posted: 15.8.2005
HỘI
KHOA HỌC LỊCH SỬ VIỆT Tạp
chí Xưa & Nay Số
151 (199) – tháng 11. 2003, tr. 7 - 9
Ngày
01. 11. 2003, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã tổ chức cuộc sinh hoạt
khoa học nhằm thông báo và trao đổi xung quanh những đánh giá và tư liệu
mới về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường. Cuộc họp này là sự kế
tục các cuộc hội thảo về “Nhóm
chủ chiến trong triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường” do Trường Đại
học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh tổ chức ngày 20. 06. 1996, và cuộc hội thảo
về “Nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường” do Trung tâm Khoa học xã
hội & nhân văn Huế và Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên – Huế tổ
chức ngày 02. 7. 2002. Đây là vấn đề mà giới sử học đang quan tâm, cũng
như các cuộc toạ đàm đánh giá lại các nhân vật Lê Văn Duyệt, Phan
Thanh Giản do Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức gần đây. Chúng
tôi xin lược thuật lại nội dung các cuộc trao đổi trên để giúp bạn
đọc hiểu rõ thêm bi kịch đối với một nhân vật lịch sử trong giai
đoạn biến động của đất nước. Nguyễn
Văn Tường là một trong những đại thần dưới triều Tự Đức. Sau khi Tự
Đức băng hà, ông cùng Tôn Thất Thuyết làm phụ chính đại thần, lãnh
đạo phe chủ chiến phế lập các vua Nguyễn để thực hiện mục tiêu chống
Pháp. Nguyễn Văn Tường là người có nhiều mưu lược chống Pháp, nhất
là trên mặt trận ngoại giao. Nhưng đến sự kiện tấn công quân Pháp đêm
04. 7. 1885 do chủ mưu của Tôn Thất Thuyết trong một tình thế bức bách
dù biết rằng sẽ thất bại, Tôn Thất Thuyết đã không bàn với Nguyễn
Văn Tường và không xin ý kiến vua Hàm Nghi (*). Trước
tình thế đó, Nguyễn Văn Tường tìm cách đưa vua Hàm Nghi và tam cung lánh
nạn để chờ điều đình với Pháp. Nhưng Tôn Thất Thuyết đã kịp thời
đưa vua và tam cung ra Quảng Trị. Theo Đại
Nam thực lục và theo tài liệu dân gian Hạnh Thục ca (*a) thì Nguyễn Văn Tường
đã vâng lệnh thái hậu Từ Dũ ở lại để điều đình với Pháp, đó là sứ mệnh cao cả và nguy hiểm chứ ông
không phải là người ở lại để đầu thú (*b). Nhưng sau sự kiện
thất thủ kinh đô, Nguyễn Văn Tường rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan
và nằm trong lưới bẫy thực dân. Ông đã trở thành mục tiêu công kích
thậm tệ của nhiều thế lực đang thắng thế ở kinh đô, không những bị
triều đình Đồng Khánh lên án mà còn bị dư luận xuyên tạc gây nên nhiều
ngộ nhận đối với các thế hệ sau. Theo
các tài liệu mới sưu tầm được, thì trong hai tháng ở Huế, Nguyễn Văn
Tường là thân phận tùø binh của Pháp. Tướng De Courcy, tổng chỉ huy quân
Pháp ở Bắc Kỳ, đã lợi dụng danh nghĩa phụ chính của Nguyễn Văn Tường
để thực hiện ý đồ chinh phục, như viết thư kêu gọi vua Hàm Nghi và
tam cung trở lại Huế; có tài liệu cho biết
Nguyễn Văn Tường
vẫn tiếp tục liên lạc với quân Cần vương và bị De Courcy phát giác
[nbs. iđ. & in.]. Điều đó cho thấy Nguyễn Văn Tường không làm tay sai
cho Pháp mà trước sau vẫn bị chúng cho là đối nghịch. Kết cục là triều
đình Đồng Khánh đã kết án ông và đày ra Côn Đảo, sau đó thực dân
Pháp thấy không yên tâm nên đã đày ông biệt xứ sang đảo Nếu
như Quốc sử quán triều Nguyễn không đưa Nguyễn Văn Tường và nhiều
nhà yêu nước khác vào bộ Liệt
truyện, thì giới sử học ngày nay có trách nhiệm làm sáng tỏ cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Văn
Tường, để đặt ông vào đúng vị trí một nhân vật có tầm vóc trong lịch
sử dân tộc cuối thế kỉ XIX [nbs.
