NHO GIÁO
TRONG TƯƠNG LAI PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Phạm Duy Nghĩa (*)
Nho giáo, “một cái nhà đẹp, lâu
ngày không ai sửa sang, đến nỗi bị cơn gió bão đánh đổ bẹp xuống”
[14, tr.7], tưởng như đã hoang tàn vụn nát trước đủ luồng triết lý
Tây phương, liệu có còn giá trị đáng kể gì trong cuộc kiến thiết hệ
thống pháp luật Việt Nam. Một câu hỏi lớn, chắc sẽ còn day dứt người
đương thời và các thế hệ con cháu mai sau. Bài viết dưới đây bước
đầu nghiên cứu vai trò và giới hạn của pháp luật trong những phương cách
tác động đến thói quen hành xử của con người, sự tương tác giữa
các phương pháp của Nho giáo và phương pháp điều chỉnh của pháp luật,
cũng như đưa ra một vài thiển ý góp phần làm cho pháp luật nước ta ngày
càng gần hơn với cuộc đời.
I. Đi tìm một chủ thuyết cho pháp
luật Việt Nam đương đại
Các giáo trình nhà nước và pháp luật
đại cương ngày nay thường hối hả phổ biến những phương thức tổ chức
kinh tế, xã hội từ Cộng sản Nguyên thuỷ, xã hội Nô lệ, xã hội Phong
kiến, xã hội Tư bản, xã hội Xã hội Chủ nghĩa và tiến tới Cộng sản
Chủ nghĩa, thậm chí có lúc “cố gọt bỏ thực tế của dân tộc
mình để làm sao nhét nó vào được cái khuôn khổ đã có sẵn ấy”
[16, tr.14]. Từ thuyết đó, nảy sinh ra các kiểu nhà nước, các kiểu pháp
luật. Khi cắt nghĩa nhà nước và pháp luật, người ta dựa vào triết lý
pháp quyền phương Tây, mà không bắt nguồn từ triết lý sống của người
Việt Nam về vũ trụ, con người và xã hội. Có những tư duy mới được
vay mượn vào nước ta, ví dụ “nhà nước pháp quyền”, nếu chưa biết
quy nạp vào đâu, thì cứ theo công thức sáo mòn ấy, không ít người suy
luận bừa rằng đó cũng là một kiểu nhà nước. Tuy nhiên giới học thức
đúng đắn đã bắt đầu tỉnh ngộ; “pháp luật không chỉ là công cụ”
trong tay người cầm quyền [5, tr.177].
Nếu cứ theo khuôn khổ đó, thì điều
gì là riêng biệt trong lịch sử phát triển nhà nước và pháp luật Việt
Nam. Bên cạnh nền văn hoá Trung Hoa, nền văn hoá pháp luật Việt Nam có những
đặc sắc gì? Hết thảy những điều này đều cần có lời giải đáp, bởi
con người hành xử theo thói quen, tập tục, bản tính, tâm thức của dân
tộc mình. Sau chiến tranh lạnh, ý thức hệ tư tưởng không còn là hố ngăn
con người. Tự do thương mại toàn cầu làm cho pháp luật được hài hoà
hoá ngày càng nhanh. Trong bối cảnh đó, níu giữ lấy bản sắc văn hoá
dân tộc, trong đó có văn hoá pháp lý, trở nên hệ trọng, hệt như giữ
lấy sự độc lập quốc gia trước sự xâu xé của thực dân trong thế kỷ
XIX. Muốn giữ quốc tuý và rửa nhục nghèo nàn cho đất nước, mượn cách
nói của cụ Lương Văn Can (bảo quốc tuý, tuyết quốc sỉ), người học
luật nước ta trước hết phải hiểu và tìm cách tôn vinh văn hoá pháp
lý và triết học pháp quyền của dân tộc mình.
Con người suy nghĩ như thế nào thì
hành xử như vậy. Muốn hiểu luật pháp và cách thức tổ chức xã hội
Việt Nam, phải hiểu lịch sử hình thành tư tưởng Việt Nam. Chỉ có như
vậy mới giải thích được cái mà người Việt Nam tôn kính, yêu quý, căm
ghét hoặc sợ hãi; mới hiểu cung cách mà người Việt Nam tổ chức các
sinh hoạt của mình - cung cách sinh hoạt đó chính là văn hoá [1, tr.13]. Tư
tưởng của người Việt Nam có thể tạm phân chia thành hai loại:
(i) tư tưởng bình dân, hình thành trong nếp nghĩ của nhân dân, được
truyền lại cho hậu thế bằng đủ loại văn hoá dân gian, (ii) tư tưởng
hàn lâm, bác học, được xây đắp nên bởi những người am hiểu chữ
nghĩa. Những tư tưởng truyền thống đó phải được nghiên cứu và truyền
lại cho con cháu, trước khi vay mượn học thuyết của dị chủng.
Nho giáo là một trong những nền tảng
quan trọng hình thành nên tư tưởng của người Việt Nam. Có người xem
Nho giáo như một thứ tôn giáo và cho rằng văn hoá nước ta chịu ảnh hưởng
của tam giáo (Phật giáo, Lão giáo, Khổng giáo) [1, tr.202]. Thực ra, Nho
giáo không phải là một thứ chủ nghĩa, một ý thức hệ, bởi Khổng Tử
không phải là người phát kiến ra thứ tư duy đó. Nho giáo cũng không phải
một thứ tôn giáo do Khổng Tử làm đạo trưởng, kiểu như Thiên chúa
giáo của Chúa Giê-su. Nho giáo là một cách sống, một triết lý sống mà
theo nó thì con người cảm thấy thoải mái, thái bình: từ chuyện nhỏ
trong gia đình, trong dòng họ, chuyện ngoài làng cho tới quốc gia đại sự.
