805-gdiem.gif (5390 bytes)

posted: 19.8.2005

PHẦN THỨ HAI:
CÁC SÁNG TÁC NGOÀI THI TẬP
& phụ lục:

vài bài thơ của những người cùng thời viết về phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường.

TỰ TRÀO

 

nvt-clipi.jpg (9426 bytes)

1

TỰ TRÀO

Dĩ thần, bất tài, giảng thuyết chiến hòa tam quốc sự

Duy quân, sở mạng, khi khu sơn hải thất niên gian!

TỰ CƯỜI CHÍNH MÌNH (1)

Bởi bề tôi, [do] không được tài năng, [nên mới] giảng nói

                       việc chiến [hay] hòa [của] ba nước (2)

Chỉ nhà vua, [với] mệnh lệnh vốn có, [đành chịu] dằn xóc chốn núi [rồi] biển [suốt] bảy năm (3)!

TỰ CƯỜI GIỄU CHÍNH MÌNH

Vì thần tử tài cạn,

nên phải giảng bàn về việc chiến hòa ba nước

Chỉ hoàng thượng lệnh truyền,

cam đành dằn xóc với miền non biển bảy năm!

Bởi bầy tôi, tài thiếu,

giảng bàn việc chiến hòa ba nước

Duy nhà vua, lệnh sẵn,

dằn xóc miền non biển bảy năm!

Dụng thần bất tài,

luận chiến giải hoà ba đất nước

Hay vua sẵn lệnh,

trèo non bơi biển bảy năm trời! (4)

TRẦN XUÂN AN

chuyển theo thể loại

          (1) Câu đối treo trong nhà của nhà thơ Nguyễn Văn Tường, tại làng An Cư, xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Chúng tôi chép lại từ tư liệu của nhà thơ Lương An. Đầu đề chúng tôi mạo muội đặt, căn cứ vào nội dung, thay vì đặt số thứ tự.

          (2) Việt Nam, Pháp (+ Tây Ban Nha) và Trung Hoa, đúng như đầu đề cuốn sách của sử gia Nhật Y. Tsuboi (NĐNĐDVP. & TH., sđd.)!

          (3) Từ cuối năm 1867, đầu năm 1868 đến 1875. Xem chú thích (3), bản dịch nghĩa bài 50; Y. Tsuboi, NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 270: trích dẫn tư liệu lưu trữ của Pháp (thư báo cáo của Rheinart, 30. 11. 1881, AOM. Aix, Amiraux 12940 và theo Taboulet): “Khi trở thành đứng đầu phe cứng rắn, chính Tường đã xúi Tự Đức xem thường hiệp ước 1874...”. Xem thêm chú thích (4) bản dịch nghĩa bài 47; và chủ điểm 3 của bài “Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc kinh đô quật khởi, 05. 7. 1885” (TXA.).

          Nguyễn Văn Tường không chấp nhận bất kì một hàng ước, nhượng ước (được gọi là “hòa” ước) nào (1862, 1874, 1883, 1884), kể cả phụ ước 1885.

          (4) Chữ “dĩ” kết từ (liên từ) trên còn có thể là một động từ, với nghĩa là dùng, lấy. Chữ “duy” cũng tương tự như vậy về từ loại; nếu là động từ thì có nghĩa là tưởng nhớ, suy nghĩ. Ở bản dịch thứ ba của cặp câu đối này, về số lượng chữ và về thanh (trắc / bằng) của mỗi chữ, người biên soạn (TXA.) cố gắng tái hiện y như nguyên bản chữ Hán.

ĐIẾU BÙI VIỆNnvt-clipii.jpg (8618 bytes)
2

ĐIẾU BÙI VIỆN (1)

Hiệp sơn siêu hải tri thuỳ kiện

Ái quốc tư gia chỉ tự bi (2)

Cắp non vượt biển ai là mạnh

Yêu nước thương nhà nghĩ tự đau                 

PHAN TRẦN CHÚC

dịch theo thể

THƯƠNG VIẾNG BÙI VIỆN (1878)

Cắp núi vượt biển (3), biết ai [:nước nào] mạnh (4);

Yêu nước, suy nghĩ về gia đình (nhớ nhà), ngoảnh về (5)

           [Tổ quốc], tự đau xót (khóc thầm).

THƯƠNG VIẾNG BÙI VIỆN (1878)

Cắp non vượt biển, hay ai mạnh

Yêu nước thương nhà, nghĩ tự đau (6).    

(bản biên soạn)

          (1) Bùi Viện (ĐNTL.CB., tập 34, Nxb. KHXH., 1976, tr. 65 và tr. 187 - 188). Xin xem thêm chú thích (7).

          (2) Trong cuốn “Bùi Viện với cuộc duy tân của triều Tự Đức” của Phan Trần Chúc (Nxb. Đại La, Hà Nội, cuối 1945; Nxb. Kiến Thiết, đầu năm 1946), Nxb. Văn hoá Thông tin, tái bản năm 2000, tr. 105 - 106, có ghi lại hai câu đối trên của Nguyễn Văn Tường, phúng điếu Bùi Viện, chánh quản đốc Nha Tuần tải vốn trực thuộc Bộ Hộ của ông, vào năm Tự Đức thứ ba mươi mốt (1878). Đầu đề người biên soạn mạn phép đặt.

