805-gdiem.gif (5390 bytes)

posted: 21.8.2005

Page 7.

                    Bài 61

TƯ HIỀN TẤN

                   Bình thành Vũ tạc sơ

                   Trạch quốc điện môn lư

                   Liễu nhiễu quần phong bão

                   Oanh hồi nhất thủy từ

                   Hà Trung thu tích hậu

                   Thuận tấn chuyển lưu thư

                   Ba ổn trung lưu tiếp

                   Phàm quy viễn phố ngư

                   Trùng dương thông nhãn xứ

                   Vạn hác củng Triều dư

                   Vi (vị) (a) báo hoàn trung thủy

                   Mang mang hải lượng hư.

          Phụng châu phê: Nhĩ thức lực giai khả đáo, bất chuyên cử nghiệp dĩ dã; đãn bạc, chi bất vi, nhĩ diệc bất hạ dã; hà xích, phiền; nhị thủ giai vô tì, vô biểu hiện (kiến).      

          Khâm thử! (b)

          (a) Phụng châu điểm.                                

VŨ ĐỨC SAO BIỂN

phiên âm

                                                      (và trích dịch ở bài giới thiệu).

   NGUYỄN TÔN NHAN

                                                               phiên âm và dịch nghĩa

61

CỬA BIỂN HẢI PHÒNG TƯ HIỀN (1)

[Công] bình định, làm nên (2)

          [của] vua Vũ (3) là đã rạch ròi, thông suốt [bờ cõi]

Ơn huệ [của] nước [là đã giúp dân] vững chãi nhà cửa

Những ngọn núi quanh co, vấn quanh, ôm lấy

Con suối [nhỏ] vòng quanh lại [một dòng nước] chậm rãi

[Phá] Hà Trung (4) thu lấy, dồn chứa đầy ắp

Cửa hải phòng Thuận [An] chuyển động,

                                                    tuôn chảy thư thả

Sóng êm ả, giữa dòng [là thuyền với] mái chèo

[Các] cánh buồm quay về bến cá xa

Biển cả (: trùng dương) [là] nơi mở thông [tầm] mắt

Nước khe núi, ao hồ chầu về ư?

Bởi (a) [muốn] báo đền trong cõi hoàn vũ (cõi đất trời) [bằng] nước

[Nên] lai láng, xa xăm; lượng biển (sức chứa của biển, tấm lòng của biển) [thế đấy mà cũng như thể]  không có gì (: hư vô)! (b) (5)

          (1) Thuộc tỉnh Thừa Thiên – Huế. Xem chú thích (2), bản dịch nghĩa, bài 63.

          (2) Bình thành: do bốn chữ “địa bình thiên thành” (sửa sang, tổ chức lại việc dưới đất; làm cho nên, cho an ổn sự lệ trên trời). Nghĩa bóng: sửa trị mọi việc quan trọng. [Bửu Kế, TĐTNTN., sđd., tr. 71].

          (3) Vua Vũ ở Trung Hoa cổ đại, lập nên nhà Hạ.

          (4) Cửa biển phòng thủ Thuận An và Tư Hiền thuộc đất kinh sư (thủ đô, Thừa Thiên – Quảng Trị) do triều đình trực tiếp quản lí, chỉ đạo. Xem chú thích (1) về cửa Tư Hiền, bản dịch nghĩa bài thơ số 58 và chú thích (2) bài số 63.

          (5) Khái niệm “hư vô” của Lão Tử. Xin xem chú thích (5) của bản dịch nghĩa bài số 34 và chú thích (13) ở bản dịch nghĩa bài số 65.

             (a) “Kính [nhận] điểm bút son [của vua].

             (b) “Kính [nhận] lời phê bút son [của vua]: “Kiến thức của ngươi đều thấu đáo, [nên nói] không chuyên về dạng chỉ học cốt để thi cử mà thôi, là phải vậy! [Nhưng] chỉ một mình [ngươi làm thơ] ít ỏi; ấy là [bởi] không [chịu] làm; vậy cũng thật [ngươi] cũng không được rảnh rỗi. Sao một thước [chữ = một, hai cột chữ thôi]? Bận việc quá ư? Hai bài đều không có tì vết gì, [nhưng] cũng không lộ liễu gì [tức là ý tứ kín đáo; sâu kín là ưu điểm trong thơ]! Kính vâng đấy nhé!””  – [Lời châu phê của vua Tự Đức].

