posted: 13.8.2005
Vài Lời Nói Đầu.- “Ngay cả một vũ trụ hoàn toàn hỗn loạn, không có bất cứ một định
luật hay sự điều hòa nào, cũng có thể cho rằng đã được thiết kế bởi
một tên ngu đần.” (Even a universe that is completely chaotic,
without any laws or regularities at all, could be supposed to have been designed by an
idiot.) “Rất
nhiều DNA trong đó (những tế bào) không cần đến – chỉ là đồ vô dụng. Nếu đó là sự “thiết kế thông minh” [của Thượng đế] thì Thượng đế cần phải trở lại trường
học” (A lot of the DNA in there is not needed –
it’s junk. If it’s “intelligently
designed”, then God needs to go back to school) “Bất
cứ khi nào mà những người thuộc phái “thiết kế thông minh” tìm được
một điều mà các khoa học gia chưa thể giải thích được, họ đều la lên
“Thấy không!? Thấy không!?” [Hàm ý đó phải là do sự thiết kế
thông minh của Thượng đế] (Any time the “intelligent designers”
find a mystery that scientists can’t yet explain, they shout: “See!? See!?”) Phải
viện tới Thượng đế như là một quy tắc bao quát để giải thích những
gì chưa giải thích được là làm cho Thượng đế là bạn hữu của sự
ngu dốt. (To invoke God as a blanket explanation of
the unexplained is to make God the friend of ignorance.). Khoa học
mà không có tôn giáo thì què quặt. Tôn giáo mà không có khoa học là mù
quáng. (Science without religion is lame. Religion
without science is blind) [Nhận định này có nghĩa là: Khoa học mà không có sự
mở mang trí tuệ để hướng đến tính thiện (mục đích chính của tôn
giáo) thì không đầy đủ, và tôn giáo mà không được kiểm chứng bởi
những sự kiện hiển nhiên đã chứng minh bởi khoa học thì chỉ là mù
lòa tin bướng tin càn] -Albert Einstein Chỉ
cần đọc những gì đám Tin Lành Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, Nguyễn Huệ
Nhật, Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Lê Ân Điển, Phan Như Ngọc, Khuất Minh v..
v.. viết, ta cũng có thể khẳng định
là sự “thiết kế” ra họ thực sự chỉ là những “thiết kế ngu đần”. [Vì
“thiết kế” ra những kẻ không hiểu khoa học mà lại cứ viết bậy về
khoa học, không đọc Kinh Thánh mà lại cứ viết bậy về Kinh Thánh] Những nhận định trên của một số
khoa học gia ở các đại học nổi tiếng nhất trên thế giới, và nhà
Nhân Bản tự nhận Trần Chung Ngọc, đã chứng tỏ rằng cái mà các tín
đồ Tin Lành cho là “thiết kế thông minh” của Thượng đế, thực ra chỉ
là những thiết kế không hề có chút thông minh nào, nếu không muốn nói
là ngu đần. Và theo Einstein, Ki-tô-Giáo, một tôn giáo không những không
có khoa học mà còn phản khoa học và chống khoa học, thực chất còn tệ
hơn là mù quáng. Những khám phá của con người về
vũ trụ và thế giới của chúng ta đã loại bỏ sự hiện hữu của một
Thượng đế như được viết trong Kinh Thánh của Ki-tô Giáo, và tin vào một
Thượng đế không ai thấy (invisible), không thể hiểu được
(incomprehensible), và dùng Thượng đế để “giải thích” những điều
con người chưa giải thích được là tin vào sự ngu dốt, theo như nhận định
của giáo sư Vật Lý Paul Davies. Nhưng
đây chính lại là niềm tin của một số tín đồ Ki-tô Giáo, đặc biệt
là Tin Lành, đang cố tìm cách giải thích một số thắc mắc khoa học chưa
kiểm chứng được bằng lý luận ngớ ngẩn: “Thấy không!? Thấy không!?”,
hàm ý nếu khoa học chưa giải thích được mọi vấn đề thì tất nhiên
mọi sự đều là tác phẩm của Thiên Chúa mà họ gọi là một nhà “thiết
kế thông minh”. Họ có vẻ như cố ý quên rằng, trong quá trình tiến bộ
trí thức của nhân loại, rất nhiều điều thuộc loại “Thấy không!? Thấy
không!?” trước đây đã được giải đáp dần dần, và cứ mỗi lần
các khoa học gia giải đáp được một điều thắc mắc về vũ trụ nhân
sinh, thì quyền năng “sáng tạo” của Thiên Chúa của họ lại bị thu hẹp
một cách thê thảm, nhân loại lại ra khỏi được một điều mê tín của
Ki-tô Giáo, và dần dần Thiên Chúa bị đẩy ra khỏi đầu óc con người
văn minh tiến bộ. Đồng nhất hóa sự “ngu dốt
[ignorance] hay “chưa biết” (not yet known) của con người với “thông minh
của Thiên Chúa” là việc phe bảo thủ Tin Lành đã làm và hiện vẫn tiếp
tục làm trong vài ốc đảo nhỏ trên nước Mỹ.
Trong bài này, tôi sẽ luận về quan niệm “thiết kế thông
minh” có vẻ rất thiếu thông minh của trường phái bảo thủ Tin Lành Mỹ,
và của một số tân tòng Tin Lành gốc Mít.. Và vì bài viết này có nhan
đề THIẾT KẾ THÔNG MINH HAY NGU ĐẦN ?? cho nên tôi phải xin lỗi
độc giả trước nếu thấy trong bài tôi dùng khá nhiều từ “ngu đần”
vì không có từ nào chính xác hơn vì sẽ được chứng minh hẳn hoi. * THIẾT
KẾ THÔNG MINH ?? Thuyết Tiến Hóa, một thuyết mà căn
bản khoa học của nó được Charles Darwin đưa ra vào giữa thế kỷ 19, trải
qua gần 150 năm nay đã được nhiều bộ môn khoa học kiểm chứng, hoàn chỉnh. Ngay cả những khám phá trong các bộ môn
khoa học mới, các bộ môn mà chính Đứng trước tình trạng
niềm tin vào thuyết Sáng Tạo của tín đồ Ki-tô Giáo ngày càng chao đảo
đi đến suy sụp, ngay từ lúc đầu, khi thuyết Tiến Hóa mới ra đời vào
giữa thế kỷ 19, Ki-tô Giáo đã lên tiếng chống đối thuyết Tiến Hóa,
dựa vào nền thần học Ki-tô Giáo, cho rằng tất cả những gì viết trong
cuốn Kinh Thánh của người Do Thái là lời của Chúa cho nên không thể sai
lầm. Những luận cứ dựa vào sự “không thể sai lầm” của Kinh Thánh
để chống đối thuyết Tiến Hóa đã càng ngày càng trở thành lố bịch
(ridiculous) trước sự tiến bộ trí thức của con người với hàng núi những
bằng chứng trong nhiều bộ môn khoa học, những bằng chứng chứng minh rằng
thuyết Tiến Hóa không còn là một thuyết nữa, mà đã trở thành một sự
kiện, và ngay cả Giáo Hoàng John Paul II cùng một số lãnh đạo trong Ki-tô
Giáo cũng phải lên tiếng công nhận, khoan kể đến tuyệt đại đa số các
khoa học gia và giới trí thức hiểu biết trên thế giới. [Xin đọc bài CHARLES DARWIN & THUYẾT
TIẾN HÓA trên Trang Nhà Giao Điểm Tháng 9/2003] Mặt khác, những công cuộc nghiên cứu
về Kinh Thánh của Ki-tô Giáo trong vòng 200 năm nay của những học giả, hầu
hết ở Tây phương, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-tô, đã chứng
minh là Kinh Thánh chứa rất nhiều điều sai lầm về thần học cũng như
khoa học ngoài những chuyện độc ác, bất nhân, vô luân, hoang đường
v..v.. chứa trên nửa cuốn Kinh Thánh.., và Giê-su trong Tân ước chẳng qua
chỉ là một người thường sống với một ảo tưởng, tự khoác lên
mình vai trò “Con Thiên Chúa” xuống trần để cứu vớt những người Do
Thái, chỉ người Do Thái mà thôi, và chỉ những người nào có lòng tin vào
Thiên Chúa của Do Thái. Do đó, cuốn Kinh Thánh của Ki-tô Giáo chỉ còn có
giá trị đối với một số tín đồ Ki-tô thường không có mấy đầu óc
và chưa hề đọc cuốn Kinh Thánh. Theo như Russell Shorto đã nhận định
trong cuốn Gospel Truth, trang 14, thì các
giới lãnh đạo trong Ki-tô Giáo đã được dạy và đã biết rõ điều này,
nhưng vì những quyền lợi vật chất cũng như tinh thần trên đám tín đồ
thấp kém, nên đã dấu kín những kết quả nghiên cứu về cuốn Kinh
Thánh trước đám tín đồ, và: “Do đó những
người còn sống trong bóng tối của sự ngu dốt [về chính tôn giáo của
mình] là những tín đồ Ki-tô bình thường.”