iđ. & in.]. Sai
lầm của Nguyễn Văn Tường là tin vào việc thương thuyết để tìm một
lối thoát cho đất nước, khi mà cuộc đấu tranh vũ trang đã thất bại;
chủ quyền không còn, thì ông trở thành mục tiêu để kẻ thù lợi dụng
và loại trừ. Thực dân Pháp đã lợi dụng ông để ổn định tình thế
sau biến động ở kinh đô, khi vua và triều thần không còn. Chính vì sự
lợi dụng này mà Nguyễn Văn Tường bị coi như kẻ tiếp tay cho chính
sách cai trị của Pháp sau biến cố ở kinh đô. Đó cũng là một lầm lẫn
đáng tiếc của ông (*c). Nhưng
không vì thế mà ta có thể nghi ngờ lòng yêu nước của ông. Thực dân
Pháp và triều đình Đồng Khánh luôn xem ông là kẻ thù, xếp ông vào
cùng danh sách những người yêu nước chống Pháp hàng đầu thời đó
[nbs. iđ. & in.] như Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, Tôn Thất Đính,
Phạm Thận Duật (*d)… Qua cuộc hội thảo năm 1996 tại Tp.
Hồ
Chí Minh, Gs. Trần Văn Giàu cũng đã từ bỏ
ý kiến trước đây của
mình và thừa nhận Nguyễn Văn Tường là một trong những đại
quan yêu nước dưới triều Nguyễn. Việc
công bố mới đây một số tài liệu lưu trữ của Pháp (hồ sơ CAOM. …,
CAOM. … (*e) (1)) và những cuộc khảo sát ở nhà tù Tahiti, do hậu duệ
Nguyễn Văn Tường thực hiện ở nước ngoài, đã giúp cho các nhà sử học
có thêm cơ sở để đánh giá lại nhiều điểm oan khuất trong cuộc đời
của Nguyễn Văn Tường, nhất là hai tháng cuối cùng ở Huế. Với
sự chia sẻ đối với thế hệ Nguyễn Văn Tường – một thế hệ những
người có tâm với đất nước nhưng không tìm ra con đường cứu nước
– chúng ta càng hiểu thêm những bi kịch mà thế hệ đó phải trải qua.
Trong thời gian tới, nhận thức về Nguyễn Văn Tường và thời đại của
ông còn được tiếp tục nghiên cứu thêm nữa, và sự phong phú, chính
xác của những nguồn tư liệu sẽ còn được khai thác, củng cố thêm niềm
tin của chúng ta đối với những kết luận đã được nêu lên qua các cuộc
hội thảo gần đây. Một
trong những tư liệu được công bố gần đây có nhắc đến lời ai điếu
khi đón nhận di hài Nguyễn Văn Tường về với Tổ quốc. Bài thơ (*g) viếng
ấy có thể là của cụ Đào Tấn, gửi gắm một trách nhiệm rất lớn
cho chúng ta, những người viết lịch sử: Quốc
kế thị phi lân sử định Thiên
phương sinh tử nhạn thư điêu ((*)). Cái
chết của những thế hệ đi trước để lại cho chúng ta một di sản, nhưng
đồng thời cũng trao trách nhiệm để chúng ta kế thừa. Với cách đặt vấn
đề và suy như vậy, những cuộc hội thảo vừa qua đã đi được một
bước quan trọng, nhưng chưa phải là bước đi cuối cùng, vì sẽ còn nhiều
cuộc trao đổi nữa đề cập đến thời đại bi kịch của Nguyễn Văn
Tường mà chúng ta có thể làm sáng tỏ thêm nhiều nhân vật lịch sử
khác. Tạp
chí Xưa & Nay (Cơ
quan của Hội KHLS. VN.)
(1)
Xin xem thêm: Lời Toà soạn giới thiệu
bài viết của Từ Vân (con gái của bà Nguyễn Thị Ngọc Oanh – bà Oanh
là hậu duệ đời thứ tư của cụ Nguyễn Văn Tường). Bài viết ấy được
đăng cùng số tạp chí Xưa & Nay ghi trên, tr. 10 – 12. Trong đó, có đoạn
khẳng định rõ việc giám định về tính xác thực của tư liệu
sưu tầm được: “Những chuyến đi dài ngày đến những
nơi xa xôi trên trái đất, cuối cùng đã giúp hai người tìm được trong
đống hồ sơ bị lãng quên những tài liệu chân xác liên quan đến Nguyễn Văn Tường”. Về
bài viết của Từ Vân, có đoạn thuật lại việc tìm được các tư
liệu cực kì quan trọng: “Tim
tôi càng đập mạnh khi cầm trong tay tờ điện tín cũ rích mang chữ kí kiêu ngạo của tướng De Courcy
đã hơn 100 năm qua, ra lệnh lưu đày Nguyễn
Văn Tường ra Côn Đảo, rồi đưa đến Tahiti. Giờ đây, 115 năm sau, cháu
gái sáu đời có dịp chứng kiến. Rồi
một sự tình cờ khác bỗng đến trước mắt tôi, một bằng chứng sống
động chứa đựng lời buộc tội để kết án Nguyễn Văn Tường chống lại
người Pháp: “Văn
kiện dùng để nghiên
cứu những giai đoạn về vấn đề Bắc Kỳ: Sự nổi dậy” đó là do Tổng
Giám mục Puginier soạn. Cái bằng chứng quan trọng này đã làm hai hàng nước
mắt của tôi phải chảy ra. Tôi vội gọi điện thoại báo cha mẹ tôi những
tin mừng của ngày đầu khám phá” (bài
đã dẫn, tr. 11). Cước chú của bài Nguyễn Văn Tường, những chuyển biến trong sự
đánh giá (Tạp chí Xưa & Nay, số 151 [199], 11. 2003): (*)
Xin vui lòng xem: Gs. Bửu Kế, bài “Toà
Khâm sứ Pháp”, trong
CHUYỆN TRIỀU NGUYỄN, Nxb. Thuận Hóa, 1990, tr. 78 – 101; Trần Xuân An, “Nguyễn
Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc kinh đô quật khởi, 05. 7.
