vua Hoàng Đế. Hậu Nghệ được bà Tây Vương Mẫu cho thuốc trường
sinh nhưng Hằng Nga đã lấy trộm để uống, rồi bay lên cung trăng”. 24 “NGỢI
CA HOA THỦY TIÊN TRONG
QUÂN LỮ”
Họa
thơ Hoàng Tá Viêm
Nhớ
hoài hoa lạ trội muôn hoa
Gai
cỏ nhặt gom, lo liệu xa
Sương
biếc (1) một đem trao sắc ngọc
Bụi
mù mấy trải, giữ trinh ngà (2) Ải
du, cùng mỗ (3), trau niềm lính
Bờ
liễu, thương ai, gác nỗi nhà (4)?
Ôm
tĩnh rễ tinh, bình nước sạch
Ai
tin nhầm chỗ Hằng sinh ra!
TRẦN
XUÂN AN
chuyển
lại thơ (1)
Nguyên văn là “thanh bạch”, có nguyên nghĩa là trong trắng; nghĩa tiếng
Việt thông dụng: [nếp sống] giản dị, liêm khiết, không bị cám dỗ
bởi sự giàu sang. Tạm dùng một hình ảnh để thay thế nguyên nghĩa: “sương
biếc”. (2)
Nguyên văn: y mĩ (cái đẹp kia); thử trinh (cái trinh trắng này). “Sắc ngọc”, “trinh ngà” là các chữ
tạm dịch thoát. (3)
“Mỗ”: mình, tôi, tớ, qua, choa… “Mỗ” là đại từ ngôi thứ nhất;
chỉ trổng một cách khiêm tốn. (4)
Nếu dịch thoát, hai câu luận sẽ là:
Theo
ta đến ải, trau niềm lính
Thương
ấy treo thành, máng chuyện nhà. Bài
25 ĐÔNG
DẠ HỮU CẢM
Phong vũ tiêu tiêu dạ lậu tần
Hàn
đăng độc tọa giác lao thần
Sơn
minh cốc hưởng truyền tiêu tức
Kê
xướng dăng thanh hỗn tự chân
Tuế
mộ bất tu sầu ảm đạm
Canh
thâm thùy vị đạo ưu cần
Điểm
trang đắc dữ đông hoàng tá
Phục
đán khai tường sắc dạng tân.
TRẦN
ĐẠI VINH
phiên
âm 25 CẢM
XÚC ĐÊM ĐÔNG
Mưa gió đìu hiu đêm đã chầy
Riêng
ngồi đèn lạnh tổn thần thay
Núi
vang hang gọi truyền tin tức
Gà
gáy ruồi kêu thực lẫn say
Năm
hết đâu cần buồn ảm đạm
Canh
khuya ai trọng đạo lo đây?
Điểm
trong cảnh sắc đông hoàng giúp
Sáng
mở tốt lành, tươi mới thay!
TRẦN
ĐẠI VINH
dịch
thơ 25 ĐÊM
ĐÔNG, CÓ [: GỢI NIỀM] CẢM XÚC Gió
mưa đìu hiu, giọt [đồng hồ] đêm [ngỡ như] gấp gáp [để cạn] Đèn
lạnh, ngồi một mình, cảm thấy tinh thần mỏi mệt Núi
vang [tiếng], hang núi vọng lại, truyền tin tức [chiến trường] Gà
gáy ruồi kêu, sự thật (thực tế) lẫn lộn [với] cái giông giống sự
thật (thực tế) Năm
tàn đâu nên buồn rầu [về] sự tối tăm, nhạt nhẽo Canh
(1) sâu ai giúp khai mở (thuyết giáo) [về] lòng lo nghĩ, siêng năng [việc
nước] Điểm
tô [đất trời], được cùng với vị chúa mùa xuân (2) giúp đỡ Buổi
sáng mai lại trở về, mở ra sự tốt lành, dáng sắc [tươi] mới! (1)
Canh: mỗi quãng thời gian cố định về đêm, đơn vị tính thời gian (“Đêm năm canh...”). (2)
Đông hoàng: vị vua (thần) hướng đông (thần mùa xuân). 25 ĐÊM
ĐÔNG, CẢM XÚC
Mưa
gió đìu hiu giọt cát đầy
Riêng
ngồi, đèn lạnh, hồn hao gầy
Núi
vang, hang vọng, tin truyền tức
Gà
gáy, ruồi reo, thực lẫn say
Năm
cạn, đâu nên lòng sầu héo
Khuya
sâu, ai liệu sách bừng khai (1)?