          Hẳn nhà thơ Nguyễn Văn Tường không chỉ bận công việc của một thượng thư Bộ Hộ, Thương bạc đại thần (phụ trách ngoại giao), mà ông còn bận lòng cho những bài thơ tâm huyết của mình. Thơ thù tạc, đúng hơn là thơ “tụng ca”, làm để xướng họa với đế vương, hẳn là quá đỗi... khó lòng!

61

CỬA BIỂN HẢI PHÒNG TƯ HIỀN

                   Bình thành như Vũ thưa

                   Ơn nước, xóm vàng mùa

                   Núi lượn từng cung ấp

                   Khe vòng một suối thư

                   Hà Trung thu chứa mộng

                   Cửa Thuận chuyển xuôi mơ

                   Chèo rẽ dòng sóng lặng

                   Buồm về bến cá mờ

                   Bể khơi thông mắt đấy!

                   Ngòi lạch chầu triều ư?

                   (a) Đền đất trời: tình nước

                   Biển lòng rộng hư vô! (b)                                            

TRẦN XUÂN AN

chuyển lại thơ

               (a), (b) Xin xem cuối phần chú thích của bản dịch nghĩa bài này.

Bài 62

NGUYÊN ĐÁN TẢO CỨ QUẢNG YÊN

TUẦN PHỦ HỒ TRỌNG LIỄN MÃ ĐỆ

TRIỆP TỰ QUAN BINH ĐẠP BÌNH

PHÙ LONG PHỈ SÀO,

NHÂN CHÍ KÌ SỰ

                      1.   Ngã hoàng phủ thử chước khoan nghiêm

Thiên đạo âm dương hỗ hiển tiềm

Hàn uy phủ khước đông tiền lạp

Xuân dương dĩ phổ nhân đồng chiêm

                       5.   Lí đoan vạn tượng chính tân sảng

Si mị tận tiêu thiên nhật lãng

Đình liệt bái khánh sâm y quan

Thúc văn tiệp tấu bình tặc đảng

Tu lai mã đệ Quảng Yên đồng

                     10.   Hỉ kiến biên thần tự chiến công

Ngưỡng duy miếu đường thụ thành toán

Kháp triï thái vận phương hưởng thông

Ngã quốc hải đông dữ Thanh tiếp

Nhất đới cát đồ (1) liên u chung

                     15.   Thanh lại kế cùng lân vi hác

Trì ngư vô đoan tao bỉ hung

Thanh tướng lưỡng lâm vô thốn hiệu

Đạn nan chung thị di khấu sao

Kình huyệt thố quật một gian xuất

   20.        Niên lai biên manh khổ náo sao 

Thuấn đức đản phu giác giã mê

Tự tây tự đông ngật (cật) thanh giáo

Tranh nại động đình chướng kí thâm

Nan cách nhĩ tâm dịch nhĩ mạo

                     25.   Chu sư ninh hoãn tiêm cừ khôi

Phù Long nhất cổ thiên hiểm thôi

Tướng biền dụng mệnh vô kiên địch

Thanh linh hách trạc võ công khôi

Kỉ công hựu thích hành khánh điển

                     30.   Phàm bách nhung thần thị chi miễn

Thùy vị ba đào bất khả khai

Vạn lí trùng dương tương tận quyển

Vãng phục hóa cơ thuấn tức chuyển

Tương cơ yếu tại lượng thâm thiển

                     35.   Tự cương duy thánh thể càn nguyên

   36.   Ngu thần thiết nguyện sách nô kiển (2).                            

Tự Đức nhị thập bát niên, chính nguyệt, nhị thập nhật, thần Nguyễn, phụng ứng chế (a).

          (1) Cát Bà, Đồ Sơn?

          (2) [kiển? trại?].

