posted: 15.8.2005
NGUYỄN
VĂN TƯỜNG QUA
CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN (thay
lời giới thiệu) Nhà
nghiên cứu Nguyễn
Văn Tường sinh ngày 22 tháng 8 năm Giáp thân (14. 10. 1824) tại Quảng Trị
và mất ngày 29 tháng 6 năm Bính tuất (30. 7. 1886) tại Thuở
nhỏ nhà nghèo nhưng ham đọc sách, lớn lên nổi tiếng văn hay. Năm Thiệu
Trị thứ 2 (1842) đi thi hương, ông đậu tú tài nhưng khi duyệt danh sách
tân khoa, nhà vua mới hay ông lấy họ Nguyễn Phước nên hủy bỏ kết quả,
trách phạt các quan, ông bị kết án suốt đời không được đi thi (1). Năm
1850, vua Tự Đức chuẩn cho được đi thi lại, ông đậu cử nhân và mở
đầu thời kì làm quan hơn 30 năm. Đầu
tiên, Nguyễn Văn Tường nhận chức học quan: huấn đạo huyện Mộ Đức
(Quảng Ngãi), kế đó được thăng tri huyện Thanh Hóa (Cam Lộ, Quảng Trị).
Ở vùng giáp biên giới Lào – Việt này, ông đã có công chiêu tập vỗ về
đồng bào dân tộc, mở mang làng xóm, đặt đồn phòng thủ, làm cho dân cư
ngày càng đông đúc, sinh tụ, mỗi ngày một phồn thịnh. Các phường tân
lập, nhớ tưởng công đức, đều có lập miếu thờ. Nhờ siêng năng công
vụ, ra sức khẩn hoang vùng Cam Lộ, ông được Triều đình đưa về Huế,
giữ chức viên ngoại lang Bộ Binh. Năm 1861, ông nhận chức án sát Quảng Do vụ
khởi nghĩa của Đoàn Trưng, Đoàn Trực, ông bị cách chức (1866). Ít lâu
sau, vua cho khai phục hàm biên tu, lại trở ra làm khâm phái sơn phòng sứ
Quảng Trị, được cấp ấn quan phòng riêng để tiện tâu bày ý kiến với
vua. Năm
1868, có bọn giặc Khách quấy phá Bắc Kì, Nguyễn Văn Tường được điều
ra Bắc với chức tán tương quân vụ Sơn Hưng Tuyên. Ông nhiều lần sang
lãnh thổ Trung Quốc để thương thuyết về việc tiễu phỉ (các bản tấu
ngày 30 tháng 12 năm Nhâm thân 1872, ngày 01. 02 năm Quý dậu - 1873 v.v...). Năm
1870 thành Lạng Sơn bị bọn phỉ chiếm, Nguyễn Văn Tường bị cách lưu và
sau đó khai phục hàm hàn lâm viện trước tác. Tháng 12 cùng năm, ông thu
thập tàn quân chiếm lại Lạng Sơn nên được thăng tán lí. Jean
Dupuis gây rối ở Bắc Kì, tạo nguyên cớ cho Francis Garnier chiếm Hà Nội.
Ông được phái ra Bắc cùng Philastre dàn xếp. Hà Nội và các tỉnh bị
Pháp chiếm được giao trả, đổi lại Việt, Pháp lại kí hòa ước mới.
Hòa ước Giáp tuất kí ngày 15. 3. 1874 tại Sài Gòn giữa Lê Tuấn, Nguyễn
Văn Tường và đô đốc Dupré, đại diện chính phủ Pháp. Sau công tác ngoại
giao này, ông được về Huế giữ chức thượng thư Bộ Hình, sung Cơ mật
viện và Thương bạc việân, được phong danh tước Kỳ Vĩ bá (2). Năm
Tự Đức 29 (1880) Tự Đức thăng cho ông hiệp biện đại học sĩ và chuyển
qua làm thượng thư Bộ Hộ. Trước khi vua Tự Đức mất, ông được cử
làm phụ chính đại thần cùng với Tôn Thất Thuyết, Trần Tiễn Thành (7.