Thần
phương đông giúp tô trời đất
Sáng
mở tốt lành, tươi sắc thay!
(bản
biên soạn) (1) Nguyên văn: Đạo Học, Đạo Nho (đạo học
trò). Có thể hiểu theo trình độ xã hội hiện đại là Đạo Giáo dục. Xin xem thêm câu này ở bản
dịch nghĩa. Bài
26 ĐỒ
TIẾP THANH QUAN
Y thùy cấu đắc miếu lang ưu
Tam
tứ niên lai tâm sự du
Xa
mã thử hành chiêu vật độ
Thử
hồ hà nhật tức khuy thu (du)
Thao
trù nhược định vô tha trở
Vi
(vị) đức đương chung khởi ngoại cầu
Mộc
dĩ viên phần hưu quái hận
Việt
đồng Tần thị cánh (canh) hà vưu.
TRẦN
ĐẠI VINH
phiên âm 26 GIỮA
ĐƯỜNG ĐÓN
TIẾP QUAN NƯỚC THANH
Miếu đường dựng tốt cùng ai chăng?
Ba,
bốn năm nay lòng ngổn ngang
Xe
ngựa lần này soi tỏ vật
Chuột
chồn bao thuở hết moi hàng?
Lo
toan đã định không gì cản
Vì
đức tới cùng há “ngoại” tham!
Đốt
vượn nguy cây, thôi ghét hận
Sao
cùng oán mãi? Việt như Tần!
TRẦN
ĐẠI VINH
dịch
thơ 26 GIỮA
ĐƯỜNG ĐÓN
TIẾP QUAN NƯỚC THANH Ai
kia làm việc được tốt triều đình
(1)? Ba,
bốn năm qua tâm sự [người thương thuyết] rối bời (ngổn ngang) Xe
ngựa chuyến đi này, [phải] soi rọi, bày rõ [các] vật giúp (đồ tài trợ) Chuột
chồn ngày nào [sẽ bị] dập tắt [những cuộc] liếc rình chở trộm (cướp
bóc)? Liệu
tính kế sách quân binh, nếu [đã] ổn [thì] không ai ngăn trở [nổi] Tạo
nên đức nghiệp [để] cùng chung gánh vác, [quân nhà
Thanh các bạn]
há [là] giặc ngoại xâm tham lam!