VŨ ĐỨC SAO BIỂN

phiên âm

                                                      (và trích dịch ở bài giới thiệu)

   NGUYỄN TÔN NHAN

                                                               phiên âm và dịch nghĩa

62

SÁNG SỚM NGUYÊN ĐÁN, THEO TUẦN

PHỦ QUẢNG YÊN (1) HỒ TRỌNG LIỄN (2)

[QUA] NGỰA [TRẠM] ĐỆ TRÌNH TẬP TÂU

[VỀ VIỆC] QUAN QUÂN DẸP YÊN Ổ PHỈ

[TẠI] PHÙ LONG (3), NHÂN [ĐÓ] GHI CHÉP

[LẠI] VIỆC ẤY

1.   Vua ta vỗ về [giặc] ấy [để tình hình yên ổn],

                  lường liệu, châm chước giữa khoan thứ

                           [và] nghiêm khắc

Đạo Trời, âm [và] dương cùng [tác động] lẫn nhau, hiển hiện hoặc ẩn kín

[Sự] oai nghiêm lạnh lùng vừa xua đuổi mùa đông trước [tháng] cuối [năm]

Ánh sáng mùa xuân đã [tỏa] khắp, [mọi] người cùng ngẩng mặt mà trông

5.   [Việc] sửa trị [một cách] ngay thẳng vạn điều (phép tắc) [cho] đúng đắn, mới mẻ, sáng sủa

Ma quỷ tan hết, ánh ngày [của] bầu trời tươi sáng

Sắp hàng ngang [ở] triều, [các quan] lạy mừng, áo mão quan viên nghiêm chỉnh

Bất chợt, nghe tin báo về, tấu trình [đã] bình định bè đảng giặc phỉ

Bỗng ngựa [trạm] (4) đệ trình cái ống tre [đựng công văn của tỉnh] Quảng Yên (3)

10. Vui mừng thấy kẻ bề tôi [ở] biên ải trình bày

                                               chiến công

Ngẩng mặt suy tưởng (= kính nghĩ), triều đình trao cho kế sách [để] làm xong việc [dẹp phỉ]

Vừa đúng gặp được vận tốt [nên] mới hưởng sự vẻ vang (thông đạt)

Phía đông biển nước ta với [biển nước] Thanh (5) [ranh giới] liền [nhau] (6)

Một dải [đất], loại cây cỏ leo bò [trên đất], bùn sình [cùng liền], liền [cả tiếng] chuông sâu lắng

15.  Quan lại [nhà] Thanh tính hết kế [vẫn để tình] láng giềng thành ao, lạch (hang hốc)

Cá ao, không nguyên cớ (vô cớ), gặp phải

                                            sự hung ác kia (7)

Tướng [nước] Thanh hai lần vào [trận], không [một] tấc (8) hiệu quả

Ngại [trước] khó khăn, cuối cùng, [chính việc] ấy [đã] để sót bọn giặc cướp bóc

Hang cá kình, hang thỏ, mở (đào) ra [nơi] chìm khuất (hầm ngầm)

20. Năm qua, dân biên ải đi ngang [phải] đắng [cay],

                                                               náo động

Đức [của] vua Thuấn (9) [hóa ra là] sự lừa dối đủ [cách], mê mờ ấy là tỉnh táo!

Từ phía tây, từ phía đông không còn cả dự dạy dỗ [dù chỉ dạy dỗ bằng] tiếng nói!

Vì sao tranh đoạt [từng] cái hang, [từng] cái sân,

        [từng] bức bình phong? [Sự việc này đã được] ghi khắc sâu đậm

Khó thay đổi được tâm địa chúng mày, gương mặt [hay hình tượng (10)] chúng mày

25. Sư đoàn (quân lính) [lần lượt thay phiên theo]

                   chu kì (11) cớ sao lại ngừng việc giết sạch

                                       bọn đầu đàn (thủ lĩnh của phỉ)?

Một chiếc trống Phù Long [cũng là] muôn vàn [thế trận] hiểm độc xô lấp [hang ổ ở núi]

Tướng võ vâng mệnh lệnh [vua ban], không còn quân địch vững mạnh

Oai linh [của] giọng tiếng, sự rửa [hờn] hừng hực lửa, công lao chiến đấu bậc nhất [của tướng sĩ ta]!

Ghi chép công lao lại đúng dịp tiến hành điển

                                    lễ vui mừng (12)

30. Hễ là [người thuộc vào] hàng trăm quan võ bề tôi, [được] báo cho biết để ra sức

Ai bảo sóng lớn không có thể loại bỏ

                                   (làm êm lặng) được?

