805-gdiem.gif (5390 bytes)

posted: 21.8.2005

Page 5.

45

TẶNG BỐ CHÁNH TỈNH BẮC NINH

PHẠM THẬN DUẬT BUỒN LO TRỞ

VỀ, NGHỈ NGƠI

                   Trăng nghiêng, trời muốn sáng

                   Gia Viễn, người vừa về

                   Đáng chúc nay vui tất (1)

                   Nên thương dạo biệt li

                   Ông không vinh gấm vẽ (2)

                   Mình chửa cởi chinh y

                   Nhìn mặt khó cùng tặng:

                   Nỗi dằng dặc nghĩ suy.                             

TRẦN XUÂN AN

                                                   chuyển lại thơ

           (1) & (2) Để tiểu đối bằng từ Hán – Việt với “biệt li”, “chinh y”: “Đáng chúc nay tao ngộ” “Bạn không vinh lễ phục”.

Bài 46

THỨ SƠN ĐỐC TRẦN ĐỊNH CHI

NGUYÊN ĐÁN THÍ BÚT

                   Ngũ niên do tác khách

                   Tam nguyệt hựu cánh xuân

                   Đáo gia duy hữu mộng

                   Tải tửu khởi vô nhân

                   Quá xứ giang sơn cựu

                   Phùng thời thảo thụ tân

                   Biên phân (phần) hi tảo tĩnh

                   Cung mã phục nhung thần.                               

NGUYỄN TÔN NHAN

                                              phiên âm và dịch nghĩa

46

LÀM TIẾP HỘ ĐỐC SƠN TÂY (1) [HỌ]

TRẦN (2) CÂU THƠ ĐÃ LÀM SẴN, BÀI “THỬ BÚT [VÀO DỊP] NGUYÊN ĐÁN”

Năm thứ năm, còn làm khách

[Nhưng dẫu đến] tháng ba [thì tháng ba] lại càng xuân

Đến [với] ông (3), tưởng [còn] hiện hữu giấc mộng

Chở rượu, chẳng lẽ không người [sao]?

Đi qua nơi xứ [mà] núi sông [đều quen thuộc như] cũ

Gặp giờ giấc (: thời gian) cỏ cây tươi tắn

Biên cương khí độc, mong sớm [được] yên tĩnh

Cung [tên], ngựa [chiến] lại trở về [với] quan võ (4).

          (1) Sơn Tây với địa giới hành chính thời Tự Đức (xem ĐNNTC., tập 4, sđd., tr. 183 - 264).

    (2) Trần Công Bình, sau đổi thành Trần Bình, người Thân Nộn [Tiên Nộn?], Thừa Thiên, đỗ cử nhân khóa 1840 (QTHKL., sđd., tr. 198). Lưu ý: Hai câu thơ đầu theo luật bằng (chữ thứ hai câu thứ nhất: “niên” [thanh bằng]) nhưng sáu câu tiếp lại là luật trắc. Do đó, hẳn hai câu đầu bài là của Trần Bình?

          (3) Dịch từ chữ “gia” (người có học vấn, chuyên môn cao); lẽ ra tạm dùng chữ “kẻ sĩ”. Chữ “ông” chẳng nói lên ý ấy.

          (4) Thời chiến tranh, các quan văn cũng phải làm tướng, tá, cầm quân tiễu phỉ, đánh giặc. “Cung” (cung tên) [“cung mã” (cung tên và vó ngựa)] chỉ là ước lệ. Thời này, trong chiến tranh, vũ khí là súng đạn (ngoài gươm đao vẫn còn sử dụng).

46

Ở NHÀ TRỌ,

HỘ ĐỐC SƠN TÂY HỌ TRẦN LƯU LẠI,

NÊN THỬ BÚT VÀO SÁNG ĐẦU NĂM

                   Năm Tết còn làm khách

                   Tháng ba, càng thắm đời!

                   Đến nhà, đang ngỡ mộng

                   Chở rượu há không người?

                   Qua chốn non sông cũ

                   Gặp giờ cây cỏ tươi

                   Sốt biên mong sớm tĩnh

                   Cung trả võ quan thôi!                                     