          (3) Hiệp sơn siêu hải: “cắp [:kẹp] núi vượt biển”, là một thành ngữ diễn tả sự khó khăn, cam go đến mức tưởng chừng không thể vượt qua được.

          (4) Nước mạnh ở đây chính là Mỹ (Mỹ Lợi Kiên [US. America], Hoa Kỳ). Bùi Viện trong thời gian ở Hồng Kông (Hương Cảng) có tìm cách làm quen với một sứ thần Mỹ. Nhờ vậy, ông quyết sẽ sang Mỹ cầu viện. Đến nước Mỹ, mặc dù được tổng thống Ulysses S. Grant (chứ không phải Abraham Lincoln) tiếp chuyện, với lời hứa hẹn là sẽ giúp nước ta. Nhưng bởi không có quốc thư, nên việc vẫn chưa đi đến đâu. Lần sau, khi Bùi Viện mang quốc thư sang Mỹ, lại biết Grant đã chết. Kế hoạch cầu viện Mỹ vì thế hoàn toàn thất bại. Về nước, không bao lâu, Bùi Viện cũng qua đời (1878). Theo Phan Trần Chúc, thực chất lời hứa giúp của tổng thống Mỹ là nhằm hất cẳng Pháp và để cạnh tranh với các nước thực dân châu Âu khác! (Xem Phan Trần Chúc, sđd., tr. 29 - 35, tr. 38 - 49).

          (5) Chỉ: Với mặt chữ có bộ thủ, “chỉ” có nghĩa là xoay về hoặc ý hướng; với mặt chữ không có bộ thủ, “chỉ”ý tứ, ý hướng (nếu cùng nghĩa ý hướng, hai chữ thủ này khác chữ nhưng cùng nghĩa). Động từ “chỉ” (xoay về) này tiểu đối với động từ “tri” ở câu trên. Dịch sát nghĩa như trên.

          (6) Do chữ “kiện” (mạnh mẽ, hùng mạnh) là một tính từ, nên từ “bi” (thương đau) cũng phải là một tính từ. Ở trường hợp khác, “bi” (thương đau, thương xót) là động từ. Xin xem chú thích (2) bài “Vô đề” của Nguyễn Thượng Hiền (mục số 5 thuộc “Phần sáng tác ngoài Thi tập và phụ lục…” này):

Không quá Tây môn, bi thái phó

Thùy tòng Bắc hải, vấn trung lang.

Trong trường hợp này, “bi” dứt khoát phải là động từ, vì chữ “vấn” không thể thuộc từ loại nào khác. Về từ loại, “vấn” luôn luôn là động từ. Về kết cấu ngữ pháp, “vấn” cũng phải là động từ làm vị ngữ của một chủ ngữ hiểu ngầm:

Không quá Tây môn, [ngã] bi thái phó

Thùy tòng Bắc hải, [quân] vấn trung lang.

          (7) Sau khi Bùi Viện đã chết (1878), vào năm Tự Đức thứ ba mươi bốn (1881), vua Tự Đức còn nhắc đến ông, khi trách phạt đến bảy vị quan, gồm sáu đại thần, đường quan ở Viện Cơ mật và ở Sở Thương bạc (Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Chính, Phạm Thận Duật, Bùi Văn Dị [:Bùi Ân Niên], Trần Thúc Nhẫn), và cả viên Tham biện Nội các Đào Đăng Tiến [:Đào Tấn (nhà soạn tuồng)], khi họ muốn mở rộng quan hệ ngoại giao nhằm tìm lực lượng đối trọng với Pháp. Pháp lúc này đang chuẩn bị âm mưu để gây hấn và tấn công, chiếm đóng Bắc Kì lần thứ hai. Đó cũng là lúc Phạm Phú Thứ bị triệu về kinh để chịu trách phạt. Bấy giờ, vua Tự Đức không muốn các đại thần, đường quan giao du với cả Phạm Phú Thứ (đang bị giam lỏng để điều tra); nhà vua vẫn không muốn tin việc thực dân Pháp âm mưu xâm chiếm Bắc Kì lần thứ hai là có thật, lại cho là “hoang báo”, “nói hão tin càn”! Bài dụ trách phạt, vua Tự Đức viết: “… Vả người bầy tôi ắt phải có đạo [lí], dù muốn giao du rộng rãi, cũng phải chọn người mà chơi, muốn hiến kế sách tất phải cho có sự thực, chứ có thể nào nói nhiều nghe bậy, không có một mảy may nào là thực tế? Nay tự hỏi lòng mình, liệu như thế có an tâm không? Ngay đến như việc viên Bùi Viện, nếu không có người dẫn tiến, thì trẫm làm sao biết được? Vậy đã lầm lỡ một lần rồi, há lại nên để cho xảy ra lần nữa hay sao?…” (Thơ văn Tự Đức [3 tập], tập 2, Nxb. Thuận Hoá tái bản, 1996, tr. 167). Thời điểm Tự Đức viết bản dụ quở trách trên là ngày 24 tháng 02 năm Tự Đức thứ ba mươi bốn (1881).