(So the only ones left in the dark (i.e., ignorance) are ordinary Christians). Thuyết Tiến Hóa, tuy chưa giải đáp
được một số nhỏ thắc mắc của các khoa học gia về một vài khía cạnh
của quá trình tiến hóa, nhưng càng ngày con người càng khám phá ra những
bằng chứng trong nhiều bộ môn khoa học chứng tỏ tư tưởng căn bản về
Tiến Hóa của Darwin là đúng, và các khoa học gia hi vọng trong tương lai các
thắc mắc trên sẽ được giải đáp dần dần. Từ trước tới nay, khoa học
đã giải đáp được rất nhiều điều mà trong quá khứ con người chưa
hiểu được. Kiên nhẫn là một đức
tính của các khoa học gia. Giáo sư
William Provine, đại học Cornell, đã phát biểu: “Thật khó mà tìm hiểu một sinh vật hóa
thạch cách đây cả tỷ năm. Hãy kiên
nhẫn!” (It’s difficult to explore a billion-year-old fossil record. Be patient!) trước sự chống đối thuyết
Tiến Hóa của phe “thiết kế thông minh”, rằng những bằng chứng về
sinh vật hóa thạch không đủ để chứng minh thuyết Tiến Hóa . Giáo sư Provine đã nói đúng. Gần đây, nhiều khám phá mới của khoa học
ngoài những bằng chứng của các sinh vật hóa thạch, đã càng ngày càng
đưa ra thêm bằng chứng là thuyết Tiến Hóa đúng, bác bỏ những luận cứ
mà phái “thiết kế thông minh” dựa vào đó để chống thuyết Tiến Hóa
với mục đích đưa con người trở lại thời đại đen tối trí thức:
tin vào thuyết Sáng Tạo. Hơn nữa, đi
tìm về nguồn gốc của con người, theo khoa học gia JohnJoe MaFadden trong cuốn
“Quantum Evolution”, trang 72: “Để đi sâu
vào lịch sử của sự sống, chúng ta cần đào sâu vào DNA thay vì vào các
hòn đá (những sinh vật hóa thạch)” [To go deeper into the history of life
we need to dig into DNA, rather than rocks]. DNA
(DeoxyriboNucleic Acid)
là hóa chất trong nhân của mỗi tế bào trong cơ thể của chúng ta và có
tác dụng truyền đi những huấn thị truyền giống để tạo thành sinh vật
từ buổi sơ khai đến ngày nay. Tuy nhiên, phù hợp với nhận định
của nhà Phật về căn trí bất đồng của vô lượng chúng sinh, không phải
ai cũng có thể theo kịp đà tiến hóa của nhân loại. Do đó, chúng ta vẫn thấy vài tiếng nói
chống đối thuyết tiến hóa thưa thớt cất lên nhưng chẳng ai buồn để
ý. Riêng ở Mỹ, niềm tin Ki-tô Giáo của quần chúng dính liền với túi
đô-la của các cơ sở Ki-tô Giáo [hãy nhìn vào tài sản của của các nhà
truyền giáo Tin Lành như Jerry Falwell, Pat Roberson v..v..], một niềm tin được
tạo nên qua sự khai thác sự yếu kém tinh thần và hiểu biết của quảng
đại quần chúng để thủ lợi, hoặc về chính trị hoặc về vật chất,
cho nên các nhà bảo thủ Ki-tô Giáo, chủ chốt là Tin Lành, sau thảm cảnh
hoàn toàn thất bại của những phong trào chống đối thuyết Tiến Hóa với
hi vọng có thể hồi phục thuyết sáng tạo, đã thay đổi chiến lược. Thay vì tích cực chống đối, ra luật cấm
đoán không cho dạy thuyết Tiến Hóa trong các trường học ở một số địa
phương như trước [Vụ án John Scopes ở Tennessee năm 1925], luật này đã bị
coi là vi hiến và bãi bỏ vào năm 1968, những tổ chức này đưa ra một sách
lược mới, cố nặn óc tạo ra cái gọi là “khoa học sáng tạo”
(Creation-science) để “chứng minh” là thuyết Sáng Tạo trong Kinh Thánh rất
phù hợp với khoa học. Giầu về tiền bạc nhưng nghèo nàn
về trí tuệ, phe bảo thủ Tin Lành đã thành lập một số tổ chức, học
viện, tuyển mộ được vài khoa học gia hạng hai, để nghiên cứu các khía cạnh trong thuyết
Tiến Hóa, tìm ra những điều thuyết này chưa giải thích được, và đưa
ra nhiều lý luận ngụy biện phi khoa học, để trình bày thuyết Sáng Tạo
như một khoa học, và đòi hỏi “khoa học sáng tạo” phải được dạy
song song với thuyết Tiến Hóa trong các trường học. Họ đã thành công ở vài tiểu bang như
Arkansas năm 1981 và sau đó vài năm ở tiểu bang Louisiana, không phải vì thuyết Sáng Tạo có một “đặc tính khoa
học” nào đó, mà vì áp lực của Ki-tô Giáo trong những cộng đồng mà
những nhân viên trong Ủy Ban Giáo Dục địa phương là những nhà Ki-tô bảo
thủ. Họ thành công ở vài nơi vì
trong nước Mỹ, các ủy ban giáo dục địa phương có toàn quyền quyết định
về chương trình giáo dục của địa phương.
Nhưng rồi phán quyết của Pháp Viện Tối Cao Hoa-Kỳ đã khẳng
định là Khoa học Sáng Tạo không phải
là khoa học, không theo đúng những tiêu chuẩn của khoa học, và nhất là
không có một bằng chứng khoa học nào có thể chứng minh thuyết Sáng Tạo
trong Kinh Thánh, tất cả chỉ là chỉ là niềm tin tôn giáo. Kết quả là vài thành công tạm thời ở
vài địa phương trên của phái Sáng Tạo đã bị dẹp bỏ bởi những
phán quyết của những Tòa Án Liên
Bang, và cho đến ngày nay, trong các trường công lập trên đất Mỹ, thuyết
Sáng Tạo không được phép dạy song song với thuyết Tiến Hóa trong khoa học. Tuy nhiên, những kẻ cuồng tín
Ki-tô Giáo trên đất Mỹ, vẫn chưa chịu thua, thua keo này bày keo khác, cho
nên họ đã biến chế “khoa học sáng tạo”, bỏ từ “sáng tạo”
trong sách Sáng Thế Ký, và thay thế bằng một tên khác gọi là “Thiết Kế Thông Minh” (Intelligent
Design). Núp sau một danh từ có vẻ có
khoa học tính [thiết kế = design] mà thực chất vẫn là chấp chặt vào
thuyết sáng tạo, gần đây Ủy Ban Giáo Dục ở Dover, Pennsylvania, đã bỏ
phiếu quyết định là phải khuyến cáo các học sinh trong hạt giáo dục
Dover là ngoài thuyết Tiến Hóa của Darwin còn có thuyết khác nói về nguồn
gốc vũ trụ và con người, và đó là thuyết “Thiết Kế Thông Minh”. Đi xa hơn nữa, ở địa hạt Cobb, tiểu
bang Một điều lạ là sự chống đối
thuyết Tiến Hóa chỉ xảy ra trên nước Mỹ, bởi phe bảo thủ Tin Lành
có rất nhiều thế lực và tiền, muốn chỉ đạo chương trình giáo dục
“ngu dân dễ trị” trong đại chúng, muốn học sinh phải học thuyết
sáng tạo, trong khi thuyết này đã không còn mấy giá trị trong cộng đồng
thế giới. Toàn thể Âu Châu hiện nay đang sống chung hòa bình với thuyết
Tiến Hóa. Trên đất Mỹ, khoảng 75% theo Ki-tô Giáo, nhưng bản chất chính
quyền và xã hội Mỹ lại là một chính quyền và xã hội thế tục
(secular). Hiến Pháp Mỹ đã tách rời
nhà nước và tôn giáo. Do đó, dù có
nhiều thế lực, những nhà bảo thủ Tin Lành cũng không thể tự tung tự
tác, muốn làm gì thì làm. Vì vậy, họ
đã nếm mùi từ thất bại này đến thất bại khác. Một điều lạ khác
là những tôi tớ tân tòng Tin Lành Việt Nam như Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng,
Nguyễn Huệ Nhật, Nguyễn Thanh Vũ, Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Lê Ân Điển
v..v.., những người không hề có một kiến thức nào về Thuyết Tiến Hóa, cũng chỉ nhắc
lại như những con vẹt những luận điệu ngụy biện vô trí tuệ của phe
bảo thủ Tin Lành để chống Thuyết Tiến Hóa với hi vọng có thể lùa một
số người Việt Nam vào trong ngục tù tâm linh của Tin Lành, không biết rằng
các công cuộc nghiên cứu trong nhiều bộ môn khoa học với hàng núi bằng
chứng đã chứng minh rằng Thuyết Tiến Hóa không còn là một thuyết nữa,
mà đã trở thành một sự kiện. [Xin đọc những bài tôi phê bình Lê Anh
Huy, Huỳnh Thiên Hồng , Nguyễn Huệ Nhật, trên trang nhà Giao Điểm trước
đây, đặc biệt là bài DARWIN HAY THƯỢNG ĐẾ ?? TIẾN HÓA HAY SÁNG TẠO??
phê bình bài “Sáng Thế Ký Dưới Lăng Kính
Khoa Học Hiện Đại” Của Nguyễn Lê Ân-Điển.] Mặt khác những công cuộc nghiên cứu
về Kinh Thánh của Ki-tô Giáo, nhất là Tân ước, trong vòng 200 năm nay đã
dứt khoát kết luận: Trong Tân Ước không có tin lành mà chỉ có tin dữ [Xin đọc cuốn “The Bad
News Bible: The New Testament” của Giáo sư đại học David Voas]. Ngoài
các tin dữ ra, Kinh Thánh không có gì đặc biệt, độc đáo, đáng theo,
khoan nói đến chuyện chân lý. Thật vậy, Regina Schwartz, giáo sư dạy Thánh Kinh
trong 20 năm qua tại hai đại học nổi tiếng ở Hoa Kỳ là đại học
Northwestern, Illinois, và đại học Duke, North Carolina, sau nhiều năm suy tư và
nghiên cứu, đã xuất bản cuốn Lời Nguyền
của Cain: Di sản bạo tàn của Tôn Giáo Độc Thần (The Curse of Cain: The
Violent Legacy of Monotheism), và dạy sinh viên bài học: "không
làm gì có chân lý trong Phúc Âm" (Northwestern University professor's
lesson: There are no Gospel truths). Cuốn
sách này đã được đề nghị trao giải thưởng Pulitzer về loại tác phẩm
nghiên cứu. Giáo sư Schwartz cũng nhận
ra rằng sinh viên ngày nay tin rằng: Thượng
Đế thường là do con người tạo ra theo hình ảnh con người thay vì ngược
lại. Nghĩa là, những thuộc tính của
con người như tham lam, hẹp hòi, ghen tuông, và sợ hãi đã thường được
gán cho Thượng Đế. (...students come to believe that God is more often created
in the image of man than the other way around. That
is, mankind's greed, pettiness, jealousies and fears are often projected onto God). Cách đây hơn một
thế kỷ, Herbert Spencer, một khoa học gia nổi tiếng, đã nhận định: “Những người dũng cảm như hiệp sĩ bác bỏ thuyết Tiến Hóa vì thuyết này
không có đầy đủ sự kiện chứng minh có vẻ như quên rằng thuyết Sáng Tạo của họ không được chứng
minh bởi bất cứ một sự kiện nào .” (Those who cavalierly reject the Theory of
Evolution, as not adaquately supported by facts, seem quite to forget that their own
theory of creation is supported by no facts at all) Cho đến ngày nay, những tôi tớ của
Chúa, đầu óc thuộc loại vô thượng thiên tài mê tín, mít đặc như cỡ
Lê Anh Huy v..v.. cũng không thể kiếm ra một sự kiện nào để chứng minh
thuyết Sáng Tạo. Thế mà họ vẫn cố
công lên tiếng chống đối thuyết Tiến Hóa, trong khi thực sự cái hiểu
của họ về thuyết Tiến Hóa rất hời hợt và sai lạc, với những lý luận
hết sức ấu trĩ mà thực chất là đồng nhất hóa Thiên Chúa của họ với
sự ngu dốt, đại khái như sau: “Nếu thuyết Tiến Hóa chưa giải đáp được
hết những thắc mắc về nguồn gốc các chủng loại thì tất nhiên mọi
thứ trong vũ trụ này phải là do sự “thiết kế thông minh” của một
đấng sáng tạo” mà họ gọi là Thiên Chúa hay Thượng đế, thật ra
chỉ là Thiên Chúa của Tin Lành. Đây
chỉ là một khẳng định hoang tưởng về một niềm tin của Tin Lành, vì
như Herbert Spencer đã nhận định ở trên, cái
mà họ gọi là “thiết kế thông minh” của Thiên Chúa của họ không được
chứng minh bởi bất cứ một sự kiện nào. Do đó, dù thuyết Tiến
Hóa có còn vài điểm chưa giải thích được dứt khoát đi chăng nữa thì
thuyết Sáng Tạo của Ki-tô Giáo chung qui cũng chỉ là điều mê tín thuộc
thời bán khai của dân Do Thái, chỉ là một trong nhiều thuyết Sáng Tạo
khác nhau trong các nền văn hóa khác nhau trên thế giới.. Vấn đề của chúng ta trong thế giới văn minh tiến
bộ ngày nay không phải là cứ mù lòa tin bướng tin càn vào những điều
viết trong sách Sáng Thế Ký của Ki-tô giáo, mà phải xét xem những tường
thuật trong đó có giá trị hay không. Có
một điều mà giới hiểu biết về Kinh Thánh đã biết ngay từ đầu thế kỷ 20 là: “Các
học giả Âu Châu đã phân tích cuốn Kinh Thánh kỹ hơn bao giờ hết, và kết
luận của họ là: Kinh Thánh không phải là cuốn sách do Thượng đế [của
Ki-tô giáo] mạc khải mà viết ra, như các
Ki Tô hữu đã tin, do đó không thể sai lầm.
