posted: 21.8.2005
Page
4. 32 CHỢT
LÀM, TRÌNH
QUAN THỊ SƯ HỌ NGUYỄN
Núi nhiều cáo chuột, biển nhiều kình
Luống
khiến ngư tiều chiều xuống kinh
Lấp
biển, sợ chôn hang trạnh cá
Vùi
non, khó chặn nẻo dê chim
Lời
gièm nổi dậy mưu sao định
Năm
tháng lao đao hận chẳng lành
Thử
hỏi toàn bàn nơi tụ họp
Dụ
như Cung Triệu: đánh Hàn Bành.
TRẦN
ĐẠI VINH
dịch
thơ BẤT
CHỢT LÀM XONG, BÀY TỎ [CÙNG]
QUAN THỊ SƯ HỌ NGUYỄN (1) Núi
nhiều cáo chuột, biển lắm cá kình [hung dữ] Khi
không [lại] khiến [cho] người hái củi, dân đánh cá kinh hãi [trong mỗi]
buổi chiều [lúc nắng trời đã] nhợt nhạt Lấp
biển, sợ chôn hang rùa, cá Chặn
núi, khó tiệt nẻo [đi lối về của] dê, chim Lời
nói [của] đám đông, bới móc, dựng lên đầy khắp, [như vậy] mưu lược
làm sao định [ra được] Nhiều
năm mệt nhọc trừ dẹp, tai họa [giặc phỉ vẫn] chưa bình định [xong] Thử
hỏi toàn bàn [họp về] nơi quy tập [lại bọn phỉ ấy] [Nên]
vỗ yên (phủ dụ) [bọn chúng] như y theo cách xưa vời gọi, [do] sợ hãi
Hàn, Bành (2) sao? (3) (1)
Nguyễn Uy (Oai) (ĐNTL.CB., tập 32, tr. 248). (2)
Theo TQSL., sđd., tr. 66 - 67: Hàn Tín đã thu phục được Bành Việt, tướng
của Hạng Tịch. Hàn Tín, Bành Việt, hai danh tướng của Hán vương, đã từng
chiếm đánh nước Triệu trong nửa ngày. “Chiến” còn có nghĩa: sợ. (3)
Hẳn đây là một câu hỏi nêu ra nhằm tranh luận với quan điểm thiên về
vỗ yên (cấp đất, cấp tiền cho bọn phỉ – Thái Bình Thiên Quốc biến
tướng –, cho chúng ở lại nước ta để sinh sống). Trong thực tế, chúng
lại trá hàng rồi mưu phản, như vụ đánh úp thành Lạng Sơn, lúc quân
binh của thành do Ông Ích Khiêm rút đi gần hết (để tiễu phỉ ở vùng
khác)..., (xem ĐNTL.CB., sđd., tập 32, tr. 61 - 62). Cũng trong thực tế, giặc
Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc, mặc dù có gây họa nhiều cho dân ta (cướp bóc,
tàn sát), nhưng cũng được Hoàng Tá Viêm, Tôn Thất Thuyết vỗ yên và sử
dụng đánh Pháp thành công, nhất là các trường hợp như quân ta khó lòng
trực tiếp ra tay vì bị hòa ước bó buộc hoặc ngại làm vỡ không khí
nghị hòa (giết Françis Garnier, 1873; Henry Rivière, 1882). Vì hai mặt tích cực
và tiêu cực, xét về tác dụng trong việc vỗ yên, sử dụng “giặc Cờ”, nên bấy giờ vấn đề được bàn cãi gay gắt
trong các cuộc họp của tướng sĩ (ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 317,
362; tập 32, sđd., tr. 99...). 32 BẤT
CHỢT LÀM XONG, BÀY
TỎ CÙNG QUAN THỊ SƯ NGUYỄN
UY (NGUYỄN OAI)
Núi nhiều cáo chuột, biển đầy kình
Bạc
mặt chiều hôm, chài, Thượng kinh
Chẹn
biển, e chết hang cá nở (1)
Ngăn
non, khó tiệt nẻo diều sinh (1)
Xấu
gièm, lắm tiếng, mưu sao định
Khổ
dẹp, nhiều năm, nạn chửa bình
Thử
hỏi toàn bàn nơi tụ giặc?
