805-gdiem.gif (5390 bytes)

posted: 21.8.2005

Page 6.

Bài 56

CUNG HỌA NGỰ CHẾ BÍNH TÍ

NGUYÊN NHẬT (NHỊ THẬP VẬN)

1.   Vũ phục kim âu điện

Nghiêu giai ngọc lịch tân

Dương niên phùng kỉ tiù

Đẩu bính kháp lâm dần

5.   Liù thủy tam dương hảo

Triều nguyên bách tích tuân

Đào phù trừ cựu tịch (tích)

Lậu tiễn báo sơ thần

Tượng khuyết chiêm tinh nhật

10. Uyên hàng túc tấn thân

Tích linh từ tấn chỉ

Hiến thọ đế cung thân

Giáo hiếu tiên thiên hạ

Đôn di ngưỡng nhất nhân

15. Thanh loan di thúy điện

Chu phất củng nghiêm thần

Phụ ỷ đoan nguyên vị

Hô tung biến thị thần

Lộc minh khuông phỉ huống

20. Đường đệ ngạc hoa chân (chấn)

Quỳnh tịch hương ngưng lộ

Tiêu trường ảnh tán ngân

Bửu phân đồng dị tính

Khánh chí tích kim xuân

25. Gia huệ nhân thần bá

Nùng triêm đáo xứ quân

Hóa quân khai thái tượng

Thần hàn ngụ thiên chân

Duệ toán thâm đồ trị

30. Chu hành chính vọng tân

Vi thần tàm bỉ ổi

Đại tiết phạp kinh luân

Lệ chí thường giai phủ

Hòa trung túy nhược thuần

35. Thể nguyên cơ quát chuyển

Đạt thuận nhĩ hà quân

Vũ nhuận Chu nguyên thử

Phong thanh Hán tái trần

Vạn niên ca đế đán

40. Hân duyệt phổ thần dân.

VŨ ĐỨC SAO BIỂN

phiên âm

56

KÍNH HỌA BÀI THƠ NGÀY MỒNG MỘT

TẾT BÍNH TÍ CỦA NHÀ VUA,

HAI MƯƠI VẦN

1.   Áo Vũ vững âu vàng

Thềm Nghiêu sang năm mới

Năm dương lại gặp chi Tí

Bính vừa đúng lúc vào Dần

5.   Bước đầu gặp được cái tốt tam dương

Răm rắp triều nguyên

Bùa đào tiễn năm cũ

Thẻ đồng hồ báo trời sáng

Đứng ở cửa khuyết quan sát sao và mặt trời

10. Bá quan đứng thành hàng đai hốt nghiêm trang

Trời ban thêm tuổi, thái hậu thêm phúc đức

Vua cung kính mừng tuổi mẹ

Dạy đạo hiếu làm đầu trong thiên hạ

Ngưỡng mộ một người là ông Đôn Di

15. Chim loan xanh dời đến thúy điện

Những dây thao đeo ấn màu đỏ hướng về cung vua

Quay lưng về phía tấm bình phong đứng nghiêm trang

Các thị thần ai nấy đều tung hô

Ngoài triều vua tôi vui vẻ

20. Trong nhà anh em đầm ấm

Tiệc quỳnh hương đọng thành sương

Trong chén rượu ánh sáng lóng lánh như bạc tan

Châu báu đem chia họ hàng nội ngoại

Ghi nhớ niềm vui mùa xuân xưa nay

25. Ơn huệ ban phát ra khắp cả

Mọi nơi thấm đẫm như nhau

Tạo hóa mở thái tượng

Bút vua ngụ lòng trời

Tính toán sâu xa là mong đất nước thạnh trị

30. Hành động chu đáo phải trông chờ khách có tài

Kẻ bề tôi nhỏ nhoi này thẹn vì xấu xa

Tiết lớn thiếu mất tài kinh luân

Trong phế phủ thường xuyên nung chí

Say sưa trong lòng như dậy men

35. Cơ trời sẽ chuyển dịch

Đến hồi thuận rồi gần xa như nhau

Mưa nhuần trên cánh đồng nhà Chu

Gió thổi sạch bụi trên cửa ải nhà Hán

Vạn năm ngợi ca buổi sáng của nhà vua

40. Niềm vui tỏa ra khắp thần dân.

VŨ ĐỨC SAO BIỂN

dịch nghĩa

56

KÍNH HỌA BÀI THƠ

“NGÀY MỒNG MỘT TẾT BÍNH TÍ (1)”