1883). Trong sự kiện “tứ nguyệt tam vương” ông đã cùng Tôn Thất Thuyết
chống lại nhóm chủ “hòa”, phế Dục Đức và Hiệp Hòa, tôn Kiến
Phúc lên ngôi, trù tính và thực hiện các biện pháp để có thể chống
Pháp lâu dài như xây thành Tân Sở (Quảng Trị), tu bổ thượng đạo, sửa
sang các sơn phòng, tích trữ vàng bạc, khí giới, gạo muối ở Tân Sở
và Dương Yên (Quảng Nam). Qua tường trình của các cố đạo người Pháp,
chính phủ Pháp biết được mọi công việc chuẩn bị của nhóm chủ chiến
và vì thế quyết tâm ngăn chặn, nếu cần, gây áp lực quân sự để triệt
hạ nhóm chủ chiến mà linh hồn là Tôn Thất Thuyết. Kết quả là kinh
thành Huế thất thủ (23.5. Ất dậu – 1885), vua Hàm Nghi rời khỏi kinh
thành, ban Dụ Cần vương cho các tỉnh bắt đầu cuộc kháng chiến chống
Pháp. Nguyễn Văn Tường nhận lệnh Từ Dũ, ở lại Huế thương thuyết với
De Courcy. Nhưng sau hai tháng bị quản thúc ở Thương bạc, ông bị đày đi
Côn Lôn và sau đó sang
U trung thùy bạch thiên thu hậu?
Xã tắc quân dân thục trọng khinh? Tạm
dịch:
Lòng u uẩn ngàn năm ai tỏ?
Tổ Quốc, vua, dân, đâu trọng khinh?
(TĐV. dịch) (3). Biện
minh cũng chỉ là biện minh (3). Muốn hiểu được hành động của ông phải
hiểu con người của ông. Muốn hiểu con người đã mất, chỉ còn cách
tìm hiểu thơ, văn [tìm được]. Hàng
cháu nội của ông, các cử nhân Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn
Văn Phùng (4) nhân lúc làm quan ở Huế đã có công sưu tầm các công văn,
giấy tờ lưu trữ trong các nha môn, quán, các, bộ, viện do ông soạn thảo
trong thời gian làm quan, phân loại và sắp xếp thành từng quyển, theo gia
phả. Các công trình sưu tập đó được lưu giữ cẩn thận ở từ đường,
xem như gia bảo. Mục đích: “... để cho con cháu đời sau, kẻ nào dĩnh
ngộ, đọc được
tiểu sử của ngài, thưởng thức thơ văn sót lại của ngài mà hưng khởi
để chấn gia thanh, khỏi sự chê bai của dư luận, dám bảo vệ sự công
bằng trước ý kiến của mọi người”. Chiến
tranh đã làm thất tán các công trình sưu tập, con cháu cũng chưa có cơ hội
thuận tiện để công bố. Trong lúc đi tìm tư liệu cho đề tài kinh thành
thất thủ và phong trào Cần vương, chúng tôi đã có may mắn tìm thấy
các công trình này, duy trừ tập Thượng
bạc viện phúc chỉ còn là một bản sao không đầy đủ. Cùng với
các tập Nam Kì tấu nghị, Bắc Kì tấu nghị, Tân định hòa ước, Việt – Trung bang giao,
Thương bạc viện phúc... các cử nhân Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Văn Hiệu,
Nguyễn Văn Phùng đã tìm được 65 bài thơ [kể cả bài “Giải triều...”
– nbs. (**)] của Nguyễn Văn Tường mà từ trước đến nay giới
nghiên cứu chưa hề biết đến. Nếu
các tập tấu và văn thư do ông soạn thảo cho chúng ta biết sự nghiệp
chính trị của ông thì tập thơ sẽ giúp chúng ta hiểu tình cảm, tinh thần,
tư tưởng và nhân cách của ông. Công
việc giới thiệu toàn bộ châu bản nhà Nguyễn liên quan đến ông là một
công việc đòi hỏi thời gian và công sức, chúng tôi mong sẽ được thực
hiện trong thời gian tới. Ở
đây chúng tôi chỉ giới hạn việc tìm hiểu tư tưởng và hành động chính
trị của ông ở cương vị là một dinh điền sứ mở mang vùng Cam Lộ, Quảng
Trị, một tán lí quân vụ tham gia việc tiễu phỉ ở Bắc Kì, một nhà
ngoại giao, một đại thần được vua Tự Đức tín nhiệm, trong hoàn cảnh
đất nước suy trầm (3). Có
lẽ vấn đề lớn nhất mà ông trăn trở – cũng như vua Tự Đức – là
vấn đề Nam Kì bị Pháp chiếm. Làm thế nào để bảo toàn được đất
nước trước tham vọng của thực dân? Hòa thì có gì để trông cậy? Nội
trị có chấn hưng thì ngoại giao mới có chỗ tựa. Chính sách và nhân sự
thực hiện? Ông nghĩ gì về thực dân Pháp? Hãy để cho ông tự trình
bày. Về
thực dân Pháp, ông viết: - “Mọi rợ là mối lo, từ xưa đã có, nhưng
chưa mọi rợ nào như người Phú”.