TRẦN XUÂN AN

                                                chuyển lại thơ

Bài 47

HỌA CHÍNH SỨ LÊ TỰ ĐÔNG GIA

KHỞI HÀNH TỰU THUẬN TẤN HỎA

THUYỀN NGUYÊN VẬN

                   Kỉ niên sóc tái kiên nhung kì

                   Thử nhật Tây phù tá hỏa trì

                   Hoàng tuất tiền đồ kha khảm lịch

                   Chi thương vãng sự hải tang di

                   Lỗ tình tự thị đa tư sính

                   Triều sĩ hà thường thiểu kiến nguy

                   Độc quý phi tài thao trọng tuyển

                   Sinh bình đồ tụng bách thiên thi.                                           

NGUYỄN TÔN NHAN

                                                phiên âm và dịch nghĩa

47

HỌA THƠ CHÁNH SỨ LÊ (1): “TỪ ĐÔNG GIA (2) BẮT ĐẦU ĐI ĐẾN THUYỀN HƠI NƯỚC

[Ở] CỬA THUẬN (3)”, NGUYÊN VẦN

Bao năm, đầu biên ải, vững ngọn cờ quân đội

Ngày nay, đi sứ [qua] Tây (Pháp...) (4), (vượt sông biển) (5), [ngồi ở] xe lửa giúp cho [chánh sứ]

Rảnh rỗi [mà bận lòng] lo nghĩ (cho dân nghèo) [về] con đường phía trước, [sẽ phải] trải qua gập ghềnh (sóng gió)

Kính cẩn ưu tư [về] việc cũ (đã qua) [của vua,

         của nước], [đành gặp] biến dời [như] biển dâu (6)

Lòng dạ bọn tôi mọi (: giặc Pháp) (7) [cứ] tự cho là phải, [cứ] hoài tưởng nghĩ trò múa men khoái ý

Đại thần ở Triều đình sao từng trải biết, [vẫn] ít [người] thấy ra nguy cơ [cho nước nhà]?

Riêng một mình thẹn thùng [là] không tài năng, lạm ơn (8) [được] quý trọng, tuyển chọn [làm phó sứ]

Bình thường vốn dĩ sống [như] người học trò (tay trắng), đọc to (ngâm nga sang sảng) trăm thiên (bài) thơ ca [mà thôi]!

          (1) Lê Tuấn (Toán), (ĐNTL.CB., sđd., tập 32, tr. 293, 304, 333...), (ĐNLT., sđd., tập 4, tr. 323 - 328).

          (2) Nay quen gọi là Đông Ba (ở Huế).

          (3) Cửa Thuận An, Thừa Thiên – Huế. Cửa biển này còn có tên là cửa Nhuyễn hải (VNSL., bản 1999, sđd., tr. 429).

          (4) Việc chiến đấu tiễu phỉ chưa ngớt ở biên giới phía Bắc (bởi vì Jean Dupuis, Puginier tăng cường mua chuộc, quấy phá), Nguyễn Văn Tường được điều về kinh để nhận nhiệm vụ đi sứ sang Pháp, Anh, Tây Ban Nha, nhưng trước hết phải cùng chánh sứ Lê Tuấn đến Gia Định (Nam Kì) thương nghị với phủ súy Pháp Dupré. Nguyễn Văn Tường lúc này là phó sứ của sứ bộ. Tự Đức hiểu ông có tài năng lớn, nhưng bởi một số “sự cố”, như vụ khởi nghĩa “Chày Vôi” ở Huế lúc ông làm phủ doãn, vụ ông lại đề xuất việc tổ chức, xây dựng kế hoạch kháng chiến cùng Thân Văn Nhiếp, Nguyễn Quýnh, với tinh thần tự nguyện về lại Cam Lộ, Quảng Trị, từ chức phủ doãn Thừa Thiên, do đó, ông không được Tự Đức tin dùng, không được phe chủ “hòa” đang thắng thế ủng hộ. Tuy vậy, Nguyễn Văn Tường quá xuất sắc, nổi bật, nên Triều đình không thể không chọn ông. Ngay cả Trần Tiễn Thành cũng buộc lòng phải đề cử Nguyễn Văn Tường! Có điều, ông chỉ mới được cho mượn... hàm tham tri Bộ Binh để sung làm phó sứ! Và rồi, vì tình thế biến đổi, do cuộc đấu tranh ở bàn thương nghị căng thẳng kéo dài, Pháp không bớt ngoan cố, lại đánh chiếm Bắc Kì (âm mưu khởi từ lúc Jean Dupuis tới Vân Nam, Trung Quốc, lúc y tìm cách ngược sông Hồng...), nên dẫn đến việc Nguyễn Văn Tường, theo lệnh của Tự Đức, phải kí hai thỏa ước với Philastre, 1873, để Pháp trả lại bốn thành ở Bắc Kì, đồng thời chúng rút quân khỏi ngoài ấy; sau đó là hiệp ước 1874, thương ước 1875; và cả việc đi Pháp, Anh, Tây Ban Nha... cũng bãi bỏ. Kí điều ước 1874, thương ước 1875, nước ta chịu một số nhượng bộ đau lòng (trong đó, có việc chính thức hóa việc Pháp cướp ba tỉnh Miền Tây Nam Kì, từ sự “dâng đất” của Phan Thanh Giản, 1867, việc mà, 1868, Nguyễn Văn Tường phản đối quyết liệt, khi Pháp đòi chính thức hóa sự cướp đất đó). Mặc dù vậy, đất nước có được một thời kì ngắn hòa bình để chấn chỉnh, củng cố, nâng cao nội lực, trong tinh thần chuẩn bị lại đương đầu với giặc Pháp. Tuy nhiên, việc đau lòng nhất là Nguyễn Văn Tường, Lê Bá Thận, Tôn Thất Thuyết, cả Nguyễn Khuyến (nhà thơ, tam nguyên Yên Đổ)... phải cắn răng, ngậm miệng chấp nhận “sách lược thỏa hiệp tạm thời” với giặc Pháp để trấn áp phong trào Văn thân Nghệ Tĩnh do Trần Tấn, Đặng Như Mai lãnh đạo. Đó là một phong trào vừa “sát tả đạo” vừa chống Pháp, đúng với ước nguyện của những người phải đánh dẹp, đúng với tôn chỉ trước đây của Triều đình Huế! Ngay cả lúc phải trấn áp phong trào Văn thân, Triều đình Huế cùng những người như Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết nói trên, cũng vẫn đồng tình với lời Hịch Văn thân! Oái oăm là ở đó, bi kịch lịch sử là ở đó! Bởi Triều đình Huế ngỡ rằng, cần trấn áp, phủ dụ (vỗ yên) tất cả các lực lượng yêu nước không chấp nhận “sách lược thỏa hiệp tạm thời” để Triều đình khỏi bị phân tán tâm lực, nhằm để dành tâm lực đối phó với giặc Pháp, tranh thủ thời gian đặng củng cố, tăng cường binh lực, khả năng phòng thủ, tiến đến giành lại lục tỉnh bằng vũ trang.