Vạn dặm biển trùng trùng sắp sửa cuốn sạch tất thảy [bọn giặc đầu sỏ]

Đi qua – trở lại [theo lẽ âm dương tuần hoàn], cái máy chuyển hóa (: máy huyền vi) (13), [trong] chớp mắt, [trong một nhịp] hơi thở, [sẽ] chuyển xoay

Cùng với cái máy [tạo hóa] (13), [việc] trọng yếu còn [phải] đo lường nông hay sâu

35. Tự mình [ở] chỗ giới hạn [của mình mà] suy nghiệm:

                  thánh thể (14) [nhà vua là] khởi đầu

                                  của quẻ Càn (15)

36. Kẻ bề tôi ngu muội (16) trộm mong mỏi

              [tự] thúc roi con ngựa xấu chậm chạp.

          (1) Tỉnh Quảng Yên thời Nguyễn, nay thuộc Quảng Ninh.

          (2) Hồ Trọng Đỉnh (xem ĐNTL.CB., sđd., tập 33, tr. 159).

          (3) Phù Long (tên một hòn đảo), thuộc tỉnh Quảng Yên xưa (xem ĐNNTC., tập 4, sđd., tr. 32).

          (4) Ngày xưa, để đưa công văn và tiện cho nhiều việc khác của nhà nước phong kiến, người ta thiết lập các trạm dọc đường, phương tiện là ngựa, gọi là ngựa trạm.

          (5), (6) Biển Bắc Bộ, ngoài khơi xa, có hải phận của đảo Hải Nam thuộc Trung Hoa. Trung Hoa bấy giờ là Đại Thanh.

          (7) Cách nói ẩn dụ: nhân dân ta (cá ao) trước hiểm hoạ là bọn giặc phỉ, tàn dư Thái Bình thiên quốc Tàu.

          (8) Tướng Thanh: Phùng Tử Tài, Đảng Mẫn Tuyên... Một tấc thước ta: 4 cm; tức là một chút, một tí...

          (9) Vua Thuấn: vua nhà Ngu bên Tàu, thời cổ xưa. Ở đây là chỉ quân Thanh với ý mỉa mai.

          (10) Chỉ bọn giặc Cờ (tàn dư của Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Hoa). Xin xem chú thích (2) bản dịch nghĩa bài 4. 

          (11) Vua Chu? Chữ “chu” là chu kì? Với nghĩa nào cũng nhằm chỉ quan quân thuộc triều Nguyễn nước ta. Vua Chu, thuộc cổ đại Trung Hoa, vốn là biểu tượng cho minh quân, được lí tưởng hóa.

          (12) Dịp mừng xuân Ất hợi, 1875 [xem chú thích (2) phía trên]. Dịp này, Tự Đức có làm một bài thơ về chiến thắng ở Phù Long.

          (13) Quan niệm về tạo hóa của nho sĩ ngày xưa. Nguyễn Gia Thiều trong Cung oán ngâm khúc đã từng viết về “cơ trần”:

          “Máy huyền vi đóng mở khôn lường...”

                                                 (CONK., d. 50)

          “Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán...”

                                                 (CONK., d. 73)

          “Cái quay búng sẵn trên trời...”

                                                 (CONK., d. 91)

          Ở đây, nhà thơ Nguyễn Văn Tường quan niệm theo lẽ biến dịch âm – dương của Kinh dịch, một quan điểm biện chứng Phương Đông (xem lại câu 1, 2).

          (14) “Thánh thể” (thân thể của bậc thánh, thần), từ tụng xưng quy ước về “lễ” (một giềng mối lớn, thường hằng, trong tam cương, ngũ thường). Đây là “lễ” trong cách xưng hô trước “thánh thượng”, “thiên tử” của kẻ bề tôi (hạng tôi tớ) (!). “Trẫm”, lại là đường chỉ khâu áo giáp cho binh tướng.

          (15) Quẻ Càn tượng trưng cho Trời, ở đây chỉ nhà vua. Xem chú thích (14), bên trên.

