posted: 19.8.2005
vài
bài thơ của những người cùng thời viết về phụ chính đại thần Nguyễn
Văn Tường. TỰ
TRÀO
1 TỰ
TRÀO Dĩ
thần, bất tài, giảng thuyết chiến hòa tam quốc sự Duy
quân, sở mạng, khi khu sơn hải thất niên gian! TỰ
CƯỜI CHÍNH MÌNH (1) Bởi
bề tôi, [do] không được tài năng, [nên mới] giảng nói
việc
chiến [hay] hòa [của] ba nước (2) Chỉ
nhà vua, [với] mệnh lệnh vốn có, [đành chịu] dằn xóc chốn núi [rồi] biển [suốt] bảy năm (3)! TỰ
CƯỜI GIỄU CHÍNH MÌNH Vì
thần tử tài cạn, nên
phải giảng bàn về việc chiến hòa ba nước Chỉ
hoàng thượng lệnh truyền, cam
đành dằn xóc với miền non biển bảy năm! Bởi
bầy tôi, tài thiếu, giảng
bàn việc chiến hòa ba nước Duy
nhà vua, lệnh sẵn, dằn
xóc miền non biển bảy năm! Dụng
thần bất tài, luận
chiến giải hoà ba đất nước Hay
vua sẵn lệnh, trèo
non bơi biển bảy năm trời! (4) TRẦN
XUÂN AN chuyển
theo thể loại (1)
Câu đối treo trong nhà của nhà thơ Nguyễn Văn Tường, tại làng An Cư, xã
Triệu Phước, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Chúng tôi chép lại từ
tư liệu của nhà thơ Lương An. Đầu đề chúng tôi mạo muội đặt, căn
cứ vào nội dung, thay vì đặt số thứ tự. (2)
Việt Nam, Pháp (+ Tây Ban Nha) và Trung Hoa, đúng như đầu đề cuốn sách của
sử gia Nhật Y. Tsuboi (NĐNĐDVP. & TH., sđd.)! (3)
Từ cuối năm 1867, đầu năm 1868 đến 1875. Xem chú thích (3), bản dịch nghĩa
bài 50; Y. Tsuboi, NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 270: trích dẫn tư liệu lưu trữ
của Pháp (thư báo cáo của Rheinart, 30. 11. 1881, AOM. Aix, Amiraux 12940 và theo
Taboulet): “Khi trở thành đứng đầu phe cứng
rắn, chính Tường
đã xúi Tự Đức xem thường hiệp ước 1874...”. Xem thêm chú
thích (4) bản dịch nghĩa bài 47; và chủ điểm 3 của bài “Nguyễn Văn
Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc kinh đô quật khởi, 05. 7. 1885”
(TXA.). Nguyễn
Văn Tường không chấp nhận bất kì một hàng ước, nhượng ước (được
gọi là “hòa” ước) nào (1862, 1874, 1883, 1884), kể cả phụ ước 1885. (4)
Chữ “dĩ” kết từ (liên từ) trên còn có thể là một động từ, với
nghĩa là dùng, lấy. Chữ “duy” cũng
tương tự như vậy về từ loại; nếu là động từ thì có nghĩa là tưởng nhớ, suy nghĩ. Ở bản dịch thứ
ba của cặp câu đối này, về số lượng chữ và về thanh (trắc / bằng)
của mỗi chữ, người biên soạn (TXA.) cố gắng tái hiện y như nguyên bản
chữ Hán. ĐIẾU
BÙI VIỆN ĐIẾU
BÙI VIỆN (1) Hiệp
sơn siêu hải tri thuỳ kiện Ái
quốc tư gia chỉ tự bi (2) Cắp
non vượt biển ai là mạnh Yêu
nước thương nhà nghĩ tự đau
PHAN
TRẦN CHÚC dịch
theo thể THƯƠNG
VIẾNG BÙI VIỆN (1878) Cắp núi vượt
biển (3), biết ai [:nước nào] mạnh (4); Yêu nước,
suy nghĩ về gia đình (nhớ nhà), ngoảnh về (5) [Tổ
quốc], tự đau xót (khóc thầm). THƯƠNG
VIẾNG BÙI VIỆN (1878) Cắp
non vượt biển, hay ai mạnh Yêu
nước thương nhà, nghĩ tự đau (6).