Thật ra, đó chỉ là một hợp tuyển lộn xộn những huyền
thoại cổ xưa, truyền thuyết, lịch sử, luật lệ, triết lý, bài giảng
đạo, thi ca, chuyện giả tưởng, và một số ngụy tạo rất hiển nhiên.”
(European scholars were scrutinizing
the Bible more closely than ever before. They
had concluded that it (the Bible) was not, as Christians had long believed, a book
dictated by God and therefore infallibly true. It
was, instead, a disorderly anthology of ancient myths, legends, history, law, philosophy,
sermons, poems, fiction, and some outright forgeries.). Do đó, ngày nay, không ai có thể
mang bất cứ điều gì viết trong Kinh Thánh, coi đó như là chân lý, để có
thể thuyết phục người đọc. Ngày nay, những tuyên xưng như “Kinh Thánh viết rằng..” hoặc “Kinh Thánh là những lời mạc khải của
Thiên Chúa”, hoặc mang những điều viết trong Kinh Thánh ra làm căn bản
lý luận, hàm ý đó là những chân lý, không thể sai lầm, đã trở thành
những khẳng định lố bịch, ngu si vô trí của hạng người mê tín,
không có mấy đầu óc, và đang đi giật lùi trở về thời Trung Cổ. Nhưng thảm thay, đây chính lại là căn bản
“lý luận” của một số tín đồ Tin Lành với hi vọng thuyết phục con
người đi vào vòng bóng tối tâm linh của Tin Lành với niềm tin vũ trụ
nhân sinh là do sự sáng tạo của một nhà thiết kế thông minh mà họ gọi
là Thiên Chúa hay Thượng đế. Làm sao
họ có thể thành công được trước những sự kiện hiển nhiên của khoa
học và những kết quả nghiên cứu nghiêm chỉnh về cuốn Kinh Thánh của
Ki-tô Giáo. Cho nên, đối với tôi,
trong thời đại ngày nay, người nào còn viện dẫn Kinh Thánh ra làm căn bản
lý luận hay đối thoại thì người đó tất nhiên thuộc loại không biết
thế nào là lý luận hay đối thoại. Nếu thực sự là tất cả những
gì trong vũ trụ nhân sinh đều do sự “thiết kế thông minh” của Thiên
Chúa Tin Lành, thì chúng ta chỉ cần nhìn vào những gì xảy ra trong xã hội
loài người, loài vật, trên trái đất chúng ta cũng có thể thấy đó
không phải là một thiết kế thông minh, mà nếu đó là do sự thiết kế
của một Thiên Chúa nào đó, thì Thiên Chúa đó phải là một nhà thiết kế
ngu đần, vô cùng ác ôn, vô cùng độc hại đối với mọi chủng loại, và
như vậy, không thể nào có thể gọi là thông minh được. Chứng minh? Những tín đồ Ki-tô Giáo có đầu
mà không có óc thường ca tụng là Thiên Chúa của họ đặc biệt sáng tạo
ra loài người và ban cho loài người quyền ngự trị mọi vật trên thế
gian, nhất là được quyền sinh sát mọi loại chim muông cầm thú, cũng là
sản phẩm sáng tạo của Thiên Chúa, để
ăn cho khoái khẩu. Họ chỉ ca tụng như
con vẹt vậy thôi vì họ không thể giải thích được là con người đã
ngự trị những trận thiên tai, bão tố, Tsunami v..v.. như thế nào. Sau khi sáng tạo ra loài người trong ngày
thứ sáu, Thiên Chúa của Ki tô Giáo rất lấy làm hài lòng, xoa tay tự khen
về tất cả những tác phẩm sáng tạo của mình: “thật là tốt đẹp” [Genesis 1: 31: God
saw all he had made, and it was very good”]. Nhưng những sản phẩm do Thiên Chúa sáng tạo
ra lại chẳng “good” tí nào, nhất là loài người, cho nên Ngài hối hận
đã “sáng tạo” ra loài người, và Ngài đi đến một quyết định diệt
chủng (genocide), chủng đây toàn là con cái của Ngài cả. Vậy sự thiết kế tiên khởi của
Thiên Chúa là một thiết kế thông minh hay ngu xuẩn? Theo như Kinh Thánh thì “Thiết kế thông
minh” của Thiên Chúa giống như thiết kế ra một cái tàu bay để bay trên
trời nhưng kết quả thành một cái tàu bò bằng giấy, có bò cũng bò
không nổi. Cho nên Ngài phải xóa bỏ
tác phẩm sáng tạo rất tốt đẹp của mình để làm lại từ đầu. Quyết định của Ngài là tạo nên một cơn
hồng thủy để giết hết, người cũng như súc vật, chim muông, cầm thú,
côn trùng v...v..., và đặc biệt là giết
hết già, trẻ, lớn, bé, tuyệt đối không tha người nào, kể cả những
đứa trẻ sơ sinh, hay những đứa trẻ còn nằm trong bụng mẹ chưa ra đời,
chưa biết thế nào là tội lỗi xấu xa, chỉ chừa lại có gia đình một
tên say rượu, Noah, với mỗi cặp sinh vật sống rải rác trên trái đất,
từ những con vi trùng không ai nhìn thấy đến những con khủng long, tất cả
là bao nhiêu tỷ cặp sinh vật, nhét lên một chiếc tàu mà kích thước không
thấm vào đâu so với những chiếc tàu du lịch ngày nay như Carnival,
Princess, hay Queen Mary v..v... Ngài rất lo xa, con người xấu xa tội lỗi
nhưng Ngài diệt luôn cả mọi sinh vật khác.
Rất có thể Ngài sợ rằng con kiến con run cũng xấu xa tội lỗi
như loài người nên Ngài quyết định tiêu diệt luôn cả mọi sinh vật
khác mà Ngài đã “sáng tạo” ra một cách rất thông minh cho chắc ăn. Đây
có phải là một quyết định hợp lý hay không, hay đó chỉ là hành động
tàn nhẫn ác ôn của một bạo Chúa đầy máu lạnh? Nói có sách, mách có chứng, sau đây là
vài đoạn trong cuốn Kinh Thánh của Ki Tô Giáo.
Sáng Thế Ký 6: 5-7: Rồi Thiên Chúa thấy loài người quá xấu
xa tội lỗi trên trái đất...Và Thiên Chúa cảm thấy hối hận đã tạo
nên loài người, và Ngài đau khổ thấu tim can. Và Thiên Chúa nói: “ Ta sẽ
tiêu diệt loài người mà ta đã “sáng tạo” ra trên trái đất, người
và dã thú, vật bò sát cũng như chim bay trên trời, vì ta hối hận đã “sáng
tạo” ra chúng.”
(Gen. 6: 5-7: Then the Lord saw that
the wickedness of man was great in the earth... And the Lord was sorry that He had made
man on the earth, and He was grieved in His heart.
So the Lord said, “I will destroy man whom I have created from the face of the
earth, both man and beast, creeping things and birds of the air, for I am sorry that I
have made them”) Đọc đoạn trên chúng ta thấy rõ
là con người đã tưởng tượng ra một Thiên Chúa theo hình ảnh của con
người, cũng có những tình cảm hối hận, đau khổ thấu tim can như con
người. Suốt trong Kinh Thánh, Thiên Chúa chẳng có gì có thể gọi là
Thiên Chúa cả, mà hội đủ mọi tính xấu xa, độc ác, tàn nhẫn của con
người. Và vấn đề ở đây là Thiên
Chúa tạo ra hồng thủy để giết chết mọi người vì Chúa thấy loài người
quá xấu xa tội lỗi, tác phẩm do chính Chúa “sáng tạo” ra theo hình ảnh
của Chúa và giống như Chúa, mà Chúa tự khen là rất tốt đẹp, nhưng thử hỏi,
tại sao Thiên Chúa lại giết tất cả mọi sinh vật hoàn toàn vô tội, gồm
có nhiều tỷ chủng loại khác nhau, khi chúng cũng do chính Chúa “sáng tạo”
ra và tự khen là sự sáng tạo của mình là toàn hảo (very good), trong khi
chúng không hề làm điều gì trái với ý của God? Vậy thực ra thì loài người quá xấu xa tội
lỗi hay chính Thiên Chúa quá xấu xa tội lỗi?
