posted: 21.8.2005
Page
6. Bài
56 CUNG
HỌA NGỰ CHẾ BÍNH TÍ NGUYÊN
NHẬT (NHỊ THẬP VẬN) 1. Vũ phục kim âu điện Nghiêu
giai ngọc lịch tân Dương
niên phùng kỉ tiù Đẩu
bính kháp lâm dần 5. Liù thủy tam dương hảo Triều
nguyên bách tích tuân Đào
phù trừ cựu tịch (tích) Lậu
tiễn báo sơ thần Tượng
khuyết chiêm tinh nhật 10.
Uyên hàng túc tấn thân Tích
linh từ tấn chỉ Hiến
thọ đế cung thân Giáo
hiếu tiên thiên hạ Đôn
di ngưỡng nhất nhân 15.
Thanh loan di thúy điện Phụ
ỷ đoan nguyên vị Hô
tung biến thị thần Lộc
minh khuông phỉ huống 20.
Đường đệ ngạc hoa chân (chấn) Quỳnh
tịch hương ngưng lộ Tiêu
trường ảnh tán ngân Bửu
phân đồng dị tính Khánh
chí tích kim xuân 25.
Gia huệ nhân thần bá Nùng
triêm đáo xứ quân Hóa
quân khai thái tượng Thần
hàn ngụ thiên chân Duệ
toán thâm đồ trị 30.
Vi
thần tàm bỉ ổi Đại
tiết phạp kinh luân Lệ
chí thường giai phủ Hòa
trung túy nhược thuần 35.
Thể nguyên cơ quát chuyển Đạt
thuận nhĩ hà quân Vũ
nhuận Phong
thanh Hán tái trần Vạn
niên ca đế đán 40.
Hân duyệt phổ thần dân. VŨ
ĐỨC SAO BIỂN phiên
âm 56 KÍNH
HỌA BÀI THƠ NGÀY MỒNG MỘT TẾT
BÍNH TÍ CỦA NHÀ VUA, HAI
MƯƠI VẦN 1. Áo Vũ vững âu vàng Thềm
Nghiêu sang năm mới Năm
dương lại gặp chi Tí Bính
vừa đúng lúc vào Dần 5. Bước đầu gặp được cái tốt tam
dương Răm
rắp triều nguyên Bùa
đào tiễn năm cũ Thẻ
đồng hồ báo trời sáng Đứng
ở cửa khuyết quan sát sao và mặt trời 10.
Bá quan đứng thành hàng đai hốt nghiêm trang Trời
ban thêm tuổi, thái hậu thêm phúc đức Vua
cung kính mừng tuổi mẹ Dạy
đạo hiếu làm đầu trong thiên hạ Ngưỡng
mộ một người là ông Đôn Di 15.
Chim loan xanh dời đến thúy điện Những
dây thao đeo ấn màu đỏ hướng về cung vua Quay
lưng về phía tấm bình phong đứng nghiêm trang Các
thị thần ai nấy đều tung hô Ngoài
triều vua tôi vui vẻ 20.
Trong nhà anh em đầm ấm Tiệc
quỳnh hương đọng thành sương Trong
chén rượu ánh sáng lóng lánh như bạc tan Châu
báu đem chia họ hàng nội ngoại Ghi
nhớ niềm vui mùa xuân xưa nay 25.
Ơn huệ ban phát ra khắp cả Mọi
nơi thấm đẫm như nhau Tạo
hóa mở thái tượng Bút
vua ngụ lòng trời Tính
toán sâu xa là mong đất nước thạnh trị 30.
Hành động chu đáo phải trông chờ khách có tài Kẻ
bề tôi nhỏ nhoi này thẹn vì xấu xa Tiết
lớn thiếu mất tài kinh luân Trong
phế phủ thường xuyên nung chí Say
sưa trong lòng như dậy men 35.