(bản
biên soạn) (1)
Bùi Viện (ĐNTL.CB., tập 34, Nxb. KHXH., 1976, tr. 65 và tr. 187 - 188). Xin xem
thêm chú thích (7). (2)
Trong cuốn “Bùi Viện với cuộc duy tân của
triều Tự Đức” của Phan Trần Chúc
(Nxb. Đại La, Hà Nội, cuối 1945; Nxb. Kiến Thiết, đầu năm 1946),
Nxb. Văn hoá Thông tin, tái bản năm 2000, tr. 105 - 106, có ghi lại hai câu đối
trên của Nguyễn Văn Tường, phúng điếu Bùi Viện, chánh quản đốc Nha
Tuần tải vốn trực thuộc Bộ Hộ của ông, vào năm Tự Đức thứ ba
mươi mốt (1878). Đầu đề người biên soạn mạn phép đặt. (3) Hiệp sơn siêu hải: “cắp [:kẹp] núi vượt
biển”, là một thành ngữ diễn tả sự khó khăn, cam go đến mức tưởng
chừng không thể vượt qua được. (4)
Nước mạnh ở đây chính là Mỹ (Mỹ Lợi Kiên [US. (5)
Chỉ: Với mặt chữ có bộ thủ, “chỉ”
có nghĩa là xoay về hoặc ý hướng; với mặt chữ không có bộ thủ,
“chỉ” là ý tứ, ý hướng
(nếu cùng nghĩa ý hướng, hai
chữ thủ này khác chữ nhưng cùng nghĩa). Động từ “chỉ” (xoay về) này tiểu đối với động
từ “tri” ở câu trên. Dịch sát nghĩa
như trên. (6)
Do chữ “kiện” (mạnh mẽ, hùng mạnh) là một tính từ, nên từ “bi” (thương đau) cũng phải là một tính từ. Ở trường hợp khác, “bi” (thương
đau, thương xót) là động từ. Xin xem chú thích (2) bài “Vô đề” của Nguyễn Thượng Hiền (mục
số 5 thuộc “Phần sáng tác ngoài Thi tập
và phụ lục…” này): Không
quá Tây môn, bi thái phó Thùy
tòng Bắc hải, vấn trung lang. Trong
trường hợp này, “bi” dứt khoát phải là động từ, vì chữ “vấn”
không thể thuộc từ loại nào khác. Về từ loại, “vấn” luôn luôn là
động từ. Về kết cấu ngữ pháp, “vấn” cũng phải là động từ làm
vị ngữ của một chủ ngữ hiểu ngầm: Không
quá Tây môn, [ngã] bi thái phó Thùy
tòng Bắc hải, [quân] vấn trung lang. (7)
Sau khi Bùi Viện đã chết (1878), vào năm Tự Đức thứ ba mươi bốn
(1881), vua Tự Đức còn nhắc đến ông, khi trách phạt đến bảy vị quan,
gồm sáu đại thần, đường quan ở Viện Cơ mật và ở Sở Thương bạc
(Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Chính, Phạm Thận Duật, Bùi
Văn Dị [:Bùi Ân Niên], Trần Thúc Nhẫn), và cả viên Tham biện Nội các
Đào Đăng Tiến [:Đào Tấn (nhà soạn tuồng)], khi họ muốn mở rộng quan hệ ngoại giao nhằm tìm lực lượng đối
trọng với Pháp. Pháp lúc
này đang chuẩn bị âm mưu để gây hấn và tấn công, chiếm đóng Bắc
Kì lần thứ hai. Đó cũng là lúc Phạm Phú Thứ bị triệu về kinh để chịu
trách phạt. Bấy giờ, vua Tự Đức không muốn các đại thần, đường quan giao du với
cả Phạm Phú Thứ (đang bị giam lỏng để điều tra); nhà vua vẫn
không muốn tin việc thực dân Pháp âm mưu xâm chiếm Bắc Kì lần thứ
hai là có thật, lại cho là “hoang báo”,
“nói hão tin càn”! Bài dụ trách phạt, vua Tự Đức viết: “… Vả người bầy tôi ắt phải có đạo [lí],
dù muốn giao du rộng rãi, cũng phải chọn
người mà chơi, muốn hiến kế sách tất phải cho có sự thực, chứ có
thể nào nói nhiều nghe bậy, không có một mảy may nào là thực tế?
Nay tự hỏi lòng mình, liệu như thế có an tâm không? Ngay đến như việc
viên Bùi Viện, nếu không có người dẫn
tiến, thì trẫm làm sao biết được? Vậy đã lầm lỡ một lần rồi, há
lại nên để cho xảy ra lần nữa hay sao?…” (Thơ văn Tự Đức [3 tập], tập 2, Nxb. Thuận Hoá tái bản,
1996, tr. 167). Thời điểm Tự Đức viết bản dụ quở trách trên là ngày
24 tháng 02 năm Tự Đức thứ ba mươi bốn (1881). Chúng
ta đã biết rằng, Bùi Viện không những kiếm tìm sự ủng hộ, viện trợ
ở Mỹ (Hoa Kỳ, thời tổng thống Grant) mà còn thu phục các lực lượng hải
tặc nước Thanh (Trung Hoa) vào đội quân vận tải do ông chỉ huy. Cuối
cùng, Bùi Viện đã thất bại ở cả hai hướng. Khi Bùi Viện mất, còn để
lại sự thâm thủng ngân quỹ của Nha Tuần tải đến vài ba chục vạn
quan! (Xem: Phan Trần Chúc, sđd.). Tất
nhiên, đối với các đại thần Viện – Bạc như trên đã nêu tên, sự mở
hướng ngoại giao nhằm tìm lực lượng đối trọng với Pháp lúc này
(1881), không thể là bọn hải tặc, mà chỉ có thể là Chiêu thương cục
do Đường Đình Canh đại diện trong việc giao thiệp với nước ta… Dẫu
sao, Bùi Viện vẫn là một hình ảnh của nỗ lực tìm kiếm lực lượng
đối trọng với Pháp và tìm kiếm hướng canh tân Đất nước thuộc nửa
sau thế kỉ muời chín (XIX) ở nước ta, trong bối cảnh bế tắc chung của
nhiều châu lục…
3 GIẢI
TRIỀU...