Người Việt Nam gọi hành động ác ôn này của Thiên Chúa là
“giận cá chém thớt”, và mọi sinh vật khác loài người đều là nạn
nhân của một chính sách bất công của Thiên Chúa: “quít làm cam chịu”. Vậy mà người ta vẫn tiếp tục ca ngợi
là Thiên Chúa nhân từ, quá thương yêu thế gian v..v.. và đi thờ phụng một
cái thứ gì đó mà bản chất là một ác quỉ quá ư tàn bạo, tàn nhẫn,
vô lương tâm, phi công lý, như đã viết trong Kinh Thánh. Mặt khác, sau khi tạo ra hồng thủy
để tiêu diệt hầu hết mọi sinh vật chính mình sáng tạo ra, mục đích
hiển nhiên là để “sáng tạo lại từ đầu” một cách thông minh hơn,
tốt đẹp hơn, nhưng loài người và các thú dữ có khá hơn không? Chiến tranh, bệnh tật, cảnh cá lớn nuốt
cá bé, hổ báo vẫn tìm kiếm nai để xé xác ăn thịt, người Ki-tô vẫn
thích ăn thịt uống máu Chúa v..v.. vẫn xảy ra triền miên. Bệnh dịch hạch giết chết nửa dân số
Âu Châu, toàn là con cái Chúa; con cái Chúa cũng phát minh ra bom nguyên tử,
thả một trái giết chết hơn trăm ngàn người; động đất liên tiếp xảy
ra; một cơn sóng thần cũng giết hại trên trăm ngàn người; vậy so với
thời trước cơn hồng thủy xã hội loài người và loài vật có tốt đẹp
gì hơn không và kết quả của cơn hồng thủy là như thế nào? Hơn thế nữa, khi Thiên Chúa sai “con một”
của mình xuống để cứu thế cũng bị người đời giết tốt, đóng
đinh trên thập giá. Vậy tác dụng của
cơn Hồng Thủy là cái gì? Những người
Ki-tô giải thích làm sao trước những tra vấn trí thức này. Câu trả lời điển hình thuộc loại u mê
nhất của các tín đồ Ki-tô là: “Chúa sinh ra thì Chúa có quyền lấy đi”
, hoặc “Không ai biết được ý định của
Chúa” v..v.. vì họ đã được nhồi sọ cho những câu trả lời thuộc
loại có đầu mà không có óc này. Thời buổi này, hành động như vậy thì
Chúa vào tù ngồi đếm lịch hay leo lên ghế điện thử tác dụng của một
tác phẩm “sáng tạo” của con cái Chúa. Câu
trả lời của tôi là tại vì, theo như nhận định ở trên của Giáo sư
Phillip Kitcher, Đại học Columbia, Chúa hãy còn ngu và dốt quá mà lại
không chịu trở lại trường học để mà học lại cách thiết kế cho nó
thông minh hơn một chút, vì chỉ cần thông minh hơn một chút thôi thì thế
giới của chúng ta đã tốt đẹp hơn nhiều rồi.. Thử hỏi, nếu chúng
ta gọi sự thiết kế ra một thế giới mà trong đó có những siêu vi
trùng (virus) gây ra hàng trăm thứ bệnh, bệnh dịch hạch trước đây giết
hại nửa dân số Âu Châu toàn là con cái Chúa, những quái thai sinh ra đời,
những trận núi lửa phun, động đất, sóng thần (Tsunamis), bệnh AIDS,
SARS, Cúm Gà v..v.. và trăm ngàn thứ tác hại khác cho nhân loại và cho
loài vật là “thông minh” thì thế nào mới là “ngu đần”? Phải chăng là “thông minh” đối với những
đầu óc “ngu đần”, và “ngu đần” đối với những đầu óc “thông
minh”? Ai cho là thông minh, xin lên tiếng!! Riêng đối với loài người, nếu
chúng ta tin vào thuyết thiết kế thông minh, alias sáng tạo, của Ki Tô
Giáo, thì người đầu tiên mà Thiên Chúa của Ki Tô Giáo “thông minh sáng
tạo” ra theo “hình ảnh Thiên Chúa” và “giống như Thiên Chúa” là một người vừa mù vừa ngu: Adam. Cựu Ước viết rõ: chỉ sau khi cưỡng lời
Thiên Chúa, ăn một trái trên cái cây hiểu biết, để có được trí tuệ,
thì Adam và Eve mới sáng mắt ra, biết là mình đang ở lỗ. [Genesis 2: 9:
..In the middle of the garden ( Từ những điều vừa trích dẫn từ
Kinh Thánh ra, chúng ta thấy mục đích của kế hoạch kỳ diệu “thiết kế
thông minh” của Thiên Chúa là muốn giữ con người trong trạng thái vừa
mù vừa ngu, vừa trần truồng, theo hình ảnh của Thiên Chúa và giống như
Thiên Chúa. Nhưng con người lại không
muốn ở trong trạng thái vừa mù vừa ngu vừa ở lỗ, theo như hình ảnh của
Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa. Cũng vì vậy mà Thiên Chúa đã trừng
phạt nhân loại, theo luận điệu thần học quái gở của Ki-tô Giáo, vì
con người dám tự mình ra khỏi cảnh mù tối để đi đến hiểu biết. Vậy cái gọi là “thiết kế thông minh”
của Thiên Chúa là thứ thiết kế có thể gọi là thông minh hay không? Mặt khác, sau khi thiết kế ra con người,
theo hình ảnh của Thiên Chúa, vừa mù vừa ngu như vậy, Thiên Chúa tự
khen là công trình thiết kế của mình là tuyệt hảo (very good). Nhưng con người lại không dậm chân tại
chỗ trong cái “tuyệt hảo” của Thiên Chúa mà lại tiến hóa từ thời
ăn lông ở lỗ, qua các thời đại đồ đá, đồ đồng, đồ sắt cho đến
thời hiện đại văn minh ngày nay. Chừng
đó cũng đủ để vứt sự “thiết kế thông minh” của Thiên Chúa của
Ki-tô Giáo vào cái sọt rác mà theo Albert Einstein, là một đồ dùng hữu
ích nhất trong khoa học, và nhận thức được sự hiển nhiên của quá
trình Tiến Hóa trong thiên nhiên. Ai cho rằng thiết kế ra một người vừa mù vừa
ngu vừa ở lỗ và không muốn cho nó thay đổi như Thiên Chúa của Ki-tô
Giáo đã chủ trương là “thiết kế thông minh” thì xin lên tiếng, và
xin giảng rõ thông minh ở chỗ nào? Nguyễn
Thanh Vũ, Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, Nguyễn Huệ Nhật, Nguyễn Lê Ân Điển,
và cả Tiến sĩ Phan Như Ngọc, Mục sư Nguyễn Hồng Quang ở trong nước
v..v.. đâu, quý vị có muốn trở lại trạng thái ban đầu của Adam, tác
phẩm “thiết kế thông minh” của Thiên Chúa, để khỏi mang cái tội mà
thực ra không phải là tội của Adam không? Các
ông có muốn sinh ra những đứa con vừa mù vừa ngu và giữ cho chúng ở
tình trạng như vậy để hợp với ý định “thiết kế thông minh” của
Thiên Chúa lúc đầu hay không? Hãy trả
lời thành thực đi. Và quý vị cứ tự
nhiên mà trở lại trạng thái vừa mù vừa ngu theo ý định nguyên thủy của
Thiên Chúa, tôi tuyệt đối không ngăn cản, nhưng xin đừng kéo chúng tôi
vào trong một loại thiết kế ngu đần như trên.
Mà thật ra, mắt quý vị đang mở và quý vị cũng
có đôi chút đầu óc và có ăn có học đấy, nhưng thực chất của quý vị
cũng chẳng khác chi tình trạng mù lòa của Adam và Eve trước khi ăn trái cấm,
vì quý vị vẫn cứ u mê, tin vào những cái “không thể tin được”. Tại sao? Vì
quý vị được dạy là “hãy bước đi
trên đường đời bằng đức tin chứ không nhìn bằng mắt” theo đúng
như Kinh Thánh đã viết: 2 Corinthians 5:7: For
we walk by faith, not by sight, mà Kinh Thánh tiếng Việt của Tin Lành dịch là:
“Vì chúng ta bước đi bởi đức tin, chớ
chẳng phải thấy bằng mắt”. Như
vậy, trong Ki-tô Giáo, đức tin là để cho những người mù. Thật vậy,
theo định nghĩa của H. L. Mencken thì Faith hay Đức Tin là "một kiểu tin phi-lôgic vào sự xảy ra của
những gì không chắc có thực" (an illogical belief in the occurrence of
the improbable). Theo định nghĩa trong tự
điển thì Faith hay Đức Tin là "sự
tin chắc vào một cái gì đó mà không chứng minh được cái đó có thực"
(Firm belief in something for which there
is no proof.). Thánh Ignatius of Loyola (1491-1536), người sáng lập dòng Tên,
phán rằng: “Chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng tin rằng
cái mà chúng ta thấy là trắng thực sự là đen, nếu hàng giáo phẩm trong
Giáo hội [Công Giáo] quyết định như vậy. “ (We should always be
disposed to believe that which appears white is really black, if the hierarchy of the
Church so decides). Vậy, đối với các
tín đồ Công Giáo và Tin Lành, Thiên Chúa “sáng tạo” ra cặp mắt là thừa,
không dùng đến. Thật là tội nghiệp. Cái gọi là thông minh nhất của Thiên
Chúa là chỉ có thể sáng tạo ra những mẫu người như Lê Anh Huy, Nguyễn
Thanh Vũ, Nguyễn Huệ Nhật, Nguyễn Lê Ân Điển, Phan Như Ngọc, Khuất
Minh, Nguyễn Hồng Quang v..v.. và đồng bọn tân tòng Tin Lành, cũng như đã
thiết kế ra một lô những giáo hoàng, đại diện của Chúa trên trần,
và các thuộc hạ hồng y, linh mục trong lịch sử Công Giáo đã phạm đủ
mọi thứ tội như giết người, loạn luân, gian dâm, loạn dâm v..v... Nhưng đây chính lại là những bằng chứng
cụ thể nhất để kết luận đó chỉ là một sự “thiết kế ngu đần”.