Thứ triết lý này đã là nền tảng cho xã hội Việt Nam từ hàng nghìn năm
nay; đã đi sâu vào tâm thức người dân, sâu thẳm và tự nhiên đến nỗi
“không có dấu vết nào của văn hoá Việt Nam... mà không có tính chất
Nho giáo” [11, tr. 209].
Trong quá trình phát triển, mỗi thời
đại có cách hiểu riêng về Nho giáo, có nhiều trường phái Nho giáo khác
nhau, từ Nho giáo Nguyên thuỷ, Hán nho, Đường nho, Tống nho, Tân nho, Cựu
nho, Hàn Nho (Nho giáo Hàn lâm) và Nho giáo dân gian... tuy nhiên trong cái vạn
biến đó chắc phải có những cái gốc rễ bất biến [15, tr. 126]. Thêm nữa,
với tính cách là một tư tưởng sống, Nho giáo, đặc biệt Tống Nho, đã
thu nạp triết lý của Phật giáo, Lão giáo và tín ngưỡng bản địa, tích
tụ lâu ngày mà thành một đạo đức sống. Người Nhật, người Hàn, Hoa
kiều, (và bây giờ là người Hoa trong đại lục) đã và đang làm giàu cho
đất nước của họ, mà không muốn phá vỡ triết lý sống cổ truyền
này. Khi đã trở thành tư tưởng, tâm thức một dân tộc, thì dù có bị
phủ nhận, Nho giáo vẫn sống dai dẳng trong cách suy nghĩ và ứng xử của
người dân. Bởi vậy, học lại triết lý truyền thống để giải thích
nhà nước và pháp luật chính là học cách suy nghĩ cổ truyền của ông
cha để cắt nghĩa những hiện tượng thời nay. Đây chính là một điểm
then chốt làm cho pháp luật trên giấy trở lại ngày càng gần hơn với những
suy nghĩ và nguyện ước của người dân, chỉ có như vậy luật pháp mới
sống lâu bền trong tâm thức nhân dân. Nếu không làm như vậy, mọi tư
tưởng vay mượn từ bên ngoài rồi sẽ bị lãng quên như cơn mưa bụi
trong lịch sử nghìn năm văn hiến.
Sự hoang tàn vụn nát của Nho giáo
trước đủ luồng triết lý Tây phương có nhiều nguyên nhân sâu xa; có thể
bắt đầu bởi phong trào Tây học, lẫn lộn giữa văn minh và văn hoá
trong khi Nho giáo “ngơ ngác không biết làm thế nào” để theo kịp văn
minh phương Tây [14, tr.7], cũng có thể bắt đầu bằng phong trào dùng chữ
Quốc ngữ của các nhà cách mạng, vô tình mà tạo ra cái hố sâu thẳm
làm cho con cháu không còn đọc được gia phả của tổ tiên. Thêm nữa,
tuy không rộ lên phong trào chống Nho giáo và bài bác Khổng Tử gay gắt như
đã xảy ra ở Trung Quốc sau cách mạng Tân Hợi [16, tr.6-10], song trên thực
tế Nho giáo đã mất đi vai trò của một chủ thuyết tư tưởng để tổ
chức xã hội ở nước ta. Đôi khi người ta chỉ vay mượn cách nói cũ của
Nho giáo để tuyên truyền tư tưởng chính trị mới vay mượn từ phương
Tây. Chỉ mới gần đây, Nho giáo mới được nghiên cứu trở lại ở nước
ta, hầu như là sự quay về nguồn gốc một cách tự phát theo bản năng
[8]. Điều này thật đáng hổ thẹn, bởi thậm chí văn minh phương Tây
ngày nay cũng tăng cường nghiên cứu văn hoá phương Đông; các cơ sở nghiên
cứu Nho học nhan nhản từ Âu sang Mỹ báo hiệu một sức hấp dẫn kì lạ
của triết lý sống phương Đông trong thời buổi hiện đại ngày nay.
II. Nội tỉnh và thuyết chính danh:
Phương cách điều chỉnh hành vi của Nho giáo
Giống như mọi triết lý phương Đông
khác, con đường nhận thức, khám phá và chinh phục các quy luật của thế
giới bên ngoài bắt đầu bởi những bước đi hướng vào nội tâm để tìm
lấy sự hài hoà giữa cá nhân và vũ trụ. Theo sách Trung Dung, “trời sinh
ra người phú cho cái tính, mà thể theo cái tính ấy làm đường lối cư xử
hàng ngày, gọi là đạo. Bởi khí chất bẩm sinh tính tình mỗi người một
khác nhau, kẻ quá thái người bất cập, dạy tu sửa cho thích trung gọi
là giáo. Nếu con người đã sửa được tính tình, thì khi mừng, lúc giận,
lúc yêu thương khi chưa phát thường giữ được trung bình, mà khi phát ra
có tiết độ thường giữ được ôn hoà. Trung là tính không thiên lệch
làm căn bản cho lẽ phải, hoà là không trái ngược làm đường lối thông
cho cả thiên hạ, cho nên đạo Khổng là đạo trung dung” [2, tr.20].