Chúng ta đã biết rằng, Bùi Viện không những kiếm tìm sự ủng hộ, viện trợ ở Mỹ (Hoa Kỳ, thời tổng thống Grant) mà còn thu phục các lực lượng hải tặc nước Thanh (Trung Hoa) vào đội quân vận tải do ông chỉ huy. Cuối cùng, Bùi Viện đã thất bại ở cả hai hướng. Khi Bùi Viện mất, còn để lại sự thâm thủng ngân quỹ của Nha Tuần tải đến vài ba chục vạn quan! (Xem: Phan Trần Chúc, sđd.).

Tất nhiên, đối với các đại thần Viện – Bạc như trên đã nêu tên, sự mở hướng ngoại giao nhằm tìm lực lượng đối trọng với Pháp lúc này (1881), không thể là bọn hải tặc, mà chỉ có thể là Chiêu thương cục do Đường Đình Canh đại diện trong việc giao thiệp với nước ta…

Dẫu sao, Bùi Viện vẫn là một hình ảnh của nỗ lực tìm kiếm lực lượng đối trọng với Pháp và tìm kiếm hướng canh tân Đất nước thuộc nửa sau thế kỉ muời chín (XIX) ở nước ta, trong bối cảnh bế tắc chung của nhiều châu lục…           
GIẢI TRIỀU

nvt-clipiii.jpg (32003 bytes)

3

GIẢI TRIỀU...

                   Tam thập niên lai phí kỉ kinh (1)

                   Vô đoan dạ bán bách sầu sinh

                   Kì khai tam sắc, vân (2) lôi biến

                   Già thính song xuy, kê khuyển kinh

                    Sơn kính (3) vạn trùng thương (4) thúy liễn

                   Thần tâm nhất dạng (5) luyến đan đình

                   Thị phi nhiên phó (6) thiên thu hậu 

                   Xã tắc quân vương thục trọng khinh? (7)

(1) Các dị bản: minh / kinh (kỉ minh? kỉ kinh?).

(2) Các dị bản: vân / phong (vân lôi? phong lôi?).

(3) Các dị bản: kính / sắc?

(4) Các dị bản: thương / minh?

(5) Các dị bản: nhất dạng / bất nhị?

(6) Các dị bản: nhiên phó / phó dữ?

(7) Bài thơ này đã được truyền tụng từ sau ngày Kinh Đô Quật Khởi (23. 5 Ất dậu, 1885), như một mật lệnh phối hợp giữa phong trào Cần vương vũ trang và những người ở lại; sau đó, bài thơ chỉ được ghi lại bốn câu cuối với bản dịch không rõ ý, bị xuyên tạc (xem Phan Trần Chúc, “Vua Hàm Nghi”, Nxb. Chính Ký, Hà Nội, 1951; Nxb. Thuận Hoá tái bản, 1995, tr. 83 - 84). Do bài thơ được truyền khẩu, nên có một vài chữ bị dị biệt ở các dị bản, nhưng ý nghĩa vẫn không thay đổi như ở (1), (2), (3)... Ngoài ra, còn một số bản khác, in, xuất bản ở nhiều sách báo, thường chỉ trích dịch bốn câu cuối (xem: Nguyễn [Tôn Thất] Mạnh Hào, Kỉ yếu Hội nghị khoa học về “Nhóm chủ chiến trong Triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường”, ĐHSP. TP. HCM., 1996, tr. 90; Hải Âu, “Vua Hàm Nghi”, Nxb. Văn Nghệ TP. HCM., 2000, tr.124 - 127; Hồ Sĩ Vọng, phiên âm, dịch thơ, Lê Quang Thái dẫn trọn bài bát cú, tạp chí Cửa Việt, số 13, 1992, tr. 82; Lương An, bản lưu trữ gồm cả tám câu...).

          Trích từ cuốn “Vua Hàm Nghi” của Phan Trần Chúc (sách đã dẫn):

          “Muốn phô tả tâm sự mình trong lúc khó khăn này, [Nguyễn Văn – nbs. chua thêm] Tường có làm một thiên Đường luật nay vẫn còn bốn câu truyền tụng [– nbs. in đậm]:

                   Sơn tắc (*a) thiên trùng thương (*a) thúy liễn

                   Thần tâm nhất dạng luyến đan đình

                   Thị phi nhiên phó thiên thu hậu

                   Xã tắc, quân vương thục trọng khinh?

                   (Xe giá ngàn trùng lẫn dặm xanh

                   Lòng tôi riêng luyến chốn đan đình

                   Phải, chăng, phó mặc ngàn sau luận

                   Vua, nước, đôi đường, hỏi trọng khinh?).

Trong mấy câu thơ này, [Nguyễn Văn] Tường có ý nói rằng mình sở dĩ không đi theo xa giá là vì còn muốn ở lại để duy trì xã tắc. Đi với ở, đằng nào phải, là tùy theo sự phán đoán đời sau. Vì, vua với nước, chưa hẳn đã đằng nào đáng khinh, đáng trọng”.    