          V.I. Lê-nin (Lénine) cũng từng nói: “Thỏa hiệp với kẻ thù mà có lợi cho Cách mạng, chúng ta vẫn sẵn sàng thỏa hiệp”, và Lê-nin cũng từng phải kí hòa ước Brest-Litovsk (13. 5. 1918) với phát-xít Đức để đối phó với 14 nước tư sản, lực lượng đang trực tiếp đe dọa và tấn công Nhà nước Xô-viết non trẻ (mới thành lập được khoảng 6 tháng!), [xem Lịch sử thế giới, Ban THTƯ. VHH., sđd., tr. 80 - 82, 94].

          Trong thực tế lịch sử, Nguyễn Văn Tường đi trên tàu binh của Pháp (theo hiệp ước 1874) để vỗ yên, bắn súng thị uy, dọa bóng dọa gió cuộc khởi nghĩa Văn thân. Lực lượng Văn thân nghe súng bắn dọa đã bỏ chạy tán loạn (ĐNTL.CB., tập 33, sđd., tr. 77 - 80).

          Ở cánh quân phía bắc Nghệ An, Thanh Hóa, Tôn Thất Thuyết cũng thế (xin xem: ĐNTL.CB., tập 33, tr. 68 - 70, 80; Trần Văn Giàu, Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước nhiệm vụ lịch sử, Nxb. TP. HCM., 1993, tr. 451 - 452, 455 - 456).

          Oái oăm nữa là Nguyễn Văn Tường phải đem số tiền của Triều đình là 2000 quan để ủy lạo (!) cho giáo dân và các cha cố ở Nghệ Tĩnh – tất nhiên “tả đạo” này cũng thuộc lực lượng “tả đạo” Hải Dương mới tổ chức bắt cóc Nguyễn Văn Tường để phá hỏng việc tại Hà Nội, nhưng Nguyễn Văn Tường đã đối phó được (ĐNTL.CB., sđd., tập 32, tr. 355 - 356).

          Đó là thành công lẫn bi kịch của Nguyễn Văn Tường, 1873 - 1875! [ĐNTL.CB., sđd., tập 32, tr. 11, 225, 293, 304, 342; tập 33, tr. 8 - 12, 58, 88, 103, 112, 126 - 127...; xem NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 239 - 245, 283 - 287].

          (5) Chữ “phù” trong nguyên tác chữ Hán là “nổi trên nước”, là “quá độ” (giao tiếp, thương nghị giữa Phương Đông với Phương Tây, giữa Việt Nam với Pháp...), tức là đi sứ.

          (6) Biển dâu: “thương hải biến vi tang điền” (biển xanh biến đổi, thành ruộng dâu), chỉ sự biến đổi của tự nhiên, xã hội...

          (7) Chữ “lỗ”, nguyên nghĩa là “tôi mọi”. Ở bài thơ “Thần” của Lí Thường Kiệt, có câu: “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm”... Nguyễn Văn Tường trực chỉ bọn tay chân người Pháp của chính phủ Pháp, của Pháp hoàng... Đó là bọn “tôi mọi” xâm lược. Xem chú thích (4), (5) bản dịch nghĩa bài số 3, về chữ “man”, “hồ”... và thái độ, tình cảm tốt đẹp của ông đối với đồng bào nhân tộc thiểu số, trong hạn chế của ước lệ ngữ ngôn thời phong kiến. Giặc xâm lược, cho dù Tàu hay Tây, đều là “lỗ”.