CỦA NHÀ VUA, HAI MƯƠI VẦN

1.   Áo Vũ (2) vững âu vàng (3)

Thềm Nghiêu (4) lịch ngọc (5) mới

Năm dương (6) gặp kỉ Tiù (6)

Sao đẩu Bính (6) thích hợp vào Dần (6)

5.   Khởi đầu [sự vận chuyển theo] dịch lí

                            [lại là] ba cái dương (6) tốt

Buổi thiết triều đầu năm, trăm [việc] khai mở

                     [đều] tuân theo

Bùa màu đỏ [vui tiễn] sự ra đi [của] năm cũ

Mũi tên (: thẻ có vạch khấc) đồng hồ [xưa] báo

[khắc] khởi đầu [của] sớm mai

Cửa khuyết (7) với những hình tượng, [chừng như đang] ngắm sao [và] mặt trời

10. Hàng chim phượng sồ là các quan cầm hốt, xõa

                 tay áo đỏ [trông thật] nghiêm túc

[Trời] ban đêm tuổi, người mẹ [của vua] tiến về [phía]

                 phúc đức

Chúc thọ, vua cung kính [thưa với] mẹ

Dạy đạo hiếu làm đầu [cho] thiên hạ

Đôn Di (8), [vua] ngưỡng mộ một người [ấy]

15. Chim loan xanh [bay] dời [đến] điện sâu

Những dây thao màu đỏ (9) xoay quanh (chầu) nơi vua ở [trông rất] nghiêm

Tựa vào tấm bình phong đứng thẳng ở vị trí đầu

[Các] thị thần tung hô khắp cả

[Tiệc] lộc minh (10), [những] giỏ tre, thùng có nắp [vua] ban nhiều (11)

20.  Cây hải đường (12), [các] đóa hoa [được quây quanh bởi] các lá xanh [quanh chân hoa] phấn phát

Tiệc đêm [với chén] quỳnh (13), hương đọng

                                  [thành] sương

Chén [nồng vị] hồ tiêu (14), ảnh hình tan ra [như] bạc

Châu báu, chừ, người cùng họ (nội), kẻ khác họ (ngoại)

Ghi chép niềm vui, mùa xuân xưa nay

25.  Ân huệ tốt đẹp theo tinh thần [ấy] ban rắc ra

Thấm nồng đến [mọi] xứ đều khắp

Tạo hóa (15) khai mở hình trạng tốt đẹp

Thành ý [của] trời ngụ [ở] bút nhà vua

[Sự] tính toán [của] hoàng đế sâu sắc [trong các] dự định [để] cai trị

30. Làm tròn [chức năng thiên tử] phải trông chờ [ở kẻ sĩ được quý trọng như] khách

Kẻ bề tôi nhỏ nhoi thẹn [vì vốn trưởng thành trong]

         sự quê mùa [tại] nơi chốn gần biên ải (16)

Tiết tháo lớn thiếu tài cứu nước giúp đời

Chí nguyện gắng sức thường xuyên [mài sắc ở] khắp các phủ tạng [cứng bền như đá]

Lòng hòa mục [với thiên nhiên, đồng loại, bạn bè] (17) say như thể rượu ngọt

35. Cái lí uyên nguyên [của] bản thể [vũ trụ là] máy vận

           hành phổ quát [mãi] luân chuyển (18)

Đạt tới lẽ thuận [thì] nơi xa,

                                chốn gần đều cân bằng (18)

Mưa tươi nhuần cánh đồng [nhà] Chu (19) [tốt] nắng

Gió [quét] sạch biên ải [nhà] Hán (19) [ngập] bụi

Vạn niên ngợi ca buổi sáng [của] nhà vua

40.  [Niềm] vui đẹp lòng khắp thần dân.