          (16) “Ngu thần”, từ tự khiêm xưng của quan lại trước vua. Các kẻ sĩ, quan chức nho giáo còn dùng các từ như “bỉ nhân” (kẻ quê mùa), “thiểm” hoặc “thiểm chức” (người làm quan biết nhục nhã, xấu hổ) khi nói với kẻ dưới phận, dưới chức, so với bản thân. Đó là tập quán văn hóa ở Đông Nam Á. [Xem TĐTV., sđd., tập hạ, tr. 404].

             (a) Lời tác giả Nguyễn Văn Tường cuối bài thơ:

          “Ngày 20 tháng giêng, năm Tự Đức thứ hai mươi tám [1875, Ất hợi – nbs.], thần: Nguyễn, kính cẩn đáp lại bài thơ vua làm”.

62

SÁNG SỚM ĐẦU NĂM, THEO TUẦN

PHỦ QUẢNG YÊN HỒ TRỌNG LIỄN

(ĐỈNH) VỚI CÁC TẬP TẤU SỚ

ĐỆ TRÌNH QUA NGỰA TRẠM VỀ VIỆC

QUÂN BINH DẸP YÊN Ổ PHỈ TẠI PHÙ

LONG, NHÂN ĐÓ GHI CHÉP LẠI

VIỆC ẤY

                      1.   Vua vỗ yên giặc, khoan và nghiêm

Đạo trời âm dương, kín và rõ

Trước chạp, oai lạnh đã xua đông

Ánh xuân vốn rộng, dân ngẩng trông

                      5.   Sửa trị vạn điều, đúng, mới, sáng

Ma quỷ hết sạch, ánh trời tươi

Lệ triều lạy mừng, nghiêm áo mão

Chợt nghe tin thắng, giặc vỡ rồi!

Bỗng ngựa dâng ống, tấu Quảng Yên

                     10.   Vui thấy chiến công quân vùng biên

Ngẩng suy, Triều đình trao kế dẹp

Vừa gặp vận tốt, vinh nối liền

Nước ta biển đông kề biển bạn

Chung ngọn cỏ bùn tiếng chuông chung

                     15.   Thanh cạn, láng giềng thành hang hốc

Cá ao vô cớ gặp ác ngông!

Tướng Thanh hai lần không chút thắng

Ngại khó, rốt cùng sót giặc cắn

Hang kình lỗ thỏ, cướp phục hầm

                     20.   Năm trước qua ải, dân khóc đắng!

Đức Thuấn lắm lừa?! Mê là tỉnh!

Vắng tiếng dạy khuyên, đông sang tây

Sao tranh sân, rào? Đành khắc đậm!

Khó đổi dạ mày, khuôn mặt mày!

                     25.   Quân ta hoãn diệt đầu mục sao?

Tiếng trống Phù Long muôn hiểm:

                                           Nhào!

Tướng võ tuân lệnh, hết giặc mãnh

Oai giọng, rửa hờn, lừng công cao

Ghi công đúng dịp mừng khánh lễ

                     30.   Trăm quan được rõ, thêm mạnh kế

Ai bảo sóng to không thể êm?

Bể vạn dặm cuốn cùng sạch bể!

Qua – lại, máy huyền, chuyển chớp mắt

Thế cơ, lẽ trọng ở nông sâu

                     35.   Nghĩ trong giới hạn: Càn – thánh thể

                     36.   Tôi mong quất tôi, ngựa đua lâu (a).                                       

TRẦN XUÂN AN

chuyển lại thơ

          (a) Xin xem cuối phần chú thích của bản dịch nghĩa bài này.

Bài 63

CUNG HỌA NGỰ CHẾ: ĐOAN NGỌ

VÃN PHIẾM CHU HÀNH HẠNH

TƯ HIỀN TẤN

                Phụng châu phê:

       “Cận lai học tiến, khả hỉ.

        Khâm thử!” (a)

                   Huân phong vãn tống thủy sơ bình

                   Tam cổ thiên sưu (tao) phóng trạo hành

                   Chính vị duyệt phòng môn tỏa trọng

                   Phi quan cạnh độ phiến phàm khinh

                   Tà dương thiên ngoại vân phong họa

                   Tân nguyệt giang đầu kính hạm minh

                   Chu tiếp tàm vô thương bật trợ

                   Thừa (b) phong thượng kí phấn bằng trình.

Phụng châu phê:

“Chí khí sở vị lão nhi ích tráng” (c).

(b) Phụng châu điểm.