          (Phan Trần Chúc, “Vua Hàm Nghi”, Nxb. Chính Ký, Hà Nội – 1951. Trích theo sách tái bản của Nxb. Thuận Hóa, 1995, tr. 83 - 84).          

CHIA TÁCH TRIỀU CHÍNH...

Ba mươi năm qua, [quả là] phí phạm bao nhiêu tâm trí

                                             [đối phó với thực dân]! (*b)

[Vào lúc] nửa [đêm, cái] đêm không ngay thật [ấy, bọn giặc

               và tả đạo] ép bức [khiến] nỗi buồn [uất] dậy lên

Cờ [Pháp] mở ra [:chặt ra, chẻ ra] ba màu, mây [và] sấm

                                                               [quyền] biến

[Cái] kẹp tay để tra tấn nghe theo [cái] roi cặp,

                                                  gà [và] chó kinh hãi

Đường mòn [trên rừng] núi [dài và xanh ngắt] vạn trùng,

               lo lắng [cho] kiệu (xe vua) [vốn dĩ luôn] kín đáo

Lòng [của] kẻ bề tôi [cũng] một dạng thể [như thế], thương mến nên không nỡ rời bỏ sân son

Đúng, sai, [lẽ] ấy [xin] gửi [cho] cái mai sau [có tính] nghìn thu (muôn đời) [nhận định, đánh giá]

Đất nước, nhà vua, điều gì [đáng xem] trọng,

                                                  [xem] nhẹ [đây]?

TAN TÁC TRIỀU ĐÌNH...

Ba chục năm qua phí trí mình (a)

Nửa-đêm-gian-tả (b) ép (b) buồn sinh

Cờ chia ra khoảnh (c); mây giông nổ (d)

Kẹp xiết theo roi; gà chó kinh (đ)

Núi biếc (e) vạn trùng thương kiệu Ngự (g)

Lòng son (h) một thể luyến sân Đình (i)

Phải, chăng, xin gửi nghìn thu luận (k)

Theo nước – phò vua, đâu trọng, khinh (l)?

CHIA TÁCH TRIỀU CHÍNH...

Gươm phí bao năm, mấy bút mòn (1)

Nửa khuya (2) vô cớ ép bùng hờn (3)

“Tam tài”, cờ xổ (4); giông quyền sấm (5)

Roi cặp, kẹp tra; chó rủn hồn (6)

Đường núi (7) vạn trùng lo kiệu biếc (8)

Lòng tôi một dạng giữ (9) sân son (10)

Đúng, sai, ấy gửi nghìn sau luận (11)

Nhẹ? Nặng? Phò vua? Luyến nước non (12)?

TRẦN XUÂN AN

chuyển lại thơ

CHÚ THÍCH VÀ TRÌNH BÀY CÁCH DỊCH THƠ:

          (a) Phí trí mình (dịch thoát lấy vần). Nguyên nghĩa: phí phạm, hao phí bao nhiêu là kinh lịch, tâm trí. Trong bài thơ số 44, có câu: Kỉ kinh sương tuyết phí mang bôn”.

          (b) Nửa đêm-gian-tả: Vô-đoan-dạ bán. Đối chiếu với bối cảnh lịch sử và xét văn cảnh toàn bài, không thể dịch “vô đoan” là “vô cớ” được. Vả lại, ý vô cớ ấy đã hàm ẩn, bởi hầu hết các nguồn tư liệu đã xác định chính thực dân Pháp, cụ thể là De Courcy, đã cố tình bức bách triều đình Huế, mặc dù triều đình vừa lo phòng thủ (*c), vừa cố hết sức hoà hoãn, không tạo cớ cho Pháp tấn công kinh thành. Xem (k). Xin lưu ý: Ở bài thơ số 22 (Cửu nguyệt ngộ húy cảm tác), Nguyễn Văn Tường đã sử dụng chữ “bách” [bức bách] như trong câu trên (Đãi đán thư hoài bách trụy sương). Xem (3), bài này.

          (c) Ba màu: tam sắc. Ở đây, chỉ cờ nước Pháp treo trên kì đài kinh thành Huế sau đêm Kinh Đô Quật Khởi, 22-23.5 Ất dậu (1885), với cách đặc tả trong điều kiện thế kỉ XIX.

          (d) Bản dịch này vẫn thể hiện sự cảm nhận hai chữ “phong lôi” theo nghĩa của văn cảnh toàn bài và căn cứ vào kế hoạch kháng chiến (từ 1864) của Nguyễn Văn Tường, không theo nghĩa sử dụng thiếu chính xác (“phong lôi” khác với “vân lôi thời tiết”: thời vận anh hùng ra tay – xem Đào Duy Anh, Từ điển Hán – Việt, Nxb. Trường Thi, 1957, quyển hạ, tr. 123, 540). “Phong lôi” hay “vân lôi” cũng vẫn là hình ảnh chỉ lực lượng kháng chiến vũ trang do Tôn Thất Thuyết lãnh đạo. Trong một bài thơ của vua Tự Đức viết cho con trai Nguyễn Tư Giản, có câu: “Vân lôi chí cấp, giang hồ hoãn” (Mây sấm chí vội, sông hồ hoãn) [Xem: ĐNLT., tập 4, sđd., tr. 253].