          (8) Sắc thái biểu cảm như “chi”, “khể”... Xin lạm bàn chữ “khấu” với nghĩa “cúi đầu sát đất” (“khấu đầu”; ví dụ: “khấu đầu bái tạ quân ân”). Sống dưới chế độ quân chủ phong kiến, kẻ bề tôi thường khởi đầu câu nói trước mặt vua, hoặc khi nói về việc có liên quan đến nhà vua, nhất là lúc nhận chức, nhận sắc dụ, bằng chữ “chi” (kính cẩn), “thao” (lạm ơn), “khể”, “khấu” (cúi đầu sát đất)... Tất nhiên thời dân chủ vẫn phải bày tỏ sự tương kính (kính trọng lẫn nhau), theo phép lịch sự, trong trật tự tôn ti, bình đẳng về nhân cách, nhân phận, nhân vị, cho dẫu là giữa người đứng đầu Nhà nước với kẻ nghèo mạt nhất trong xã hội. Hiện nay ở Phương Tây cũng không còn “sấp mình trước mặt chúa [thượng]” nữa. “Sấp mình”, nghĩa quỳ gối và dán trán xuống mặt đất! Tất cả mọi cái, mọi sự đều có tính lịch sử – cụ thể.

47

“TỪ ĐÔNG GIA BẮT ĐẦU ĐI ĐẾN

THUYỀN HƠI NƯỚC Ở CỬA THUẬN”

Họa thơ chánh sứ Lê Tuấn (Lê Toán)

Bao năm đầu ải, vững cờ soi

Nay vượt biển Tây, xe sứ ngồi

Xa liệu, cứu dân, đường sóng gió

Kính thương, biến nỗi, việc thung đồi (1)

Giặc khoe, cứ mãi khua nương thế

Quan ngó, sao thưa thấy hiểm thời?

Cúi thẹn không tài, vua quý chọn

Sống thường (2) tay trắng, đọc thơ thôi!                                          

TRẦN XUÂN AN

                                                chuyển lại thơ

          (1) Tạm thay hai chữ “biển dâu” thành “vũng đồi”. Hai chữ “vũng đồi” ấy, của Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong câu: “Thế gian biến cải vũng nên đồi”. Hai câu thực cũng có thể thoát khỏi cách ngắt nhịp, cách gieo thanh thông thường phải theo đúng niêm luật Đường thi cổ điển (3 / 4) vốn rất đơn điệu, để có nhạc điệu khác (2 / 3 / 2):

“Xa liệu, đường cứu nghèo, sóng gió

Kính thương, việc thay cũ, thung đồi”;

          Ít ra cũng chỉ thay đổi nhịp điệu:

“Xa liệu, nỗi đường dài, sóng gió

Kính thương, thời giặc loạn, thung đồi”.

          (2) Có thể dùng hai chữ “bình sinh” trong tiếng Việt (vốn quen dùng): “Bình sinh tay trắng, đọc thơ thôi”.

Bài 48

HỌA CHÍNH SỨ LÊ: “ĐĂNG YẾT

THIÊN Y THÁP TẠI BÌNH THUẬN

TỈNH, CÙ HUÂN TẤN”, NGUYÊN VẬN

                   Quần phong tranh hạ nhất loan hoành

                   Địa mạn sơn cao thủy diệc thanh

                   Thác tục đương niên truyền Liễu Hạnh

                   Siêu tình hà xứ tiếp kì sinh?

                   Thê nham linh tích tồn chiêm vọng

                   Phù hải kì duyên tá phẩm bình

                   Nam thổ thiên thu hoàn cố quốc

                   Quy cương ưng tướng thử Tây hành.                                                

NGUYỄN TÔN NHAN

                                                phiên âm và dịch nghĩa

48

HỌA THƠ CHÁNH SỨ [HỌ] LÊ (1): “LÊN THÁP

THIÊN Y (2) TẠI CỬA HẢI PHÒNG CÙ HUÂN (3), TỈNH BÌNH THUẬN (3)”, NGUYÊN VẦN

Cụm núi tranh nhau hạ thấp xuống, một vũng biển (4) (chảy vòng vào đất liền) nằm ngang

Đất xuôi tràn, núi cao, nước cũng xanh theo

Mượn thế tục, năm xưa (5), [thần thiêng] truyền [đạo] Liễu Hạnh (6)

Vượt khỏi thực tại, ở nơi nào, [Bà] tiếp nối kiếp sống có hạn định [ở trần gian của Bà]?