Vỗ
mời như Triệu, đánh Hàn binh (2)?!
(bản
biên soạn) (1)
Dịch thoát. Nguyên văn có nghĩa: “hang rùa cá”, “nẻo dê chim”. Diều:
diều hâu (biểu tượng của sự hiếu chiến, sống bằng xác người). (2)
Tạm lược chữ “Bành” (Bành Việt) ; như thế vẫn đủ nghĩa, lại giữ
được nhạc điệu của câu thơ. Hoặc tạm dịch:
“Vỗ mời như cổ, đua Hàn Bành?” bởi
chữ “chiến” còn có nghĩa là “đua nhau hơn thua”, trong một phe. Xem chú
thích (2) bản dịch nghĩa bài này. Bài
33 DẠ
VĂN CA CỔ TRÌNH
THỊ SƯ NGUYỄN
Đăng hạ phi thư tiệm giác hàn
Hồi
tư sự thế dạ man man
Như
kim ban mấn nhân tương lão
Hà
xứ tân thanh khách diệc nhàn
Điêu
đẩu chinh phu mê chướng vụ
Ngọc
hoa thương nữ ỷ lan can
Trung
khúc nhược giải bàng nhân ý
Xả
khước tì bà xướng nhập quan.
TRẦN
ĐẠI VINH
phiên
âm 33 ĐÊM
NGHE ĐÁNH TRỐNG CA, TRÌNH
QUAN THỊ SƯ HỌ NGUYỄN
Giở sách dưới đèn thấy lạnh lùng
Chuyện
đời gẫm lại, đêm mung lung
Tóc
phai nay độ ưu tư – lão
Trỗi
nhạc nơi nào, nhàn hạ – ngông!
Lính
tráng chinh phu mờ chướng khí
Xinh
tươi ca nữ dựa lan can
Lời
ca nếu giải lòng ngoài cuộc
Bỏ
khúc “Tì
bà” hát “Vượt ngàn”.
TRẦN
ĐẠI VINH
dịch
thơ ĐÊM
NGHE ĐÁNH TRỐNG HÁT XƯỚNG, TỎ
BÀY VỚI QUAN THỊ SƯ NGUYỄN (1) Dưới
đèn giở sách, dần dần cảm thấy lạnh Ngẫm
lại [quãng thời gian] sự đời biến loạn (giặc giã), đêm xa thẳm, mênh
mông Như
thể (chừng như) bây giờ, tóc [đã] hoa râm, người chưa nhưng cũng sắp
già Nơi
nào tiếng [hát] tươi mới, khách khứa cũng [hưởng] nhàn! Đồ
đong gạo [đong lương cho lính] điêu trá (hay nậm rượu độc ác) (2)
[cùng] người lính trận mê mờ trong sương độc, bệnh sốt rét Cô
gái bán [phấn] buôn [hương] (3) [với (hoặc xinh đẹp như)] đóa hoa [được làm bằng] ngọc,
tựa
vào bao lơn Khúc
hát ngay thẳng giá như cởi bỏ được ý nghĩ [của] người bàng quan [với
dân, với nước]
(hoặc: người bên cạnh; người ngoài cuộc) (4) Xin
tha thứ [cho chúng và] hãy [cùng nhau] từ bỏ cái đàn tì bà (4),
hát lên [khúc hát] “Vào cửa ải”
(5). (1)
Nguyễn Uy (Oai), (ĐNTL.CB., tập 32, tr. 248). (2)
Theo mặt chữ của nguyên tác chép tay, “điêu đẩu” có hai nghĩa (hai loại
đồ dùng nấu ăn của lính, đêm dùng để đánh cầm canh; đồ đong gạo
điêu trá), [Thiều Chửu, HVTĐ., sđd., tr. 50]. (3)
Nguyên văn: “thương nữ” (người con gái làm nghề thương mãi [buôn gạo,
bán rượu...]). “Ngọc hoa” còn có nghĩa là gái đĩ xinh đẹp. (4)
