posted: 19.8.2005
Nnc.
Trần Đại Vinh (*) Trong
số di cảo của Nguyễn Văn Tường, còn có 64 (1) bài thơ chữ Hán sáng
tác từ năm 1869 đến năm 1876, đã thể hiện tấc lòng yêu nước, yêu
dân chân thành của ông, một người trí thức chân chính gánh vác nhiều
trọng trách trong hoàn cảnh gieo neo của đất nước. Phần
lớn số thơ đó được viết trong giai đoạn ông làm tán lí quân vụ ở
các tỉnh biên giới miền Bắc. Năm
đầu tiến đến Lạng Sơn, ông đã xác định tình thế và nhiệm vụ:
Tuy nhiên lòng chó sói
Há
để kề bên hông
Bọn
ta thẹn ngồi không
Kẻ
nào đáng hưởng lộc
Nguyện
cùng nhau lo toan
May
dân khỏi bức bách Ông
đã ước mơ tiêu diệt hết quân xâm lược, thu hồi nền thống nhất vẹn
toàn Nam Bắc:
Diệt hết lũ cừ khôi
Khỏi
ô uế bờ cõi
Dẹp
loài tanh khác nòi
(Sơ
đáo Lạng Sơn - dịch). Ông
đã cảm nhận nỗi điêu linh của nhân dân:
Bốn thành cỏ lúa sờn kêu khóc
(Họa
thơ Từ Diên Húc). Và
đã khao khát chiến thắng:
Bao giờ sông núi ghi công đó
Chẳng
phụ giang sơn mấy nỗi niềm
(Họa
thơ Tri huyện An Dũng). Năm
năm lặn lội trên chiến trường tiễu phỉ giáp biên giới Việt Trung,
ông còn lưu lại 44 bài thơ đau đáu một nỗi niềm lo cho dân cho nước. Bài
thơ “Bảy lần qua Xương Giang” như một
tổng kết tình hình chiến trận gian nan và bế tắc:
Năm năm bảy lượt trẩy sông Xương
Cứu
hiểm chẳng dành tàu chóng lướt
Lái
cầm chưa định buồm ồn giương
Việc
đời cuồn cuộn vời con nước
Bế
tắc lòng tôi đọng tợ sương
Ngóng
Bắc, triều đình hôm sớm đợi
Lô,
Thao, trên ải nỡ đùa vờn?! Đến
khi trở về kinh, sung vào sứ bộ Lê Tuấn, đi Gia Định thương thuyết việc
giao trả bốn thành Garnier vừa lấn chiếm, ông đã cảm hoài:
Bao năm ải Bắc cờ giong
Nay
đi Tây sứ ngồi trong hỏa thuyền
Thương cho đường trước
gập ghềnh
Đoái
nhìn việc cũ bồng bềnh biển dâu
Giặc
thì ỷ thói cuồng đâu
Quan
triều ai đó có hầu thấy nguy
Không
tài thẹn nỗi trọng vì
Bình
sinh thơ đọc mắt ghi trăm bài...
(Họa
bài Tàu thủy xuống cửa Thuận
của
chánh sứ Lê Tuấn). Ngang
qua Tháp Bà Nha Trang, ông cũng ao ước:
Lục tỉnh nghìn năm về nước cũ
Cõi
bờ thu lại chuyến Tây hành Vào
Gia Định, nhân đi xem Sở thú vừa mới thành lập, ông đã cảm xúc chua
xót:
Vài chuồng thú lạ là tân vật
Nửa
khoảnh chim hoa khác cựu phong
Đối
cảnh đáng buồn ai đổi chủ
Gặp
người khó nói hết nguồn cơn
Cớ
sao tạo hóa còn đa sự
Luống
để vườn hoa chép tiếp dòng! Nỗi
niềm trăn trở, dằn vặt đó không còn gì chân thành hơn, phải phát xuất
từ một tâm hồn gắn bó sâu nặng với đất nước, với nhân dân và một
sự nhận thức cao về trách nhiệm. Đó là tấc lòng mà Nguyễn Văn Tường
gởi vào thiên cổ. Thế
nhưng, thơ chỉ bộc lộ nỗi niềm, chứ không thể trình bày sâu sắc nhận
định sáng suốt của ông. Phải đọc tấu sớ tường trình lên vua mới
thấy rõ tầm nhìn và nhận thức chính trị của ông. Hãy
xem một bài sớ, trước hết biểu lộ đức tính dũng cảm, trung thực, dám
nói những điều có thể đụng chạm đến tự ái của vua. Bài sớ đề
ngày 27 tháng 10 năm Tự Đức thứ 27 (1874) mở đầu viết: “Kính, từ khi hoàng thượng nối tiếp cơ đồ
lớn lao, vỗ yên vận sáng, tuy trì doanh bảo thái (**) chưa từng không
lấy sự gắng gỏi làm nỗi lo toan; nhưng quá nửa ngày thì trời xế, ngược
với sáng là tối, là lẽ tuần hoàn xưa nay thay đổi; cho nên trong thì biến