          (1) 1876, Bính tí, Tự Đức năm thứ 29.

          (2), (4) Hai vị vua cổ đại Trung Quốc, biểu tượng lí tưởng hóa.

          (3) Cái bình vàng (chắc bền), ví với Nhà nước.

          (5) Lịch của vua (có nạm ngọc, hoặc “ngọc” là mỹ từ).

          (6) Các khái niệm dịch lí học.

          (7) Cửa khuyết (cửa quyết), chỉ cung vua. Khuyết là lầu canh ở cung vua. Cung khuyết.

          (8) Đôn Di. Chưa tra cứu được điển này. Nếu theo chữ viết trong nguyên tác, có thể hiểu “đôn di” (chúng tôi không viết hoa – nbs.) là trau chuộng đạo thường (di luân, luân thường); ở đây là đạo hiếu.

          Cả câu: Trau chuộng đạo thường, [vua] ngưỡng vọng một người. Với mặt chữ như thế, không phải là danh tính Chu Đôn Di, triết gia đời Tống (Trung Hoa), người xây dựng nên lí học, được tôn xưng là Chu Liêm Khê, 1017 - 1073 (TĐHV., tập thượng, sđd., tr. 176).

          (9) Dây thao có đeo ấn: một trong các đồ phục sức của các đại quan theo quy định.

          (10) Lộc minh: tiệc vua ban cho các tân khoa thi hương (cử nhân); đây chỉ là sự ví von (ẩn dụ). [Xem TĐHV., sđd., tập thượng, tr. 517]. Thơ Lộc minh: tên một thiên trong Kinh thi, khen vua nhà Chu đãi yến tịch (tiệc) các quan (ĐNLT., tập 3, sđd., chú thích, tr. 129).

          (11) Hẳn là các giỏ đựng thức ăn, các thùng đựng rượu.

          (12) Đường: cây đường (loại đỏ, gỗ làm cần cung; loại trắng, quả ăn được). Ân trạch của quan địa phương lưu lại gọi là cam đường. Đệ: cây đường đệ. Kinh thi có thơ Đường đệ nói về việc anh em ăn uống vui vầy [HVTĐ., sđd., tr. 300]. Ở đây, chỉ các hoàng thân trong hoàng tộc.

          (13) Tiệc quỳnh: tiệc có uống rượu với chén làm bằng ngọc quỳnh đỏ, vua chiêu đãi các tân khoa thi hội (tiến sĩ), [TĐHV., sđd., tập hạ, tr. 113].

          (14) Ẩn dụ (ví von, so sánh ngầm), chỉ rượu nồng.

          (15) Tạo hóa, theo quan niệm cổ, như cái bàn xoay để làm đồ gốm (sành sứ). “Quân”: bàn xoay nặn vật.

          (16) Xem ĐNTL.CB., sđd., tập 30, tr. 170 - 172. Quốc sử quán đã ghi chép rất cụ thể, khá chi tiết:

... “Vua [[...]: lược bớt – nbs.] bảo bộ thần rằng: [...], ở nơi biên viễn, mà không được như Nguyễn Văn Tường, thì lợi chưa thấy, mà hại đã sinh ra, hối làm sao kịp. Bèn sai Thân Văn Nhiếp và Nguyễn Văn Tường thương lượng suy xét. Văn Nhiếp xin cho Nguyễn Văn Tường và Trần Đình Túc cáng đáng việc ấy, và đặt thêm chức tuyên phủ sứ, chọn người thổ trước để sửa sang các công việc.