Cơ trời sẽ chuyển dịch Đến
hồi thuận rồi gần xa như nhau Mưa
nhuần trên cánh đồng nhà Gió
thổi sạch bụi trên cửa ải nhà Hán Vạn
năm ngợi ca buổi sáng của nhà vua 40.
Niềm vui tỏa ra khắp thần dân. VŨ
ĐỨC SAO BIỂN dịch
nghĩa 56 KÍNH
HỌA BÀI THƠ “NGÀY
MỒNG MỘT TẾT BÍNH TÍ (1)” CỦA
NHÀ VUA, HAI MƯƠI VẦN 1. Áo Vũ (2) vững âu vàng (3) Thềm
Nghiêu (4) lịch ngọc (5) mới Năm
dương (6) gặp kỉ Tiù (6) Sao
đẩu Bính (6) thích hợp vào Dần (6) 5. Khởi đầu [sự vận chuyển theo] dịch
lí
[lại
là] ba cái dương (6) tốt Buổi
thiết triều đầu năm, trăm [việc] khai mở
[đều]
tuân theo Bùa
màu đỏ [vui tiễn] sự ra đi [của] năm cũ Mũi
tên (: thẻ có vạch khấc) đồng hồ [xưa] báo [khắc]
khởi đầu [của] sớm mai Cửa
khuyết (7) với những hình tượng, [chừng như đang] ngắm sao [và] mặt trời 10.
Hàng chim phượng sồ là các quan cầm hốt, xõa
tay
áo đỏ [trông thật] nghiêm túc [Trời]
ban đêm tuổi, người mẹ [của vua] tiến về [phía]
phúc
đức Chúc
thọ, vua cung kính [thưa với] mẹ Dạy
đạo hiếu làm đầu [cho] thiên hạ Đôn
Di (8), [vua] ngưỡng mộ một người [ấy] 15.
Chim loan xanh [bay] dời [đến] điện sâu Những
dây thao màu đỏ (9) xoay quanh (chầu) nơi vua ở [trông rất] nghiêm Tựa
vào tấm bình phong đứng thẳng ở vị trí đầu [Các]
thị thần tung hô khắp cả [Tiệc]
lộc minh (10), [những] giỏ tre, thùng có nắp [vua] ban nhiều (11) 20. Cây hải đường (12), [các] đóa hoa [được
quây quanh bởi] các lá xanh [quanh chân hoa] phấn phát Tiệc
đêm [với chén] quỳnh (13), hương đọng
[thành]
sương Chén
[nồng vị] hồ tiêu (14), ảnh hình tan ra [như] bạc Châu
báu, chừ, người cùng họ (nội), kẻ khác họ (ngoại) Ghi
chép niềm vui, mùa xuân xưa nay 25. Ân huệ tốt đẹp theo tinh thần [ấy] ban
rắc ra Thấm
nồng đến [mọi] xứ đều khắp Tạo
hóa (15) khai mở hình trạng tốt đẹp Thành
ý [của] trời ngụ [ở] bút nhà vua [Sự]
tính toán [của] hoàng đế sâu sắc [trong các] dự định [để] cai trị 30.
Làm tròn [chức năng thiên tử] phải trông chờ [ở kẻ sĩ được quý trọng
như] khách Kẻ
bề tôi nhỏ nhoi thẹn [vì vốn trưởng thành trong] sự quê
mùa [tại] nơi chốn gần biên ải (16) Tiết
tháo lớn thiếu tài cứu nước giúp đời Chí
nguyện gắng sức thường xuyên [mài sắc ở] khắp các phủ tạng [cứng bền
như đá] Lòng
hòa mục [với thiên nhiên, đồng loại, bạn bè] (17) say như thể rượu ngọt 35.