Hang núi lạnh lẽo u tịch, dấu tích linh thiêng, [người ta] vẫn còn ngẩng mặt trông nhìn

Biển cồn mối duyên lạ lùng, [ai] mượn [tiếng] khen chê

                                                              bàn luận!

Đất Nam [Bộ] (7) [phải] nghìn thu trả về cho nước cũ                                                                           [Việt Nam]

Lấy về, gồm lại các vùng biên cương theo trạng mạo, ([Bà Thiên Y] nên giúp cho (8)), [trong chuyến] đi Tây (9) này.

          (1), (9) Xem chú thích (1), (4) về Lê Tuấn (Lê Toán) và mục đích chuyến sang Pháp, Tây Ban Nha, Anh... của sứ bộ: chuộc lại các tỉnh Nam Bộ bị Pháp xâm chiếm, Phan Thanh Giản “dâng đất”, ở bài 47, bản dịch nghĩa.

          (2) Xem ĐNNTC., Nxb. Thuận Hóa, 1992, tập 3, tr. 106 - 108, về cổ tích Tháp cổ Thiên Y (Thiên Y tiên nữ, Thiên Y A Na Diễn Phi, Thiên Y A Na Diễn Bà, Chúa Ngọc Thánh Bà, Hồng Nhân Phổ Tế linh ứng thượng đẳng thần, là các tên gọi, danh hiệu khác nhau của Bà).

          (3), (4) Tấn (cửa hải phòng). Tấn cửa lớn Cù Huân, tấn cửa bé Cù Huân (xem ĐNNTC., sđd., tập 3, tr. 110). Không hiểu vì sao tác giả Nguyễn Văn Tường lại viết rõ tất cả các thắng tích, địa danh trên lại thuộc tỉnh Bình Thuận, trong khi ĐNNTC., sđd., lại xác định rõ là, thuộc tỉnh Khánh Hòa? Có thể Nguyễn Văn Tường sơ suất; có thể có một sự thay đổi địa giới hành chính nào đó trong một quãng thời gian nhất định (?!).

          Vả lại, xin lưu ý, có thể có sự nhầm lẫn địa danh Cù Huân, còn “tỉnh Bình Thuận” vẫn đúng, bởi theo ĐNNTC., tập 3, sđd., tr. 138 thì ở Bình Thuận cũng có đền thờ Thiên Y, tại Đảo Bà (đền thờ ngoài đảo). Rất tiếc là ĐNNTC. không chỉ rõ ở đảo này có tháp hay không, mà chỉ nói là có tượng thờ bằng đá.

          Xin nêu thêm để rộng đường tra cứu, xác minh. Kính mong được chỉ bảo giúp.

          (5) Đương niên: năm gánh vác công việc; năm xưa.

          (6) Liễu Hạnh là một trong “tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam (Liễu Hạnh, Tiên Dung - Chử Đồng Tử, Thánh Gióng, Tản Viên sơn thánh). Không phải một anh hùng dân tộc, nhân vật lịch sử được thần thánh hóa, như Đức Thánh Trần (thánh Cha), Liễu Hạnh là một nhân vật hoàn toàn xuất phát từ tư duy tín ngưỡng. Hẳn Liễu Hạnh cùng Thiên Y A Na, Bà Chúa Xứ đều khởi nguyên từ một nguồn cội Đông Nam Á, tín ngưỡng thờ hình tượng Người Mẹ. Do đó, “ở Trung Bộ, bà được đồng nhất với Thiên Y A Na” (xem Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. VHTT., 1998, tr. 365 - 387; Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb. TP. HCM., 1992, tr. 283 - 309, đặc biệt là các trang: 298, 306 - 309).

          (7) Lục tỉnh: Gia Định, Biên Hòa, Định Tường; An Giang Vĩnh Long, Hà Tiên (địa danh và địa giới thời Tự Đức, nay đã xê dịch, thay đổi...). Xem chú thích (1), (9), bài này.

          (8) Đây là biểu hiện của tâm thức linh hồn giáo lâu đời của văn hóa Việt Nam, ở Nguyễn Văn Tường, trong hạn chế ý hệ của thời đại ông. Về “linh hồn giáo”, xin xem Phan Ngọc, BSVHVN., sđd., tr. 343, 350, 365... Theo người chú thích mạo muội này, lao động sáng tạo ra con người, và con người ở một trình độ tiến hóa nào đó, cũng bằng lao động, sẽ tạo ra cho bản thân cái gọi là linh hồn có tính vật chất (sóng sinh điện chẳng hạn), còn sự tương ứng (“linh ứng”!?) giữa kẻ sống và hồn người chết chỉ là ngẫu nhiên, phần lớn là vớ vẩn.