          (đ) Kẹp (già), roi cặp (song xuy) là dụng cụ tra tấn của Pháp. Kẻ tra tấn bằng kẹp dựa theo lời ghi cung của kẻ tra tấn bằng roi cặp để khai thác tù binh, tù chính trị. Gà, chó: chỉ lũ không xứng làm người trước sự tra tấn của giặc. Câu này bị xuyên tạc chữ “già” (:kèn lá [của trẻ con]), nhằm bôi nhọ Tôn Thất Thuyết, cho rằng trong thực tế, Tôn Thất Thuyết ghét tiếng gà, tiếng chó thật, chứ không phải là ghét bọn người hèn nhát vốn bị nguyền rủa như gà chó như trên đã phân tích. 

          (e) Núi biếc; dịch chính xác là “đường núi” (sơn kính) hoặc “sắc núi”, “màu núi” (sơn sắc). Xem (g).

          (g) Kiệu Ngự; “thúy liễn” ở nguyên bản: xe, kiệu kín đáo, còn gọi là xe loan (xe có chim loan làm biểu trưng hoặc có tiếng lục lạc tượng trưng cho tiếng chim loan, hoặc chỉ là cách gọi dựa theo điển tích cổ). Dịch thay chữ là “kiệu Ngự”, chuyển ý cho “sơn sắc”, “sơn kính”. Xem (e).

          (h) Lòng son; dịch thay chữ, lẽ ra “thần tâm” phải dịch sát nghĩa là “lòng bề tôi”, “lòng tôi”. Xem (i).

          (i) Sân Đình; lẽ ra phải dịch “đan đình” là “sân son” (sân chầu vua, thời xa xưa được lát gạch đỏ). “Thần tâm”“đan đình” được dịch thay chữ, ghép ý như (e) với (g).

          (k) Nguyên văn: thiên thu hậu (nghìn thu sau; cái mai sau có tính muôn đời mà sách sử và công luận không quên được). Bản dịch tiếng Việt này chỉ dịch thoát, sót ý và thêm chữ “luận” (bàn xét, bình phẩm), theo ẩn ý. Về cấu tạo ngữ, xem (b).

          (l) Theo ẩn ý, có thêm hai chữ “theo” và “phò”. “Theo nước” là theo vận nước, tình hình giữa ta và giặc Pháp, sức mạnh quật khởi của phong trào đấu tranh vũ trang Cần vương (đánh) mà thương thuyết, đấu tranh chính trị (đàm).

          (1), (2) Xem chú thích bên trên: (a), (b),

          (3) Ép dậy nỗi hờn (bách sầu sinh). Xem lại (b). “Sầu” là buồn rầu, buồn bã, buồn uất, buồn nghẹn... “Sầu hải” người ta vẫn dịch là mối giận [dữ] như biển (mối sầu uất dậy sóng khôn nguôi), [TĐHV., sđd., tập hạ, tr. 190]. Ở đây dịch là “nỗi hờn” (“nỗi ngậm hờn”), theo ngữ cảnh, theo ẩn ý.

          (4) Xem chú thích bản dịch trên: (c).

          (5) Biến; dịch cả ẩn ý, thành “quyền biến”.

          (6) Xem chú thích bản dịch trên: (đ).

          (7) Đường núi: “sơn kính”, đường mòn trên núi rừng. Ý toàn câu: cả núi rừng bạt ngàn đều lo lắng, chăm lo, lo nghĩ về Hàm Nghi.

          (8), (10) Xem chú thích bản dịch trên: (g), (i).

          (9) Luyến: thương mến nên không nỡ rời bỏ (TĐHV., sđd., tập thượng, tr. 526). Dịch là “giữ” bởi muốn dịch cả ẩn ý của “nhất dạng” (cùng một dạng thể, một thể thức).

          (11), (12) Xem các chú thích bản dịch trên: (k), (l).

         Bị chú: Ngoài ra, chúng tôi còn thấy có bản dịch của Lương An với hai câu thực và hai câu luận như sau:

                   Kèn hai tiếng thổi kinh gà chó

                   Ba sắc cờ bay ám đất trời

                   Đường núi nghìn trùng băng giá ngự

                   Thềm son một quyết hướng lòng tôi

từ bản phiên âm giống hệt như trên, chỉ khác hai chữ: “xuyên” (xuyên qua, băng băng chạy nhanh, rẽ ra, mở lối trống lộng); “thiên” (nghìn):

                   Sơn kính thiên trùng xuyên thúy liễn

         Chữ “già” có nghĩa là “kèn lá”. “Xuy” là “thổi”. Chữ “biến” có nghĩa là “đều khắp”, “khắp cả, nơi nào cũng có”.

         Tất nhiên, chỉ là cùng âm đọc nhưng khác mặt chữ với “già” là cái kẹp tay để tra tấn, “xuy” là cái roi, “biến” là dùng mưu chước lạ để ứng phó với tình huống (quyền biến, chữ “quyền” trong Dụ Cần vương).