Cái lí uyên nguyên [của] bản thể [vũ trụ là] máy vận hành phổ quát [mãi] luân chuyển (18) Đạt
tới lẽ thuận [thì] nơi xa,
chốn
gần đều cân bằng (18) Mưa
tươi nhuần cánh đồng [nhà] Gió
[quét] sạch biên ải [nhà] Hán (19) [ngập] bụi Vạn
niên ngợi ca buổi sáng [của] nhà vua 40. [Niềm] vui đẹp lòng khắp thần dân. (1)
1876, Bính tí, Tự Đức năm thứ 29. (2),
(4) Hai vị vua cổ đại Trung Quốc, biểu tượng lí tưởng hóa. (3)
Cái bình vàng (chắc bền), ví với Nhà nước. (5)
Lịch của vua (có nạm ngọc, hoặc “ngọc” là mỹ từ). (6)
Các khái niệm dịch lí học. (7)
Cửa khuyết (cửa quyết), chỉ cung vua. Khuyết là lầu canh ở cung vua. Cung
khuyết. (8)
Đôn Di. Chưa tra cứu được điển này. Nếu theo chữ viết trong nguyên
tác, có thể hiểu “đôn di” (chúng
tôi không viết hoa – nbs.) là trau chuộng đạo thường (di luân, luân thường);
ở đây là đạo hiếu. Cả
câu: Trau chuộng đạo thường, [vua] ngưỡng vọng một người. Với mặt
chữ như thế, không phải là danh tính Chu Đôn Di, triết gia đời Tống
(Trung Hoa), người xây dựng nên lí học, được tôn xưng là Chu Liêm Khê,
1017 - 1073 (TĐHV., tập thượng, sđd., tr. 176). (9)
Dây thao có đeo ấn: một trong các đồ phục sức của các đại quan theo
quy định. (10)
Lộc minh: tiệc vua ban cho các tân khoa thi hương (cử nhân); đây chỉ là sự
ví von (ẩn dụ). [Xem TĐHV., sđd., tập thượng, tr. 517]. Thơ Lộc minh: tên một thiên trong Kinh thi, khen vua nhà (11)
Hẳn là các giỏ đựng thức ăn, các thùng đựng rượu. (12)
Đường: cây đường (loại đỏ, gỗ làm cần cung; loại trắng, quả ăn
được). Ân trạch của quan địa phương lưu lại gọi là cam đường. Đệ:
cây đường đệ. Kinh thi có thơ Đường đệ nói về việc anh em ăn uống
vui vầy [HVTĐ., sđd., tr. 300]. Ở đây, chỉ các hoàng thân trong hoàng tộc. (13)
Tiệc quỳnh: tiệc có uống rượu với chén làm bằng ngọc quỳnh đỏ,
vua chiêu đãi các tân khoa thi hội (tiến sĩ), [TĐHV., sđd., tập hạ, tr.
113]. (14)
Ẩn dụ (ví von, so sánh ngầm), chỉ rượu nồng. (15)
Tạo hóa, theo quan niệm cổ, như cái bàn xoay để làm đồ gốm (sành sứ).
“Quân”: bàn xoay nặn vật. (16)
Xem ĐNTL.CB., sđd., tập 30, tr. 170 - 172. Quốc sử quán đã ghi chép rất cụ
thể, khá chi tiết: ...
“Vua [[...]:
lược bớt – nbs.] bảo bộ thần rằng: [...], ở nơi biên viễn,
mà không được như Nguyễn Văn Tường, thì lợi chưa thấy, mà hại đã
sinh ra, hối làm sao kịp. Bèn sai Thân Văn Nhiếp và Nguyễn Văn Tường
thương lượng suy xét. Văn Nhiếp xin cho Nguyễn Văn Tường và Trần Đình
Túc cáng đáng việc ấy, và đặt thêm chức tuyên phủ sứ, chọn người
thổ trước để sửa sang các công việc. Nguyễn
Văn Tường nói: các châu ở Thành Hóa đất liền với kinh đô, đời đời
làm phên che giúp đỡ [...].