Tam
thập niên lai phí kỉ kinh (1)
Vô
đoan dạ bán bách sầu sinh
Kì
khai tam sắc, vân (2) lôi biến
Già
thính song xuy, kê khuyển kinh
Sơn
kính (3) vạn trùng thương (4) thúy liễn
Thần
tâm nhất dạng (5) luyến đan đình
Thị
phi nhiên phó (6) thiên thu hậu
Xã
tắc quân vương thục trọng khinh? (7) (1)
Các dị bản: minh / kinh (kỉ minh? kỉ kinh?). (2)
Các dị bản: vân / phong (vân lôi? phong lôi?). (3)
Các dị bản: kính / sắc? (4)
Các dị bản: thương / minh? (5)
Các dị bản: nhất dạng / bất nhị? (6)
Các dị bản: nhiên phó / phó dữ? (7)
Bài thơ này đã được truyền tụng từ sau ngày Kinh Đô Quật Khởi (23. 5
Ất dậu, 1885), như một mật lệnh phối hợp giữa phong trào Cần vương
vũ trang và những người ở lại; sau đó, bài thơ chỉ được ghi lại bốn
câu cuối với bản dịch không rõ ý, bị xuyên tạc (xem Phan Trần Chúc, “Vua Hàm Nghi”, Nxb. Chính Ký, Hà Nội,
1951; Nxb. Thuận Hoá tái bản, 1995, tr. 83 - 84). Do bài thơ được truyền khẩu,
nên có một vài chữ bị dị biệt ở các dị bản, nhưng ý nghĩa vẫn không
thay đổi như ở (1), (2), (3)... Ngoài ra, còn một số bản khác, in, xuất bản
ở nhiều sách báo, thường chỉ trích dịch bốn câu cuối (xem: Nguyễn
[Tôn Thất] Mạnh Hào, Kỉ yếu Hội nghị khoa học về “Nhóm chủ chiến trong Triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường”,
ĐHSP. TP. HCM., 1996, tr. 90; Hải Âu, “Vua Hàm Nghi”, Nxb. Văn Nghệ
TP. HCM., 2000, tr.124 - 127; Hồ Sĩ Vọng, phiên âm, dịch thơ, Lê Quang Thái dẫn
trọn bài bát cú, tạp chí Cửa Việt, số 13, 1992, tr. 82; Lương An, bản
lưu trữ gồm cả tám câu...). Trích
từ cuốn “Vua Hàm Nghi” của Phan Trần
Chúc (sách đã dẫn): “Muốn
phô tả tâm sự mình trong lúc khó khăn này, [Nguyễn Văn – nbs. chua thêm] Tường có
làm một thiên Đường luật nay vẫn còn
bốn câu truyền tụng [– nbs. in đậm]:
Sơn
tắc (*a) thiên trùng thương (*a) thúy liễn
Thần
tâm nhất dạng luyến đan đình
Thị
phi nhiên phó thiên thu hậu
Xã
tắc, quân vương thục trọng khinh?
(Xe
giá ngàn trùng lẫn dặm xanh
Lòng
tôi riêng luyến chốn đan đình
Phải,
chăng, phó mặc ngàn sau luận
Vua,
nước, đôi đường, hỏi trọng khinh?). Trong
mấy câu thơ này, [Nguyễn Văn] Tường có ý nói rằng mình sở dĩ không
đi theo xa giá là vì còn muốn ở lại để duy trì xã tắc. Đi với ở, đằng
nào phải, là tùy theo sự phán đoán đời sau. Vì, vua với nước, chưa hẳn
đã đằng nào đáng khinh, đáng trọng”.
(Phan
Trần Chúc, “Vua Hàm Nghi”, Nxb. Chính
Ký, Hà Nội – 1951. Trích theo sách tái bản của Nxb. Thuận Hóa, 1995, tr.
83 - 84).