Đến đây, chắc quý độc giả đã
hiểu tại sao tôi, có cùng 99% gen với một con khỉ, lại từ chối thách
thức tranh luận của Lê Anh Huy, có 100% gen của Thượng đế, về thuyết
Tiến Hóa. Lê Anh Huy lấy cái gì ra để mà đối thoại và tranh luận? Lấy sự mù lòa tin bướng tin càn hay lấy
“thiết kế thông minh” của Thượng đế ra để mà tranh luận? Ở trên cõi đời này, có ai lại điên đến
độ hạ mình đi tranh luận với những hạng người không hề có kiến thức
mà chỉ mù lòa tin bướng tin càn, bước trên đường đời bằng đức tin
chứ không nhìn đời bằng mắt. Đọc bài
Nguồn Gốc Con Người của Lê Anh Huy chúng ta thấy rõ ông ta chẳng hiểu
gì về thuyết Tiến Hóa, chỉ đưa ra những lý luận bậy bạ vô căn cứ
của phe “thiết kế thông minh”. Quyền tin bướng tin càn là quyền của
quý vị Tin Lành, tôi không ngăn cản, nhưng đừng có mang mấy cái đó ra
mà quảng cáo với hi vọng có thể thuyết phục người đời quay đầu trở
lại thời bán khai. Để vấn đề được rõ ràng hơn,
chúng ta hãy thử tìm hiểu thực ra cái gì là “thiết kế thông minh” của
Tin Lành. Như trên đã nói, “thiết kế
thông minh” thật ra chỉ là cái vỏ mới của bình rượu “khoa học sáng
tạo” mà thế giới cũng như các nhà lập pháp trên nước Mỹ đã đổ
xuống cống. Những khuôn mặt nổi tiếng nhất trong trường phái “thiết
kế thông minh” là Philip E. Johnson, một luật gia, nguyên giáo sư đại học
Berkeley, với hai cuốn “Darwin on Trial”
và “Defeating Darwin with Open minds”. Johnson là một tín đồ thuộc hệ phái Tin
Lành Presbyterian (Tin Lành có mấy trăm hệ phái khác nhau nhưng không có hệ
phái nào là chính thống, vì hệ phái nào cũng cho mình là chính thống,
hàm ý các hệ phái Tin Lành khác đều là tà phái), William Dembski, một nhà
triết lý toán học (mathematical philosopher) với tác phẩm “Sự Suy Lý Thiết Kế” (The Design
Inference), và Michael Behe với cuốn “Darwin’s
Black Box” Họ đưa ra những lý luận giả-khoa-học
(pseudoscience), có thể vì không hiểu rõ hoặc cố ý diễn giải sai thuyết
Tiến Hóa (proponents of intelligent design display either ignorance or deliberate
misrepresentation of evolution science) để bác thuyết Tiến Hóa, đồng thời lập
luận rằng vũ trụ và thế giới của chúng ta quá phức tạp, các hằng số
vật lý quá tinh vi để cho sự sống của chúng ta có thể tồn tại trên
trái đất, và cho tất cả những thiên sai vạn biệt trong thế giới này
v..v.., do đó tất nhiên phải có một nhà thiết kế thông minh (an
intelligent designer) đàng sau những hiện tượng thiên nhiên như nguồn gốc
vũ trụ, sự phức tạp của cơ thể con người v..v.. chứ không thể ngẫu
nhiên như thuyết Tiến Hóa đã chủ trương mà hình thành. Và nhà thiết kế
thông minh này, đó chính là Thiên Chúa
của Tin Lành. Nhưng chính cái từ “thiết kế” hay “vẽ kiểu” [design]
dùng để chứng minh sự hiện hữu của một Thiên Chúa lại bị các nhà
phân tích khoa học và tôn giáo dùng để chứng minh sự thiếu thông minh của
những người phát minh ra từ “thiết kế thông minh”, một từ rất mâu
thuẫn với thuộc tính toàn năng và toàn trí mà họ đã gán cho Thiên Chúa
của họ. Thật vậy, theo sách Sáng Thế Ký
trong Kinh Thánh của Ki-tô Giáo thì God “sáng tạo” (sic) ra vũ trụ muôn
loài bằng những lời phán. Thí dụ, Thượng đế chỉ cần phán: “Có
ánh sáng nè”, lập tức có ánh sáng v..v.. Nghĩa là God muốn cái gì thì tức
khắc cái đó có liền. Phải dùng đến bất cứ một phương tiện nào để
thực hiện bất cứ điều gì, thí dụ như “thiết kế thông minh” trước
rồi mới thực hiện sự thiết kế, hay dùng phương tiện tàn nhẫn, hi
sinh con một của mình để chuộc tội cho con người, hoặc dùng đến những
tên truyền đạo không có mấy đầu óc như đám Lê Anh Huy để kéo người
khác vào vòng mù quáng tin God v..v.. đương nhiên đã loại bỏ thuộc tính
toàn năng của God. Suy rộng ra, chúng ta không thể nói là God có bất cứ
“hành động” nào, vì hành động đòi hỏi phải dùng đến phương tiện
để đạt tới mục đích. Lại nữa, cũng không thể nói là God có mục đích,
vì điều này uẩn hàm God có những điều chưa thực hiện được. Tất cả
những điều trên đã chứng minh không thể nào có một God “toàn năng”. Và như vậy, từ “thiết kế thông minh”
trở thành vô nghĩa và cực kỳ mâu thuẫn với những thuộc tính mà người
Ki-tô Giáo gán cho Thiên Chúa của họ, một ảo tưởng chỉ có trong đầu
óc của những người thiếu thông minh, những người phát minh ra từ “thiết
kế thông minh” và những người theo đuôi thuyết “thiết kế thông minh”
để bảo vệ sự mê tín thuộc thời bán khai của mình. Bất kể là Thiên Chúa của Ki-tô
Giáo có thiết kế ra vũ trụ này hay không, điều thiết thực mà chúng ta
cần quan tâm là những sự việc xảy ngay trên trái đất này. Qua sự phân tích ở trên về sự sáng tạo
ra loài người và những sự việc xảy ra trong xã hội loài người cũng
như loài vật, người nào cho rằng đó là do một sự thiết kế thông minh
thì người đó ắt hẳn là rất thiếu thông minh. Những lý luận ngớ ngẩn của
Johnson, Dembski, và Behe để chống thuyết Tiến Hóa đã bị nhiều khoa học
gia chính hiệu phê bình và bác bỏ vì lý do những người này hiểu sai hoặc
cố ý hiểu sai thuyết Tiến Hóa và dựa vào đó để chống thuyết Tiến
Hóa. Chúng ta có thể đọc bài “Evolution
Response To Michael J. Behe: Intelligent Design Fails The Biochemistry Test” của
Kenneth R. Miller; bài “Evolution Response To
William A. Demski Mystery Science Theater” của Robert T. Pennock; bài “The Newest Evolution of Creationism: Intelligent
Design Is About Politics and Religion, Not Science” của Barbara Forrest và hàng
trăm bài viết hoặc sách khác bác bỏ những luận cứ của phe “Thiết Kế
Thông Minh”. Trong bài này, tôi không
có cách nào đưa ra tất cả những tài liệu này vì chúng có quá nhiều. Điểm cần chú ý là những sách hoặc bài
viết của nhóm “Thiết kế thông minh” chỉ có thể lưu truyền trong nhóm
người thiếu thông minh và nghiện đạo với
nhau, không được bất cứ một tờ báo khoa học có tiếng nào đăng, cũng
như không được bất cứ một cá nhân hay ủy ban duyệt trước nào trong
ngành khoa học giới thiệu. Những bài
phản bác của giới khoa học chỉ có mục đích vạch ra những sai lầm của
phái “thiết kế thông minh” để cho giới độc giả thấy rõ vấn đề,
khỏi bị lừa bởi những luận điệu giả khoa học bịp bợm, chứ không
phải để tranh luận với phái “thiết kế thông minh”. Và tôi viết bài này cũng trong tinh thần
như vậy, không phải để đối thoại với những người chỉ biết đặt
căn bản đối thoại trên sự mù lòa tin bướng tin càn của mình vào cuốn
Kinh Thánh chứa đầy những sự sai lầm. Đọc những luận điệu chống thuyết
Tiến Hóa để tuyên dương thuyết Sáng Tạo của Ki-tô Giáo của mấy ông
Tin Lành Việt * Đây là một bài mà tác giả phịa
ra một cuộc đối thoại giữa một “bà Giáo sư” [không biết là giáo sư
dạy môn gì] và một ông Mục-sư tự cho là “am tường về khoa học”
(sic) trên một chuyến bay từ Úc sang Mỹ. Vì
là sản phẩm ngụy tạo của một đầu óc do sự “thiết kế thông minh”
của Thiên Chúa “sáng tạo” nên đọc xong bài này chúng ta có thể nhận
rõ ngay là cả “bà giáo sư đang đi thuyết trình ở các trường đại học
ở Hoa Kỳ” và “ông Mục sư am tường khoa học” đều là những người
thuộc loại ngu si đần độn, ngu si đần độn đến mức khó tưởng. Ông mục sư quá đần độn vì không biết
gì về khoa học và ngày nay còn tin vào những chuyện “không thể tin được”
và cho rằng Kinh Thánh không thể sai trật. Còn
bà giáo sư đần độn vì không biết vặn lại những lý luận hoang đường
của ông mục sư và bị thuyết phục và tự nhận là mình ngu dốt, không
biết đến Thiên Chúa của ông mục sư, phải nhờ ông mục sư giảng láo
mới mở mắt ra. Nhưng đây chính là mục đích của tác giả. Nội dung của
bài không ngoài đưa ra những lý luận ngớ ngẩn để bác thuyết Tiến
Hóa và quảng cáo cho cái gọi là “Sáng Tạo” của Thượng đế. Lẽ dĩ nhiên trong bài này, tôi không thể
lãng phí thì giờ để mà phê bình tất cả bài, cho nên tôi chỉ điểm
qua vài điểm lý luận điển hình của ông “mục sư am tường khoa học”. Mở đầu tác giả viết: Chiếc Bô-ing 747 khổng lồ vừa cất
cánh khỏi phi trường Sít-ni, Úc Đại-lợi. Có hai người hành khách lịch sự ngồi cạnh nhau. Một người
đang đọc một tập san khoa học bóng nhoáng, ngoài bìa có hình ảnh tàu
"con thoi" đang khởi hành bay vào vũ trụ. Còn người kia đang đọc
quyển Kinh Thánh đă sờn gáy. Người thứ nhất là bà giáo sư đang trên
đường đi thuyết trình ở các trường đại học ở Hoa Kỳ, người thứ
hai là một mục sư. Sau nửa giờ yên lặng, đột nhiên bà giáo sư quay