Triết lý sống theo Nho giáo, về cơ
bản dựa trên ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; mà căn bản là
chữ nhân. Như hạt trong quả cây tàng trữ sinh lực, từ hạt mà mọc ra mầm
ra cành ra lá, nhân tính quyết định diện mạo và hành vi con người. Sáng
tạo ra chữ nhân, Nho giáo đã tìm ra một điểm tựa mà bẩy một phần lớn
xã hội loài người theo xu hướng ổn định, hoà bình và hướng thiện.
Chữ nhân hẹp mà rộng, thấp mà cao, vừa đủ với cho mọi hạng người;
cả đời người theo Nho học có lẽ cũng chỉ truy tìm những giá trị của
chữ nhân mà thôi.
Trước hết, chữ nhân có thể sơ
hiểu là yêu người - một chữ hợp ý, gồm chữ nhân (người) và chữ nhị
(hai) tạo thành; trong nhà yêu bố mẹ, anh em vợ chồng, ra ngoài yêu đồng
bào, trong hành xử không nỡ hại ai. Điều gì không muốn ai làm cho mình
thì không nên làm cho ai (kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân). Vì nhân là
“yêu người, yêu vật, có lòng bác ái, coi nhau như anh em, cả vũ trụ
như nhất thể, lòng yêu lòng muốn đó rất tự nhiên không miễn cưỡng,
cho nên người có nhân là có an, lúc nào cũng tự nhiên, ung dung, trúng đạo
trong lòng yên lặng hành xử ra ngoài thì thiên lý chí công chí thiện”
[14, tr.82-83]. Người không có nhân (bất nhân) thì không an được.
Chữ nhân cũng có nghĩa là rộng lượng
với mọi người, hiểu biết để có thái độ đúng trong mọi hoàn cảnh,
dũng cảm để nhận trách nhiệm, giữ mình đúng lễ [9, tr.20]. Nói cách
khác, điều tiết ham muốn, giữ mình theo lễ là gọi là nhân (khắc kỉ
phục lễ vi nhân).
Người quân tử khi ăn, khi mặc, khi
suy nghĩ, phát ngôn và hành xử không được trái nhân; vội vàng cũng phải
theo nhân, hoạn nạn cũng phải theo nhân. Vì thường xuyên giữ mình theo lễ
trong mọi sinh hoạt hàng ngày như vậy, Nho giáo được thực hành chẳng
khác gì một tôn giáo; đức tin và kỷ cương đó có lẽ đã góp phần
hình thành diện mạo Nho sĩ thời xưa mà ông Nguyễn Khắc Viện cho là “vừa
xa lạ, vừa kính trọng”: ung dung, khoan thai, nhàn nhã. Gốc của văn hoá
pháp luật phương Tây là Thiên chúa giáo, thì không thể chối bỏ cái gốc
của văn hoá pháp luật phương Đông là Nho giáo.
Thời Xuân Thu, Khổng Tử thường chú
trọng vào chữ nhân, cho đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đề cao chữ
“nghĩa”. Theo ý đó, “nghĩa” là điều đáng làm giữa cá nhân
và cộng đồng, là biết sống thành tâm, biết tiết độ dục vọng cá
nhân mà giữ khuôn phép, biết xấu hổ, biết xám hối để kìm chế thói
xấu [6, tr.6]. Đạo làm người quý nhất là nhân với nghĩa, dẫu đến bậc
vua có quyền thế mà không có nhân nghĩa cũng khinh, không thấy người sang
giàu mà muốn, không thấy mình nghèo hèn mà sợ [14, tr.241].
Nếu Mạnh Tử cho rằng những đức
tính tốt vốn có sẵn trong con người ta, chỉ cần khơi dậy và vun đắp,
thì Tuân Tử lại cho rằng “nhân chi tính ác“, [14, tr.298]. Bởi vậy ông
này chú trọng vào lễ; phép tu thân theo Tuân Tử chủ yếu là “khắc kỉ
phục lễ”: khắc chế dục vọng của bản thân để nhất thiết mọi suy
nghĩ, nói năng, hành vi đều hợp với lễ. Lễ là đối với kẻ quý thì
kính, đối với kẻ già thì hiếu thảo, đối với kẻ lớn thì thuận, đối
với người trẻ thì từ, đối với kẻ hèn thì có ân huệ [Tuân Tử, Đại
Lược]. Lễ là cẩn thận trong mọi hành vi, từ ăn mặc đến lời nói.
Theo Tuân Tử, trọng lễ quý nghĩa thì nước trị, giản lễ rẻ nghĩa thì
nước loạn. Các nhà trường thời nay vẫn núp dưới khẩu hiệu “tiên học
lễ, hậu học văn”, học lễ nghĩa là học đạo đức, học làm người
theo quan điểm trọng lễ bắt đầu từ Tuân Tử.
Lý thuyết của Tuân Tử về chính
trị tuy không trọng hình pháp, song vì đã theo cái thuyết tính ác thì cái
kết quả tự nhiên tất phải trọng hình pháp. Theo Tuân Tử, ai cũng quý
nghĩa và lợi, nhưng phải có trí để suy sét. Hàn Phi và Lý Tư đều theo
học Tuân Tử, Hàn Phi vì có trí tuệ phi thường, lại chịu ảnh hưởng
tư tưởng trọng lễ của Tuân Tử, từ lễ đó mà cực đoan hoá thành
công thức pháp luật và lấy “hình danh” làm thước đo trị nước.