          Nguyễn Văn Tường nói: các châu ở Thành Hóa đất liền với kinh đô, đời đời làm phên che giúp đỡ [...]. Còn về rừng sâu khí núi độc, thì có người đã ở quen, chịu đựng nổi; dân Man không biết gì, thì lấy sự dễ dãi để thân cận họ; biên viễn là việc quan hệ [...]. Trần Đình Túc chưa từng kinh lịch nơi đó [mặc dù Trần Đình Túc là người Do Linh, Quảng Trị – nbs.] nhưng địa thế, dân tình ở phủ hạt ấy rất là biết rõ. Thần sinh trưởng ở đất [Quảng Trị – nbs.] ấy, trước kia đã làm tri huyện ở [huyện Thành Hoá – nbs.] đó hơn chín (09) năm, năm ngoái lại đi khám xét [...]. Trần Đình Túc là người giỏi giang quen việc, tôi [:các bề tôi khác] không thể theo kịp được, nhưng về tục xứ ấy, tình người Man, thì Đình Túc chưa được hiểu rõ như thần. Xin cho thần đổi sung chức tuyên phủ sứ, và kiêm cả chức khuyến nông, phàm công việc nên làm ở bảo Trấn Lao, thì đốc sức cho huyện viên sửa sang; còn ruộng nương, việc trị thủy, đời sống của dân, điều lợi điều hại thì hội cùng với đạo thần [quan ở đạo Quảng Trị – nbs.]. Chức kinh doãn [phủ doãn Thừa Thiên – nbs.] có khuyết hoặc cho Trần Đình Túc kế thay, nhưng kiêm coi cả công việc doanh điền.

          Vua lại hỏi Trần Đình Túc, Túc cũng cho là phải, lại tự xin trông coi việc ấy tự trước đến sau.

          Vua cho là chức kinh doãn và doanh điền đều chưa có công hiệu, cũng chưa rõ được người [tức là Nguyễn Văn Tường – nbs.] có tài năng hay không, bèn sai điều giữ chức cũ. Trần Đình Túc thì kiêm biện cả nông điền thủy lợi ở Quảng Trị; còn các việc trọng đại về doanh điền của phủ đạo, nên cùng với Nguyễn Văn Tường thương lượng bàn định tâu lên, và hội đồng lựa chọn viên quản đạo, viên huyện”.

          Chúng tôi (TXA., nbs.) xin chép lại đoạn trích từ Đại Nam thực lục, chính biên (tập 30, sđd., số trang đã ghi ở dòng giới thiệu lời dẫn mở đầu chú thích này). Qua đó, để thấy rõ một số nét rất cơ bản về gốc gác, quê quán, nơi sinh trưởng và tinh thần tự nguyện, sẵn sàng rời bỏ cương vị cao, nơi kinh thành sang trọng, tiện nghi ở Huế để dấn thân vào chốn rừng sâu nước độc là Thành Hóa (Cam Lộ, Quảng Trị) của Nguyễn Văn Tường. Trước hết, thấy rõ Kì Vĩ phụ chánh đại thần, trung thần triều Nguyễn, người mưu trí và tài ba nhất của giai đoạn đầu chống Pháp:

             a. là người địa phương, từ lâu đời, tổ tiên từ ngoài kia sông Gianh vào sinh cơ lập nghiệp trước thời chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa trấn nhậm. Do đó, nguyên quán, nơi sinh trưởng là Quảng Trị (làng An Cư, huyện Đăng Xương [: Triệu Phong]).

             b. trải qua hơn chín năm làm tri huyện ở Thành Hóa (theo ĐNNTC., tập 1, sđd., tr. 103, đến 1853 mới đặt chức tri huyện ở vùng này).

             c. rất thông hiểu phong tục, tâm tình người nhân tộc thiểu số (Vân Kiều, Cà Tu, Pa-kô...) và cả người Lào xiêu tán. Như thế, Nguyễn Văn Tường chắc chắn rất giỏi tiếng nhân tộc (tiếng Thượng).

