posted: 19.8.2005
ĐỌC
THƠ NGUYỄN VĂN TƯỜNG Nnc.
Vũ Đức Sao Biển (*) Khoảng
cuối năm 1995, tôi được nhà giáo Trần Viết Ngạc đến mời tham gia báo
cáo trong Hội nghị khoa học về Nhóm chủ chiến Triều đình Huế và Nguyễn Văn
Tường, do Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh tổ
chức. Nhà giáo Trần Viết Ngạc giao cho tôi một thủ bản thơ chữ Hán của
Nguyễn Văn Tường gồm 50 bài thơ. Nhìn nét bút chân phương xương kính,
tôi thật sự cảm xúc, biết mình đang cầm trong tay những bài thơ của một
sĩ phu yêu nước. Vì thời giờ có hạn, tôi xin phép nhà giáo Trần Viết
Ngạc được chọn lựa một số bài tiêu biểu để phiên âm, dịch nghĩa,
dịch thơ và phát biểu suy nghĩ trên cơ sở những bài tiêu biểu ấy. Tôi
đọc thơ Nguyễn Văn Tường không phải bằng cái nhìn của một người
nghiên cứu mà chỉ thuần túy bằng cái nhìn của người làm báo, và thỉnh
thoảng làm thơ. Trước
tiên, tôi xin được khẳng định: Nguyễn Văn Tường là một nhà thơ đích thực với đầy đủ những
yếu tính của khái niệm nhà thơ. Sau
khi thi đỗ cử nhân năm 1850, triều Tự Đức, Nguyễn Văn Tường đã bước
vào cuộc đời làm quan năm 1852. Ông đã làm quan ở huyện Thành Hóa (nay
là Cam Lộ, Quảng Trị) trong 8 năm (1). Trở về kinh thành Huế, ông lần lượt
giữ các chức viên ngoại lang Bộ Hình (1861), án sát Quảng Nam (1862), tá
lí Bộ Binh (1863) và Thừa Thiên phủ doãn kiêm nhiệm khuyến nông sứ Thừa
Thiên - Quảng Trị (1864). Năm 1866, do vụ khởi nghĩa của Đoàn Trưng, ông
bị cách chức, sau đó được phục hàm biên tu, đưa về huyện Thành Hoá
làm công tác mở mang miền núi. Khi loạn giặc Khách nổi lên ở vùng Đông
Bắc, ông được cử ra Bắc làm tán lí quân vụ. Qua những biểu, tấu, chương
gửi về báo cáo Triều đình Huế, Nguyễn Văn Tường đã tự chứng tỏ rằng
ông là con người có kiến thức, có đởm lược về quân sự. Trong quan hệ
đối ngoại, ông là một nhà ngoại giao cự phách, nhiều lần sang Long
Châu, Trung Hoa gặp tướng Phùng Tử Tài để bàn việc phối hợp tiễu phỉ,
trấn định biên giới. Năm 1873, trong vụ Jean Dupuis, ông lãnh chức phó sứ,
cùng ông Lê Tuấn vào Sài Gòn thương thuyết với Pháp. Vua Tự Đức rất
tín nhiệm ông sau việc kí với Philastre hai thỏa ước rút quân Pháp ra khỏi
Bắc Kì, và hiệp ước năm 1874 với thống đốc Dupré. Sau hiệp ước
1874, Nguyễn Văn Tường được giữ chức thượng thư Bộ Hình, quản lí
Thương bạc viện và sung vào Cơ mật viện. Ông trở thành trọng thần khả
kính của triều Nguyễn. Tôi
phải trình bày sơ lược đôi nét về cuộc đời làm quan của Nguyễn Văn
Tường để thấy được ông là một sĩ phu năng động, một nhà chiến lược
quân sự, một nhà chiến lược chính trị, một nhà ngoại
giao. Thực
dân Pháp và những kẻ thỏa hiệp đã làm ca dao bôi nhọ, xuyên tạc
về tài năng và con người của ông; có câu truyền mãi đến bây giờ khiến