(Tấu, 22.3. Mậu thìn - 1868). - “Người Tây xảo trá trăm mối, việc nghe
đoán càng phải thận trọng”.
(Tấu, 6.2 Mậu thìn - 1868). - “Trộm xét các nước Tây phương thường chuộng
công lợi mà tham lam giảo quyệt, nước
Phú, nước Anh là nhất. Các nước thuộc về Đông phương ta, gặp lúc
này khó tiến. Đại Thanh, Nhật Bản, Cao Ly, Xiêm La, Cao Mên, Miến Điện
đều bị họ lộng hành. Ta lần này cũng thế”.
(Tấu, mười... tháng 8 Quý dậu - 1873). - “Bọn Tây dương tính tham, chấp theo điều lợi.
Ấy là tìm được rồi lại sợ mất
đi. Thật là khó lấy nghĩa lí, trí thuật làm lay chuyển nó nghe theo” (tlđd). - “Người Phú vô cớ đến đây xâm phạm, lại
thi hành nhiều chính sách tàn ngược [ở
(Tấu, 6.8 Giáp tuất, 1874). Năm
1873, khi ông đảm trách công việc thương thuyết với Pháp có hiệu quả,
tiếng nói của ông bắt đầu được vua Tự Đức lắng nghe, là lúc ông
trình bày chính sách và nhận định của ông về tình hình đất nước.
Ông chia sẻ với Tự Đức việc để mất Nam Kì nhưng vẫn mong có một
ngày... về sau. -
“Riêng xét sáu tỉnh Nam Kì, khai thác gian
nan mà nay một sớm nhượng cho người.
Kính nghĩ: trong lòng hoàng thượng có điều u uẩn, phận bầy tôi phải lập
công báo đáp”.
(Tấu, 6.8 Giáp tuất, 1874). - “Ôi đất đai khai thác gian nan mà một sớm
đã nhượng cho người; hoàng thượng
nhức nhối trong lòng đã lâu, mà tôi con cũng không dám lộ ra ngoài miệng”. Có
dịp vào Nam Kì quan sát, ông càng hiểu tham vọng của họ: chiếm Nam Kì,
chiếm Cao Mên là có ý đồ lâu dài, tạo một bàn đạp để xâm nhập Hoa
“Mảnh đất cô huyện ấy kẹp giữa
Phú và Miên, ngửa đông nghiêng tây, sức nào giữ
vững, hao tốn chẳng xong, cuối cùng sẽ rơi vào kế xảo trá của nó. Nếu
không thế thì đất Cửu Long hoang rậm xa xôi, nó còn muốn chiếm hết để
mở mang, huống gì ba tỉnh cận kề bụng nó, há dung cho khỏi cắt lìa [khỏi
sự quản thuộc của ta – nbs.]? Đó cũng là tình ý của giặc mọi rợ
không thể không xét. Thế thì toàn cõi trong Nam, muốn thu hồi hết
cũng thậm khó mà chỉ một nửa cũng
không dễ”.