CHIA
TÁCH TRIỀU CHÍNH... Ba
mươi năm qua, [quả là] phí phạm bao nhiêu tâm trí
[đối
phó với thực dân]! (*b) [Vào
lúc] nửa [đêm, cái] đêm không ngay thật [ấy, bọn giặc
và
tả đạo] ép bức [khiến] nỗi buồn [uất] dậy lên Cờ
[Pháp] mở ra [:chặt ra, chẻ ra] ba màu, mây [và] sấm
[quyền]
biến [Cái]
kẹp tay để tra tấn nghe theo [cái] roi cặp,
gà
[và] chó kinh hãi Đường
mòn [trên rừng] núi [dài và xanh ngắt] vạn trùng,
lo
lắng [cho] kiệu (xe vua) [vốn dĩ luôn] kín đáo Lòng
[của] kẻ bề tôi [cũng] một dạng thể [như thế], thương mến nên không nỡ rời bỏ sân son Đúng,
sai, [lẽ] ấy [xin] gửi [cho] cái mai sau [có tính] nghìn thu (muôn đời) [nhận định, đánh giá] Đất
nước, nhà vua, điều gì [đáng xem] trọng,
[xem]
nhẹ [đây]? TAN
TÁC TRIỀU ĐÌNH... Ba
chục năm qua phí trí mình (a) Nửa-đêm-gian-tả
(b) ép (b) buồn sinh Cờ
chia ra khoảnh (c); mây giông nổ (d) Kẹp
xiết theo roi; gà chó kinh (đ) Núi
biếc (e) vạn trùng thương kiệu Ngự (g) Lòng
son (h) một thể luyến sân Đình (i) Phải,
chăng, xin gửi nghìn thu luận (k) Theo
nước – phò vua, đâu trọng, khinh (l)? CHIA
TÁCH TRIỀU CHÍNH... Gươm
phí bao năm, mấy bút mòn (1) Nửa
khuya (2) vô cớ ép bùng hờn (3) “Tam
tài”, cờ xổ (4); giông quyền sấm (5) Roi
cặp, kẹp tra; chó rủn hồn (6) Đường
núi (7) vạn trùng lo kiệu biếc (8) Lòng
tôi một dạng giữ (9) sân son (10) Đúng,
sai, ấy gửi nghìn sau luận (11) Nhẹ?
Nặng? Phò vua? Luyến nước non (12)? TRẦN
XUÂN AN chuyển
lại thơ CHÚ
THÍCH VÀ TRÌNH BÀY CÁCH DỊCH THƠ: (a)
Phí trí mình (dịch thoát lấy vần). Nguyên nghĩa: phí phạm, hao phí bao
nhiêu là kinh lịch, tâm trí. Trong bài thơ số 44, có câu: “Kỉ kinh
sương tuyết phí mang bôn”. (b)
Nửa đêm-gian-tả: Vô-đoan-dạ bán. Đối chiếu với bối cảnh lịch sử
và xét văn cảnh toàn bài, không thể dịch “vô đoan” là “vô cớ”
được. Vả lại, ý vô cớ ấy đã hàm
ẩn, bởi hầu hết các nguồn tư liệu đã xác định chính thực dân
Pháp, cụ thể là De Courcy, đã cố tình bức bách triều đình Huế, mặc
dù triều đình vừa lo phòng thủ (*c), vừa cố hết sức hoà hoãn, không tạo
cớ cho Pháp tấn công kinh thành. Xem (k). Xin lưu ý: Ở bài thơ số 22 (Cửu nguyệt ngộ húy cảm tác), Nguyễn Văn
Tường đã sử dụng chữ “bách” [bức
bách] như trong câu trên (Đãi đán thư hoài bách
trụy sương). Xem (3), bài này. (c)
Ba màu: tam sắc. Ở đây, chỉ cờ nước Pháp treo trên kì đài kinh thành
Huế sau đêm Kinh Đô Quật Khởi, 22-23.5 Ất dậu (1885), với cách đặc tả
trong điều kiện thế kỉ XIX. (d)
Bản dịch này vẫn thể hiện sự cảm nhận hai chữ “phong lôi”
theo nghĩa của văn cảnh toàn
bài và căn cứ vào kế hoạch kháng chiến (từ 1864) của Nguyễn Văn
Tường, không theo nghĩa sử dụng thiếu chính xác (“phong lôi” khác với “vân lôi
thời tiết”: thời vận anh
hùng ra tay – xem Đào Duy Anh, Từ điển Hán – Việt, Nxb. Trường Thi,
1957, quyển hạ, tr. 123, 540). “Phong lôi” hay “vân lôi” cũng vẫn là hình ảnh
chỉ lực lượng kháng chiến vũ trang do Tôn Thất Thuyết lãnh đạo.