sang ông mục sư với giọng mỉa mai: "Tôn
giáo các ông chẳng có gì gọi là khoa học, các ông chỉ có niềm tin
thôi". Ông mục sư mỉm cười khiêm tốn. Thật đáng buồn, bà ta
không ngờ rằng ông này đă từng là người
am tường khoa học, trước khi dâng mình phục vụ Chúa. Chúng ta phải hiểu rằng, tác giả
viết bài này đã đặt chính sự hiểu biết của mình trong hai vai. Nhưng chỉ có cái đầu óc rất đặc biệt
của ông ấy mới có thể phịa ra một chuyện vừa phi lý, vừa đần độn
như trên. Bởi vì không có một bà
giáo sư “lịch sự” nào, có ăn có học,
tự nhiên lại đi mỉa mai niềm tin tôn giáo của một người chưa hề quen
biết trên một chuyến máy bay. Tôi tự
hỏi, những đại học nào ở Hoa Kỳ mời một người như bà giáo sư trên đến thuyết trình ở
trường mình. Mặt khác, ông mục sư có
lẽ cũng thuộc loại có đầu óc đặc biệt như bà giáo sư nên vẫn còn
tin vào những điều viết trong cuốn Kinh Thánh của Do Thái trong khi khoa học
gia Ira Cardiff đã đưa ra nhận xét: “Nếu một
người thông minh đọc cả cuốn Kinh Thánh với một óc phê phán thì chắc
chắn là anh ta sẽ vứt bỏ nó đi” (If an intelligent man should critically
read it (the Bible) all, he would certainly reject it). Nhưng chúng ta hãy đi vào phần
tiếp theo để xem đầu óc của tác giả thuộc loại nào. Rồi tác giả Mục sư bắt đầu giảng
đạo bằng cách bài bác thuyết Tiến Hóa: Ông Mục sư: “Thực ra
con người ai cũng phải có niềm tin. Nhà hàng hải Cô-lum-bô nhờ tin Trái
Đất tròn mới dám đi thám hiểm và phát hiện ra châu Mỹ. Bản thân bà cũng
phải tin chiếc máy bay này có khả năng bay an toàn và phi công đủ trình
độ mới dám lên đây ngồi phải không? Là
nhà khoa học, bà phải dùng thuyết tiến hóa để giải thích nguồn gốc mọi
sinh vật trên thế gian này. Thực ra thuyết tiến hóa là một học thuyết
dựa trên niềm tin hơn là cơ sở khoa học. Có đúng vậy không? Trong thực tế, một chiếc xe không
được chăm sóc sẽ trở nên một đống sắt rỉ lẫn lộn với một mớ
cao su lăo hóa và băi xăng nhớt vô dụng. Một ngôi nhà không được sửa
sang, sớm muộn cũng sẽ bị hư hại. Một sinh vật, dù sống lâu đến đâu
cũng trở nên già cỗi, bệnh tật và chết dần v.v... Đó là nguyên tắc Êntropi (entropy) hay còn gọi
là định luật Nhiệt Động Lực thứ hai: Mọi quá trình biến đổi xảy
ra trong tự nhiên đều theo chiều đi xuống và thoái hóa, từ tình trạng cấp
cao xuống tình trạng cấp thấp, từ trật tự xuống hỗn loạn, từ năng
động xuống "thụ động"... Thế mà
thuyết tiến hóa lại nói rằng vũ trụ và sinh vật đang được biến đổi
theo chiều hướng phát triển, từ cấp thấp lên cấp cao, từ đơn giản lên
phức tạp, từ hỗn độn lên trật tự, từ tình trạng thụ động lên
tình trạng năng động v.v... Vậy thuyết Tiến hóa có hợp lý hay không?”
Quý vị có thấy tác giả đã bịa
ra một chuyện quá đần độn hay không? Thứ
nhất, nếu thật là có một bà giáo sư nào đó mỉa mai: : "Tôn giáo các ông chẳng có gì gọi là
khoa học, các ông chỉ có niềm tin thôi" thì ông Mục sư phải thuyết
phục bà ta là tôn giáo của mình rất là khoa học, theo đúng những tiêu
chuẩn của khoa học, và đã được kiểm chứng bởi khoa học, chứ tại
sao lại lôi thuyết Tiến Hóa vào trong câu trả lời. Mà bà ta có nói gì đến thuyết Tiến Hóa
đâu mà tự nhiên ông mục sư lại lên tiếng bài bác thuyết Tiến Hóa? Người ta phê bình một đằng, ông trả lời
một nẻo. Hơn nữa, ông lại còn cho rằng:
Là nhà khoa
học, bà phải dùng thuyết tiến hóa để giải thích nguồn gốc mọi sinh
vật trên thế gian này. Thế
chính ông cũng là nhà “am tường khoa học”, ông có dùng thuyết Tiến
Hóa hay không? Rồi ông lại nói bậy: “Thực ra
thuyết tiến hóa là một học thuyết dựa trên niềm tin hơn là cơ sở
khoa học. Có đúng
không?” Làm sao mà đúng được?
Hàng núi sự kiện, bằng chứng đã được kiểm chứng trong nhiều bộ môn
khoa học và chứng minh chúng rất phù hợp với thuyết Tiến Hóa ông có biết
đến hay không? Nếu không biết thì đứng
có nói bậy. Ông quên rằng chính thuyết
Sáng Tạo của ông mới chỉ là một niềm tin, một niềm tin thuộc loại
mù quáng, không cần biết, không cần hiểu, vì không có một sự kiện
nào có thể dùng để chứng minh là thuyết Sáng Tạo đúng. Mục đích của tác giả đã rõ rệt: bịa
ra một câu chuyện để bác bỏ thuyết Tiến Hóa đồng thời truyền đạo. Nhưng vì quá ấu trĩ trong lập luận và
lô-gic nên cách truyền đạo của ông trở thành lố bịch, rẻ tiền và
khá đần độn. Thứ nhì, bà giáo sư “lịch sự”
chỉ thấy một người ngồi cạnh đọc cuốn Kinh Thánh mà đã cho rằng
ông ta tất nhiên phải theo Ki-tô Giáo và vội mỉa mai tôn giáo của ông
ta. Vậy thì lịch sự ở chỗ nào? Cái
“lịch sự” này chỉ có trong đầu của ông mục sư hay người bịa ra câu
chuyện vô lý này. Ở trên cái thế giới văn minh ngày nay, chẳng có ai ngu
như vậy, trừ đám cuồng tín Tin Lành. Cứ thấy ai đọc Kinh Thánh là người
ấy phải theo Ki-tô Giáo hay sao? Tôi
có thể tin rằng tôi đọc Kinh Thánh kỹ hơn mấy ông mục sư nhiều. Nếu bà ấy ngồi cạnh tôi trên máy bay
thì sẽ thấy rằng tôi luôn luôn đọc sách về Ki-tô Giáo hay đọc Kinh Thánh. Vậy nếu bà ấy mỉa mai là tôn giáo của
tôi (hàm ý Ki-tô Giáo) chẳng có gì là khoa học thì tôi sẽ đồng ý ngay
và giảng thêm cho bà ấy biết là Ki-tô Giáo chẳng có gì là khoa học ở
chỗ nào, và chứng minh bằng những đoạn tôi ghi dấu sẵn trên cuốn Kinh
Thánh cho dễ tìm. Thứ ba, ông mục sư dựa vào Định
Luật Nhiệt Động Lực Thứ Hai để bác thuyết Tiến Hóa, nhưng tôi có cảm
tưởng rằng ông ta chẳng hiểu gì về định luật này và chỉ nhắc lại
một luận cứ ấu trĩ phi khoa học của phe “Thiết kế thông minh”. Tôi có thể khẳng định như vậy. Tại sao? Vì Định Luật này chỉ có thể
áp dụng cho một “hệ thống kín” [closed system] hay một hệ thống riêng
biệt (self-contained or isolated system) chứ không thể áp dụng cho bất cứ một
hệ thống nào khác. Nhiệt Động Lực
(Thermodynamics), cái tên của nó đã nói rõ, là một môn học trong Vật Lý
Học (Physics) về sự biến đổi của Nhiệt (Heat) từ hay sang (from or into)
các dạng năng lượng khác nhau (the transformation of heat into or from other forms
of energy). Định luật Nhiệt Động Lực
Thứ Hai (The Second Law of Thermodynamics) không thể áp dụng cho một chiếc xe,
một ngôi nhà, hay sự già chết của các sinh vật, và quan niệm về Entropy
chẳng dính líu gì đến những thứ mà ông “mục sư am tường khoa học”
nói năng nhảm nhí như trên.. Đem Định
Luật Nhiệt Động Lực Thứ Hai áp dụng cho một chiếc xe, một ngôi nhà,
một sinh vật thì chỉ có những ông mục sư tự cho là “am tường khoa học”
làm, chứ những người am tường khoa học thật, không có ai làm chuyện ngớ
ngẩn như vậy. Tôi thật không có hứng thú giảng
cho ông mục sư “am tường khoa học” mọi chi tiết và suy diễn về Định
Luật Nhiệt Động Lực Thứ Hai qua những phương trình toán học và những
áp dụng của nó vì tôi thực tình nghĩ rằng, dựa trên “lý luận” của
ông mục sư viết như trên, ông ta chưa đủ trình độ để hiểu. Tôi nghĩ ông nên theo Thượng đế, trở lại
trường học để Thượng đế có thể thiết kế ra ông thông minh hơn một
chút và ông cũng có thể hiểu Định Luật Nhiệt Động Lực Thứ Hai rõ hơn
một chút. Không có gì mâu thuẫn hay đối nghịch
giữa quan niệm về Entropy và Tiến Hóa. Các
sinh vật hiển nhiên không phải là những hệ thống kín, chúng luôn luôn
tiếp nhận năng lực từ rất nhiều nguồn: thức ăn, thức uống, ánh
sáng mặt trời v..v... Hành tinh của chúng ta mà trên đó các sinh vật,
trong đó có chúng ta, có sự sống, cũng không phải là một hệ thống
kín, mà luôn luôn tiếp nhận được năng lượng từ mặt trời và rồi lại
phát ra một phần năng lượng trở lại vũ trụ, nếu không nhiệt độ của
trái đất sẽ tăng lên khủng khiếp, và không có một sinh vật nào có thể
sống nổi. Sự sống của các sinh vật
đã tiến hóa từ trong vòng 4 tỷ năm nay. Lẽ
dĩ nhiên, cá thể sinh vật luôn luôn chết đi và sự sống trên trái đất
sẽ không còn nữa khi, vào khoảng 5 tỷ năm nữa, mặt trời ở giai đoạn
cuối của quá trình sinh, trụ, hoại, diệt, như tất cả các ngôi sao
khác. Mặt trời là một ngôi sao, và cũng
như mọi vật trong vũ trụ, được sinh ra và sẽ chết đi. Entropy KHÔNG phải là để đo sự vô trật
tự hay hỗn độn hay từ trật tự xuống hỗn loạn như ông
mục sư viết, và cũng không phải luôn luôn biến chuyển trị số theo chiều
hướng từ thấp (trật tự) đến cao (hỗn loạn). Ông lấy một miếng thủy tinh, một chất
vô hình dạng (an amorphous material) và để nó vào trong tủ lạnh. Cấu trúc của nó không thay đổi, vị trí
của các phân tử trong đó cũng không thay đổi.