(Nam
Kì tấu nghị). Trước
mắt, thu hồi sáu tỉnh là điều bất cập. Vậy phải tính kế lâu dài,
làm thế nào cho nhân tâm của dân chúng Nam Kì không bị chìm đắm. Nguyễn
Văn Tường đề nghị cần yêu cầu Pháp để cho Triều đình tiếp tục
công việc giáo dục: lập văn miếu, bổ học quan, mở khoa thi. “Như thế thì cõi bờ dù có mất mát chìm
đắm, chính lệnh tuy chưa tới được
nhưng giáo hóa vẫn còn có thể thi hành, lấy đó mà vun trồng đạo lí,
kích thích sĩ phu... Tuy mất đất đai nhưng có được lòng người thì có
thể dùng về sau”. Ở
thập niên 70, khi người Pháp chưa thôn tính Bắc Kì và thiết lập nền bảo
hộ thì Nguyễn Văn Tường cho rằng có thể dùng ngoại giao để có thì giờ
chấn hưng đất nước. Bấy giờ mới nói đến ngoại giao có hiệu lực. “Bên ngoài ta lấy vẻ mặt tươi cười chờ
đợi, bên trong lại nghiêm chỉnh tự trị, binh khí, thuyền súng có chuyên viên
đảm trách,người người tự nỗ lực, tự mưu tính để chờ cơ hội, thì
cái hiệu nghiệm lúc xế chiều không phải là muộn vậy”. Suy
nghĩ của Nguyễn Văn Tường về Nam Kì là như vậy. Trước mắt không làm
gì được. Phải sửa đổi nội trị, nội trị mà hưng thịnh thì việc
ngoại trị mới có thể theo mong muốn (Tấu, 27.10 Giáp tuất, 1874). Từ
6 năm trước đó (1868), sau khi De La Grandière chiếm ba tỉnh miền Tây, Phan
Thanh Giản tự tử, Nguyễn Văn Tường không thấy có cách nào khác là phải
thi hành một chính sách chấn hưng đất nước. Ông thẳng thắn trình bày
với vua Tự Đức: - “Đánh thì việc đã qua, không dám nói lại. Hòa
thì nay có gì trông cậy... Vả,
không lo bọn giặc ngang ngược, chỉ lo ta không thể tự cường, không lo bọn giặc tham tàn, chỉ lo
ta không thể tự giữ. Kinh
sư là đất căn bản, đồn lũy đã vững chăng? Chí quân, lòng dân đã được khích lệ chăng? Đường
bộ, đường thủy đã vững khắp chăng? Tỉnh Bình Thuận đương xung yếu,
các tỉnh khác cũng có hải phận. Quân lương, binh lính làm thế nào cho
sinh và đủ? Hào mục, sĩ dân làm thế nào cho chuyên luyện? Nơi nào hiểm
yếu cần phải giữ, phép phòng thủ nào tất vững?”. - “... Phàm những điều ấy cũng nên xét kĩ,
trù liệu chín chắn và sớm thi hành để
khỏi trở ngại về sau”. Vua
Tự Đức đã châu phê: “Điều trần này
thảy đều thiết thực''. Trong
kế hoạch chấn hưng đất nước mà ông lưu tâm, ông rất coi trọng vấn
đề nhân sự. Không phải thiếu người tài mà chính là thiếu người lo lắng
việc nước. “Nay đương chức trong ngoài, gian dối, yếu
kém không phải là không có, nhưng kẻ
có tài lo liệu cũng chưa từng thiếu. Mà gặp việc lo thì tránh khéo, ở
chức công mà chỉ lo vui với việc riêng... Thậm chí có kẻ theo việc mà
đòi ăn hối lộ, khác nào chợ búa, càng không biết liêm sỉ là gì nữa.
Than ôi! Nhân tâm một phen sao đến thế?”. Không
chấn hưng được nhân sự thì sao có thể sửa đổi việc khác, trong khi
tình thế đất nước mỗi ngày một cấp bách, khó khăn? “Sau này việc giao thiệp càng phiền toái,
trách nhiệm về bờ cõi ngày càng nặng.
Thế cho nên đảm đương công việc rất gấp mà chưa lấy việc sửa đổi
tự bên trong làm đầu, nếu [vẫn còn] có hạng người ấy [không tự sửa
đổi bản thân – nbs.] (5) thì cũng chẳng
đâu vào đâu vậy”.
(Tấu, 27.10 Giáp Tuất, 1874). Ông
nhận xét việc tuyển bổ quan lại lắm khi không đúng với khả năng như “lấy quan thái y mà cử làm quan phủ huyện, kẻ thư kí mà bổ làm học quan”. Ông đề nghị để Võ (Vũ) Trọng Bình
mà theo ông là “thanh liêm, cần mẫn, sáng
suốt, đảm đương” phụ trách Bộ Lại để chấm dứt mối tệ
hối lộ trong việc bổ dụng, làm cho sĩ phu phấn chấn hơn. Thiết
tha với vận mệnh đất nước, trăn trở với các chính sách đối nội,
đối ngoại, ông lại càng tỏ ra biết nhận xét và đánh giá được tài
năng, sở trường, sở đoản của các quan nên được Tự Đức rất tin cẩn.