người đời sau hiểu sai về ông. Rõ ràng là vốn sống và sự cống hiến
của ông cho lịch sử, cho Triều đình Huế rất lớn. Đi, sống, chiến đấu
và viết là những yếu tố cơ bản hình thành tính cách nhà thơ của Nguyễn
Văn Tường. Thơ
chính là người. Thơ ca Việt Trong
bài Miếu trung ngọa mộc (Cây nằm trong miếu),
họa đáp lời ông tú tài họ Đặng (?) ở Bình Lâm, Nguyễn Văn Tường chỉ
mong làm một cây xà nhỏ:
Bất tịnh quần tài giảo thốn trường
Chung
phong na đắc phạ đồi đường
Cán
trinh biệt hữu hiên ngang xứ
Khẳng
tác nhân gia tiểu giác lương. Tạm
dịch là:
Chẳng muốn so đo chuyện ngắn dài
Sợ
gì yếu ớt, gió lung lay
Có
riêng gốc rễ, hiên ngang đứng
Xà
nhỏ trong nhà cũng một cây. Kẻ
sĩ là cây tùng, cây bách giữa đời. Nguyễn Văn Tường cũng có quyền tự
hào mình là một cây tùng như vậy. Ông có bài Tùng thụ (Cây tùng):
Tài bồi tự cụ lăng tiêu tháo
Ấm
tí năng dung thụy thế cầm
Lương
đống vị ngôn tha nhật dụng
Độc
cao vũ lộ thụ thâm ân. Tạm
dịch là:
Tiết tháo ngang trời tự đắp vun
Tàng
cây che chở các chim muông
Mai
sau chưa nói nên rường cột
Mưa
móc ơn sâu được thấm nhuần. Nguyễn
Văn Tường là một sĩ phu có bản sắc, có chí khí. Ông muốn “đem quách cả sở tồn làm sở dụng”
như cách nói của Nguyễn Công Trứ ngày nào. Và rõ ràng là ông đã hiển
đạt, đã thực hiện được sở nguyện. Thế
nhưng, sẽ không có thi ca nếu không có tâm hồn lãng mạn, tư duy lãng mạn.
Bên cạnh một trọng thần Nguyễn Văn Tường, thượng thư Bộ Hình, còn
có một nghệ sĩ Nguyễn Văn Tường say sưa với sông núi, mây, trời, trăng
trong, gió mát. Bài Cung họa Ngự chế Đoan
ngọ vãn phiếm chu hành hạnh Tư Hiền tấn
(Kính họa bài thơ ngự chế “Chiều lễ đoan ngọ đi dạo ở cửa Tư Hiền”)
có một đoạn rất nghệ sĩ, rõ ràng là bút pháp của một nhà
thơ lãng mạn:
Tà dương thiên ngoại vân phong họa
Tân
nguyệt giang đầu cảnh hạm minh
Thừa
phong thượng kí phấn bằng trình Tạm
dịch là:
Chiều xuống bên trời mây núi vẽ
Trăng
non đầu ngọn bóng thuyền lay
Thẹn
vì không giúp tay chèo chống
Ngàn
dặm chim bằng cưỡi gió bay Cảnh
quan cửa Tư Hiền hiện ra trong thơ Nguyễn Văn Tường thật hoà bình, hạnh
phúc, tươi đẹp. Tôi tin rằng phải có sự xúc động chân thành, sự cảm
thụ tinh tế của một nghệ sĩ đích thực mới viết được bài Tư Hiền tấn (Cửa Tư Hiền). Bài thơ có
đoạn sau:
Hà Trung thu tích hậu
Thuận
tấn chuyển lưu thư
Ba
ổn trung lưu tiếp
Phàm
quy viễn phố ngư
Trùng
dương thông nhãn xứ
Vạn
hác củng Triều dư Tạm
dịch là:
Trong sông tích tụ phù sa
Một
dòng thong thả tuôn ra biển ngoài
Sóng
êm chèo lướt sông dài
Bến
xa ghe lưới buồm ai trở về
Trùng
dương bát ngát bốn bề
Muôn
sông rồi cũng tụ về nơi đây. Thơ
Nguyễn Văn Tường tuân thủ khá chặt chẽ lối cấu trúc của Đường luật,
nhưng những tư duy và cảm nhận của ông về thiên nhiên thì rất lãng mạn.