          Ngoài những lượng thông tin trên, vốn làm rõ hai chữ “bỉ ổi” (thô kệch, nơi biên ải xa xôi, quê mùa), chúng tôi xin nhân đây nhấn mạnh ngoài lề vài chi tiết khác:

             a. Nguyễn Văn Tường xin từ chức phủ doãn ở Huế để chuẩn bị xây dựng chiến khu Tân Sở, khôi phục và mở thêm đường mòn từ Bình Định ra Nghệ An, từ thời điểm này [ĐNTL.CB., tập 31, tr. 86 - 87, tr. 89, tr. 103 (sáu điều tâu về Cam Lộ, lưu ý điều 2)].

             b. Nguyễn Văn Tường từ chức phủ doãn còn vì lí do khác: lúc này nhân dân đang chết đói đầy cả đường kinh thành Huế (nhất là từ Quảng Nam, dân xiêu tán ra), mà Tự Đức vẫn cho tiến hành xây Vạn Niên cát địa (ĐNTL.CB., tập 30, sđd., tr. 131, 186).

             c. Nguyễn Văn Tường được quyền cùng Trần Đình Túc chọn quan huyện, quan đạo (quan quản lí đạo Quảng Trị). Nguyễn Quýnh hẳn là người thuộc nhóm Nguyễn Văn Tường – Thân Văn Nhiếp nên được chọn làm quan quản đạo Quảng Trị (ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 86 - 87).

          Đó cũng là những lượng thông tin về ông, giúp chúng ta hiểu hơn nghĩa của chữ trong văn ngữ cảnh cụ thể:

                   Vi thần tàm bỉ ổi

                   Đại tiết phạp kinh luân

                   Lệ chí thường giai phủ

                   Hòa trung túy nhược thuần

                   ...

                   Vạn niên ca đế đán

                   Hân duyệt phổ thần dân.

Bỉ: miền đất gần biên giới; quê mùa, thô lậu... [Bỉ nhân (tự xưng một cách khiêm tốn)].

          Ổi: quê mùa. Bỉ ổi: quê kệch.

          Vi thần (chữ khiêm xưng): kẻ bề tôi nhỏ nhoi.

          Ý nguyên cả câu lại ngược với hai chữ Kì Vĩ (lớn lao) mà Tự Đức phong tặng, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Tư Giản và nhiều người khác ngợi ca.

(17) Hòa: không cạnh tranh.

Chữ “hòa” của nhà nho (hòa hợp với thiên nhiên, đồng loại; không oán trời, trách người...). “Hòa trung” (tấm lòng hòa mục) gắn liền với “đại tiết” (sự cứng rắn, sự giữ vững ý chí với bản lĩnh, nghị lực lớn) và “lệ chí” (ý chí được nấu nung, mài sắc). Nếu vận dụng vào tình hình chính trị lúc bấy giờ, thời điểm 1876, chữ “hòa” ở đây còn gắn liền với ý thức về thời cơ, chờ thời cơ thuận lợi trong nỗ lực tự cường (“đại tiết”, “lệ chí”) để đạt cho được các mục tiêu: sạch bóng quân xâm lược Pháp (liên minh ma quỷ với giặc Tây Ban Nha, phỉ Tàu, lợi dụng “tả đạo” Thiên Chúa giáo làm công cụ, có chia chác quyền lợi), độc lập dân tộc, bình đẳng với các nước trên thế giới, khát vọng dân giàu, nước mạnh... Do đó, quan niệm chữ “hòa” của Nguyễn Văn Tường khi ngồi thương thuyết (đàm phán) với bọn cướp nước, “tả đạo”, không phải là chữ “hòa” nguyên nghĩa, cho dù tư tưởng ông vẫn ở trong khuôn khổ của ý hệ phong kiến độc tôn Nho giáo thời Nguyễn (“Chu nguyên”, “Hán tái”... là biểu tượng lí tưởng hóa của ý thức sử học nho gia).

          Nguyễn Văn Tường vốn là một người chủ chiến, ý thức sâu sắc rằng chỉ có thể quét sạch quân xâm lược bằng vũ trang, nhưng lại biết linh hoạt, “hòa” một cách cơ nghi (sách lược thỏa hiệp tạm thời). Nguyễn Văn Tường từng viết rõ trong tấu, sớ đệ trình lên vua Tự Đức: Chiến – Hòa – Thủ – Chiến (“Chiến” là tiên quyết và tối hậu). (Xem thêm câu đối số 1, “Tự trào”, ở phần ngoài Thi tập, sách này).