Nhà vua đã yêu cầu Nguyễn Văn Tường có nhận xét về các triều thần
và biên thần một cách có trách nhiệm. Thật là thú vị khi chúng ta có
được một đánh giá khá sắc sảo và nghiêm túc của một người đương
thời về các quan triều Nguyễn. Trong hai bản tấu ngày 7 tháng sáu và
ngày 20 tháng sáu năm Quý dậu (1873), Nguyễn Văn Tường đã lần lượt có
nhận xét về Phạm Phú Thứ, Phan Đình Bình, Võø (Vũõ) Khoa, Nguyễn Văn
Chất, Nguyễn Tri Phương, Đoàn Thọ, Nguyễn Oai (Uy), Tôn Thất Thuyết, Nguyễn
Đình Thi, Trần Thiện Chính, Đinh Hội, Hoàng Kế Viêm... Hãy
lấy một số ví dụ: - “Thống đốc Hoàng Kế Viêm bản chất trầm
trọng, bao dung, vốn có tài lâm cơ đoán
định, lay chuyển chẳng dời, được xem là một tay đảm đương vậy”. -
“Đoàn Thọ trung hậu, siêng năng, cẩn thận mà không đủ quyết đoán.
Cho nên đều là tướng lược mà sở trường đều không, vì thế mà khó
nên việc”. - “Phạm Phú Thứ, học thức đã giỏi, từng
trải đã lâu, xử trí các việc rắc rối,
chuyển xoay hiệu nghiệm. Trước dự vào việc tuyển cử, có ít người nói
là nối được việc, chuyên giỏi tính toán, công luận khá yên”. -
“Nguyễn Tư Giản, học vấn sâu rộng, nghị luận thông suốt, mà tài năng
liệu việc, thần chưa được thấy”. Nhận
xét như thế nhưng ông cũng cho rằng “việc
nghe thấy cũng không phải là bằng cớ
xác đáng” và con người “tùy môi trường mà đổi tiết, tùy chỗ dùng
mà thấy sở trường, thực khó phẩm bình”. Vấn
đề lương giáo hiềm khích cũng là một vấn đề khá tế nhị, phải có
cách giải quyết trên căn bản lợi ích của đất nước chứ không phải
vì định kiến tôn giáo. Dưới mắt tín đồ Thiên Chúa giáo đương thời,
Nguyễn Văn Tường được xem là người, cùng Tôn Thất Thuyết, chủ trương
sát tả. Chúng ta sẽ không tìm thấy điều ấy trong các bản tường trình
về xung đột lương giáo sau ngày Francis Garnier chiếm Hà Nội. Nguyễn Văn
Tường xem xét sự việc dưới góc độ chính trị và tìm một biện pháp
để dập tắt xung đột mà ông hiểu là chỉ có hại cho đất nước. - “Việc lương đạo thù nhau, thần đã từng
lấy làm lo. Đã cho đạo binh kinh lược
đi nhanh để trấn áp và tư cho các tỉnh bắt giữ, phủ dụ, khiến cho
cùng yên... Thần trộm xét sự thế Bắc Kì dần dần sẽ xong, chỉ có việc
lương đạo không yên làm cho các việc nhân đó mà đổi khác”.
(Tấu, ngày 5.12 Quý dậu, 1873). - “Nay mai việc lương đạo ở các tỉnh khá
yên, chỉ còn lại vài tên côn đồ thì
đã có đạo binh của quan kinh lược tùy cơ tiễu trừ, phủ dụ ít lâu sẽ
xong. Duy thần trộm nghĩ, muốn việc về sau được tốt đẹp thì nên xem
chuyện lương đạo là rất quan trọng. Kẻ gánh vác công việc phải [bằng
– nbs.] nhiều cách thể hiểu dụ, dạy bảo khiến cho người ta trông cậy
ở mình mà không sợ hãi, tin mình mà không nghi, mới có thể cùng quay về
điều tốt đẹp”. Một
người có suy nghĩ sâu như thế, phân tích tình hình một cách sáng suốt
như thế không phải là kẻ âm mưu tàn sát đồng bào của mình chỉ vì họ
là giáo dân, một cách mù quáng. Càng
đọc những trang châu bản đã được tập hợp trong T.V.N. (Trích
từ “Kì Vĩ quận công Nguyễn Văn Tường
thi tập”, do Trần Viết Ngạc, Trần Đại Vinh, Vũ Đức Sao Biển sưu
tầm, giới thiệu, phiên âm, dịch [mới 45 bài], tư liệu Hội nghị khoa học,
20.6.1996, do Trường ĐHSP. TP.HCM. chủ trì và ấn hành, từ tr. 01 đến tr.