Đôi khi, ông mạnh dạn vượt qua cấu trúc cổ điển đó để viết những
bài thơ dài theo ý mình như Hạnh Thúy Vân
sơn và Tư Hiền tấn. Ta có thể gọi
Nguyễn Văn Tường là một nhà thơ lãng mạn trong cổ điển. Người
ta cũng thường ca ngợi phong cách thi ca của Đường Tống
bát đại gia, cụ thể là Lí, Đỗ. Tôi nghĩ rằng thơ chữ
Hán của Nguyễn Văn Tường cũng chẳng kém gì thơ Lí, Đỗ. Hình ảnh
trong thơ ông rất gần gũi với chúng ta khiến chúng ta dễ thẩm thấu, dễ
cảm nhận hơn thơ Đường, Tống nhiều. Thí dụ như cảnh cửa biển Thuận
An trong Cung họa Ngự chế thi nguyên vận Nhuận ngũ nguyệt hộ từ
giá hạnh Thuận An tấn nhị thủ (Kính họa nguyên vận hai bài ngự chế:
“Tháng năm nhuận, hộ giá Thái Hậu ra cửa biển Thuận An”), có
hình ảnh rất đẹp:
Hải môn khả hạm giá ngao phi
Biến
phúc từ vân thử khí vi
Quế
trạo thuận lưu thanh tế tế
Da
lâm thùy ấm lục y y
Sa
đôi cổ lũy thăng thiên hiểm
Bác
trĩ tàng đài phục viễn uy
Thử
địa duyệt phòng tiên hiếu trị
Tạm
dịch là:
Cửa biển, thuyền như trạnh lớn bay
Che
khắp mây lành, nắng dịu thay
Chèo
quế khua dòng, êm tiếng nước
Dừa
xanh rủ bóng, đẹp màu cây
Cát
lên lũy lớn đường muôn hiểm
Súng
dựng đài cao thế cực dài
Lấy
hiếu trị đời qua chốn ấy
Trời
Nam, sao Vụ sáng không phai. Thơ
của Nguyễn Văn Tường còn ray rứt nỗi nhớ quê nhà Triệu Phong, Quảng
Trị, miền đất nghèo mùa đông thiếu áo, mùa hạ thiếu cơm. Bố vợ làm
ba bài thơ gởi ra Bắc thăm con rể; ông cũng họa ba bài gởi tạ lòng bố
vợ - Họa nhạc ông kí phỏng tam thủ nguyên vận. Trong ba bài đó,
tôi cảm xúc nhất khi đọc một bài có tiếng trẻ khóc chờ cơm:
Xứ xứ sầu văn đãi bô ngao
Ưu
thâm nan tả chuyển sinh trào
Thừa
lương thí hướng cao lâu vọng
Đố
nhãn nhưng đa vị ngải cao (hao). Tạm
dịch là:
Chờ cơm, tiếng trẻ khóc trăm nơi
Ray
rứt khôn nguôi phải bật cười
Dạo
mát nhìn lầu cao chót vót
Nhiều
đôi mắt ghét ngó không thôi. Bài
thơ thể hiện tình cảm ray rứt của một sĩ phu trước những cảnh đời
vất vả, đói kém của đồng bào mình. Bài thơ còn thể hiện được một
chút lập trường của nhà thơ trước cảnh sống xa hoa, sang trọng của một
số quan lại triều Nguyễn. Tư duy dân bản – nhân văn đó không phải ai làm quan cho Triều đình
Huế cũng có được. Nhưng
vượt lên trên tất cả, thơ của Nguyễn Văn Tường vẫn là thơ của một
sĩ phu giàu lòng trung quân ái quốc. Đúng như phong cách của nhà nho “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc”, Nguyễn
Văn Tường lo trước cái lo của mọi người và chỉ vui sau cái vui của
mọi người. Đối với Nguyễn Văn Tường, vua Tự Đức là mặt trời,
ông là đóa hoa hướng dương. Bài Ất Hợi
nguyên chính (Ngày mồng một năm Ất hợi
- 1875), thể hiện cái nhìn lạc quan, tự hào trước cảnh
vua tôi nhà Nguyễn đón mừng ngày mồng một Tết:
Tam triêu khí tải thục
Tường
quang mãn đế cư
Nhất
niên trưng hưu cát
Quần
tinh giai phát thư
Hi
nhiên đăng xuân đài
Hồn
nhiên lâm Hoa Tư