Nhưng Entropy của nó tăng vì nhiệt độ của nó giảm (Entropy tỷ
lệ nghịch với nhiệt độ tuyệt đối) nhưng nó không đi từ trật tự
xuống hỗn loạn. Khi nhiệt được hấp
thụ, entropy của hệ thống tăng, khi nhiệt phát ra khỏi hệ thống, entropy
giảm. Khi ăn thức ăn, nghĩa là hấp
thụ năng lượng, entropy của con người tăng, khi tiêu hóa hay hoạt động,
nhiệt năng phát ra khỏi người và entropy giảm.
Như vậy, entropy thường xuyên tăng giảm đối với trái đất
và đối với cả con người, một sinh vật, không phải là một hệ thống
kín. Kết luận? Khoa học không phải
để cho những người có trình độ “am tường khoa học” như của ông mục
sư viết láo. Chúng ta hãy đọc tiếp
một đoạn khác của ông Mục sư “am tường khoa học”. Đoạn này hơi dài vì tôi đã ghép vài đoạn
lại với nhau để phê bình một lượt, vậy xin quý độc giả hãy kiên nhẫn
đọc đoạn văn rất phi khoa học, thuộc thời đại Trung Cổ như sau: “Chúng ta biết "năng lượng không
tự nhiên sinh ra, không tự nhiên mất đi, nó chỉ biến từ dạng này sang
dạng khác" (theo định luật bảo toàn năng lượng) và "trong quá
trình biến đổi, năng lượng càng ngày càng trở nên ít hữu dụng hơn"
(theo định luật Nhiệt Động Lực thứ hai). Vậy ngay từ đầu đă phải
có năng lượng và năng lượng ban đầu là năng lượng toàn hảo. Ngày nay
chúng ta chỉ có được năng lượng cấp thấp, thoái hóa theo quá trình
Êntropi. Muốn tồn tại (hoặc đi muốn nguợc quá trình thoái hóa, biến đổi
từ dạng thấp cấp thành dạng cao cấp hơn), vật chất đòi hỏi nguồn năng
lượng bên ngoài. Vậy nguồn năng lượng
đầu tiên đến từ đâu? Nguồn năng lượng tiếp trợ, bảo trì sự sinh
tồn, vận chuyển của các tinh tú, của tinh thể, vật thể và của thế
giới hữu sinh ... do Ai đưa đến. Thật chúng ta không thể trả lời
được nếu từ chối một Đấng Quyền Năng lớn hơn cả Vũ trụ. Ngài
không những đă cung cấp năng lượng cho thế giới tốt đẹp ban đầu
nhưng còn gìn giữ nó cho đến ngày hôm nay bởi quyền năng của Ngài. Định
luật nhiệt động lực học thứ hai chứng minh cho thuyết tạo hóa và làm
cho thuyết tiến hóa trở nên phản khoa học.” Theo bà Giáo sư, tuổi vũ trụ của
là bao nhiêu? Ba mươi tỷ năm? Sở dĩ
các nhà khoa học nói như vậy bởi họ cho rằng bán kính của vũ trụ khoảng
30 tỷ năm ánh sáng. Chẳng có ai đo được kích thước của vũ trụ và biết
được đâu là trung tâm khoảng không vô tận, vô biên chứa đựng các vì
sao. Chẳng có ai có thể chứng minh được
rằng vũ trụ hình thành từ một "Vụ Nổ Lớn" và các thiên thể
bị bắn ra xa với tốc độ ánh sáng. Vậy
chẳng ai có thể chắc chắn được tuổi của vũ trụ... Vũ trụ không phải là một mớ vật
chất hỗn độn, nhưng là một hệ thống vô cùng phức tạp và trật tự....
Sự vận chuyển trong của hệ thống Mặt Trời chính xác đến nỗi không
có hành tinh nào bị hút vào khối lượng khổng lồ của Mặt Trời hoặc
bay tuột vào khoảng không vũ trụ bao la. ...Kinh Thánh cho biết trong ngày thứ
bốn của quá trình tạo hóa Đức Chúa Trời sáng tạo ra Mặt Trời và Mặt
Trăng để con người có thể phân biệt ngày và đêm và biết cách xác định
thời tiết, ngày, tháng, mùa và năm ( Sáng Thế Ký 6 1:14-19) Vì chắc chắn là không “am tường khoa học” nên ông Mục
sư đã viết rất ngớ ngẩn như trên, chứng tỏ kiến thức của ông ấy
chính là loại kiến thức đặc thù của Tin Lành, có đặc tính là “vô
kiến thức”. Vô kiến thức mới hỏi
một câu ngớ ngẩn: Vậy nguồn năng lượng
đầu tiên đến từ đâu?... do Ai đưa đến. Ngớ ngẩn ở câu “do Ai đưa đến” vì người ta sẽ hỏi lại:
“Nếu năng lượng đầu tiên phải có một
cái Ai đưa đến thì cái Ai đó do Ai đưa đến, và cứ tiếp tục như vậy
đến vô tận” Viện tới một “ai
đó” để giải thích thật sự là không giải thích cái gì cả. Nếu đó là một lối thoát của những người
lười biếng không chịu suy nghĩ hay không có đầu óc để mà suy nghĩ thì
thay vì nói “Ai đó tự hữu và hằng hữu”
tại sao ta không thể nói “năng lượng ban
đầu Tự Hữu và Hằng Hữu (tự nhiên
mà có - đă có, đang có và còn có đời đời)?” và thế là xong chuyện,
chẳng cần phải thắc mắc làm chi về những câu hỏi ngớ ngẩn. Hơn nữa, cái Ai đó, nếu thực sự có
đi chăng nữa, thì cũng không nhất thiết phải là Thiên Chúa của Tin
Lành, bởi vì không có lý do hay bằng chứng nào để tin như vậy, mà rất
có thể là “Con Cóc Là Cậu Chúa Trời”, hay bất cứ một vị Thần nào
trong số khoảng 2500 Thần được biết trên thế gian, tùy theo niềm tin của
mỗi người trong mỗi nền văn hóa. Trong phần trên tôi
đã chứng minh là ông Mục sư chẳng hiểu gì Định Luật Nhiệt Động Lực
Thứ Hai cả. Tiếp theo đây tôi lại
chứng minh ông Mục sư chẳng hiểu gì về những sự tiến bộ của ngành
Vũ Trụ Học trong Khoa Học, và vì “vô kiến thức” nên vẫn tiếp tục
tin vào những điều nhảm nhí không có bất cứ một bằng chứng nào để
chứng minh. Sau đây là một bài học về
vũ trụ học ở cấp sơ đẳng để mở mang đầu óc, nếu ông Mục sư còn
có một đầu óc lành mạnh, của ông Mục sư “am tường khoa học”. Thực ra, khoa học
ngày nay đã biết rõ năng lượng ban đầu từ đâu đến và đã có không
thiếu bằng chứng kiểm chứng sự hiểu biết này. [Xin đọc bài Câu Chuyện Big Bang của Trần Chung Ngọc
trên Trang Nhà Giao Điểm trước đây] Trước
hết, chúng ta nên hiểu, từ “Tiến Hóa” thường để chỉ sự “tiến
hóa sinh học” (biological evolution) của các sinh vật. Nhưng quá trình hình thành của các hành
tinh, ngôi sao, thiên hà và vũ trụ qua thời gian cũng là một dạng tiến
hóa, tuy rằng khác với sự tiến hóa sinh học. Trong thập niên 1920,
một khoa học gia Mỹ, Edwin Hubble đã khám phá ra một điều rất ngoạn mục
và quan trọng trong khoa học. Đó là những
ngôi sao và thiên hà ở rất xa trái đất đang càng ngày càng di chuyển ra
xa trái đất trên mọi hướng. Vận tốc lùi xa này tỉ lệ thuận với khoảng
cách của ngôi sao hay thiên hà đối với trái đất, nghĩa là càng xa bao
nhiêu thì càng lùi nhanh bấy nhiêu. [Sự kiện này chứng tỏ ông mục sư
đã viết láo khi cho rằng “các thiên thể
bị bắn ra xa với tốc độ ánh sáng” từ
Big Bang, vì tốc độ của ánh sáng là tốc độ giới hạn của mọi vật
chất.]