Trong một bài thơ của vua Tự Đức viết cho con trai Nguyễn Tư Giản, có
câu: “Vân lôi chí cấp, giang hồ hoãn”
(Mây sấm chí vội, sông hồ hoãn) [Xem:
ĐNLT., tập 4, sđd., tr. 253]. (đ)
Kẹp (già), roi cặp (song xuy) là dụng cụ tra tấn của Pháp. Kẻ tra tấn bằng
kẹp dựa theo lời ghi cung của kẻ tra tấn bằng roi cặp để khai thác tù
binh, tù chính trị. Gà, chó: chỉ lũ không xứng làm người trước sự tra
tấn của giặc. Câu này bị xuyên tạc chữ “già” (:kèn lá [của trẻ con]), nhằm
bôi nhọ Tôn Thất Thuyết, cho rằng trong thực tế, Tôn Thất Thuyết ghét
tiếng gà, tiếng chó thật, chứ không phải là ghét bọn người hèn nhát
vốn bị nguyền rủa như gà chó như trên đã phân tích. (e)
Núi biếc; dịch chính xác là “đường núi” (sơn kính) hoặc “sắc núi”,
“màu núi” (sơn sắc). Xem (g). (g)
Kiệu Ngự; “thúy liễn” ở nguyên bản:
xe, kiệu kín đáo, còn gọi là xe loan (xe có chim loan làm biểu trưng hoặc
có tiếng lục lạc tượng trưng cho tiếng chim loan, hoặc chỉ là cách gọi
dựa theo điển tích cổ). Dịch thay chữ là “kiệu Ngự”, chuyển ý cho “sơn sắc”, “sơn kính”. Xem (e). (h)
Lòng son; dịch thay chữ, lẽ ra “thần tâm”
phải dịch sát nghĩa là “lòng bề tôi”, “lòng tôi”. Xem (i). (i)
Sân Đình; lẽ ra phải dịch “đan đình”
là “sân son” (sân chầu vua, thời xa xưa được lát gạch đỏ). “Thần tâm” và “đan đình”
được dịch thay chữ, ghép ý
như (e) với (g). (k)
Nguyên văn: thiên thu hậu (nghìn thu sau; cái mai sau có tính muôn đời mà
sách sử và công luận không quên được). Bản dịch tiếng Việt này chỉ
dịch thoát, sót ý và thêm chữ “luận” (bàn xét, bình phẩm), theo ẩn
ý. Về cấu tạo ngữ, xem (b). (l)
Theo ẩn ý, có thêm hai chữ “theo” và “phò”. “Theo nước” là theo vận
nước, tình hình giữa ta và giặc Pháp, sức mạnh quật khởi của phong
trào đấu tranh vũ trang Cần vương (đánh) mà thương thuyết, đấu tranh chính
trị (đàm). (1),
(2) Xem chú thích bên trên: (a), (b), (3) Ép dậy
nỗi hờn (bách sầu sinh). Xem lại (b). “Sầu”
là buồn rầu, buồn bã, buồn uất, buồn nghẹn... “Sầu hải” người ta vẫn dịch là mối
giận [dữ] như biển (mối sầu uất dậy sóng khôn nguôi), [TĐHV., sđd., tập
hạ, tr. 190]. Ở đây dịch là “nỗi hờn” (“nỗi ngậm hờn”), theo ngữ
cảnh, theo ẩn ý. (4)
Xem chú thích bản dịch trên: (c). (5)
Biến; dịch cả ẩn ý, thành “quyền biến”. (6)
Xem chú thích bản dịch trên: (đ). (7)
Đường núi: “sơn kính”, đường mòn
trên núi rừng. Ý toàn câu: cả núi rừng bạt ngàn đều lo lắng, chăm lo,
lo nghĩ về Hàm Nghi. (8),
(10) Xem chú thích bản dịch trên: (g), (i). (9)
Luyến: thương mến nên không nỡ rời bỏ (TĐHV., sđd., tập thượng, tr.
526). Dịch là “giữ” bởi muốn dịch cả ẩn ý của “nhất dạng”
(cùng một dạng thể, một thể thức). (11),
(12) Xem các chú thích bản dịch trên: (k), (l). Bị chú: Ngoài ra, chúng tôi còn thấy có
bản dịch của Lương An với hai câu thực và hai câu luận như sau:
Kèn hai tiếng thổi kinh gà chó
Ba
sắc cờ bay ám đất trời
Đường
núi nghìn trùng băng giá ngự
Thềm
son một quyết hướng lòng tôi từ
bản phiên âm giống hệt như trên, chỉ khác hai chữ: “xuyên” (xuyên
qua, băng băng chạy nhanh, rẽ ra, mở lối trống lộng); “thiên” (nghìn):
Sơn kính thiên trùng xuyên thúy liễn Chữ
“già” có nghĩa là “kèn lá”. “Xuy” là “thổi”. Chữ “biến”
có nghĩa là “đều khắp”, “khắp cả, nơi nào cũng có”. Tất
nhiên, chỉ là cùng âm đọc nhưng khác mặt chữ với “già” là cái kẹp
tay để tra tấn, “xuy” là cái roi, “biến” là dùng mưu chước lạ để
ứng phó với tình huống (quyền biến, chữ “quyền” trong Dụ Cần vương). Và chẳng
hiểu vì sao “kèn nghe hai tiếng thổi”, nếu dịch sát nghĩa “già thính
song xuy”? Xuy: que, lẻ (roi) đánh nhịp? Theo phép làm thơ có tiểu đối, cờ
“tam tài” Pháp đối với dụng cụ tra tấn khi chúng đi cướp nước mới
thật sâu sắc, và dung lượng phản ánh hàm súc, đúng với hiện thực hơn.