Đán
hề ca phục đán
Quỳ
tâm hướng nhật sư Tạm
dịch là:
Ba buổi bình minh dịu mát trời
Cung
vua sáng đẹp khắp nơi nơi
Điềm
lành hiện rõ trong năm mới
Muôn
vật bừng lên vẻ tốt tươi
Hớn
hở đài xuân vua ngự lên
Hòa
cùng quan lại xếp hai bên
Sáng
nay, ta hát một ngày trọn
Hoa
quỳ theo bóng mặt trời nghiêng Ông
không che giấu được niềm tự hào khi tháp tùng nhà vua đi duyệt quân
ngoài cửa Thuận An. Khí thế hùng mạnh của quân đội triều Tự Đức,
dưới đôi mắt nhà nho Nguyễn Văn Tường, tưởng như có thể nuốt cả
sao Ngưu, sao Đẩu. Bài Hạnh Thúy Vân sơn
(Vua ngự giá núi Thúy Vân) nói lên tâm trạng ấy: Phùng kim hạ ngũ nguyệt
Tích
dư nguyệt phục viên
Thiên
tử mệnh duyệt vũ
Triêu
phát Hương giang tân
Tiền
hậu như thiền liên
Vãn
khai Thuận Trực áp
Điều
điều vân thủy thiên
Vạn
trạo phù trung lưu
Quân
khí mộ ích kiên
Phong
vị thủy tự liên
Thúy
Vân tiệm giáp cận
Ngật
lập như trữ diên
Đăng
hoa thủy tạ mãn
Nhiêu
tử nghỉ lâu thuyền
Tiên
trượng quang như họa
Bồng
đảo bất tiêu thiền. Tạm
dịch là:
Nay tháng năm mùa hạ
Còn
dấu xưa trăng tròn
Vua
ban lệnh duyệt quân
Lính
chen vai thích cánh
Bến
sông Hương buổi sáng
Trước
sau quân nối liền
Chiều
mở đập Thuận Trực
Trời
mây nước nghiêng nghiêng
Vạn
mái chèo lướt sóng
Ba
quân thế oai hùng
Gió
đưa, thuyền nhẹ lướt
Mặt
nước im như gương
Gần
đến núi Thúy Vân
Đứng
hiên ngang chào đón
Thủy
tạ đầy đèn hoa
Cập
bến chèo khua rộn
Gươm
bụt tiên, sáng như tranh
Nét
thiền nguyên vẻ đảo xanh non Bồng. Từng
là tán lí quân vụ Bắc Kì, Nguyễn Văn Tường gắn liền cuộc đời mình
vào những hoạt động tiễu trừ giặc Khách, vỗ an đời sống nhân dân
biên giới Đông Bắc. Ông coi công tác tiễu phỉ là công tác hàng đầu. Bài
Nguyên đán tảo cứ Quảng Yên tuần phủ Hồ Trọng Liễn mã đệ triệp tự
quan binh đạp bình Phù Long phỉ sào nhân chí kì sự (Sáng mồng một Tết
xem tờ trình của tuần phủ Quảng Yên Hồ Trọng Liễn [Đỉnh] đưa về bằng
ngựa thuật chuyện quan binh dẹp tan ổ phỉ ở Phù Long, nhân đó mà ghi lại
việc ấy) thể hiện một cách sâu sắc lòng ưu dân, ái quốc của
ông. Bài thơ có những đoạn:
Thanh tướng lưỡng lâm vô thốn hiệu
Đạn
nan chung thị di khấu sao
Kình
nguyệt thố quật xuất một gian
Niên
lai biên manh khổ sao náo...
...
Phù
Long nhất cổ thiên hiểm thôi
Tướng
biện dụng mệnh vô kiên địch
Thanh
linh hách trạc vũ công khôi
Kỉ
công hựu thích hành khánh điển
Phàm
bách nhung thần thị chi miễn
Thùy
vị ba đào bất khả khai
Vạn
lí trùng dương tương tận quyển... Tạm
dịch là:
Tướng Thanh hai lượt qua, công cốc
Ngại
khó, không dẹp được cướp bóc
Bọn
chúng chui nhủi trong hang sâu
Biên
cương, dân lành chịu tang tóc...
...
Quân ta giết hết lũ cầm đầu
Phù
Long, hồi trống sạch như lau
Tướng
sĩ quên mình, không sợ giặc
Tiếng
tăm hiển hách, võ công cao
Ghi
công lại đúng dịp lễ mừng
Võ
tướng trông vào gắng sức chung
Ai
bảo sóng to không phá được?