          Chữ “hòa” của Nguyễn Văn Tường được hiểu như vậy, ở từng văn cảnh cụ thể và trong suốt toàn bộ tư tưởng nghệ thuật, tư tưởng kinh bang tế thế. Tư tưởng cốt lõi chủ đạo trong hoạt động chính trị và sáng tác của ông vẫn là chủ chiến.

          Mở thêm một ngoặc đơn: “Hòa trung” còn có nghĩa là: “Tấm lòng thành ấm áp, nồng hậu” (nên mới say nồng nàn như rượu ngọt dịu nhẹ). Dù với nghĩa nào, cũng gắn bó hữu cơ với “đại tiết”, “lệ chí”, “kinh luân”, “Chu nguyên”, “Hán tái” (biểu tượng được lí tưởng hóa)... Và câu trên dịch thành:

          “Ấm lòng say rượu ngọt”.

          (18) Quan niệm biện chứng về bản thể vũ trụ (Lí khí, Đạo) và cặp phạm trù bao quát nhất: Âm – Dương.

          (19) Nhà Chu, nhà Hán ở Trung Hoa ngày xưa, vốn là biểu tượng thái bình thịnh trị (lí tưởng hóa).

56

“NGÀY ĐẦU NĂM BÍNH TÍ (1876)”

(hai mươi vần)

                               Kính họa thơ hoàng đế Tự Đức

1.   Áo Vũ vững âu vàng

Thềm Nghiêu: lịch ngọc sang

Dương lại gặp chi Tiù

Bính vừa đúng lúc Dần

5.   Vận đầu, được ba tốt

Răm rắp, xuân triều quan

Bùa đào tiễn năm cũ

Thẻ giờ báo hé vàng

Mặt trời, sao, đẹp cửa

10. Đai hốt nghiêm hai hàng

Thái hậu, thêm tuổi phúc

Vua mừng mẹ, lời dâng

Gương hiếu dành cho dân

Trau đức, lòng vua mộ

15. Điện sâu bay chim loan

Hướng về, ấn thao đỏ

Trước bình phong nghiêm trang

Thị thần hô vạn tuế

Như tân khoa: vua quan

20. Lá quanh hoa: hoàng tộc

Tiệc quỳnh, hương đọng ngọc

Chén rượu ánh bạc tan

Nội ngoại chia châu báu

Vui ghi xuân nghìn năm

25. Ơn huệ ban đều khắp

Thấm nồng mọi nẻo đất

Tạo hóa mở lượng sang

Lòng trời ngụ ngự bút

Suy sâu, mong giàu nước

30. Làm tròn, tài sĩ dâng

Tôi nhỏ, thẹn quê kệch (1)

Tiết lớn thiếu kinh luân

Chí hoài nung tim óc

Lòng hòa say rượu ngọt (2)

35. Rộng cao lẽ chuyển vần

Xa bằng gần, cơ thuận!

Ruộng Chu, nắng mưa nhuần

Ải Hán, gió quét bụi

Sớm vua, hát muôn ngàn

40. Vui đẹp khắp thần dân.

TRẦN XUÂN AN

chuyển lại thơ

          (1) Lúc này Nguyễn Văn Tường đã được phong tước bá với mĩ hiệu là Kì Vĩ (lớn lao); ông tự hạ mình để khuyên nhắc vua một cách tự tin.

(2) Xin xem chú thích (17) ở bản dịch nghĩa bài này.