          Riêng về hai câu kết, kết lại tứ thơ mà tác giả biểu đạt trong toàn bài:

                   Nam thổ thiên thu hoàn cố quốc

                   Quy cương ứng tướng thử Tây hành”

có bốn chữ cần lưu ý: “hoàn” (trả lại), “quy” (thu lại, lấy về, gom nhóm lại), “ưng” [hoặc: “ứng” cũng cùng mặt chữ Hán], “tướng” [xem nghĩa ở đoạn dưới]. Trần Đại Vinh (KVQC. NVT. TT., sđd., tr. 11) đã dịch:

                   “Lục tỉnh / nghìn năm về nước cũ

                   Cõi bờ thu lại / chuyến Tây hành”

          Rất đáng tiếc, vì để làm nổi rõ “cõi bờ thu lại” (“quy cương”), ông đành cho hai chữ “ứng tướng” bị lược bỏ. “Ứng tướng” có ba nghĩa thống nhất trong chỉnh thể tứ thơ là:

a.      quan tướng hai bên đối mặt ở bàn hội đàm;

b.      ứng theo trạng mạo bản đồ Việt Nam;

c.       nên giúp cho.

Trong đó, ý tưởng Việt Nam, từ Cà Mau đến ải Nam Quan, với một sự nhất thống cả về tâm linh (Thiên Y A Na cũng là Liễu Hạnh, cũng là Bà Đen, Bà Chúa Xứ), lại là một khía cạnh lớn của chỉnh thể tứ thơ ấy (chỉ là một khía cạnh lớn – tôi xin nhấn mạnh). Thiếu sót đó là đáng tiếc, cũng như ở một số bản dịch khác, rất khoa học (sát nghĩa, toát được thần, ý của nguyên tác), mặc dù cơ bản là rất tài hoa và trong sáng, giữ được hơi hướm cổ thi.

          Tuy nhiên, chủ đề của bài thơ vẫn là: cảm xúc, suy tưởng về thắng cảnh, về cõi tâm linh siêu hình (kể cả băn khoăn về sự siêu vượt thực tại trần gian của thần thánh), về sự thống nhất tâm linh tín ngưỡng, thống nhất cõi bờ đất nước về một mối. Do đó, hai chữ “ứng tướng” phải có thêm nghĩa thứ ba “ứng nghiệm, linh ứng giúp cho”, ngoài hai nghĩa cực kì quan trọng kia, như trên đã viết. Nhưng làm sao dịch hết các ẩn ý và hiển ý được, mặc dù vẫn cố gắng toát lên tất cả một cách rất “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời).

          “Kết” là vừa mở, vừa đóng, lại vừa đọng. Phải đọng nghĩa thứ ba (linh ứng giúp cho) mới đúng là “kết”, để có cơ sở mở ra hai nghĩa kia, dẫu biết rằng nghĩa thứ ba ấy, quả thực là hạn chế của ông, nhà thơ Nguyễn Văn Tường.

48

“LÊN THĂM THÁP THIÊN Y

TẠI CỬA HẢI PHÒNG CÙ HUÂN,

TỈNH BÌNH THUẬN” (1)

                             Họa thơ chánh sứ Lê Tuấn (2)

Cụm đồi tranh xuống đầm ngang sâu

Biếc núi đất xuôi nước ánh màu

Mượn tục, xa thời (3) truyền Liễu trước

Vượt phàm, nào chốn nối đời sau?

Dấu linh hang lạnh trông vời đó (4)

Duyên lạ biển cồn khen trách đâu

Nghìn thuở đất Nam về nước Việt

Ứng giùm, thu cõi, chuyến đi Âu!                                           

TRẦN XUÂN AN

                                                chuyển lại thơ

          (1) Chúng tôi vẫn giữ nguyên đầu đề bài thơ của Lê Tuấn trong ngoặc kép (xem thêm hai chú thích (3), (4) của bản dịch nghĩa bài này).

          (2) Lê Toán, theo phiên âm của QTCBTY., sđd.

(3) Dịch sát: Mượn tục, năm xưa truyền Liễu trước.

(4) Dịch sát: Dấu linh hang lạnh còn trông ngước.

 

Bài 49

THUYỀN CẬN CẦN GIỜ NGHỊCH

PHONG BẤT TIẾN

Phan Thiết kê minh nhất dạ đàm

Phi sơn bạc mộ bán vi lam

Hải quang tinh tán ba triều bắc

Oa phị (phí) yên phi hỏa chuyển nam

Lãnh thượng chiêu đăng tiêu tức cận

Thuyền đầu khuy kính lộ trình am

Thừa phong vạn lí hoàn dung dị

Chỉ xích trì hồi dã khởi cam.                                        

NGUYỄN TÔN NHAN

                                                phiên âm và dịch nghĩa

49

THUYỀN ĐẾN GẦN CẦN GIỜ (1) [GẶP]

GIÓ NGƯỢC, KHÔNG ĐI TỚI [ĐƯỢC]