Vương Tường (Chiêu Quân), đời vua Hán Nguyên Đế (Trung Hoa), bị cống nộp
cho “rợ” Thuyền Vu; khi ra cửa ải Vân Quan, Chiêu Quân ngồi trên lưng
ngựa gảy đàn tì bà rất ai oán (TĐTNTN., sđd., tr. 604 - 605). (5)
Hơi dè dặt, chúng tôi liên tưởng đến bài Tì bà hành (của Bạch Cư Dị) do Phan Huy Vịnh
(thượng thư Bộ Hình, cùng thời) dịch. 33 ĐÊM
NGHE ĐÁNH TRỐNG HÁT
XƯỚNG, TỎ
BÀY VỚI THỊ SƯ NGUYỄN UY (NGUYỄN
OAI)
Giở sách dưới đèn lạnh thấm sang
Nhiễu
nhương, suy ngẫm, đêm mang mang
Như
nay tóc nhuốm, người chừng lão
Đâu
chốn nhạc tươi, khách mãi nhàn
Vạc
kẻng chinh phu mê chướng khí
Ngọc
hoa thương nữ dựa lan can
Lời
ngay nếu cứu lòng hờ hững
Buông
bỏ Tì bà, hát Vượt ngàn! (2)
(bản
biên soạn) (1)
Nếu hiểu “điêu + đẩu” là cái thưng, cái đấu xảo trá (để đối
chỉnh với danh từ ghép đẳng lập “ngọc + hoa” vốn có nghĩa bóng là
gái đĩ, xin tạm dịch toàn câu (sát nghĩa): “Thưng
đểu chinh phu mờ sốt rét Hoa
ngời thương nữ loá lan can”. (2)
Đây là một bài thơ nghĩ chuyện đời thời
biến loạn! Toàn bài thơ nói về quan niệm sống; tiếng trống, giọng
ca, người lính, kĩ nữ chỉ là cái cớ trực tiếp. Đừng khiêm tốn thì
phải nói là: bài thơ thể hiện triết lí
sống, lẽ sống tích cực, đầy trách
nhiệm trong hoàn cảnh Đất nước bị ngoại xâm và nội loạn (*). Không
thể không liên tưởng đến bài “Bạc Tần
Hoài” của Đỗ Mục, đời Đường (Trung Hoa): Yên
lung hàn thuỷ nguyệt lung sa Dạ
bạc Tần Hoài cận tửu gia Thương
nữ bất tri vong quốc hận Cách
giang do xướng “Hậu đình hoa”! Nước
lồng khói toả, cát trăng pha Thuyền
đỗ sông Hoài cạnh tửu gia Con
hát biết chi hờn mất nước Cách
sông còn hát “Hậu đình hoa”! KHƯƠNG
HỮU DỤNG dịch
thơ (Thơ Đường, tập 1, sđd.,
tr. 263). “Hậu
đình hoa” là “một khúc tình ca của Trần
Hậu Chuá” (chú thích, sđd.)! Một
quan niệm về mối quan hệ giữa văn chương với hoàn cảnh Đất nước rất
cổ nhưng lại rất mới. Cước chú của bài thơ
số 33, thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường): (*) Xem bản tấu của Nguyễn Văn Tường đệ trình
vua Tự Đức về việc bố trí quan chức (tướng sĩ...) và về đức
liêm khiết (ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 31 - 32). Bài
34 KIÙ
PHỎNG NGUYÊN
CAO NIẾT NGUYỄN
Tu mi tài bán bạch
Kiếm
bút khởi toàn phao
Giám
biệt thùy Tiêu nhãn
Hùng
phi thị Tín hào
Bất
tham Tần hóa bảo
Vị
tiễn Hán bồng cao
Nhiễu
nhiễu phương đa cố
Vô
vi vật hiệu Tào.