         Và chẳng hiểu vì sao “kèn nghe hai tiếng thổi”, nếu dịch sát nghĩa “già thính song xuy”? Xuy: que, lẻ (roi) đánh nhịp? Theo phép làm thơ có tiểu đối, cờ “tam tài” Pháp đối với dụng cụ tra tấn khi chúng đi cướp nước mới thật sâu sắc, và dung lượng phản ánh hàm súc, đúng với hiện thực hơn. Dùng trọn hai vế đầu của hai câu thực để tả buổi chào cờ có kèn thổi của Pháp, thì chưa thật hàm súc.

         Chúng tôi còn hiểu, theo văn lí, nếu dùng chữ “xuyên” thì chữ “kính” phải là “gương” (tấm kính), chỉ mặt trời, mặt trăng:

                   Gương núi vạn trùng soi kiệu ngự

                   (Gương núi vạn trùng xuyên kiệu ngự)

         Có thể chăng, chỉnh lí lại bản dịch Lương An:

          Ba chục năm qua phí trải đời

Bỗng dưng, khuya ép nỗi sầu khơi

Cờ phành ba sắc; giông rền nổ

Kẹp theo roi cặp; chó rụng rời

Đường núi vạn trùng băng kiệu Ngự

Lòng tôi một quyết hướng sân Người

Đúng sai xin gửi ngàn thu xét

Bên nước bên vua, đâu nặng vơi?

LƯƠNG AN

dịch thơ

(bản biên soạn)

         Chính hai chữ “nhất dạng” (hoặc “bất nhị”) đã quyết định các chữ sai biệt ở các dị bản (do truyền khẩu). “Nhất dạng” hoặc “bất nhị”, không có dị bản nào có hai chữ nào khác. Vả lại, xét về từ loại, ngữ nghĩa, “nhất dạng” đối rất chỉnh với “vạn trùng”, và “bất nhị” vẫn đối lệch với “kỉ trùng”. Hơn nữa, cũng không nên lặp lại chữ “kỉ” vì đã có “kỉ kinh”.

Bối cảnh lịch sử cũng là cơ sở cho việc mạo muội hiệu đính, khảo dị, nhằm xác định đúng bản gốc, nguyên tác của ông (xin xem bài viết “Nguyễn Văn Tường (1824-1886) với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc kinh đô quật khởi, 05 tháng 7.1885” [“Vài chủ điểm sử học sơ lược cần thiết khi cảm nhận bài “Giải Triều …””]).

Sau khi cân nhắc, thấy bản chính thức, theo chỗ chúng tôi biết, là hợp lí và phổ biến hơn cả.

          Hai câu bổ sung:

          CHIA TÁCH  TRIỀU CHÍNH...

          U trung thùy bạch thiên thu hậu? (*d)

          Xã tắc quân dân thục trọng khinh?

          Lòng trung sâu kín, tĩnh lặng, ai tỏ rõ [cho] cái mai

                                   sau [có tính] nghìn thu?

          Tổ Quốc, đức vua, nhân dân, đâu [là lẽ] nặng,

                             đâu [là lẽ] nhẹ?

Hai câu bổ sung của bài

“ TAN TÁC TRIỀU ĐÌNH...”

Lòng trung sâu kín, sau ai tỏ?

Tổ Quốc, dân, vua, đâu trọng, khinh?

(bản biên soạn)

Đó là hai câu sửa chữa? Hoặc là hai câu thuộc bài khác? Theo ông Nguyễn Xuân Quế (hậu duệ Nguyễn Văn Tường), cuối bài “Giải triều...”, có một câu chú thích thêm với nội dung như trên cùng với hai chữ “Mạnh Tử”, ý muốn nhắc đến câu kinh điển của Nho giáo: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (dân là quý, đất nước là thứ nhì, nhà vua chỉ đáng xem nhẹ). Có lẽ chính là hai dòng thơ này.

Cước chú của bài thơ số 3 (Giải triều…), thuộc Phần thứ II (các sáng tác ngoài thi tập):

(*a)  Tắc (?) [còn đọc là "tái"]: đất biên ải (TĐHV., sđd., tập hạ, tr. 223 và 239; viết giống nhau nhưng tùy theo cách đọc mà có nghĩa khác nhau). Đúng ra, theo Phan Trần Chúc, là "sắc", nhưng bị sai lỗi in ấn. Còn chữ "thương" (lo nghĩ) phải đối với chữ "luyến" (thương mến không nỡ rời bỏ) mới thật chỉnh – tương ứng, bổ sung ý nghĩa cho nhau.

      Về chữ "thương", xin xem ở hai bài thơ, số 45 và 47 (“Ưng thương tích biệt li”; “Chi thương vãng sự hải tang di”).

(*b)  Xin xem phần chú thích ở bản dịch dưới dạng thơ.

      Sau bài này, chúng tôi chủ yếu đặt các chú thích dưới bản dịch nghĩa. Tuy vậy, hầu hết bản biên soạn dịch thơ (khoảng 45 bài đầu) và bản dịch thơ (khoảng 21 bài sau) đều có thêm tiểu mục CHÚ THÍCH DỊCH THƠ, bởi chúng tôi vẫn xem bản dịch thơ phải đi đôi với bản dịch nghĩa. Vả lại, mặc dù chú thích ở bản dịch thơ (hay “bản biên soạn” dịch thơ) chỉ dành cho việc chuyển lại ngôn ngữ thơ, nhưng trong quá trình thực hiện khâu cuối, lại nảy sinh yêu cầu chú thích thêm cho bản dịch nghĩa. Tất nhiên chúng tôi hết sức cố gắng để mỗi tiểu mục đảm nhiệm đúng chức năng của nó (tiểu mục nào ra tiểu mục ấy). Xin vui lòng xem chú thích ở cả hai.