Tóm lại, Nho giáo là một nền tảng
cho sự tự tu tỉnh, tự tiết độ và giữ gìn liêm sỉ. tư duy trị nước
truyền thống. Nho giáo xem đạo đức là nền tảng cho chính trị
[7, tr.53]. Không phủ nhận vai trò của pháp luật trong giữ gìn trật tự
xã hội, song Nho giáo hướng tới nguồn gốc của sự bình an hơn là dùng
hình luật để đe doạ hoặc trừng phạt điều ác khi nó xảy ra. “Lễ
quý ở chỗ dứt được điều ác từ lúc chưa nảy mầm.. để cho dân
ngày ngày gần điều thiện, xa tội lỗi, mà tự mình không biết” [Đại
đái Lễ ký]. Bởi vậy, lễ có ý nghĩa giáo hoá, ngăn ngừa mầm mống bất
an, còn pháp luật có ý nghĩa thống trị, áp đặt của người cầm quyền,
mang tính cấm đoán. Khổng tử nói: “Lấy chính sự để dẫn dắt dân,
dùng hình phạt để thực hiện sự bình đẳng thì dân sẽ tránh hình phạt
nhưng không cảm thấy xấu hổ. Lấy đức để dẫn dắt dân, lấy lễ để
thực hiện sự bình đẳng thì dân biết xấu hổ và sẽ tốt” [Luận Ngữ,
Chương II, Vi chính].
Ngoài nội tỉnh, thuyết chính sách
cũng là một phương cách giáo dục căn bản của Nho giáo. Thuyết này được
Khổng Tử kín đáo bày tỏ trong kinh Xuân Thu và qua những ghi chép trong Luận
Ngữ: “Danh không chính thì ngôn không thuận, ngôn không thuận thì việc
không thành, việc không thành thì lễ nhạc không hưng, lễ nhạc không hưng
thì hình phạt không đúng, hình phạt không đúng thì dân không biết xử
trí ra sao cho khỏi hình phạt. Cho nên người quân tử chính danh thì tất
nói được, nói được tất làm được” [Luận Ngữ, Chương Tử Lộ].
Đằng sau ít chữ “vua ra vua, tôi
ra tôi, cha ra cha, con ra con” (quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử)
là tư tưởng duy trì một tôn ti trật tự, một xã hội có đẳng cấp và
phân chia ngôi thứ chặt chẽ. Từ gia đình mà tưởng tưởng ra xã hội,
người quân tử, theo nghĩa đen là người cầm quyền, phải được giáo dục
cực kỳ cẩn thận, lấy lễ và văn làm nội dung chính, lễ là đạo đức,
văn là học vấn [12, tr.223]. “Tề gia” có nghĩa là “gia đình hoà mục,
cha con, anh em, vợ chồng sống tình nghĩa thuỷ chung, người dưới phục tùng
người trên, người trên thương yêu chăm lo cho kẻ dưới” [13, tr. 81]. Muốn
vậy “cha ra cha”, có nghĩa rằng làm cha mẹ “lúc sống có chí hướng
đúng cho con cháu trông vào, lúc chết để lại hành vi tốt cho con cháu bắt
chước“ [Luận ngữ, Học Nhi]. Nghĩa của cha là từ, thì nghĩa của con là
hiếu. Cứ như thế, hành vi của con người được giới hạn bởi những
thước đo mà người ta cho là chính danh.
Tiếc rằng, khi trở thành học thuyết
của người cầm quyền từ đời Hán, Nho giáo liên tục bị xuyên tạc để
củng cố quyền lực của người giữ quyền cai trị. Hán Nho dường như gạt
bỏ mối qua lại giữa người trên và người dưới, chỉ nhấn mạnh thái
độ tuân thủ, phục tùng của người dưới đối với người trên. Tam cương
có lẽ do Đổng Trọng Thư sáng tạo ra từ thời đó [11, tr.185]. Chữ
trung, hiếu, tam tòng, tứ đức được bình luận đôi khi đến mức quái gở
(ví dụ về địa vị của người phụ nữ: ở nhà thì vâng lời cha mẹ,
cha mẹ đặt đâu thì ngồi đó, không được tự nguyện yêu đương và
hôn nhân, lấy chồng thì vâng lời chồng, chồng chết thì theo con). Từ năm
140 tr. CN nhà Hán mở khoa thi, từ đó việc học chỉ chú trọng vào mục
đích thi cử, chú trọng khảo cứu câu chữ, tầm chương trích cú mà mất
đi tính sáng tạo; Nho giáo vì thế mà dần trở thành bảo thủ, tự mãn,
chống lại đổi mới về kinh tế và chính trị. Bên cạnh những “khuôn
vàng, thước ngọc” giữ cho xã hội bình yên, Nho giáo cũng tạo ra gông
cùm và xiềng xích làm cho xã hội Việt Nam trở nên lạc hậu so với thế
giới bên ngoài. Điều trọng yếu là cần nhận diện rõ những phản động
lực đó và hạn chế tác hại của chúng, chỉ có như vậy Nho giáo mới
có ích cho đời sống ngày nay.