TRẦN
ĐẠI VINH
phiên âm 34 GỞI
THĂM NGUYÊN ÁN SÁT CAO
BẰNG HỌ NGUYỄN
Tóc mày vừa bạc nửa
Kiếm
bút há vứt đi
Ai
mắt Tiêu Hà xét?
Hàn
Tín hào sảng kia!
Chẳng
ham đồ Tần quý
Cỏ
Hán phải cắt lì
Nhiễu
nhương nhiều biến cố
Chớ
Tào Tham vô vi.
TRẦN
ĐẠI VINH
dịch thơ 34 GỬI
THĂM NGUYÊN ÁN SÁT CAO BẰNG HỌ
NGUYỄN (1) Mày
râu vừa mới bạc một nửa Kiếm,
bút chẳng lẽ (há) vứt hết cả [đi]? Ai
[có đôi] mắt Tiêu (2) soi xét? Ấy
[là cái] tài xuất chúng [của] Tín (3) (: phát dương chí khí mạnh mẽ) [ư]? Không
tham [trước] đồ vật, tiền tệ (hay ấn tín [phong cho]) [của nhà] Tần
(4) Cùng
cắt cho đều cỏ bồng (thường dùng làm mũi tên cho cung nỏ), cỏ
cao (để chữa bệnh) [của nhà] Hán Nhiễu
nhương [ở] phương [trời] lắm biến cố (4) [Hãy]
vô vi (5) [bạn nhé!], chớ bắt chước Tào (6)! (1)
Nguyễn [Quang] Quýnh ở ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 73; ĐNTL.CB., tập 31,
sđd., tr. 86; QTHKL., sđd., (số thứ tự 728), tr.178; chứ không phải là Nguyễn
Quýnh anh em của Nguyễn Thuật (tập 37, sđd., tr. 142). (2)
Tiêu Hà: mưu thần của Lưu Bang (Hán Cao Tổ). (3)
Hàn Tín: tướng giỏi của Lưu Bang. Lúc còn nghèo khổ, chịu ăn cơm hẩm
của người đàn bà làm nghề giặt rửa, chịu lòn trôn người khác giữa
chợ một cách nhục nhã để nuôi chí lớn. Về sau, thành danh tướng của
nhà Hán. Nhưng danh đã thành mà thân không chịu thoái về, nên bị Lưu
Bang (vợ là Lữ Hậu) giết, bởi sợ Hàn Tín cướp ngôi. Tấm gương ẩn
nhẫn nuôi chí và bài học về bi kịch công thần! (4)
Khuôn dấu (ấn tín) và hàng hóa, mũi tên của cung nỏ và thuốc thang, đó
là bốn biểu tượng của quyền lực (kể cả quyền lực của bọn làm
tay sai cho ngoại bang), của giàu có (dù nô lệ), của ý chí và sức mạnh
chiến đấu, của sự cứu chữa mọi vết thương, căn bệnh. Chiến tranh mặc
dù chính nghĩa vẫn gây ra nhiều hi sinh, đau đớn. Do đó, phải có tài năng,
thuốc thang của y tế, của nhân đạo. Gửi
thư bằng thơ cho bạn, Nguyễn Văn Tường đã củng cố cho nhau một thái
độ chính trị, một chọn lựa trước vận mệnh của nhân dân và Tổ quốc
đang bị thách thức bởi thực dân Pháp và kẻ thù nhẵn mặt – bọn vua
chúa Tàu. (5) “Vô vi: bất nhi bất vi” (Lão Tử).