(*c) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 244: “ … thù ghét  [giặc Pháp – nbs. chua thêm (:ct.)], ai bảo là không nên. Không gì bằng cuộc nghĩa cử đêm 22 tháng 5 năm nay [04 – 05. 7. 1885 – nbs. ct.]…”.

(*d)  U: vắng vẻ, yên lặng; sâu kín. Trung: hết lòng với người; hết lòng với nước. (Xem Đào Duy Anh, Từ điển Hán - Việt, sđd., tập hạ, tr. 506, 520).

THƯỢNG ĐỒ TRÌNH, CẢM TÁC ĐỐI LIÊN

nvt-clipiv.jpg (12348 bytes)

4

THƯỢNG ĐỒ TRÌNH, CẢM TÁC ĐỐI LIÊN (1)

Tây trư tựu trở bì do xích

Nam giáng li chi quả vị hàm!

TRÊN ĐƯỜNG LƯU ĐÀY, CẢM TÁC CÂU ĐỐI (1)

Con lợn (2) [nước] Pháp lao [đầu] vào thớt,

                                da do đó [bị cạo] trụi

Sắc đỏ (3) [cõi] Nam rời [cuống] khỏi cành,

                     quả [: kết quả] vẫn chưa [được chín

                   /  khởi nghĩa] đều [đều khắp]! (4)

TRÊN ĐƯỜNG LƯU ĐÀY, CẢM TÁC CÂU ĐỐI

Tây heo lao thớt, da nên trụi

Nam đỏ lìa cành, quả chửa đều!

Lao thớt, lợn Tây da phải trụi

Rời cành, măng Việt trái còn hườm!

TRẦN XUÂN AN

chuyển lại thơ

          (1) Đầu đề chúng tôi mạo muội đặt. Tư liệu chép từ “Lô Giang tiểu sử” của Tiểu Cao Nguyễn Văn Mại (1858 - 1945), một vị quan triều Nguyễn (bản quốc ngữ chép tay)...

          (2), (3) Để đối với chữ “giáng”, quen nói tắt từ hai chữ “giáng châu”, là chữ “trư”, nói tắt từ hai chữ “trư tử” (xin xem TĐHV., sđd., tr. 511). Như thế câu đối mới thật chỉnh. Ở bản dịch nghĩa, lẽ ra phải dịch “giáng châu” theo nghĩa: viên ngọc đỏ (nghĩa đen), quả tim đỏ (nghĩa bóng), bởi “măng cụt” chỉ là ẩn dụ cụ thể hóa, cái gợi liên tưởng trực tiếp, nếu “giáng” là “giáng châu”. Còn “trư tử”, nguyên nghĩa là “con người có tính lợn (heo)”, bởi chữ “tử” được dùng để chỉ người, không phải để chỉ vật. Ngoài từ “trư tử”, còn có một vài từ tương tự, như “trư cẩu đẳng”, “trư trạng nguyên”. TĐHV., sđd., còn liệt kê thêm ở mục từ “trư” này: “trư linh” (nấm lợn), “trư bà long” (rùa lớn có dáng hoặc đặc điểm nào đó như loài heo)... Tuy nhiên, chúng tôi vẫn dịch như nguyên văn, không phỏng đoán gì thêm. Tự thân danh từ “giáng” (sắc đỏ) đã đối khá chỉnh với danh từ “trư” (con lợn, con heo) và cả hai đều được khu biệt ngữ nghĩa bởi chữ “bì” (da), chữ “quả” (trái cây), bởi tứ của chỉnh thể câu đối gồm hai vế đối. Nói rõ hơn, nếu xem câu đối ấy là khá chỉnh, chỉ bởi hai chữ “trư”, “giáng”, thì phải chăng, tác giả cố tình tạo ra một độ chênh cho phép, nhằm gợi suy nghĩ (“trư” là tiếng chỉ loài giống; “giáng” là tiếng chỉ phẩm chất, thuộc tính; đều thuộc từ loại danh từ, trong cách sử dụng, ở vị trí ngữ pháp của mỗi vế đối). Như thế, cả hai đều trở thành nhãn tự, thu hút sự chú mục của người đọc, đồng thời gợi nên cái gườm mắt đầy bi phẫn, bộc lộ thần thái bên trong, sâu kín và rất bản chất, của chỉnh thể nghệ thuật câu đối, chứa đựng trọn vẹn một tứ thơ của tác giả. Và cũng bởi thế, câu đối (dạng hai câu song thất) trên, hoặc là khá chỉnh, hoặc là quá chỉnh, chứ không thể chỉnh một cách bình thường.