(hoặc: Vì đức đến cùng, há cầu bên ngoài?) Cây
cối vốn có đốt vượn [đã bấu vào] (2), thôi đừng hận [vì] sự đơm
đặt (nói xấu) Nước
Việt cũng như nước Tần (3), nên (hoặc: thấy lại
thêm)
oán
hận sao? (1)
Xem hai chú thích (2), (2) ở hai bản dịch nghĩa, bài 1 và bài 4. Quân nhà Thanh sang nước ta để cùng
tiêu diệt bọn giặc Cờ (tàn quân Thái Bình Thiên Quốc). Do vấn đề tế
nhị là xung đột dân tộc (Mãn với Hán), triều Nguyễn phải bao cấp cho
quân Thanh để quân Thanh tiêu diệt giặc Cờ. Trong nhân dân Việt Nam có luồng
dư luận không thiện cảm và nghi ngại về quân Thanh (mượn cớ để xâm
lược nước ta). Tướng Phùng Tử Tài của nhà Thanh có lần đòi rút quân
về trong khi giặc Cờ chưa dẹp hết... (xem ĐNTL.CB., tập 31, tr. 383 -
384...). Chữ “cấu” trong trong nguyên bản còn có nghĩa “gây chuyện”. (2)
Trong thực tế lịch sử, không phải ở thời điểm này, mà sau khi Hà Nội
thất thủ lần thứ hai (1882), quân Thanh đáp ứng lời cầu viện, lại
kéo quân sang. Ở lần sau (1882 - 1885), tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Thụ
Thanh đã bộc lộ âm mưu xâm lược trong tờ mật sớ tâu với vua Thanh: “Nước Nam với nước Tàu tiếp giáp với nhau mà thế lực nước
Nam thật là suy hèn, không có thể tự chủ được nữa, vậy ta nên mượn
tiếng sang đánh giặc mà đóng giữ ở các tỉnh thượng du. Đợi khi có
biến thì ta chiếm lấy những tỉnh ở về phía bắc sông Hồng Hà”
[Trần Trọng kim lược dịch; xem TTK., VNSL., sđd., tr. 529 (bản 1964), tr. 558
(bản 1999)]. Lần này, có cả Từ Diên Húc! Lúc
bấy giờ, Nguyễn Văn Tường và Triều đình nhà Nguyễn hẳn thừa biết,
nhưng vẫn tiến hành chính sách ngoại giao đối trọng, để Pháp – Tàu bắn
nhau, Việt Nam sẽ thừa cơ giữ vững độc lập, giành lại Nam Kì [xem
KYHNKH., ĐHSP. TP. HCM., sđd., bài của Gs. Nguyễn Văn Kiệm, tr. 8 - 9]. Nỗi
đau lịch sử của hai nước láng giềng cứ lặp đi lặp lại mãi! [Xem tư
liệu trực tiếp: ĐNTL. CB., tập 36, sđd., tr. 91, về chính sách ngoại giao
đối trọng: trung lập giữa Pháp và Hoa]. Nhưng
đấy là chuyện mười mấy năm sau. Nguyễn Văn Tường sáng tác bài thơ này
trong thời điểm trước đó, 1868 - 1873. (3)
Đốt cây có bàn tay vượn bấu vào bị xem là xấu, dễ mọt (?). Có lẽ tác giả vận dụng điển cố
“vượn Sở”: vượn của nước Sở. Điển ấy từ câu: “Sở quốc vong viên, họa diên lâm mộc” (nước
Sở mất vượn, họa đến các cây trong rừng [vì phải chặt cây để bắt
vượn!]). Nghĩa bóng: mộât mối họa tự dưng lây đến nhiều người, nhiều
trường hợp khác (TĐTNTN., sđd., tr.758). Ở đây, do một đốt cây bị tay
vượn bấu vào, mà phải đốn cả cây, cả khu rừng, vì đó là dấu vết
có vượn lẫn trốn trên cây ấy, trong rừng ấy (vượn rất khỏe; cây lớn,
sum suê che khuất). Tất nhiên cũng phải hiểu nghĩa bóng. (4)
Ý tác giả Nguyễn Văn Tường: Việt 26 GIỮA
ĐƯỜNG, ĐÓN
TIẾP QUAN NƯỚC THANH
Ai kia xong việc, vững triều ngay?
Lòng
ngổn ngang ba, bốn Tết nay
Xe
ngựa, đây lần soi vật giúp
Chuột
chồn, nào dịp tắt gian gây?
Phác
đồ, định hẳn, không người cản
Tạo
đức, gánh cùng, há bạn dây (1)?
Đốt
vượn hoạ cây, thôi buộc hận
Việt
như Tần, chớ oán thêm hoài!
(bản
biên soạn) (1)
Dây dướng, dây dưa, dây [vào]... Bài
27 KÍ
SƠN THỨ THAM TÁN ÔNG, |