Dùng trọn hai vế đầu của hai câu thực để tả buổi chào cờ có kèn
thổi của Pháp, thì chưa thật hàm súc. Chúng
tôi còn hiểu, theo văn lí, nếu dùng chữ “xuyên” thì chữ “kính” phải
là “gương” (tấm kính), chỉ mặt trời, mặt trăng:
Gương núi vạn trùng soi kiệu ngự
(Gương
núi vạn trùng xuyên kiệu ngự) Có thể
chăng, chỉnh lí lại bản dịch Lương An: Ba chục năm qua phí trải đời Bỗng
dưng, khuya ép nỗi sầu khơi Cờ
phành ba sắc; giông rền nổ Kẹp
theo roi cặp; chó rụng rời Đường
núi vạn trùng băng kiệu Ngự Lòng
tôi một quyết hướng sân Người Đúng
sai xin gửi ngàn thu xét Bên
nước bên vua, đâu nặng vơi? LƯƠNG
AN dịch
thơ (bản
biên soạn) Chính
hai chữ “nhất dạng” (hoặc “bất
nhị”) đã quyết định các chữ sai biệt ở các dị bản (do truyền khẩu).
“Nhất dạng” hoặc “bất nhị”, không có dị bản nào có hai chữ
nào khác. Vả lại, xét về từ loại, ngữ nghĩa, “nhất dạng” đối rất
chỉnh với “vạn trùng”, và “bất nhị” vẫn đối lệch với “kỉ
trùng”. Hơn nữa, cũng không nên lặp lại chữ “kỉ” vì đã có “kỉ
kinh”. Bối
cảnh lịch sử cũng là cơ sở cho việc mạo muội hiệu đính, khảo dị,
nhằm xác định đúng bản gốc, nguyên tác của ông (xin xem bài viết “Nguyễn
Văn Tường (1824-1886)
với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc kinh đô quật khởi, 05 tháng 7.1885”
[“Vài chủ điểm sử học sơ lược cần thiết khi cảm nhận bài “Giải
Triều …””]). Sau
khi cân nhắc, thấy bản chính thức, theo chỗ chúng tôi biết, là hợp lí
và phổ biến hơn cả. Hai
câu bổ sung: CHIA
TÁCH TRIỀU CHÍNH... U trung thùy bạch thiên thu hậu? (*d) Xã
tắc quân dân thục trọng khinh? Lòng
trung sâu kín, tĩnh lặng, ai tỏ rõ [cho] cái mai
sau
[có tính] nghìn thu? Tổ
Quốc, đức vua, nhân dân, đâu [là lẽ] nặng,
đâu
[là lẽ] nhẹ? Hai
câu bổ sung của bài “
TAN TÁC TRIỀU ĐÌNH...” Lòng
trung sâu kín, sau ai tỏ? Tổ
Quốc, dân, vua, đâu trọng, khinh? (bản
biên soạn) Đó
là hai câu sửa chữa? Hoặc là hai câu thuộc bài khác? Theo ông Nguyễn
Xuân Quế (hậu duệ Nguyễn Văn Tường), cuối bài “Giải triều...”, có một câu chú thích
thêm với nội dung như trên cùng với hai chữ “Mạnh Tử”, ý muốn nhắc đến câu
kinh điển của Nho giáo: “Dân vi quý, xã
tắc thứ chi, quân vi khinh” (dân là
quý, đất nước là thứ nhì, nhà vua chỉ đáng xem nhẹ). Có lẽ chính là hai dòng thơ này. Cước
chú
của bài thơ số 3 (Giải triều…), thuộc
Phần thứ II (các sáng tác ngoài thi tập): (*a) Tắc (?) [còn đọc là "tái"]: đất
biên ải (TĐHV., sđd., tập hạ, tr. 223 và
239; viết giống nhau nhưng tùy theo cách đọc mà có nghĩa khác nhau). Đúng
ra, theo Phan Trần Chúc, là "sắc", nhưng bị sai lỗi in ấn. Còn chữ
"thương" (lo nghĩ) phải đối với
chữ "luyến" (thương mến không
nỡ rời bỏ) mới thật chỉnh – tương ứng, bổ sung ý nghĩa cho nhau. Về chữ "thương",
xin xem ở hai bài thơ, số 45 và 47 (“Ưng thương tích biệt li”; và “Chi thương
vãng sự hải tang di”). (*b) Xin xem phần chú thích ở bản dịch dưới
dạng thơ. Sau bài này, chúng tôi
chủ yếu đặt các chú thích dưới bản dịch nghĩa. Tuy vậy, hầu hết bản