III. Nội Nho, ngoại Pháp: Một bản
sắc văn hóa pháp lý phương Đông
Theo quốc sử Trung Hoa, (năm 536
tr. CN) Tử Sản vua nước Trịnh ban hành Hình thư (sách ghi pháp luật), sau
đó Phạm Tuyên Tử (năm 513 tr.CN) vua nước Tấn sai khắc pháp luật vào
cái vạc là vật để nấu người có tội. Từ Quản Trọng, cho đến Hàn
Phi và Lý Tư, một tư tưởng trị nước bằng pháp luật đã hình thành từ
thời cổ đại, mà người ta quen gọi là trường phái pháp trị. Nhân trị
và pháp trị là hai trong vô số các luồng tư tưởng thời Xuân Thu- Chiến
Quốc, cuộc tranh luận của hai học phái tiêu biểu này đã góp phần hình
thành diện mạo của pháp luật các nước phương Đông chịu ảnh hưởng
của văn hoá Trung Hoa. Nước Tần theo tư tưởng pháp trị của Thương Ưởng;
từ những năm 350 tr.CN tiến hành tư hữu hoá ruộng đất, xoá bỏ độc
quyền của giới quý tộc; toàn dân làm hai việc sản xuất và chiến đấu,
có lẽ bởi vậy một trăm hai mươi năm sau (năm 227 tr. CN) nước Tần trở
nên hùng mạnh, Tần Thuỷ Hoàng thống nhất được thiên hạ.
Đọc những áng văn mà Hàn Phi (280
- 233 tr. CN), đại diện tiêu biểu nhất cho học phái Pháp trị viết
trong ngục tù và “sự đau khổ trí tuệ”, hơn hai nghìn năm sau, người
ta không thể không kinh ngạc về tư duy sắc sảo và những nhận xét còn
nguyên giá trị cho thời nay của con người uyên bác này. Theo Hàn Phi:
(i) pháp luật trước hết phải minh
bạch, “chỉ riêng có pháp luật minh bạch mới giúp ích cho sự thực hiện
một nền thịnh trị”
[4, tr.73];
(ii) pháp luật phải được áp dụng
nghiêm minh, “pháp là phép tắc hiệu lệnh rõ ra ở chỗ công, hình phạt
là để lòng dân quyết chắc mà theo. Ai giữ phép cẩn thận thì thưởng,
trái lệnh thì phạt” [3, tr.40].
(iii) pháp luật phải được áp dụng
công bằng từ người có quan tước đến thường dân, “pháp luật không
hùa theo người sang.. khi đã thi hành pháp luật thì kẻ không cũng không thể
từ, kẻ dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại
thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu” [3, tr.43],
(iv) nếu như thuyết “chính danh”
của Nho giáo nhằm củng cố giai cấp; thì thuyết “hình danh” của Hàn
Phi vô tình hay hữu ý nhằm xoá bỏ đẳng cấp, mọi người ngang quyền
trước pháp luật, “Căn cứ vào công việc mà xét kết quả. Nếu kết quả
phù hợp với việc làm, việc làm phù hợp với lời nói thì thưởng. Nếu
kết quả không phù hợp với việc làm, việc làm không phù hợp với lời
nói thì phạt” [3, tr.50].
Dù Tần Thuỷ Hoàng có cảm kích khi
đọc sách của Hàn Phi bao nhiêu, sau khi nhà Tần sụp đổ, học thuyết hình
danh của Pháp gia đã không thắng nổi thuyết nhân trị của Nho giáo. Lưu
Bang (Hán Cao Tổ) ngồi trên yên ngựa mà lấy được thiên hạ, song phải
dùng thuyết “ngoại Nho nội Pháp”- (bề ngoài dùng sự khôn khéo của
Nho, bên trong dùng hình pháp) của Lữ Gia để giữ yên thiên hạ. Bắt đầu
từ đây, một chủ trương lựa chọn, phối hợp những tư tưởng của Nho
giáo và Pháp giáo để trị nước đã xuất hiện. Cũng từ đó, tinh thần
Nho giáo thấm đượm trong pháp luật phương Đông. Nho giáo không phủ nhận,
không bài bác, song xem nhẹ việc dùng hình phạt nặng nề, xem nhẹ pháp luật;
xã hội được tổ chức theo triết lý nhân trị: lấy sự tự giáo
dục theo “nhân, nghĩa, lễ trí, tín” để làm nguyên tắc “tu thân, tề
gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Các nguyên tắc đạo đức của Nho giáo
được xây dựng và bồi bổ qua nhiều đời, đã thay thế một phần đáng
kể chức năng của pháp luật.