Cước chú của bài thơ số 56, thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường):

(*) Bài tấu trên có câu: “Thần sinh trưởng ở đất [Quảng Trị – nbs.] ấy, trước kia đã làm tri huyện ở [huyện Thành Hoá – nbs.] đó hơn chín (09) năm, năm ngoái lại đi khám xét [huyện Thành Hoá cùng với Thân Văn Nhiếp – nbs.]…”. Có thể khiến người mới đọc qua hiểu rằng, Nguyễn Văn Tường sinh trưởng (sinh ra và lớn lên) ở Thành Hóa (Cam Lộ), Quảng Trị; rồi suy đoán thêm: có lẽ cụ thân sinh là Nguyễn Văn Diêu bị lưu đày lên Thành Hóa do một cuộc nổi dậy nhỏ (chống cường hào ác bá? lí tưởng, tri huyện áp bức?) như Yoshiharu Tsuboi ghi nhận từ cuốn sách của linh mục Nguyễn Văn Phong, xuất bản năm 1981 [NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 268]. Lại cứ theo mạch suy đoán ấy, sẽ cho rằng: vợ chồng cụ Diêu sinh và nuôi dạy Nguyễn Văn Tường ở đất ấy. 

Tuy nhiên, “thần sinh trưởng ở đất ấy” phải hiểu là “thần sinh trưởng ở đất [Quảng Trị – nbs.] ấy”, còn Thành Hoá (huyện biên ải) chỉ là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Trị.      

Căn cứ vào tư liệu Gia phả chi tộc Nguyễn Văn của Nguyễn Văn Tường và thơ của ông, ta thấy rõ: Thân sinh Nguyễn Văn Tường, ấy là cụ Nguyễn Văn Diêu (tên thường gọi là Dậu?), sinh năm Mậu ngọ, 1798, mất ngày 11. 3. năm Quý hợi, 1863, thọ 65 tuổi. Cụ Nguyễn Văn Diêu thuộc họ Nguyễn Văn ở làng An Xá Trung, huyện Đăng Xương (nay là An Cư, Triệu Phước, Triệu Phong), Quảng Trị. Và chắc chắn thân sinh của Nguyễn Văn Tường (cụ ông Nguyễn Văn Diêu, thân phụ, và cụ bà Dương Thị Liên, thân mẫu), ít ra phải có một vị là nho sinh, giỏi chữ. Bài thơ số 14, “Đắc báo nguyên tôn sinh”, có hai câu kết:

Trung hiếu ngô môn bồi dưỡng hậu

Miễn tai tố nghiệp các nghi đôn.

Lòng trung, đức hiếu nhà (họ) mình vun đắp, nuôi                                                        dưỡng đầy đặn

Gắng nhé! [Cố sức cho] truyền thống gia phong

       cao khiết, trong sạch [hoặc vốn có], [mọi điều,

            mọi người] đều [phải] nên trau dồi [dốc sức]

                   Trung hiếu họ mình đầy đặn đắp

                   Gắng trau nghiệp cũ, nếp ông cha!

(bản biên soạn)

Trung hiếu theo quan niệm nhà nho thời quân chủ, không thể thiếu yếu tố trung quân, và trung ở đây, rõ ràng là thống nhất với hiếu (hiếu với cha mẹ). Như thế, nếu bản chép tay của Pháp (AOM. Aix, Amiraux 12774, theo Nguyễn Văn Phong và Tsuboi, sđd., tr. 268) không sai về chi tiết này (*), thì có lẽ cụ thân sinh là Nguyễn Văn Diêu bị lưu đày lên Thành Hóa do một cuộc nổi dậy nhỏ, chống cường hào ác bá, lí tưởng, tri huyện áp bức, chứ không phải chống lại triều đình nhà Nguyễn.

(*) Nhưng lại sai về chi tiết Nguyễn Văn Tường không được đi thi vì thân sinh “đã dính líu vào một cuộc nổi dậy” (sđd., tr. 268). Ông chỉ bị cấm thi sau sự cố chữ “phúc” (ĐNTL.CB., tập 24, tr. 163 – 165; QTHKL., sđd., tr. 297).