Còn về rừng sâu khí núi độc, thì có người đã ở quen, chịu đựng nổi;
dân Man không biết gì, thì lấy sự dễ dãi để thân cận họ; biên viễn
là việc quan hệ [...]. Trần Đình Túc chưa từng kinh lịch nơi đó [mặc
dù Trần Đình Túc là người Do Linh, Quảng Trị – nbs.] nhưng địa
thế, dân tình ở phủ hạt ấy rất là biết rõ. Thần sinh trưởng ở đất
[Quảng Trị – nbs.] ấy, trước kia đã làm tri huyện ở [huyện
Thành Hoá – nbs.] đó hơn chín (09) năm,
năm ngoái lại đi khám xét [...]. Trần Đình Túc là người giỏi giang
quen việc, tôi [:các bề tôi khác] không
thể theo kịp được, nhưng về tục xứ ấy, tình người Man, thì Đình Túc chưa được hiểu
rõ như thần. Xin cho thần đổi sung chức tuyên phủ sứ, và kiêm cả chức
khuyến nông, phàm công việc nên làm ở bảo Trấn Lao, thì đốc sức cho
huyện viên sửa sang; còn ruộng nương, việc trị thủy, đời sống của dân,
điều lợi điều hại thì hội cùng với đạo thần [quan ở đạo
Quảng Trị – nbs.]. Chức kinh doãn [phủ
doãn Thừa Thiên – nbs.] có khuyết hoặc
cho Trần Đình Túc kế thay, nhưng kiêm
coi cả công việc doanh điền. Vua
lại hỏi Trần Đình Túc, Túc cũng cho là phải, lại tự xin trông coi việc
ấy tự trước đến sau. Vua
cho là chức kinh doãn và doanh điền đều chưa có công hiệu, cũng chưa rõ
được người [tức
là Nguyễn Văn Tường –
nbs.] có tài năng hay không, bèn sai điều giữ
chức cũ. Trần Đình Túc thì kiêm biện
cả nông điền thủy lợi ở Quảng Trị; còn các việc trọng đại về
doanh điền của phủ đạo, nên cùng với Nguyễn Văn Tường thương lượng
bàn định tâu lên, và hội đồng lựa chọn viên quản đạo, viên huyện”. Chúng
tôi (TXA., nbs.) xin chép lại đoạn trích từ Đại a. là người địa phương, từ lâu đời,
tổ tiên từ ngoài kia sông Gianh vào sinh cơ lập nghiệp trước thời chúa
Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa trấn nhậm. Do đó, nguyên quán, nơi sinh trưởng
là Quảng Trị (làng An Cư, huyện Đăng Xương [: Triệu Phong]). b. trải qua hơn chín năm làm tri huyện
ở Thành Hóa (theo ĐNNTC., tập 1, sđd., tr. 103, đến 1853 mới đặt chức
tri huyện ở vùng này). c. rất thông hiểu phong tục, tâm
tình người nhân tộc thiểu số (Vân Kiều, Cà Tu, Pa-kô...) và cả người
Lào xiêu tán. Như thế, Nguyễn Văn Tường chắc chắn rất giỏi tiếng nhân
tộc (tiếng Thượng). Ngoài
những lượng thông tin trên, vốn làm rõ hai chữ “bỉ ổi” (thô kệch,
nơi biên ải xa xôi, quê mùa), chúng tôi xin nhân đây nhấn mạnh ngoài lề
vài chi tiết khác: a’.
Nguyễn Văn Tường xin từ chức phủ doãn ở Huế để chuẩn bị xây dựng
chiến khu Tân Sở, khôi phục và mở thêm đường mòn từ Bình Định ra
Nghệ An, từ thời điểm này [ĐNTL.CB., tập 31, tr. 86 - 87, tr. 89, tr. 103 (sáu
điều tâu về Cam Lộ, lưu ý điều 2)]. b’.
Nguyễn Văn Tường từ chức phủ doãn còn vì lí do khác: lúc này nhân dân
đang chết đói đầy cả đường kinh thành Huế (nhất là từ Quảng c’.