          Rõ ràng chữ “trư”, nhà thơ, nhà chính trị Nguyễn Văn Tường sử dụng nhằm chỉ đích danh bọn Tây thực dân hoặc bọn mã tà, ma ní, nói chung là kẻ thù trực tiếp: bọn Tây dương (Pháp, Tây Ban Nha...), chủ yếu là Pháp.

          (4) Về mặt nội dung của cặp câu đối song thất, chúng tôi cho rằng, lúc ghé Gia Định, trước khi bị tiếp tục cuộc lưu đày ra Côn Đảo, sang Tahiti, nhà thơ, nhà chính trị Nguyễn Văn Tường vẫn không nguôi tâm trạng nhớ về cuộc Kinh đô Quật khởi (05.7. 1885, 23.5. Ất dậu). “Trư” và “giáng” ở Gia Định đã gợi cho ông liên tưởng về sự kiện lịch sử ấy. Đôi câu đối còn phản ánh niềm tin vào sự chiến thắng tất yếu của dân tộc ta, của các dân tộc Á – Phi – Mỹ la tinh trước sự xâm lược cuồng bạo của thực dân Âu – Bắc Mỹ thời giẫy chết của chủ nghĩa tư bản cướp bóc. Với ông, ông tin vào sự chiến thắng tất yếu của Việt Nam, như dân tộc ta đã từng chiến thắng quân xâm lược Nguyên – Mông, đế quốc vô địch thế giới thế kỉ XIII, như đã bao lần chiến thắng quân Nam Hán, Tống, Minh, Thanh... (Trung Hoa). Sự thắng lợi, dưới tài lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Bác Hồ, Lê Duẩn (*) và với tài quân sự của Võ Nguyên Giáp, đã chứng tỏ niềm tin ấy của Nguyễn Văn Tường: Đúng là Pháp, Mỹ, kể cả Nhật Bản (châu Á), đã bị Cách mạng Tháng tám 1945, Điện Biên Phủ 1954, Mậu thân 1968, Ất mão 1975 “cạo trụi”, không còn manh giáp.

          Về mặt hình thức thể loại, theo lời nhà thơ Lương An, đó là cặp câu đối. Câu đối tất nhiên không có đầu đề và dùng để treo trong nhà, đình, chùa, công đường. Tuy nhiên, thường thường các cảm xúc, suy tưởng, nhất là trên đường đi, các nhà thơ vẫn quen thể hiện bằng những thể thơ, thể văn khác, nếu không muốn treo ở nhà như cách treo hai vế câu đối thường thấy. Vả lại, dạng câu đối song thất, về mặt hình thức, chỉ là hai câu thực hoặc luận của thể thất ngôn bát cú Đường luật, tuy có điều, câu đối song thất phải chuyên chở một tứ thơ (văn) trọn vẹn để trở thành một chỉnh thể tác phẩm. Đó là dạng haiku có đối. Hẳn Nguyễn Văn Tường muốn bày tỏ công khai, bằng cách gửi về treo ở nhà, nên đã sử dụng thể câu đối như vậy. (Về thể câu đối, xin xem Từ điển văn học, tập 1, Nxb. KHXH., 1985, tr. 111).

         Bị chú: Nhà thơ Lương An cho chúng tôi biết, có một bản như sau:

                   Tây trư tựu trở bì do xích

                   Nam giáng li chi quả vị hoàng

         Và ông đã tạm dịch:

                   Heo Tây lên thớt da còn đỏ

                   Măng cụt rời cây trái chửa vàng

         Trong thực tế, trái măng cụt còn gọi là giáng châu, hoặc hai chữ “măng cụt” được gọi tắt là “măng”, trái măng. Trái măng lúc còn non (mới kết trái), có màu vàng nhạt. Lúc đã lớn, chín, trái măng lại có màu nâu sẫm hơi ửng đỏ (màu đỏ tía, nâu tía). Nam giáng li chi quả vị hoàng”: quả măng cụt phương Nam [nước Nam] rời cành vẫn chưa vàng, tức là còn rất non, chỉ mới có nụ quả.

                   Heo Tây lên thớt da nên đỏ

                   Măng Việt lìa nhánh trái chửa vàng.

         hoặc:

                   Heo Tây lao thớt da nên trụi

                   Măng Việt lìa nhánh trái chửa vàng.

         Nhà thơ Lương An cũng nói, chữ “hàm” (đều khắp), trong ngữ cảnh, như ở trang trước (sách này) đã chép (**) (chưa chín đều, mới chín rám, đang chín hườm), hẳn đúng hơn và đúng với các nghĩa (nghĩa đen, nghĩa bóng).

         Chúng tôi thấy, ở bản này, có lẽ Nguyễn Văn Tường dùng ẩn dụ “Nam giáng” – “vị hoàng” để chỉ vua Hàm Nghi (7. 1885, mới 14 tuổi). Người ta cũng thường nói “quả tim đỏ”, “quả tim vàng” (đan tâm, kim tâm)... Đó chỉ là hình ảnh tượng trưng, không phải tả thực.

         Tuy nhiên, chữ “hàm” đa nghĩa, phong phú hơn.

Cước chú của bài số 4 (Thượng đồ trình…), thuộc Phần thứ II (các sáng tác ngoài thi tập):

(*) Nhân vật kết thúc vẻ vang cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc 130 năm