Hãy làm tất cả vì đời nhưng xem như chẳng làm gì, thậm chí đừng lưu
danh (vô danh), đừng kể công lao (vô công)... “Vô vi”, ngược với “hữu
vi”, là một chủ trương chính trị dùng đạo đức, học thuật để giáo
hóa con người, không dùng bạo lực và hình pháp. (6)
Tào Tháo, cũng xem như là kẻ đã cướp ngôi nhà Hán, lập nên nhà Ngụy,
mặc dù đến đời con Tào Tháo là Tào Phi mới chính thức xưng là Ngụy
đế. Tào Tháo còn là một hình tượng văn học bị bóp méo theo quan điểm
phù Hán, hoài Hán của tác giả tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa (La Quán Trung), mặc
dù trong thực tế lịch sử Tào Tháo là một thi sĩ, một nhà chính trị
không tệ hại như thế. Ở đây, Nguyễn Văn Tường muốn phê phán sự cưỡng
ép vua Hán, chuẩn bị cho Tào Phi cướp ngôi hẳn, về sau. Tuy
nhiên, thấy rõ là suốt bài thơ, Nguyễn Văn Tường đều dùng các điển
tích Bắc sử (sử Trung Hoa) thời cuối Tần đầu Tiền Hán (khoảng năm
202 - 215 [?] trước công nguyên Thiên Chúa giáo). Vì vậy, Tào được đề cập
đến hẳn là Tào Tham. “Tiêu quy, Tào tùy”: Tiêu Hà quy định nên phép tắc nhà
Hán trước, Tào Tham kế nhiệm, tuân theo sau (TĐHV., tập hạ, sđd., tr.
277). Cả Tiêu Hà lẫn Tào Tham đều nối nhau làm tướng quốc (TQSL., sđd.,
tr. 69). Dù
với điển tích là Tào Tháo hoặc Tào Tham, thì ý tưởng “công thành
thân thoái” hoặc “vô vi” (đại
ẩn tại triều trung...) [xem chú thích (5) trước chú thích này] vẫn
là ý tưởng kết đọng cuối bài thơ; hoặc giả, với ý không nên nối
tiếp đường lối hiện hành do Trần Tiễn Thành lũng đoạn... Phải
chăng, “vô vi bất nhi bất vi” là một cách thoát khỏi sự bế tắc của tư tưởng chủ chiến trước sự
thắng thế của khuynh hướng chủ “hòa”? Nghĩa là vẫn hành động theo
chủ trương chủ chiến một cách bí mật! [Xem bài 38, “Bệnh trung kí phỏng đồng
chí”]... Ở
đây, xin ghi cả Tào Tháo lẫn Tào Tham cho rộng đường tra cứu thêm và rộng
đường suy ngẫm về tứ thơ. Xin xem câu kết bản dịch thơ bài này của
Trần Đại Vinh. 34 GỬI
THĂM NGUYÊN ÁN SÁT CAO
BẰNG NGUYỄN QUÝNH
Mày râu vừa bạc nửa
Kiếm
bút há quăng đi!
Ai
mắt Tiêu soi lẽ
Kìa
tài Tín, chói uy!
Dấu,
hàng Tần, chẳng hám
Tên,
thuốc Hán, đều chi (1)
Rối
nhiễu nơi tao loạn
Học
gì Tào vô vi!
(bản
biên soạn) Chùm
thơ hai bài 35. 36 QUÂN
TRUNG THUẬT HOÀI 35:
BÀI A
Nhất biệt tinh chu ngũ
Tương
tư cửu khúc trường
Tái
phong lai kính trúc
Dạ
nguyệt thướng cao lương
Sầu
bất li cô tái
Mộng
thường đáo cố hương
Phong
hầu thùy tự ngộ
Định
viễn mấn thành sương.
TRẦN
ĐẠI VINH
phiên âm 35.
36 TRONG
QUÂN TỎ LÒNG 35:
BÀI A
Một đi năm năm tròn
Nhớ
đau chín khúc ruột
Gió
ải lay xanh trúc
Trăng
đêm bước cầu son (1)
Sầu
chẳng rời ải vắng
Mộng
thường lại cố hương (1)
Phong
hầu ai lạc lối
Định Viễn tóc pha sương (2).