Khám phá này đã được kiểm chứng lại bởi rất nhiều khoa học gia khác
và phương pháp đo lường khác sau Hubble. Khám
phá căn bản này chứng tỏ vũ trụ càng ngày càng nở rộng. Nếu vũ trụ hiện
nay đang nở rộng thì trong quá khứ nó phải nhỏ hơn ngày nay. Điều này đưa tới sự suy diễn là vật
chất và năng lượng khởi thủy của
vũ trụ ngày nay là bắt đầu từ một điểm vô cùng nóng, vô cùng đặc. Đặc biệt là các phương trình của
Einstein cho phép chúng ta đi ngược thời gian thật xa, tới một thời điểm
mà tất cả vũ trụ được thu gọn trong một điểm mà danh từ khoa học gọi
là "dị điểm" (singularity),. Vì
tất cả vật chất và năng lượng trong vũ trụ không thể gói ghém trong một
thể tích càng ngày càng nhỏ đi đến vô cùng tận, nên như tức nước vỡ
bờ, tới một độ nào đó dị điểm đó phải nổ bùng ra, và khiến cho
vật chất và năng lượng được phân tán tung ra mọi hướng, danh từ khoa
học gọi là “tán xạ” (scattering) và ngày nay vẫn còn tiếp tục tán xạ. Các khoa học gia đã tính được vào thời
điểm vào khoảng 0.0001 (một phần mười ngàn) của một giây đồng hồ
(10-4 sec.) sau khi dị điểm bùng nổ, nhiệt độ của dị điểm là
khoảng 1000000000000 (một ngàn tỷ) độ tuyệt đối (1012 oK), và tỷ trọng của dị điểm
là 100000000000000 (một trăm ngàn tỷ) gram (1014 g) cho một phân khối. Để có một ý niệm về các con số trên, nhiệt độ ngoài biên của mặt trời chỉ
vào khoảng 6000 độ K, và tỷ trọng của nước chỉ là 1 gram cho một
phân khối. Một điểm quan trọng
trong thuyết Big Bang mà chúng ta cần hiểu là: không phải dị điểm nổ bùng
và nở rộng trong một không gian hay vũ trụ có sẵn, thí dụ như pháo
bông nổ trên trời, mà là thời gian và không gian được gói ghém trong dị
điểm, nghĩa là thời gian và không gian của vũ trụ ngày nay được sinh ra
cùng với sự nổ bùng của dị điểm. Trong
khoa học, không có vấn đề “trước Big Bang” và do đó dứt khoát loại
bỏ sự hiện hữu của một Thiên Chúa Tự Hữu và Hằng Hữu có khả năng
tạo ra Big Bang như một số người nghiện Thiên Chúa ngụy biện, tuy rằng
đây không phải là mục đích chứng minh của khoa học. Từ những con số về tỉ trọng của khối
vật chất trong dị điểm, nhiệt độ của dị điểm, và tuổi của vũ trụ,
với một sai số nào đó, khoa học đã đi đến đến kết luận là: Nếu
vũ trụ sinh ra từ một Big Bang cách đây khoảng 15 tỷ năm [không phải là
30 tỷ năm như ông Mục sư nói] thì trong vùng sâu thẳm của không gian vũ
trụ ngày nay phải có một loại bức xạ (radiation) gọi là “bức xạ nền
vũ trụ” (cosmic background radiation) và nhiệt độ của bức xạ nền này
chỉ khoảng vài độ trên “Không độ tuyệt đối” (Absolute Zero). Bức xạ
nền trong vũ trụ đã được Arno Penzias và Robert Wilson dò ra được năm 1965, và nhiệt độ của bức xạ nền này
đã đo được đúng như đã tiên đoán và do đó kiểm chứng thuyết Big
Bang. Tuy nhiên, các khoa học gia, qua sự
khám phá và đo lường này, cũng không thể kết luận dứt khoát là vũ trụ
bắt đầu với một Big Bang, mà còn một mắt xích cuối cùng trong thuyết
Big Bang cần phải giải quyết. Mắt xích cuối cùng này là, vì sự hiện
diện của các khối vật chất (các thiên hà) trong vũ trụ, bức xạ nền
không thể đồng đều khắp nơi trong vũ trụ mà phải có những vân nhỏ
(ripples), trong khi bức xạ nền trong vũ trụ mà Arno Penzias và Robert Wilson
dò ra được thì vô cùng nhuyễn, đồng nhất như nhau trong chín phương trời
mười phương Phật. Mãi tới năm 1992,
phi thuyền COBE (COsmic Backgroung Explorer) mới tháo gỡ được cái mắt
xích cuối cùng này và đưa đến sự hoàn chỉnh của thuyết Big Bang. Đó là phi thuyền COBE dò ra được những
vân (ripples) trong bức xạ nền của vũ trụ, Kết luận là khoa học đã dứt
khoát từ chối một Đấng Quyền Năng lớn
hơn cả Vũ trụ và đã trả lời được
là năng lượng ban đầu từ đâu tới và tới như thế nào, thay vì mù
quáng tin vào sự mang tới của một Đấng Quyền Năng mà không hề biết
là Đấng Quyền Năng đó như thế nào và đã mang tới như thế nào. Ki-Tô Giáo cho rằng đấng quyền năng mang
năng lượng tới trong sự “sáng tạo từ không” (creation ex-nihilo) nhưng
ông mục sư “am tường khoa học” phải biết rằng, theo công thức phổ
quát của Einstein, E = mc2, thì năng lượng E liên hệ tới khối lượng
m, vậy nếu m = 0 (hư không), thì năng lượng từ đâu mà ra? từ cái đầu óc trống rỗng của ông mục
sư? Ông Mục sư còn viết: Sự vận chuyển trong hệ thống Mặt Trời
chính xác đến nỗi không có hành tinh nào bị hút vào khối lượng khổng
lồ của Mặt Trời hoặc bay tuột vào khoảng không vũ trụ bao la. Khoa
học ngày nay đã giải thích được sự chuyển động của các hành tinh
và vệ tinh trong Hệ Thống Mặt Trời mà không cần viện tới bất cứ một
thứ quyền năng nào khác ngoài thiên nhiên. Ngoài
ra khoa học còn biết được những sự chuyển động đó không phải là
hoàn toàn cố định, chính xác, cho nên không cần phải thay đổi gì. Thực
tế là mặt trăng càng ngày càng di chuyển xa khỏi trái đất, và vận tốc
quay của trái đất cũng chậm dần, nghĩa là ngày và đêm càng ngày càng
dài hơn. Lẽ dĩ nhiên, ảnh hưởng của
những sự thay đổi nhỏ này trong vũ trụ chúng ta không thể thấy rõ suốt
trong cuộc đời của chúng ta, nhưng đó đã là những sự kiện khoa học. Nhưng bậy hơn cả là ông mục sư viết: Kinh Thánh
cho biết trong ngày thứ bốn của quá trình tạo hóa Đức Chúa Trời sáng
tạo ra Mặt Trời và Mặt Trăng để con người có thể phân biệt ngày và
đêm và biết cách xác định thời tiết, ngày, tháng, mùa và năm (
Sáng Thế Ký 6 1:14-19). Kinh Thánh cho biết? Cho ai biết?
Cho ông mục sư biết hay cho tôi biết, và biết như thế nào? Nhưng có lý do gì để tin rằng cái biết
trong Kinh Thánh nhất định phải đúng? Cũng từ những cái biết trong Kinh
Thánh mà Bruno bị thiêu sống, Galilei bị giam tại gia cho đến chết, hàng
triệu người bị tra tấn, ngục tù và thiêu sống v..v.. Ông mục sư có
dám phủ nhận điều này không? Như trên
đã nói, ngày nay không ai có thể mang bất cứ điều gì viết
trong Kinh Thánh, coi đó như là chân lý, để có thể thuyết phục người
đọc. Ngày nay, mang những điều viết trong Kinh Thánh
ra làm căn bản lý luận, hàm ý đó là những chân lý, không thể sai lầm,
đã trở thành những khẳng định lố bịch, ngu si vô trí của hạng người
mê tín, không có mấy đầu óc, và đang đi giật lùi trở về thời Trung Cổ. Nếu Kinh Thánh viết ngu thì sao? Thật vậy, Kinh Thánh viết quá ngu đi vì
cho rằng Đức Chúa Trời sáng tạo ra Mặt Trời và Mặt Trăng trong “ngày” thứ 4, trước khi sáng tạo ra Mặt Trời và Mặt
Trăng để biết ngày và đêm, và sau khi
có trái đất, nghĩa là trái đất có trước mặt trời, và còn nữa, mặt
trời và mặt trăng cùng được tạo ra trong một ngày. Khoa học ngày nay đã chứng minh rất
chính xác là mặt trời có trước rồi mới
tới trái đất và sau cùng là mặt trăng theo một quá trình như sau, một
bài học sơ đẳng nữa cho ông mục sư “am tường khoa học”: Khi vũ trụ nở rộng từ một Big Bang, lúc đầu gồm hầu hết là những nguyên tử Hydrogen và Helium, theo sự hiểu biết hiện nay trong khoa học, các bụi vật chất tung ra họp lại thành từng đám mây và bắt đầu kết tụ lại và quay trong vũ trụ, bắt đầu cho sự hình thành các thiên hà (galaxies). Vũ trụ ngày nay có cả tỷ tỷ thiên hà, trong mỗi thiên hà có cả tỷ tỷ ngôi sao. Trong các thiên hà, thí dụ như giải ngân hà (Milky Way) mà Thái Dương Hệ nằm trong đó, sự thay đổi áp suất làm cho bụi và khí họp thành những đám mây riêng biệt. Một số những đám mây này, vì trong đó có số khối lượng (mass) và lực thích ứng, nên tự thu nhỏ lại do lực vạn vật hấp dẫn. Nếu vật chất trong đám mây kết tụ lại đủ mức, các phản ứng hạch tâm bắt đầu xảy ra trong đó và một ngôi sao được hình thành. Mặt trời là một ngôi sao và cũng được hình thành ở giữa một cái đĩa đang quay tít trong vũ trụ (a flattened spinning disk). Bụi vũ trụ và khí trong cái đĩa này đụng nhau và họp thành những hạt nhỏ (small grains), và những hạt này họp thành những thiên thể lớn gọi là những hành tinh nhỏ (planetesimals), một vài hành tinh nhỏ này có thể có đường kính khoảng vài trăm cây số. Sau cùng, các hành tinh nhỏ này kết tụ với nhau thành 9 hành tinh quay xung quanh mặt trời và những vệ tinh của chúng, cùng với mặt trời họp thành Thái Dương Hệ. Trái đất là một trong 9 hành tinh này, nguội dần và vỏ trở thành cứng trong khi những hành tinh ở xa mặt trời hơn vẫn còn ở trong trạng thái khí hay nước đá (ice). Mặt trăng là một vệ tinh của trái đất, thành hình do sự va chạm của một thiên thạch vào trái đất, các mảnh của thiên thạch văng ra, qua thời gian dần dần kết tụ lại với nhau do lực hấp dẫn (gravitational pull), quay xung quanh trái đất, sau cùng trở thành một vệ tinh của trái đất. [IMP AB Secrets of the Universe, Card # 4: “About 4.6 billion years ago, the Earth was hit by another body. The colliding body shattered completely under the force of the impact, which also melted part of the Earth’s outer layers. The debris from the collision then went into orbit around the Earth, where they collected together to form the Moon]. Sau khi thành hình, mặt trăng tiếp tục quay xung quanh trái đất và càng ngày càng xa trái đất. |