[Ở] Phan Thiết (2), gà gáy [suốt] một đêm (3) [ven] đầm [nước]

Núi Phi (4), [lúc] chiều nhạt [nắng], một nửa [núi] là khí độc

Biển sáng, sao trời tản ra, sóng chầu về [phương] bắc

Nồi (5) sôi sục, khói bay, lửa chuyển vào [phía] nam (6)

Trên đỉnh núi, vẫy vẫy [trước] đèn (7), [thế là] tin tức [đã] gần tới

Đầu chiếc thuyền, liếc nhìn [vào] tấm gương [ở mặt đồng hồ đo dặm, la bàn], nẻo đi [cũng] biết [được]

Theo (cỡi) gió, vạn dặm, trở về dễ dàng

[Chỉ một] thước ta, [một] tấc ta (: gang tấc), [đường đến Gia Định], [lại] chậm trễ, luần quần luẩn quẩn;vậy chẳng lẽ bùi tai (đành lòng) sao?!

          (1) Cần Giờ, nay thuộc địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

(2) Phan Thiết, Bình Thuận, ĐNNTC., tập 3, sđd., tr. 128, 130.

          (3) Có thành ngữ “kê minh khuyển phệ” (gà gáy chó sủa), chỉ cảnh làng thôn (TĐHV., tập hạ, tr. 417). Ở đây, tác giả có lẽ chỉ nói phóng đại để cường điệu cảm giác sốt ruột, khó ngủ, suốt một đêm (rồi còn suốt một ngày cho đến khi trời xế  chiều và suốt tối hôm sau), vì phải đợi lặng gió.

          Điển tích “kê minh” (một thiên trong Kinh Thi, nói về phong tục nước Tề, dân dậy sớm để làm việc [TĐTNTN., sđd., tr. 321]), có lẽ không phù hợp với ngữ cảnh này.

          (4) Núi Phi? ĐNNTC., tập 3, sđd., không ghi có ngọn núi nào là Phi hoặc Phi Sơn cả. Có lẽ đây là hòn núi nhỏ (xem sđd., tr. 134 - 139), không ghi, hoặc là núi .

          (5) Nồi hơi nước của tàu thủy chạy bằng năng lượng này.

          (6) Ở vị trí Cần Giờ, Triều đình Huế thuộc về phương bắc. Chữ “nam” này cũng không viết hoa: hướng nam.

          (7) Có lẽ đó là một cách phát tín hiệu.

49

THUYỀN GẦN ĐẾN CẦN GIỜ,

GẶP GIÓ NGƯỢC,

KHÔNG ĐI TỚI ĐƯỢC

Phan Thiết, một đêm gà rộn đầm

Núi Phi chiều nhạt nửa sương thâm

Biển ngời sao tản, khơi chầu bắc

Nồi bỏng khói bay, lửa chuyển nam

Đèn vẫy đỉnh non: tin báo tới

Liếc gương đầu lái: dặm ngàn băng

Vạn trùng theo gió lui thường dễ

Gang tấc chậm, quành, không lẽ cam!                                             

TRẦN XUÂN AN

                                                chuyển lại thơ

Bài 50

TẶNG DƯƠNG QUAN (GIA ĐỊNH

TỈNH NHÂN) VÃNG HƯƠNG CẢNG

                   Lục thất niên dư hựu nhất lai

                   Ngã lai quân khứ lưỡng bồi hồi

                   Khứ lai dị lộ quân tu kí

                   Mạc sử lâm kì hữu sở xai (sai)!                                              

NGUYỄN TÔN NHAN

                                                phiên âm và dịch nghĩa

50

TẶNG QUAN [LÀM Ở CỬA] BIỂN (NGƯỜI

TỈNH GIA ĐỊNH) (1) ĐI HƯƠNG CẢNG (2)

Hơn sáu, bảy năm (3) [qua], [nay] lại một [lần] đến

Tôi đến, ông (1) đi, cả hai dùng dằng bước lui, bước tới

Đi [và] đến, khác con đường, ông nên ghi nhớ

Đừng khiến đang lúc [gặp gỡ, chia tay vào dịp thế này]

               có điều gì suy xét, đong lường trước!