Nguyễn Văn Tường được quyền cùng Trần Đình Túc chọn quan huyện, quan
đạo (quan quản lí đạo Quảng Trị). Nguyễn Quýnh hẳn là người thuộc
nhóm Nguyễn Văn Tường – Thân Văn Nhiếp nên được chọn làm quan quản
đạo Quảng Trị (ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 86 - 87). Đó
cũng là những lượng thông tin về ông, giúp chúng ta hiểu hơn nghĩa của
chữ trong văn ngữ cảnh cụ thể:
Vi thần tàm bỉ ổi
Đại
tiết phạp kinh luân
Lệ
chí thường giai phủ
Hòa
trung túy nhược thuần
...
Vạn
niên ca đế đán
Hân
duyệt phổ thần dân. Bỉ:
miền
đất gần biên giới; quê mùa, thô lậu... [Bỉ nhân (tự
xưng một cách khiêm tốn)]. Ổi: quê mùa. Bỉ ổi: quê kệch. Vi thần (chữ khiêm xưng): kẻ bề tôi nhỏ
nhoi. Ý
nguyên cả câu lại ngược với hai chữ Kì
Vĩ (lớn lao) mà Tự Đức phong tặng, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Tư Giản và
nhiều người khác ngợi ca. (17)
Hòa: không cạnh tranh. Chữ
“hòa” của nhà nho (hòa hợp với thiên nhiên, đồng loại; không oán trời,
trách người...). “Hòa trung” (tấm
lòng hòa mục) gắn liền với “đại tiết”
(sự cứng rắn, sự giữ vững ý chí với bản lĩnh, nghị lực lớn) và
“lệ chí” (ý chí được nấu nung, mài sắc). Nếu vận dụng vào tình
hình chính trị lúc bấy giờ, thời điểm 1876, chữ “hòa” ở đây còn
gắn liền với ý thức về thời cơ, chờ thời cơ thuận lợi trong nỗ lực
tự cường (“đại tiết”, “lệ chí”) để đạt cho được các mục
tiêu: sạch bóng quân xâm lược Pháp (liên minh ma quỷ với giặc Tây Ban
Nha, phỉ Tàu, lợi dụng “tả đạo” Thiên Chúa giáo làm công cụ, có
chia chác quyền lợi), độc lập dân tộc, bình đẳng với các nước trên
thế giới, khát vọng dân giàu, nước mạnh... Do đó, quan niệm chữ “hòa”
của Nguyễn Văn Tường khi ngồi thương thuyết (đàm phán) với bọn cướp
nước, “tả đạo”, không phải là chữ “hòa” nguyên nghĩa, cho dù tư
tưởng ông vẫn ở trong khuôn khổ của ý hệ phong kiến độc tôn Nho
giáo thời Nguyễn (“Chu nguyên”, “Hán tái”... là biểu tượng lí tưởng
hóa của ý thức sử học nho gia). Nguyễn
Văn Tường vốn là một người chủ chiến, ý thức sâu sắc rằng chỉ
có thể quét sạch quân xâm lược bằng vũ trang, nhưng lại biết linh hoạt,
“hòa” một cách cơ nghi (sách lược thỏa hiệp tạm thời). Nguyễn Văn
Tường từng viết rõ trong tấu, sớ đệ trình lên vua Tự Đức: Chiến – Hòa – Thủ – Chiến (“Chiến” là tiên quyết
và tối hậu). (Xem thêm câu đối số
1, “Tự trào”, ở phần
ngoài Thi tập, sách này). Chữ