VŨ ĐỨC SAO BIỂN

phiên âm...

       NGUYỄN TÔN NHAN

     phiên âm và dịch nghĩa

63

KÍNH HỌA THƠ NHÀ VUA LÀM: CHIỀU TỐI

NGÀY ĐOAN NGỌ (1), ĐI DU THUYỀN THEO

CUỘC ĐI THĂM CỦA HOÀNG ĐẾ ĐẾN CỬA

HẢI PHÒNG TƯ HIỀN (2) (a)

Gió lành buổi chiều hôm đẩy đưa [dòng] nước bắt đầu lặng lờ

Ba hồi trống, ngàn (3) chiếc thuyền buông [xuống nước vạn] mái chèo [để] khởi hành

Sự đúng đắn, [ấy là] tiến hành việc khám duyệt [đồn ũy] phòng thủ, [những] chốt khóa cửa [biển] – [các việc vốn được coi là] hệ trọng

Cái sai lầm, [đó là] quan hệ cạnh tranh [ở] việc vượt sông, [các] cánh buồm – [những việc thuờng bị xem] nhẹ! (hoặc: chẳng quan hệ gì đến chuyện đua bơi [mà] cánh buồm [nhẹ] lướt)

Vầng dương lặn (tàn, úa) ngoài trời, mây [và] ngọn núi [như] vẽ tranh

Mặt trăng mới mọc (hoặc: trăng non) đầu sông, [tấm] gương [và] thuyền binh [cơ hồ tự] tỏa sáng

Thuyền, mái chèo thẹn thùng không luận bàn giúp đỡ [việc chèo chống: việc nước]

Theo (b) gió, ngõ hầu ra sức phấn kích đường [bay] chim đại bàng (c).

          (1) Đoan ngọ (đoan dương: mặt trời ngay thẳng, chiếu thẳng): 5 tháng 5 âm lịch.

          (2) Tư Hiền, thuộc Thừa Thiên (xem ĐNNTC., tập 1, sđd., tr. 175 - 177).

          (3) Ngàn, vạn (các con số tượng trưng): nhiều lắm.

             (a) “Kính vâng [chép lại] lời phê bút son đỏ [của vua]: “Gần đây, học tập [có] tiến bộ. Đáng mừng. Kính theo đó””. Đúng là lời phê của đế vương!

             (b) “Kính vâng [nhận] nét điểm bằng bút son đỏ [của vua]”.

             (c) “Kính vâng [chép lại] lời phê bút son đỏ [của vua]: “Chí khí – điều ấy nói lên [rằng] – cứng bền (già) mà càng thêm mạnh mẽ (trai tráng)””.

63

“CHIỀU TỐI NGÀY ĐOAN NGỌ, ĐI DU

THUYỀN THEO CUỘC ĐI THĂM CỦA

HOÀNG ĐẾ ĐẾN CỬA HẢI PHÒNG TƯ

HIỀN” (a)

                                        Kính họa thơ hoàng đế Tự Đức

                   Chiều tiễn, nồm ru, nước lặng ngày

                   Trống ba, ngàn chiếc phóng chèo ngay

                   Khám đồn, bảo đúng: then sông tỉnh

                   Tranh vượt, nhìn sai: buồm lái say

                   Nắng xuống ngoài trời mây núi vẽ

                   Trăng non đầu sóng ánh thuyền lay

                   Lái dầm, những thẹn không lo giúp

                   Bừng sức gió (b) nhân, bằng vút bay (c).                                         

TRẦN XUÂN AN

          chuyển lại thơ

          (a), (b), (c) Xin xem cuối phần chú thích của bản dịch nghĩa bài này.

Bài 64

HÀ TRUNG ĐẠO TRUNG TÁC

                   Thập lí huân phong phất hạm khinh

                   Giang sơn toàn bức nhãn tiền trình

                   Quần (a) phong nam củng thần kinh tráng

                   Chúng thủy đông triều hải lượng hoằng

                                                                    (hoành)

                   Tuần nhạc cửu đồng chiêm Thúy Lĩnh

                   Thao sư hà tất tạc Côn Minh

                   Thần du tận thị ưu dân kế

                   Đáo xứ hương bồn giáp (1) đạo nghinh.

          (a) Phụng châu điểm.