Cuốn
trôi ngàn dặm sạch trùng dương... Thơ
Nguyễn Văn Tường là thơ của một trọng thần. Cái gì đem lại niềm vui
cho đất nước, cho nhân dân, cho nhà vua cũng khiến cho ông phấn khởi,
sung sướng. Thơ của ông có cái nhìn lạc quan, tin tưởng đến lạ lùng.
Bài Hà Trung đạo trung tác tỏ rõ khí tượng của một trọng thần:
Thập lí huân phong phất hạm kinh
Giang
sơn toàn bức nhãn tiền trình
Quần
phong nam củng thần kinh tráng
Chúng
thủy đông triều hải lượng hoằng
Tuần
nhạc, cửu đồng chiêm Thúy Lĩnh
Thao
sư, hà tất tạc Côn Minh
Thần
du tận thị ưu dân kế
Đáo
xứ hương bồn hiệp đạo nghinh. Tạm
dịch là:
Mười dặm ru thuyền gió mát qua
Mắt
nhìn toàn cảnh núi sông ta
Hùng
thay ngàn núi nam chầu hết
Đẹp
quá trăm sông biển đông hòa
Thúy
Lĩnh lâu nay thường đến đó
Côn
Minh hà tất dẫn quân qua
Lo
dân, hoàng thượng lên thăm viếng
Hương
án bày ra khắp mọi nhà. Điểm
son đẹp nhất trong thơ ca Nguyễn Văn Tường chính là tấm lòng trung quân
ái quốc. Đó là tấm lòng của một nhà nho tiến bộ, một ông quan tận tụy
với công việc, một bề tôi trung biết mình đang ăn lộc của ai và phải
làm gì cho vua, cho nước. Tấm lòng ấy khác hẳn với thái độ ngụy tín
của một số quan lại bàn giấy cầu an triều Tự Đức. Chúng ta hiểu tại
sao Nguyễn Văn Tường trở thành nhân vật
chính trong phái chủ chiến Triều đình Huế khi thấy quân Pháp
liên tiếp thực hiện những thủ đoạn xâm lược đất nước ta, dày
xéo nhân dân ta và vũ nhục Triều đình Huế. Cuộc binh biến 1885 đã nổ
ra ngay trong kinh đô Huế. Quân ta thất bại trước vũ khí, khí tài và thế
lực của quân Pháp. Vua Hàm Nghi được Tôn Thất Thuyết phò ra Tân Sở.
Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, quan thượng thư Bộ Hộ Phạm Thận Duật
và ông Tôn Thất Đính, cha của Tôn Thất Thuyết, bị đày ra Côn Đảo,
sau đó bị đày qua đảo Tahiti. Ông Phạm Thận Duật chết trên đường
đi; ông Nguyễn Văn Tường, ít lâu sau, ông mất, thân xác được đưa về
an táng tại quê nhà. Cuộc
đời của ông Nguyễn Văn Tường là cuộc đời của một nhà nho hành động.
Thi ca của ông bộc lộ được một phần con người hành động đó. Ông
đúng là cây tùng, cây bách trong Triều đình nhà Nguyễn và phái chủ chiến,
dù chỉ khiêm tốn nhận mình như một cây xà nhỏ:
Khẳng tác nhân gia tiểu giác lương. V.Đ.S.B. (Trích
từ “Kì Vĩ quận công Nguyễn Văn Tường
thi tập”, do Trần Viết Ngạc, Trần Đại Vinh, Vũ Đức Sao Biển sưu
tầm, giới thiệu, phiên âm, dịch [mới 45 bài], tư liệu Hội nghị khoa học,
20. 6. 1996, do Trường ĐHSP. TP.HCM. chủ trì và ấn hành, từ tr. 14 đến tr.
22).
(*)
Nhạc sĩ, nhà nghiên cứu (nnc.) văn học. [Xin lưu ý:
chú thích (16) của bản dịch nghĩa bài thơ số 56, có đoạn trích từ
ĐNTL. CB, tập 30, sđd., số trang nói trên]. (2) Xin
xem chú thích (1), (2), (4) của bản dịch nghĩa bài thơ số 14, sách này. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com