“hòa” của Nguyễn Văn Tường được hiểu như vậy, ở từng văn cảnh
cụ thể và trong suốt toàn bộ tư tưởng nghệ thuật, tư tưởng kinh bang
tế thế. Tư tưởng cốt lõi chủ đạo trong hoạt động chính trị và
sáng tác của ông vẫn là chủ chiến. Mở
thêm một ngoặc đơn: “Hòa trung” còn
có nghĩa là: “Tấm lòng thành ấm áp, nồng hậu” (nên mới say nồng nàn như rượu ngọt
dịu nhẹ). Dù với nghĩa nào, cũng gắn bó hữu cơ với “đại tiết”,
“lệ chí”, “kinh luân”, “Chu nguyên”, “Hán tái” (biểu tượng
được lí tưởng hóa)... Và câu trên dịch thành: “Ấm
lòng say rượu ngọt”. (18)
Quan niệm biện chứng về bản thể vũ trụ (Lí khí, Đạo) và cặp phạm
trù bao quát nhất: Âm – Dương. (19)
Nhà Chu, nhà Hán ở Trung Hoa ngày xưa, vốn là biểu tượng thái bình thịnh
trị (lí tưởng hóa). 56 “NGÀY
ĐẦU NĂM BÍNH TÍ (1876)” (hai
mươi vần)
Kính họa thơ
hoàng đế Tự Đức 1. Áo Vũ vững âu vàng Thềm
Nghiêu: lịch ngọc sang Dương
lại gặp chi Tiù Bính
vừa đúng lúc Dần 5. Vận đầu, được ba tốt Răm
rắp, xuân triều quan Bùa
đào tiễn năm cũ Thẻ
giờ báo hé vàng Mặt
trời, sao, đẹp cửa 10.
Đai hốt nghiêm hai hàng Thái
hậu, thêm tuổi phúc Vua
mừng mẹ, lời dâng Gương
hiếu dành cho dân Trau
đức, lòng vua mộ 15.
Điện sâu bay chim loan Hướng
về, ấn thao đỏ Trước
bình phong nghiêm trang Thị
thần hô vạn tuế Như
tân khoa: vua quan 20.
Lá quanh hoa: hoàng tộc Tiệc
quỳnh, hương đọng ngọc Chén
rượu ánh bạc tan Nội
ngoại chia châu báu Vui
ghi xuân nghìn năm 25.
Ơn huệ ban đều khắp Thấm
nồng mọi nẻo đất Tạo
hóa mở lượng sang Lòng
trời ngụ ngự bút Suy
sâu, mong giàu nước 30.
Làm tròn, tài sĩ dâng Tôi
nhỏ, thẹn quê kệch (1) Tiết
lớn thiếu kinh luân Chí
hoài nung tim óc Lòng
hòa say rượu ngọt (2) 35.
Rộng cao lẽ chuyển vần Xa
bằng gần, cơ thuận! Ruộng
Chu, nắng mưa nhuần Ải
Hán, gió quét bụi Sớm
vua, hát muôn ngàn 40.
Vui đẹp khắp thần dân. TRẦN
XUÂN AN chuyển
lại thơ (1)
Lúc này Nguyễn Văn Tường đã được phong tước bá với mĩ hiệu là Kì Vĩ (lớn lao); ông tự hạ mình để
khuyên nhắc vua một cách tự tin. (2)
Xin xem chú thích (17) ở bản dịch nghĩa bài này. Cước chú của bài thơ
số 56, thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường): (*)
Bài tấu trên có câu: “Thần sinh trưởng
ở đất [Quảng Trị – nbs.] ấy,
trước kia đã làm tri huyện ở [huyện
Thành Hoá – nbs.] đó hơn chín (09) năm, năm ngoái lại đi khám xét [huyện
Thành Hoá cùng với Thân Văn Nhiếp – nbs.]…”.