loạn của anh em, ngoài thì cái họa của mọi rợ, Nam Kì đất cũ thì trầm
luân, Bắc Kì thì giặc cướp liền năm”. Một
đoạn khác nói về tình hình quan lại: “Nay các quan đương chức trong ngoài, tham nhũng
hèn yếu vốn cũng có, nhưng người có
tài lo liệu cũng chưa từng thiếu vậy. Kẻ gặp việc thì lo khéo tránh,
ở quan mà vui làm việc riêng, đã được trích ra trừng trị răn dạy để
sửa chữa thì cũng ít vậy. Thậm chí có kẻ tùy việc đòi hối lộ, như
là chợ búa, thế mà lại không biết liêm sỉ. Than ôi, lòng người sao một
phen đến thế”. So
sánh với người nước ngoài, ông nhận định: “Thần thường tiếp người các nước Thanh,
Tây. Họ há tất cả đều là siêu việt
sao! Chỉ vì họ thì lấy điều thực mà làm, còn ta thì lấy điều hư để
ứng phó. Lấy thực đối với hư, thì mạnh yếu đã phân định rõ”. Từ
đó ông đề nghị về chính sách dùng người: “Kính mong hoàng thượng chọn người chân
chính sung lo việc thuyên tuyển, khiến
cho nắm lấy công bằng, tiến lui tất có ý (...). Mong hoàng thượng giữ vững
quyền truất giáng để khích lệ người tài năng, để người người đều
tận lực trong công việc. Nội trị được sửa đổi thì ngoại trị khá
hưng, mới có thể thư được nỗi lo đêm ngày”. Nói
về mình, ông viết: “Đến như thần đã không có tài khác, đường
làm quan trắc trở, đã nhiều lần lạm
dự vào ơn mưa móc không phải phận mình (2), mới có được ngày nay.
Kính được sai làm sứ, thần nào dám tiếc tâm sức. Duy được thờ hoàng
thượng trải hơn hai mươi năm nay, ở bên ngoài thì nhiều, chưa am hiểu
chính thể. Nếu như ban ơn chỉ dụ cho ở tại kinh, hầu hạ bên cạnh,
được nghe lời răn dạy, để cho thần mở óc ngu tối mà giảm bớt lỗi
lầm, đợi lúc đến kì sai phái tới lui với Tây, tùy cơ thương thuyết
để tiện lo cứu vãn, hoặc có thể đền đáp trọng trách trong muôn một.
Ấy là nguyện vọng của thần vậy”. Từ
những công việc cấp thiết lo toan mở mang cho cư dân miền núi Cam Lộ suốt
8 (3) năm làm tri huyện, những việc hành chánh chuyên môn tại Quảng Nam, văn
phòng Bộ Binh và Phủ Thừa Thiên, cho đến việc sung làm tán lí quân vụ,
phải lao tâm khổ trí và xông pha trận mạc, khi thì thương thuyết giao hảo,
phối hợp với quân tướng nhà Thanh, khi thì trực tiếp lặn lội trên chiến
trường tiễu phỉ, rồi trải qua những lần đấu trí trong thương thuyết
với sứ bộ Pháp, mong đem lại bình yên cho nhân dân, thu hồi tỉnh thành
cho đất nước, kể cả việc tham gia làm phụ chính đại thần gặp lúc
phải có những quyết định táo bạo, dứt khoát, Nguyễn Văn Tường đã
chứng tỏ là một người giữ trọng trách có nhiệt huyết, thể hiện một
tấm lòng vì dân vì nước sâu sắc. Tuy
nhiên tài ngoại giao của Nguyễn Văn Tường đã không đủ để cứu vãn
tình thế. Vì tình hình đất nước từ sau khi kí hàng ước Quý mùi đã
hoàn toàn bế tắc. Mặc
dù thế, cả Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết vẫn hợp lực để gắng
gỏi vớt vát. Nhưng khi chính phủ Pháp đã bổ nhiệm De Courcy làm tổng thống
Trung Bắc Kì quân vụ, kiêm Trung Bắc Kì toàn quyền, và Le Maire bị áp lực
phải từ chức, nhường cho De Champeaux thay thế làm khâm sứ Trung Kì, thì
hơn ai hết Nguyễn Văn Tường đã thấy bế tắc hoàn toàn. Theo ông thời,
thế, cơ đã không cho phép hành động tích cực. Biện pháp cuối cùng như
ông phân trần trong bài sớ gửi Tam Cung chỉ là: “Lấy mặt cười vui để đối phó bàn tay