biên soạn dịch thơ (khoảng 45 bài đầu) và bản dịch thơ (khoảng 21 bài
sau) đều có thêm tiểu mục CHÚ THÍCH DỊCH THƠ, bởi chúng tôi vẫn xem bản
dịch thơ phải đi đôi với bản dịch nghĩa. Vả lại, mặc dù chú thích
ở bản dịch thơ (hay “bản biên soạn” dịch thơ) chỉ dành cho việc chuyển lại ngôn ngữ
thơ, nhưng trong quá trình thực hiện khâu cuối, lại nảy sinh
yêu cầu chú thích thêm cho bản dịch nghĩa. Tất nhiên chúng tôi hết sức
cố gắng để mỗi tiểu mục đảm nhiệm
đúng chức năng của nó (tiểu mục nào ra tiểu mục ấy). Xin vui lòng xem
chú thích ở cả hai. (*c)
ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 244: “ … thù
ghét [giặc Pháp – nbs. chua thêm (:ct.)], ai bảo là
không nên. Không gì bằng cuộc nghĩa cử đêm 22 tháng 5 năm nay [04 –
05. 7. 1885 – nbs. ct.]…”. (*d) U: vắng vẻ, yên lặng; sâu kín. Trung: hết
lòng với người; hết lòng với
nước. (Xem Đào Duy Anh, Từ điển Hán - Việt,
sđd., tập hạ, tr. 506, 520). THƯỢNG
ĐỒ TRÌNH, CẢM TÁC ĐỐI LIÊN
4 THƯỢNG
ĐỒ TRÌNH, CẢM TÁC ĐỐI LIÊN (1) Tây
trư tựu trở bì do xích TRÊN
ĐƯỜNG LƯU ĐÀY, CẢM TÁC CÂU ĐỐI (1) Con
lợn (2) [nước] Pháp lao [đầu] vào thớt,
da
do đó [bị cạo] trụi Sắc
đỏ (3) [cõi]
quả
[: kết quả] vẫn chưa [được chín
/ khởi nghĩa] đều [đều khắp]! (4) TRÊN
ĐƯỜNG LƯU ĐÀY, CẢM TÁC CÂU ĐỐI Tây
heo lao thớt, da nên trụi Nam
đỏ lìa cành, quả chửa đều! Lao
thớt, lợn Tây da phải trụi Rời
cành, măng Việt trái còn hườm! TRẦN
XUÂN AN chuyển
lại thơ (1)
Đầu đề chúng tôi mạo muội đặt. Tư liệu chép từ “Lô Giang
tiểu sử” của Tiểu Cao Nguyễn Văn Mại (1858 - 1945), một vị
quan triều Nguyễn (bản quốc ngữ chép tay)... (2),
(3) Để đối với chữ “giáng”, quen nói tắt từ hai chữ “giáng
châu”, là chữ “trư”, nói
tắt từ hai chữ “trư tử” (xin xem TĐHV., sđd., tr. 511). Như thế câu
đối mới thật chỉnh. Ở bản dịch nghĩa, lẽ ra phải dịch “giáng
châu” theo nghĩa: viên ngọc đỏ (nghĩa
đen), quả tim đỏ (nghĩa bóng), bởi “măng
cụt” chỉ là ẩn dụ cụ thể hóa, cái gợi liên tưởng trực tiếp, nếu
“giáng” là “giáng châu”. Còn “trư tử”, nguyên nghĩa là “con người có tính lợn (heo)”, bởi chữ “tử” được dùng để
chỉ người, không phải để chỉ vật. Ngoài từ “trư tử”, còn
có một vài từ tương tự, như “trư cẩu đẳng”, “trư trạng nguyên”.
TĐHV., sđd., còn liệt kê thêm ở mục từ “trư” này: “trư linh” (nấm
lợn), “trư bà long” (rùa lớn có dáng hoặc đặc điểm nào đó như loài
heo)... Tuy nhiên, chúng tôi vẫn dịch như nguyên văn, không phỏng đoán gì
thêm. Tự thân danh từ “giáng” (sắc
đỏ) đã đối khá chỉnh với danh từ “trư”
(con lợn, con heo) và cả hai đều được khu biệt ngữ nghĩa bởi chữ “bì” (da), chữ “quả” (trái cây), bởi tứ của chỉnh
thể câu đối gồm hai vế đối. Nói rõ hơn, nếu xem câu đối ấy là khá chỉnh, chỉ bởi hai chữ “trư”, “giáng”,
thì phải chăng, tác giả cố tình tạo ra một
độ chênh cho phép, nhằm gợi suy nghĩ (“trư” là tiếng chỉ loài giống;
“giáng” là tiếng chỉ phẩm chất, thuộc tính; đều thuộc từ loại
danh từ, trong cách sử dụng, ở vị trí ngữ pháp của mỗi vế đối).