Có thể khiến người mới đọc qua hiểu rằng, Nguyễn Văn Tường sinh
trưởng (sinh ra và lớn lên) ở Thành Hóa (Cam Lộ), Quảng Trị; rồi suy
đoán thêm: có lẽ cụ thân sinh là Nguyễn Văn Diêu bị lưu đày lên Thành
Hóa do một cuộc nổi dậy nhỏ (chống cường hào ác bá? lí tưởng, tri
huyện áp bức?) như Yoshiharu Tsuboi ghi nhận từ cuốn sách của linh mục
Nguyễn Văn Phong, xuất bản năm 1981 [NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 268]. Lại
cứ theo mạch suy đoán ấy, sẽ cho rằng: vợ chồng cụ Diêu sinh và nuôi
dạy Nguyễn Văn Tường ở đất ấy. Tuy
nhiên, “thần sinh trưởng ở đất ấy”
phải hiểu là “thần sinh trưởng ở đất [Quảng Trị – nbs.] ấy”,
còn Thành Hoá (huyện biên ải) chỉ là một huyện miền
núi của tỉnh Quảng Trị.
Căn
cứ vào tư liệu Gia phả chi tộc Nguyễn
Văn của Nguyễn Văn Tường và thơ của ông, ta thấy rõ: Thân sinh Nguyễn
Văn Tường, ấy là cụ Nguyễn Văn Diêu (tên thường gọi là Dậu?), sinh năm
Mậu ngọ, 1798, mất ngày 11. 3. năm Quý hợi, 1863, thọ 65 tuổi. Cụ Nguyễn
Văn Diêu thuộc họ Nguyễn Văn ở làng An Xá Trung, huyện Đăng Xương (nay
là An Cư, Triệu Phước, Triệu Phong), Quảng Trị. Và chắc chắn thân sinh
của Nguyễn Văn Tường (cụ ông Nguyễn Văn Diêu, thân phụ, và cụ bà Dương
Thị Liên, thân mẫu), ít ra phải có một vị là nho sinh, giỏi chữ. Bài
thơ số 14, “Đắc báo nguyên tôn sinh”, có hai câu kết: Trung
hiếu ngô môn bồi dưỡng hậu Miễn
tai tố nghiệp các nghi đôn. Lòng
trung, đức hiếu nhà (họ) mình vun đắp, nuôi
dưỡng
đầy đặn Gắng
nhé! [Cố sức cho] truyền thống gia phong cao khiết, trong sạch
[hoặc vốn có], [mọi điều,
mọi người]
đều [phải] nên trau dồi [dốc sức]
Trung
hiếu họ mình đầy đặn đắp
Gắng
trau nghiệp cũ, nếp ông cha! (bản
biên soạn) Trung
hiếu
theo quan niệm nhà nho thời quân chủ, không thể
thiếu yếu tố trung quân, và trung ở đây, rõ ràng là thống nhất với hiếu (hiếu với
cha mẹ). Như thế, nếu bản chép tay của Pháp (AOM. Aix, Amiraux 12774,
theo Nguyễn Văn Phong và Tsuboi, sđd., tr. 268) không sai về chi tiết này (*),
thì có lẽ cụ thân sinh là Nguyễn Văn Diêu bị lưu đày lên Thành Hóa do
một cuộc nổi dậy nhỏ, chống cường hào ác bá, lí tưởng, tri huyện
áp bức, chứ không phải chống lại triều
đình nhà Nguyễn. (*) Nhưng lại sai về chi tiết Nguyễn Văn Tường không được đi thi vì thân sinh “đã dính líu vào một cuộc nổi dậy” (sđd., tr. 268). Ông chỉ bị cấm thi sau sự cố chữ “phúc” (ĐNTL.CB., tập 24, tr. 163 – 165; QTHKL., sđd., tr. 297). Chùm
thơ hai bài 57. 58 CUNG
HỌA NGỰ CHẾ THI NGUYÊN VẬN:
“NHUẬN NGŨ NGUYỆT HỘ TỪ GIÁ
HẠNH THUẬN AN TẤN”, NHỊ
THỦ 57:
BÀI A
Thánh tâm nhật dưỡng ái như niên (a)
Thân
sảnh cương phùng tái ngọ thiên
Minh
nguyệt lâm giang đương thủy tạ
Huân
phong thanh thử độ lâu thuyền
Trân
tàng cự tẩm cung hào thố (b)
Lương
phất trùng yên thị thực miên
Trường
ngưỡng nhất nhân hoan phụng ý
Hỗ
tòng chu tiếp tự vong quyên (1).