TRẦN
ĐẠI VINH
dịch thơ (1)
Tác giả nhớ về Huế, Quảng Trị ([?] – nbs.). Đó là hai hình ảnh của
hoài niệm, hồi tưởng, tiểu đối và đối chỉnh với hai hình ảnh của
hiện tại mà tác giả đang sống, chiến đấu tiễu phỉ (ở hai câu trên
của hai câu này). (2)
Định Viễn (sử Trung Hoa): mĩ hiệu của Ban Siêu, có nghĩa là bình định
được vùng đất biên viễn. Đó là một người được phong đến tước
hầu; trải qua ba mươi năm chinh chiến ở biên giới, khi trở về đầu đã
bạc trắng. 35.
36 TẠI
NƠI BẢN DOANH CỦA CÁC TƯỚNG SĨ, BÀY
TỎ NỖI LÒNG 35:
BÀI A Một
[lần] ra đi [vậy mà đã] tròn năm chu kì của vì sao (5 năm)! Nhớ
nhau, [xót đau như] chín khúc ruột quằn Gió
[biên] ải đến [với những cành] trúc [ven] lối [đi] (1) Trăng
đêm [khuya như bước] lên cầu cao [Nỗi]
sầu không [chịu] rời [biên] ải cô quạnh [Giấc]
mộng thường về lại quê cũ [Nhận]
phong chức quan, hàm tước, ai [đã trót] nhầm lỡ [Sự]
quyết định [từ] phương xa (2), [khiến] mái tóc hóa sương [trắng]! (3) (1)
“Kính trúc” cũng có thể dịch là “trúc thẳng”. “Kính trúc” đối
với “cao lương”, rất chỉnh, về từ loại, và cấu tạo ngữ (ngữ
danh từ = tính từ + danh từ). [Xem: HVTĐ, sđd., tr. 192]. (2)
Lệnh từ kinh đô ban ra Bắc (điều động Nguyễn Văn Tường vào Huế nhận
lệnh sung vào phái bộ Lê Tuấn, 1873 - 1874); hoặc: xong việc nơi biên ải
(nhưng lúc này vẫn chưa diệt xong giặc Cờ, F. Garnier và Puginier lại tăng
cường mua chuộc, quấy phá!). (3)
Xin lưu ý câu kết của bài thơ. Đó là một câu rất tâm trạng của tác
giả. 35.
36 TẠI
NƠI BẢN DOANH CỦA CÁC TƯỚNG
SĨ, BÀY TỎ NỖI LÒNG 35:
BÀI A
Một đi, năm Tết trọn
Quằn
chín khúc u buồn
Gió
núi lay đường trúc
Trăng
khuya lên đỉnh rường
Sầu
không rời ải vắng
Mộng
mãi về quê thương Quan
tước, ai nhầm chọn
Định Viễn tóc hóa sương!
(bản
biên soạn 1/35) 35:
BÀI A TẠI
NƠI BẢN DOANH CỦA CÁC TƯỚNG
SĨ, BÀY TỎ NỖI LÒNG
Một giã nhà, năm năm trọn!
Nhớ
nhau, chín khúc buồn thương
Gió
rừng lay tâm thẳng trúc
Trăng
muộn lên cầu cao rường
Sầu
úa chẳng rời hoang ải
Mộng
hùng (1) thường về cố hương
Nẻo
quan, tự ai nhầm chọn Yên ải, tóc hóa thành sương! (bản
biên soạn 2/35) (1)
Giấc mộng hào hùng (theo nghĩa tiếng Việt). Chùm
thơ hai bài 35. 36 QUÂN
TRUNG THUẬT HOÀI 36:
BÀI B
Độc túc lũng đầu phùng lậu vĩnh
Khước
vô bôi tửu phá sầu trường
Thâm
lâm tự thị đa kinh cức
Đại
địa hà tằng phạp đống lương
Sổ
nẫm dĩ qua chư tạp ải
Nhất
sinh khả tiếu kỉ bồng tang
Gian
nan thùy đạo chinh phu ý
Ca
lạo hoàn thi tuyết hựu dương.