IV. Sáu lời bàn góp phần làm cho
pháp luật gần với lòng dân
Vì “dân vi quý, xã tắc thứ chi”,
luật pháp sinh ra không phải để phục vụ nền quan chế, mà trước hết
để phục vụ lợi ích nhân dân. Muốn vậy, theo thiển ý của tôi, có thể
xem xét sáu điểm dưới đây:
Thứ nhất, nếu pháp luật
gần với nhu cầu, mong ước và tiếng nói của người dân, người dân sẽ
vui vẻ tự nguyện tuân theo luật đó; khi ấy pháp luật gần với cuộc sống
và có hiệu lực cao. Ngược lại, nếu pháp luật trái với lẽ tự nhiên,
trái với dân nguyện, thì dù có dùng hình phạt nặng nề mà răn đe và cưỡng
bức, thứ luật đó tất sẽ bị số đông dân chúng đào thải. Khi đó,
cái gọi là hợp pháp thì trở thành ngoại lệ, cái bất hợp pháp trở
thành phổ biến. Như vậy làm cho pháp luật trở nên nghiêm minh chính là
làm cho pháp luật đại diện tiếng nói và lợi ích của nhân dân ngày một
tốt hơn. Sự thiếu luật, chồng chéo và mâu thuẫn giữa các văn bản luật
hoặc thiếu nhân viên công lực thi hành luật.. chỉ là những lý do mang
tính hình thức, tức thời. Điều quan trọng là phải làm cho tinh thần
pháp luật gần với tâm thức và nguyện ước của nhân dân. Nhân dân Việt
Nam là 80 triệu người, cần thiết phải có những thiết chế tập hợp
và đại diện quyền lợi đa dạng của họ. Từ đó sinh ra đoàn thể, hội
hiệp, tôn giáo, đảng phái... hàng vạn ngọn đuốc đó khơi sáng lên cái
gọi là ý chí nhân dân- một ý chí tối thượng buộc mọi quyền lực nhà
nước phải cúi xuống tuân thủ.
Thứ hai, nếu xem xét từ chủ quyền nhân dân,
dân là gốc còn nhà nước chỉ là công cụ (dân vi quý, quân vi khinh, xã tắc
thứ chi) - chứ nhân dân không phải là công cụ của nhà nước, thì cần
phải định nghĩa lại pháp luật và phương cách thi hành luật. Không chỉ
là những quy tắc ứng xử của con người được nhà nước ban hành, pháp
luật phải là ý nguyện của nhân dân được nói lên thành luật. Người
nói lên cái ý chí nhân dân đó không chỉ là cơ quan lập pháp dân cử,
mà còn là cơ quan tư pháp, đại diện cho nhân dân để phát ngôn ra công
lý và muôn vàn hội hiệp của nhân dân. Trong thời hiện đại, luật cứng
nhắc (văn bản do nhà nước ban hành) đang được thay thế bởi luật
mềm (vay chữ soft-law của phương Tây), do muôn vạn thiết chế xây dựng
nên; khi được công quyền thừa nhận, những quy tắc ứng xử này trở
thành luật. Bởi vậy, xây dựng và thực hiện pháp luật ngày nay không
còn là độc quyền nhà nước; lập quy và thực hiện quy ước phải là
công việc của toàn thể nhân dân. Chức năng của nhà nước là đảm bảo
cho quy trình lập và thực hiện quy ước đó diễn ra một cách tự do và
bình đẳng.
Thứ ba, từ quy tắc sống của cộng đồng
dân cư, tục lệ sinh hoạt theo họ hàng, hương ước của làng xóm, cho tới
văn bản lập quy của chính quyền địa phương các cấp, lợi ích đa dạng
của nhân dân cần được đại diện qua vô vàn các thiết chế và tổ chức
xã hội. Nghiệp đoàn và đảng phái là những tổ chức đại diện như vậy.
Đảng Cộng Sản Việt Nam là một tổ chức chính trị cầm quyền, tất
nhiên có một vị trí rất trọng yếu trong quy trình lập quy và thực thi
pháp luật hiện nay; dân giàu hay nghèo, nước mạnh hay suy một phần cơ bản
đều do đường lối của Đảng Cộng Sản. Các văn kiện chính trị của
Đảng là cơ sở hình thành nên luật pháp, các chính sách kinh tế - xã hội
đều được tiến hành trước hết dựa trên cơ sở các nghị quyết của
Đảng; cùng với thời gian chính phủ và các cơ quan nhà nước khác mới lần
lượt ban hành văn bản pháp quy để hướng dẫn thi hành đường lối đó.
Nói cách khác, ý chí chính trị của Đảng Cộng Sản hiện nay là tinh thần
chủ yếu cho pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, do kỹ thuật lập pháp còn chưa
đạt nên đôi khi việc chuyển hoá chúng thành văn bản pháp luật đôi khi
còn vụng về đến nỗi người ta vẫn nhận thấy sự nhầm lẫn và hoà
đồng giữa định hướng chính trị và quy phạm pháp luật.
Thứ tư, khi nhà nước nhường dần chức
năng kinh doanh cho dân doanh, giới doanh nhân dần sẽ trở thành một lực lượng
có sức mạnh tìm cách thao túng đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, và
đương nhiên họ tìm cách thao túng cả chính trị và pháp luật. Điều đó
là tất yếu, bởi doanh nhân cũng là nhân dân, thậm chí là một bộ phận
lãnh đạo, dẫn đầu xã hội trong việc tạo của cải và thịnh vượng
cho dân tộc. Thông qua nghiệp đoàn và các nhóm lợi ích, khi công khai, khi
ngấm ngầm, doanh nhân một mặt gây sức ép với chính phủ và các cơ quan
lập pháp, mặt khác có thể tìm cách thao túng cả tư pháp. Hiện tượng các
toà án địa phương ở Trung Quốc chịu sức ép của chủ nghĩa cát cứ địa
phương là một ví dụ cho xu hướng này. Bên cạnh đó, doanh nhân ngày
càng nhận thức được quyền tự lập quy và sử dụng công cụ này
để phản ứng nhanh chóng với thị trường và thay đổi của pháp luật.
Đây là một hiện tượng còn ít được đề cập trong luật học Việt Nam.