          (1) Tác giả dùng từ “dương quan”, với hai nghĩa: quan làm ở cửa biển; quan làm việc cho người ngoại quốc (tay sai của thực dân Pháp tại Nam Kì, vùng đất lục tỉnh ngày xưa đã bị Pháp xâm chiếm, từ 1862, 1867). Nguyễn Văn Tường ghi chú rõ bằng chữ cỡ nhỏ, trình bày khác hẳn (xin xem bản chữ Hán nguyên tác): “Người tỉnh Gia Định”. Hơn nữa, ở hai dòng thơ thứ hai, thứ ba, Nguyễn Văn Tường lại dùng đại từ “quân” để gọi y. “Quân” là từ các kẻ sĩ cùng lứa gọi nhau. (Xem TĐHV., sđd., tập thượng, tr. 226; tập hạ, tr. 157). Lại căn cứ vào nội dung bài thơ, thấy rõ Nguyễn Văn Tường khẳng định dứt khoát: “Đi [và] đến, khác con đường, ông nên ghi nhớ”. Đến Gia Định (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh) để đấu tranh, giành lại Nam Kì lục tỉnh. Đi Hương Cảng (Hongkong), làm tay sai theo lệnh Pháp. Rõ ràng, dứt khoát! Tuy khẳng định vỗ mặt như thế, vẫn không tránh khỏi chút bồi hồi về tình kẻ sĩ cũ, và chút phân vân về sự ngờ ngại, hiểu lầm từ phía sĩ phu và nhân dân (đánh đồng với Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành chẳng hạn!).

          (2) Hương Cảng (Hồng Công), nhượng địa của nước Trung Hoa dưới áp lực của thực dân Anh. Người Anh mới trao trả cho Trung Quốc vào năm 1997!

          (3) Theo ĐNTL.CB., sđd., tập 31, tr. 184, vào tháng chạp Đinh mão, năm Tự Đức thứ 20 (1867), Nguyễn Văn Tường lần đầu đến Gia Định, với chức vụ tùy biện trong phái đoàn Trần Tiễn Thành. Thời điểm đó, là từ 26. 12. 1867 – 24. 01. 1868. Nói cách khác, tháng chạp Đinh mão nói trên rơi vào khoảng đó của dương lịch (xem Vụ Bảo Tồn Bảo Tàng, Niên biểu Việt Nam, in lần 4, Nxb. Văn hóa dân tộc, 1999, tr. 113 - 114). Và lần thứ hai, Nguyễn Văn Tường với chức vụ bồi sứ (Nguyễn Văn Phong, chánh sứ; Phan Đình Bình, phó sứ) lại đến Gia Định. Không rõ sứ bộ đi ngày nào, chắc là sau khi Trần Tiễn Thành thất bại trở về vào tháng 2 âm lịch, Mậu thìn (1868), (ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 194). Có điều, lần về, tháng 3 âm lịch, Mậu thìn (từ 24. 3. 1868 đến 22. 4. 1868), Nguyễn Văn Tường lại thay mặt cả sứ bộ (tuy chỉ là bồi sứ, vị trí thứ ba trong sứ bộ), để trình bày âm mưu xâm lược Nam Kì lục tỉnh của thực dân Pháp. Ông quyết không chịu kí “hòa” ước mới, nhằm cứ để cho Pháp ở trong tình trạng bất hợp pháp. Lập luận riêng của Nguyễn Văn Tường: kí “hòa” ước mới là mắc mưu Pháp, chính thức hóa việc xâm chiếm Nam Kì lục tỉnh cho chúng, lại để sĩ phu lâm vào cảnh “ăn làm sao, nói làm sao” với chúng và với dân, một khi Triều đình đã thật sự bỏ rơi (“khí dân”) bằng hàng ước, nhượng ước chính thức, như hàng ước 1862! Cũng bản tấu ấy, ông chủ trương tăng cường binh lực để phòng thủ, giành lại Nam Kì lục tỉnh bằng sức mạnh vũ trang (ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 202 - 204).

Chú thích dài như thế để xin được hiểu rằng, bài thơ tứ tuyệt trên phản ánh khá cô đọng tâm trạng tác giả.

          Riêng ngữ “lục thất niên dư”, không phải là “hơn sáu, bảy năm”, mà là “cuối và ngoài năm 67 (1867)”? Biết đâu, tác giả lại dùng số chỉ năm theo dương lịch? Chắc chắn là không. Có điều, bài trên phải được sáng tác vào các năm 1868 + 6 = 1874; 1868 + 7 = 1875. Có lẽ là sự trùng hợp ngẫu nhiên. “Hơn sáu, bảy năm” trước cho đến thời điểm bấy giờ và mãi về sau, tác giả vẫn kiên định một quan điểm, một chọn lựa trước hai con đường: “khác con đường, [...] nên ghi nhớ”!

50

TẶNG QUAN LÀM Ở CỬA BIỂN CHO

TÂY, NGƯỜI TỈNH GIA ĐỊNH, ĐI

HƯƠNG CẢNG

Sáu, bảy năm hơn, đến một lần

Anh đi, tôi đến, đều tần ngần

Đến, đi, khác đường, anh nên nhớ

Đừng để đang khi, tình phải cân!                                  

TRẦN XUÂN AN

                                                chuyển lại thơ

                          Bài 51

TRÚ GIA ĐỊNH

QUAN TÂY VIÊN HỮU CẢM