NGUYỄN
TÔN NHAN
phiên
âm và dịch nghĩa 35.
36 BÀY
TỎ NỖI NIỀM ẤP Ủ TRONG LÒNG [Ở]
NƠI TƯỚNG SĨ BÀN KẾ (1) 36:
BÀI B Một
mình trú lại [vào ban đêm ở] đầu gò đất giữa đồng (2), gặp giờ khắc
[kéo dài ngỡ như đêm] mãi mãi Hóa
ra, không [có] chén rượu [để] phá [tan] nỗi lòng buồn bã Rừng
sâu, tự [cho là] phải [với] nhiều gai góc (: gian khổ, giặc phỉ) Đất
rộng (: lớn), sao từng trải qua [vẫn] thiếu rường cột (: người hiền
tài) Nhiều
năm, đã đi qua lắm cửa ải, nơi thu thuế cửa khẩu Một
đời có thể cười, với bao cung tên (: chí làm trai) (3) Gian
khó, ai nói [về lẽ đạo cứu nước, giúp dân như] ý nghĩ [của] người
[vào] trận mạc Hát
ca, lấy lời để động viên, an ủi (4) [rồi] trở về [với] thơ, [cứ]
tuyết lại dương liễu (5)! (1)
“Quân trung”: giữa việc binh; giữa nơi đóng quân. (2)
“Lũng”, còn có nghĩa là cái mộ (mồ mả). (3)
“Bồng tang” (tang bồng), lược từ thành ngữ “tang hồ, bồng thỉ”
(cung gỗ dâu, tên cỏ bồng). Tục xưa, sinh được con trai, người ta làm lễ
với “tang hồ, bồng thỉ”, bắn sáu phát (bốn hướng, đất và trời),
với ước vọng tỏ chí làm trai cho con. (4)
“Ca lạo” cũng có thể đọc là “ca lao” (hát về gian khổ = ngợi ca
gian khổ trong sứ mệnh đánh giặc cứu nước). (5)
“Tuyết”, tượng trưng cho sự lạnh lẽo (đoan trang, nghiêm túc) và trắng
trong (trinh trắng). “Dương” (cây dương liễu, liễu rủ), tượng trưng
cho lông mày thanh tú, xanh mượt, chỉ người con gái đẹp. (Xem TĐHV.,
sđd., tập hạ, tr. 324; tập thượng, tr. 227). Tuy nhiên, “tuyết” và “dương
[liễu]” chắc hẳn chỉ là biểu trưng cho sự trong sạch lẫm liệt trong
tư cách và là sức sống chịu đựng được khô khốc giữa những trường
sa, trường sa trắng xóa, trắng bỏng gió lửa, trắng buốt mưa bão của
quê nhà Quảng Trị, nơi sinh trưởng của nhà thơ chiến sĩ Nguyễn Văn Tường. Cũng
có thể tác giả nhắc đến điển tích “xuân
dương, bạch tuyết”, ý nói: bài hát dân dã, thơ ca mộc mạc. 35.
36 BÀY
TỎ NỖI NIỀM ẤP Ủ TRONG LÒNG
Ở NƠI TƯỚNG SĨ BÀN KẾ (1) 36:
BÀI B
Khuya lẻ, đầu gò, nhằm khắc thẳm (1)
Hóa
không chén rượu vỡ buồn thương
Rừng
sâu rằng phải nhiều gai góc!
Đất
rộng sao từng thiếu cột rường?
Lắm
hạ đã qua bao ải thuế
Một
đời cười được mấy biên cương?
Gian
nan ai tỏ lòng người lính
Hát
khổ, lại thơ tuyết với dương.
|