Bên cạnh pháp luật, các giao dịch
kinh tế trên thị trường bị chi phối một cách đáng kể bởi quyền tự
lập quy của doanh nhân. Nhà nước, từ vị trí chỉ huy, không hiếm khi đã
trở thành một đối tác trong quan hệ với doanh nhân. Giữa quy phạm
pháp luật và quy phạm tự lập của doanh nhân không chỉ là còn
sự phục tùng, mà tất yếu có sự cạnh tranh, chèn lấn và triệt tiêu lẫn
nhau. Cải cách pháp luật ở nước ta không thể không tính tới yếu tố
này: Nhà nước không thể làm thay doanh nhân việc nhận diện, đánh giá
và phân bổ rủi ro kinh doanh, song cần can thiệp một cách có hiệu quả để
bảo vệ lợi ích công trước sự lạm dụng thông tin bất cân xứng và lợi
thế cạnh tranh.
Thứ năm, không chỉ có các cơ quan dân cử mới
có quyền sáng tạo ra pháp luật, các cơ quan hành pháp từ chính phủ, các
bộ cho tới chính quyền địa phương các cấp đều có thẩm quyền lập
quy rất lớn. Đối với từng người dân, các quyết định của Uỷ
ban nhân dân các cấp, công văn, thông tư, chỉ thị của các bộ và nghị
định của chính phủ đôi khi có giá trị áp dụng thực tiễn sát thực
nhiều lần hơn là các đạo luật, vốn chỉ hàm chứa những quy tắc cách
chung chung. Đây là một thực tế tất yếu, không thể thay đổi được.
Điều đáng quan tâm là phải giám sát quyền lập quy đó để ngăn chặn lạm
quyền. Từ đây phát sinh ra nhu cầu hình thành cơ quan bảo hiến để huỷ
bỏ các văn bản pháp quy vi phạm hiến pháp (vi hiến), cũng từ đây phát
sinh ra toà hành chính để huỷ bỏ các hành vi vi pháp của cơ quan công lực.
Điều này không có gì mới, bởi cách đây hơn hai thế kỷ, người
phương Tây đã hiểu “chính quyền không phải là thánh thần”, họ đã
biết cách đi trước phương Đông trong việc phát minh ra các thiết chế
kìm chế và đối trọng công lực. Đáng tiếc thay, hai trăm năm sau, người
Việt Nam vẫn loay hoay chưa biết cách xây dựng và sử dụng hữu hiệu
các thiết chế này có lợi cho dân tộc mình.
Thứ sáu, đã khá muộn để bàn tới quyền
sáng tạo pháp luật của thẩm phán. Du nhập học thuyết pháp lý Xô viết,
cho đến ngày nay, thẩm quyền lập hiến, lập pháp thuộc về Quốc hội,
thẩm quyền giải thích pháp luật, về lý thuyết thuộc về Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, về thực tế thuộc về Chính phủ và các cơ
quan hành chính; các toà án Việt Nam chỉ có thẩm quyền áp dụng pháp luật,
mà không có quyền sáng tạo pháp luật, không có quyền giải thích luật.
Thói quen xem xét án lệ được du nhập từ thời thuộc Pháp, theo đó toà
cấp dưới buộc phải xem xét phán quyết của toà cấp trên như là luật
khi xét xử, giới học thuật cũng dựa vào án lệ mà xây dựng học lý,
đã bị xoá bỏ ở Việt Nam từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX. Toà
án Việt Nam hiện nay chỉ căn cứ vào văn bản pháp luật, chứ chưa tham
chiếu bản án của các toà án khác như án lệ. Tuy nhiên, hướng dẫn của
Toà án nhân dân tối cáo được đúc kết từ kinh nghiệm xét xử, phần
nào cũng có giá trị tham khảo đối với các toà án trong quá trình xét xử
và theo một nghĩa như vậy cũng có "hiệu lực" trong một phạm vi
nhất định.
Nếu công nhận toà án độc lập phán
xử, cần xem xét khả năng cho phép các thẩm phán quyền năng sáng tạo, vận
dụng, bình luận và giải thích pháp luật thích ứng với các tình huống
cụ thể. Chức năng giải thích pháp luật nếu được trao lại cho toà án
thì cũng không có gì là sai, bởi lẽ chỉ có cơ quan tư pháp mới có quyền
phán xử một hành vi là hợp pháp hay vi phạm pháp luật. Ngoài ra, khi
không có luật, thẩm phán cũng nên xem học lý và lẽ công bằng như
những loại nguồn phụ trợ của pháp luật. Khi không có luật, lệ thì thẩm
phán phải lấy lẽ phải và lẽ công bằng mà phán xử, chứ không “kính
chuyển” hồ sơ lên toà cấp trên và chờ đường lối xét xử được phán
từ trên xuống. Triết lý này xuất pháp từ quan niệm pháp luật không chỉ
bao gồm văn bản trên giấy, ngoài luật thành văn còn có luật của cuộc
đời, luật của lương tâm. Người thẩm phán tuyên án không giống như một
công chức ban hành một quyết định hành chính, mà góp phần làm cho luật
của lương tâm, lẽ phải trở thành luật của cuộc đời-thẩm phán đã
góp phần sáng tạo ra luật [nguyên chữ Latinh juris (luật), dicta (nói,
tuyên), hai chữ đó hợp thành jurisdiction mà ngày nay ta dịch là tư pháp].