1885”, Hội thảo khoa học: Nhân vật lịch sử Nguyễn Văn
Tường (1824 – 1886) – Các báo cáo khoa học, Trung
tâm Khoa học
xã hội & nhân văn Huế – Viện Đại học Huế, Hội Khoa học lịch sử
Thừa Thiên – Huế ấn hành, Huế – 02. 7. 2002, tr. 59 – 83. Tháng 8. 2003
(HB.3), tự nhuận sắc; in lại trong sách này. Một đoạn ĐNTL. CB., cần
lưu ý: “Từ điều ước tái định đã
được phân minh, KHIẾN NƯỚC PHÁP TRƯỚC TỰ BẠI
HOÀ GÂY BIẾN, thì phàm ai ở đất vua cũng đều thù ghét [giặc Pháp – ct.],
ai bảo là không nên. Không gì bằng CUỘC NGHĨA CỬ ĐÊM 22 THÁNG 5 NĂM
NAY [04 – 05.7.1885 – ct.]…” (Đại
(*a) Hạnh Thục ca là tác phẩm của Lễ tần
Nguyễn Nhược Thị Bích (vợ của Tự Đức;
sau khi Tự Đức băng hà, đảm đương chức năng thư kí riêng cho bà Từ Dũ
để viết các bản sắc dụ…). Tác phẩm này đã ít nhiều được lưu
truyền trong dân gian. (*b) Nbs. mạn
phép được in đậm và in nghiêng để nhấn mạnh. Viết tắt: iđ.
& in.. (*c)
Xin vui lòng xem: Trần Xuân An, “Nguyễn Văn
Tường với nhiệm vụ
lịch sử sau cuộc kinh đô quật khởi, 05. 7. 1885”, Hội
thảo khoa học: Nhân vật lịch sử Nguyễn
Văn Tường (1824 – 1886) – Các báo cáo khoa học, Trung tâm Khoa học xã hội
& nhân văn Huế – Viện Đại học Huế, Hội Khoa học lịch sử Thừa
Thiên – Huế ấn hành, Huế – 02.7.2002, tr. 59 – 83. Tháng 8.2003 (HB.3), tự
nhuận sắc; in lại trong sách này. Đặc biệt là tiểu mục: 3.b. Nhiệm vụ lịch sử với lập trường
kiên định, thái độ chính trị “nhất dạng”; Sự ngộ
nhận, xuyên tạc; Thực dân pháp thao túng trong sự nhân danh triều đình; Nỗi
khổ tâm của Nguyễn Văn Tường. (*d) Đình
thần, nói theo cách nói của Trần Trọng Kim, “nhiều người đã biết theo chính
sách bảo hộ cho nên mọi việc trong Triều đều được yên ổn”. Đình
thần ấy cùng Tôn nhân
phủ kết án (!): “Tôn nhân phủ và đình
thần dâng sớ tâu bày tội trạng của Nguyễn Văn
Tường và Tôn Thất Thuyết, xin tước hết quan tước và tịch thu gia sản;
tham tri Trương Văn Đễ đã quá cố, và chưởng vệ Trần Xuân Soạn, đều
là bè đảng làm loạn, cũng tước cả quan chức. Trong bọn ấy, thì Tôn
Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, xin do quan địa phương xét bắt bằng được
và chém ngay, để tỏ rõ hiến pháp trong nước. Vua nghe theo” (Đại (*e) CAOM.
Paris (Centre: Archives d’Outre-mer, dépôt de Paris [: Trung tâm Lưu
trữ [Bộ] Hải ngoại, kho đặt tại (*g) Câu đối
song thất. ((*)) Chú
thích của Tạp chí Xưa & Nay: Kế nước
đúng sai trang sử quyết Phương trời
sống chết cánh hồng chao (Tôn Thất
Mạnh Hào dịch). Đào Tấn cũng
là một đại thần triều Nguyễn, được Nguyễn Văn Tường gợi ý về hưu
sớm lúc tuổi 40, để chuẩn bị phong trào chống Pháp ở các tỉnh Nam
Trung Kỳ. NGUYỄN
VĂN TƯỜNG |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com