Như thế, cả hai đều trở thành nhãn tự,
thu hút sự chú mục của người đọc, đồng thời gợi nên cái gườm mắt
đầy bi phẫn, bộc lộ thần thái bên trong, sâu kín và rất bản chất, của
chỉnh thể nghệ thuật câu đối, chứa đựng trọn vẹn một tứ thơ của
tác giả. Và cũng bởi thế, câu đối (dạng hai câu song thất) trên, hoặc
là khá chỉnh, hoặc là quá chỉnh, chứ không thể chỉnh một cách bình thường. Rõ
ràng chữ “trư”, nhà thơ, nhà chính trị Nguyễn Văn Tường sử dụng nhằm
chỉ đích danh bọn Tây thực dân hoặc bọn mã tà, ma ní, nói chung là kẻ
thù trực tiếp: bọn Tây dương (Pháp, Tây Ban Nha...), chủ yếu là Pháp. (4)
Về mặt nội dung của cặp câu đối song thất, chúng tôi cho rằng, lúc
ghé Gia Định, trước khi bị tiếp tục cuộc lưu đày ra Côn Đảo, sang
Tahiti, nhà thơ, nhà chính trị Nguyễn Văn Tường vẫn không nguôi tâm trạng
nhớ về cuộc Kinh đô Quật khởi (05.7. 1885, 23.5. Ất dậu). “Trư” và
“giáng” ở Gia Định đã gợi cho ông liên tưởng về sự kiện lịch sử
ấy. Đôi câu đối còn phản ánh niềm tin vào sự chiến thắng tất yếu
của dân tộc ta, của các dân tộc Á – Phi – Mỹ la tinh trước sự xâm
lược cuồng bạo của thực dân Âu – Bắc Mỹ thời giẫy chết của chủ
nghĩa tư bản cướp bóc. Với ông, ông tin vào sự chiến thắng tất yếu
của Việt Nam, như dân tộc ta đã từng chiến thắng quân xâm lược Nguyên
– Mông, đế quốc vô địch thế giới thế kỉ XIII, như đã bao lần chiến
thắng quân Nam Hán, Tống, Minh, Thanh... (Trung Hoa). Sự thắng lợi, dưới tài
lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Bác Hồ, Lê Duẩn (*) và với
tài quân sự của Võ Nguyên Giáp, đã chứng tỏ niềm tin ấy của Nguyễn
Văn Tường: Đúng là Pháp, Mỹ, kể cả Nhật Bản (châu Á), đã bị Cách
mạng Tháng tám 1945, Điện Biên Phủ 1954, Mậu thân 1968, Ất mão 1975 “cạo
trụi”, không còn manh giáp. Về
mặt hình thức thể loại, theo lời nhà thơ Lương An, đó là cặp câu đối.
Câu đối tất nhiên không có đầu đề và dùng để treo trong nhà, đình,
chùa, công đường. Tuy nhiên, thường thường các cảm xúc, suy tưởng, nhất
là trên đường đi, các nhà thơ vẫn quen thể hiện bằng những thể thơ,
thể văn khác, nếu không muốn treo ở nhà như cách treo hai vế câu đối
thường thấy. Vả lại, dạng câu đối song thất, về mặt hình thức, chỉ
là hai câu thực hoặc luận của thể thất ngôn bát cú Đường luật, tuy
có điều, câu đối song thất phải chuyên chở một tứ thơ (văn) trọn vẹn
để trở thành một chỉnh thể tác phẩm. Đó là dạng haiku có đối. Hẳn Nguyễn Văn Tường muốn bày tỏ công
khai, bằng cách gửi về treo ở nhà, nên đã sử dụng thể câu đối
như vậy. (Về thể câu đối, xin xem Từ
điển văn học, tập 1, Nxb. KHXH., 1985, tr. 111). Bị chú: Nhà thơ Lương An cho chúng tôi biết,
có một bản như sau:
Tây trư tựu trở bì do xích
Và ông
đã tạm dịch:
Heo Tây lên thớt da còn đỏ
Măng
cụt rời cây trái chửa vàng Trong thực
tế, trái măng cụt còn gọi là giáng châu, hoặc hai chữ “măng cụt”
được gọi tắt là “măng”, trái măng. Trái măng lúc còn non (mới kết
trái), có màu vàng nhạt. Lúc đã lớn, chín, trái măng lại có màu nâu sẫm
hơi ửng đỏ (màu đỏ tía, nâu tía). “
Heo Tây lên thớt da nên đỏ
Măng
Việt lìa nhánh trái chửa vàng. hoặc:
Heo Tây lao thớt da nên trụi
Măng
Việt lìa nhánh trái chửa vàng. Nhà thơ
Lương An cũng nói, chữ “hàm” (đều khắp), trong ngữ cảnh, như ở
trang trước (sách này) đã chép (**) (chưa chín đều, mới chín rám, đang
chín hườm), hẳn đúng hơn và đúng với các nghĩa (nghĩa đen, nghĩa bóng). Chúng
tôi thấy, ở bản này, có lẽ Nguyễn Văn Tường dùng ẩn dụ “Nam giáng”
– “vị hoàng” để chỉ vua Hàm Nghi (7. 1885, mới 14 tuổi). Người ta
cũng thường nói “quả tim đỏ”, “quả tim vàng” (đan tâm, kim tâm)...
Đó chỉ là hình ảnh tượng trưng, không phải tả thực. Tuy
nhiên, chữ “hàm” đa nghĩa, phong phú hơn. Cước
chú
của bài số 4 (Thượng đồ trình…),
thuộc Phần thứ II (các sáng tác ngoài thi tập): (*) Nhân vật kết thúc vẻ vang cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc 130 năm |