V. Kết luận
Nhận thức về dân quyền đang dẫn
tới những cuộc cải cách tư pháp có thể làm thay đổi nền học lý cũ
về nhà nước và pháp quyền. Nhà nước của dân, do dân và vì dân đã
và đang thay thế cho nền chuyên chính vô sản, thủ tục tranh tụng
bình đẳng giữa công tố và luật sư dần thay thế cho đường lối xét
xử vì “sự thực khách quan”. Trong ngổn ngang các tư duy cải cách
đang bị cuốn trôi ngày càng nhanh giữa cơn lốc toàn cầu hoá, sừng sững
hiện lên một bến bờ thân thuộc: Nho giáo đã sống lâu đời trong tâm
thức dân tộc chắc chắn sẽ dẫn lối cho người Việt Nam tìm được sự
ung dung, thanh thản để tổ chức nền quan chế và pháp luật ngày càng phụng
sự tốt hơn cho lợi ích nhân dân. Người phương Tây đã sáng tạo ra
ngàn vạn sợi dây buộc công lực phải khuất phục ý chí nhân dân, những
công cụ đó cần được mau chóng du nhập, cũng như người dân nước ta cần
mau chóng học cách làm chủ mọi công cụ của thời đại không gian điện
tử. Song công cụ, dù tối tân tới đâu, cũng không thay thế được tư
duy và tư tưởng sống của dân tộc, không thể đem cái mà người phương
Tây tôn kính, căm ghét hay sợ hãi thay thế cho tâm thức dân tộc. Học lấy
ngọn mà bỏ gốc sẽ làm cho tâm lý sùng kính ngoại bang gia tăng, rạn nứt
giữa các thế hệ ngày càng lớn mà tinh thần dân tộc thì suy vong, một
dân tộc như vậy không thể mạnh. Nhà nước và pháp quyền của người
Việt Nam phải được giải thích và xây đắp bởi tư tưởng của người
Việt Nam, việc vay mượn văn minh phương Tây chỉ để bổ khuyết cho những
điểm khiếm khuyết, giúp người Việt Nam khuếch trương tinh hoa có sẵn
trong tư tưởng dân tộc mình. Nền quan chế và pháp luật Việt Nam phải
là sự kết nối của hàng ngàn năm văn hiến, chứ không thể bắt đầu bằng
một học lý vay mượn từ phương Tây./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- 1.
Đào
Duy Anh, Việt Nam Văn hoá Sử Cương, NXB Quan Hải Tùng Thư, Huế, 1938.
- 2.
Hà
Ngọc Xuyến, Khổng đạo tinh hoa toát yếu, Nhà văn hoá, Phủ
quốc khanh đặc trách văn hoá xuất bản, Sài Gòn, 1969.
- 3.
Hàn Phi, Hàn Phi Tử, Bản dịch
của Phan Ngọc, NXB Văn học, Hà Nội, 1992. Định Pháp XLIII, bản dịch
của Phan Ngọc, 1992.
- 4. Hàn Phi, Thiên Ngũ Đố, Bản dịch
trong tài liệu của Vũ Văn Mẫu, Pháp luật diễn giảng, Luật
khoa Đại học, Sài gòn, 1975.
- 5.
Nguyễn Đăng Dung, Một số vấn đề
về hiến pháp và bộ máy nhà nước, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội,
2001.
- 6.
Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử tư
tưởng Việt Nam, Tập I, Tập II, Bộ Văn hoá, Sài Gòn, 1967.
- 7.
Nguyễn Hiến Lê, Nho giáo: Một
triết lý chính trị, tác giả tự xuất bản, Sài Gòn, 1958.
- 8.
Nguyễn Kim Sơn, Nho giáo trong tương
lai văn hóa Việt Nam, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 2/2003.
- 9. Nguyễn Khắc Viện, Bàn về đạo
Nho, NXB Trẻ, TP HCM 1998, nguyên tác: “Confucianisme et Marxisme au Vietnam”
LA Pensee (1962) No 10, bản dịch Việt ngữ của Đào Hùng và Trần Văn Quý,
1962.
- 10.
Phan Đại Doãn, Một số vấn đề
về Nho giáo Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998.
- 11.
Phan Ngọc, Bản sắc văn hoá Việt Nam,
NXB Văn hoá Thông Tin, Hà Nội, 1998.
- 12. Phan Ngọc, Một cách tiếp cận
văn hoá, NXB Thanh Niên, Hà Nội, 2000.
- 13.
Trần Đình Hượu, Đến hiện đại
từ truyền thống, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1995.
- 14.
Trần Trọng Kim, Nho Giáo: Đại
cương triết học Trung Hoa, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1971, NXB TP Hồ Chí
Minh, TP. HCM, tái bản, 1992, NXB Văn hoá Thông tin tái bản, 2001.
- 15.
Trần Văn Giàu, Triết học và tư
tưởng, NXB TP Hồ Chí Minh, 1988, tr.126.
- 16. Vũ Khiêu, Nho giáo và phát triển
ở Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997.
CONFUCIANISM
AND THE FUTURE OF THE LAW IN VIETNAM
Dr. Pham Duy Nghia
Faculty of Law, Vietnam
National University, Hanoi
The article attempts to redefine the value
of Confucianism in the development of the concept of the law in Vietnam. As a set of
ethical rules governing the behaviors of people, Confucianism substitute and supports the
legal norms in keeping the society in order. Based on this research, the article raised
six issues and proposal helping to bring the written law in Vietnam close to the interests
of the Vietnamese people. |