hung bạo, mở tấm chân thành để thông
suốt đá cứng, tuy không thể lấy làm mạnh, mà chỉ có thể làm kế lâu
dài” (4). Nhận
thức đó đã làm cho ông trở thành người đứng ngoài cuộc trong cuộc tấn
kích quân Pháp đêm 22 - 23 tháng 5 Ất dậu, và tự động ở lại điều đình
với Pháp. Đó là một sai lầm lớn của ông (4). Chính
vì sai lầm cuối cùng này mà tác giả dân gian trong “Vè Thất thủ kinh
đô” đã không thể chấp nhận Nguyễn
Văn Tường, đã xây dựng ông trở thành một nhân vật giảo hoạt,
bề ngoài chủ chiến mà bên trong chỉ là cơ hội (5). May
mắn cho ông, [đúng hơn là cho sử học – nbs.], hình phạt đày đi Tahiti,
cùng với Tôn Thất Đính, và Phạm Thận Duật đã là một minh chứng hiển
nhiên cho lập trường yêu nước, bộc lộ rõ sự đánh giá cụ thể của
kẻ thù về bản chất của ông. Hơn
một trăm năm đã trôi qua, ngày nay nhìn lại, có nơi có lúc cũng đã
không thấy hết sự phức tạp của tình hình. “Hòa”, chiến đã từng
là những trăn trở, dằn vặt của mấy thế hệ sĩ phu Việt T.Đ.V. (Trích
từ “Kì Vĩ quận công Nguyễn Văn Tường
thi tập”, do Trần Viết Ngạc, Trần Đại Vinh, Vũ Đức Sao Biển sưu
tầm, giới thiệu, phiên âm, dịch [mới 45 bài], tư liệu Hội nghị khoa học,
20. 6. 1996, do Trường ĐHSP. TP.HCM. chủ trì và ấn hành, từ tr. 09 đến tr.
13).
(**)
Trì doanh bảo thái: giữ sự thịnh vượng, tốt lành (chú thích của tác
giả bài viết : Tài liệu tham khảo:
Di cảo Nguyễn Văn Tường (người
viết dịch) [cước
chú của TĐV., tác giả bài viết]. (1) Nhà
nghiên cứu Trần Đại Vinh không tính hai bài phản đề được viết chữ
cỡ nhỏ dạng đề từ ở nguyên tác chữ Hán. Xin xem chú thích (1) của bản
dịch nghĩa bài thơ số 42, gồm cả bị chú [bổ sung cho chú thích (1)]. (2) Cách
nói khiêm tốn thời phong kiến. (3) Xin
xem chú thích (1), ở bài viết của Vũ Đức Sao Biển. (4) Đây
chỉ là sách lược dành riêng cho Tam Cung và các quan lại chủ “hòa”,
già yếu, thay vì đến “tị địa” Khiêm Lăng hay Tân Sở, trong khi đó,
vẫn tiến hành kháng chiến vũ trang kết hợp với đấu tranh thương thuyết.
Cuộc Kinh Đô Quật Khởi không tâu trước cho Tam Cung. Xin xem chủ điểm 3
của bài “Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc kinh đô
quật khởi, 05. 7. 1885” trong
sách này. (5) Xin
xem chủ điểm 3 và chủ điểm 4, bài “Nguyễn
Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử
sau cuộc kinh đô quật khởi, 05. 7. 1885” của Trần Xuân An (tức là bài “Vài chủ
điểm sử học sơ lược cần thiết khi cảm nhận bài “Giải triều
…””); chú thích (2), (3) của hai
câu đối “Thượng đồ trình…”, và cả chú thích (7) của bản dịch nghĩa bài
thơ số 27, đặc biệt là bị chú (*a) về vè “Thất thủ kinh đô”, “Thất thủ Thuận An'' của chú thích (7) ấy. (6) Theo
chúng tôi, chỉ có một con đường duy nhất đúng, đó là con đường Nguyễn
Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, Phạm Thận Duật... chọn lựa. Chỉ một con
đường, nhưng hai nhiêm vụ: kẻ đánh, người đàm, tạo
sức mạnh cho nhau, cùng hướng đến một mục tiêu chung là đánh đuổi
thực dân Pháp, giành lại độc lập cho dân tộc, gồm cả việc đập vỡ
âm mưu bành trướng của nhà Thanh (Trung Hoa)... Xin lưu ý điểm này ở bài
“Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc
kinh đô quật khởi, 05.7.1885”. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com