Chùm thơ hai bài 57. 58

CUNG HỌA NGỰ CHẾ THI NGUYÊN

VẬN: “NHUẬN NGŨ NGUYỆT HỘ TỪ

GIÁ HẠNH  THUẬN AN TẤN”,

NHỊ THỦ

57: BÀI A

                   Thánh tâm nhật dưỡng ái như niên (a)

                   Thân sảnh cương phùng tái ngọ thiên

                   Minh nguyệt lâm giang đương thủy tạ

                   Huân phong thanh thử độ lâu thuyền

                   Trân tàng cự tẩm cung hào thố (b)

                   Lương phất trùng yên thị thực miên

                   Trường ngưỡng nhất nhân hoan phụng ý

                   Hỗ tòng chu tiếp tự vong quyên (1).                                                         

          (a) Phụng châu điểm: “Phê thường điển nhi vận bút giai cố diệu. Khâm thử”.

          (b) Phụng châu phê: “Diệc diệu vận. Khâm thử”.

(1) [quyên?].

                                          NGUYỄN TÔN NHAN

                                                phiên âm và dịch nghĩa

57. 58

KÍNH HỌA NGUYÊN VẦN THƠ NHÀ VUA

LÀM: “THÁNG NĂM NHUẬN, THEO TỪ GIÁ (1) ĐI CHƠI CỬA BIỂN THUẬN AN (2)”,

HAI BÀI

57: BÀI A

Tấm lòng thánh (3) [mỗi] ngày phụng dưỡng, thương yêu [mẹ] như [trọn các ngày trong] năm (a)

Thư giãn, nghỉ mát, vừa gặp lại một lần nữa buổi trời trưa

                                                                      [này]

Vầng trăng sáng chiếu xuống sông, ngay chính giữa nhà thủy tạ

Ngọn gió lành lọc nắng, [gió] vượt qua [sông], [vào] thuyền có lầu gác

Thức ăn quý cất trữ [trong] cái tẩm (: chằm, chum) lớn, [các thị tì] dâng lên món ăn thịt chặt cả xương, đồ hải sản lẫn lộn (b)

Hơi mát thổi phất [qua] khói thuốc lá nằng nặng [bay (:bay lững lờ)]; [các thái giám] đứng hầu [nhà vua, thái hậu] bữa ăn, giấc ngủ

Ngưỡng mộ một người [nêu gương] (4) đã lâu dài, bền bĩ, [đoàn tùy tùng] vui vẻ phụng vâng ý [thái hậu]

[Mọi người] đi theo giúp đỡ, phục vụ, [lo] việc thuyền [rồng], chèo [quế], [nhà vua] tự quên cả mệt nhọc ưu uất.

          (1) Từ giá: xe của người mẹ nhà vua (thái hậu).

          (2) Xin xem chú thích (1), bài 58, bản dịch nghĩa.

          (3) Chỉ vua Tự Đức, người nổi tiếng có hiếu.

          (4) Vua Tự Đức rất ngưỡng mộ ông Đôn Di. Xem chú thích (8), bản dịch nghĩa bài 56. Theo văn cảnh: đoàn tùy tùng ngưỡng mộ đức hiếu của Tự Đức.

             (a) “Kính [nhận] nét điểm son đỏ [của vua Tự Đức]: “Phê [rằng]: Theo [loại] điển chế thường mà vận dụng hay, cho nên tinh diệu. Kính theo đó”.

             (b) “Kính [nhận] lời phê son đỏ [của vua Tự Đức]: “Cũng lại vận dụng tinh diệu. Kính theo đó”.

57. 58

“THÁNG NĂM NHUẬN

THEO XE THÁI HẬU ĐI THĂM CỬA

BIỂN PHÒNG THỦ THUẬN AN”,

HAI BÀI

                   57: BÀI A      

                                        Kính họa thơ hoàng đế Tự Đức

Lòng thánh phụng thờ ngày tựa năm (a)

Trời trưa lại gặp, mát thân tâm

Soi sông, thủy tạ ngời trăng ghé

Lọc nắng, thuyền lầu lành gió thăm

Cất quý tẩm to dâng cỗ béo (b)

Phất êm khói lửng canh giường đằm

Mãi noi một người vui vâng ý

Quên nhọc, theo chèo, thị nữ chăm.                                             

                                TRẦN XUÂN AN

                                                   chuyển lại thơ

         (a), (b) Xin xem cuối phần chú thích của bản dịch nghĩa bài này.

<