(a)
Phụng châu điểm: “Phê thường điển nhi
vận bút giai cố diệu. Khâm thử”. (b)
Phụng châu phê: “Diệc diệu vận. Khâm thử”. (1)
[quyên?].
NGUYỄN
TÔN NHAN
phiên
âm và dịch nghĩa 57.
58 KÍNH
HỌA NGUYÊN VẦN THƠ NHÀ VUA LÀM:
“THÁNG NĂM NHUẬN, THEO TỪ GIÁ (1) ĐI CHƠI CỬA BIỂN THUẬN AN (2)”, HAI
BÀI 57:
BÀI A Tấm
lòng thánh (3) [mỗi] ngày phụng dưỡng, thương yêu [mẹ] như [trọn các
ngày trong] năm (a) Thư
giãn, nghỉ mát, vừa gặp lại một lần nữa buổi trời trưa
[này] Vầng
trăng sáng chiếu xuống sông, ngay chính giữa nhà thủy tạ Ngọn
gió lành lọc nắng, [gió] vượt qua [sông], [vào] thuyền có lầu gác Thức
ăn quý cất trữ [trong] cái tẩm (: chằm, chum) lớn, [các thị tì] dâng lên món ăn thịt chặt cả
xương, đồ hải sản lẫn lộn (b) Hơi
mát thổi phất [qua] khói thuốc lá nằng nặng [bay (:bay lững lờ)]; [các
thái giám] đứng hầu [nhà vua, thái hậu] bữa ăn, giấc ngủ Ngưỡng
mộ một người [nêu gương] (4) đã lâu dài, bền bĩ, [đoàn tùy tùng] vui
vẻ phụng vâng ý [thái hậu] [Mọi
người] đi theo giúp đỡ, phục vụ, [lo] việc thuyền [rồng], chèo [quế],
[nhà vua] tự quên cả mệt nhọc ưu uất. (1)
Từ giá: xe của người mẹ nhà vua (thái hậu). (2)
Xin xem chú thích (1), bài 58, bản dịch nghĩa. (3)
Chỉ vua Tự Đức, người nổi tiếng có hiếu. (4)
Vua Tự Đức rất ngưỡng mộ ông Đôn Di. Xem chú thích (8), bản dịch nghĩa
bài 56. Theo văn cảnh: đoàn tùy tùng ngưỡng mộ đức hiếu của Tự Đức. (a) “Kính
[nhận] nét điểm son đỏ [của vua Tự
Đức]: “Phê [rằng]: Theo [loại]
điển chế thường mà vận dụng hay, cho nên tinh diệu. Kính theo đó”. (b) “Kính
[nhận] lời phê son đỏ [của vua Tự Đức]:
“Cũng lại vận dụng tinh diệu. Kính theo đó”. 57.
58 “THÁNG
NĂM NHUẬN THEO
XE THÁI HẬU ĐI THĂM CỬA BIỂN
PHÒNG THỦ THUẬN AN”, HAI
BÀI
57:
BÀI A
Kính
họa thơ hoàng đế Tự Đức Lòng
thánh phụng thờ ngày tựa năm (a) Trời
trưa lại gặp, mát thân tâm Soi
sông, thủy tạ ngời trăng ghé Lọc
nắng, thuyền lầu lành gió thăm Cất
quý tẩm to dâng cỗ béo (b) Phất
êm khói lửng canh giường đằm Mãi
noi một người vui vâng ý Quên nhọc, theo chèo, thị nữ chăm.
TRẦN
XUÂN AN
chuyển lại
thơ
(a), (b) Xin xem cuối phần
chú thích của bản dịch nghĩa bài này. < |