08 ).
(*) Giảng viên
ĐHSP. TP. HCM., nhà nghiên cứu sử học (nhà nghiên cứu, viết tắt: Nnc). (**) Trần Xuân An, người biên soạn (viết tắt: nbs.). (1) Xin
xem chú thích (1), (2), (4) bản dịch nghĩa bài thơ số 14; và chú thích (16)
của bản dịch nghĩa bài thơ số 56 (xem mục lục sách này (1a)). (2) Tháng
6 âm lịch (1875), đổi bổ thượng thư Bộ Hộ (ĐNTL.CB., tập 33, sđd., tr.
211), [xem bảng tên sách viết tắt]. Vào năm 1878, thăng thự [thụ?] hiệp biện đại học sĩ (ĐNTL.CB.,
tập 34, sđd., tr. 98). (3) Nhà
nghiên cứu Trần Viết Ngạc đã công bố thêm các bài viết: “Nguyễn
Văn Tường trong hai biến cố tứ nguyệt tam vương và thất thủ kinh đô”
(trong tập Các báo cáo khoa học,
tư liệu Hội thảo khoa học về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường
(1824 – 1886), 02. 7. 2002, TT. KHXH. & NV. Viện Đại học Huế, Hội KHLS.
Thừa Thiên – Huế chủ trì và ấn hành, tr. 42 - 58) và các bài báo khác
trên tạp chí Xưa & Nay, như “Những tư liệu mới về Nguyễn Văn Tường” [giới thiệu, phân tích, bổ sung tư liệu sưu
tầm, dịch thuật của bà Nguyễn Thị Ngọc Oanh, hậu duệ của cụ
Nguyễn Văn Tường, và con gái bà là Trần Nguyễn Từ Vân], bns. Xưa
& Nay, số 126 (174) tháng 10. 2002,
tr. 18 – 20. Đồng thời, xin xem sách này, về hai câu thơ đã được
nha nghiên cứu Trần Viết Ngạc trích dẫn ở bài viết trên, liền theo
bài “Giải triều...”, cùng hai đôi
câu đối khác; và quan trọng nhất là xem thêm bài “Nguyễn Văn Tường
với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc kinh đô quật khởi, 05. 7. 1885” của Trần Xuân An (tức là bài “Vài chủ điểm
sử học sơ lược cần thiết khi cảm nhận bài “Giải triều …””).
Cũng có thể vui lòng tìm xem bài “Bi kịch ở điểm đỉnh mâu thuẫn 1883 – 1884 và sự chiến thắng của nhóm chủ chiến
yêu nước”, đã được đăng
tải trên tạp chí Xưa & Nay (thuộc
Hội KHLS. VN.), số 118 tháng 6.2002, tr. 18 – 19, xem tiếp tr. 23 – 24. (4) QTHKL.,
sđd., tr. 614 (số thứ tự: 4808), tr. 613 (stt.: 4807), tr. 660 (stt.: 5183), và
Nguyễn Tuy (tr. 632, stt.: 4952). (5) Xin
lưu ý câu giới thiệu cho đoạn trích dẫn, ở bên trên. (6) Mục
tiêu giáo dục thiếu cân đối, không toàn diện. Biết rằng giáo dục đạo
đức (cái hư: trừu tượng, thuộc về tinh thần – văn hóa) là rất quan
trọng, nhưng ít chú trọng đến khoa học, kĩ thuật (cái thực: cụ thể,
thuộc về vật chất, thực tiễn – văn minh cơ khí...) là sai lầm lớn của
nền giáo dục thời phong kiến ở phương Đông – châu Á nói chung, Việt
Nam nói riêng. Sự thất bại, bị xâm lược của các nước Á – Phi – Mỹ
la tinh trước các nước thực dân, đế quốc Âu – Bắc Mỹ, trước hết
và duy nhất là bởi nguyên nhân ấy. Thời bấy giờ Nguyễn Văn Tường đã
nhận định sâu sắc về điểm này: “Thần
thường tiếp người các nước Thanh [Trung Hoa – nbs.], Tây [Pháp, Tây Ban Nha – nbs.], họ há tất cả
đều là siêu việt cả sao, chỉ vì họ thì lấy điều thực mà làm, còn
ta thì lấy điều hư để ứng phó. Lấy thực đối với hư, thì mạnh, yếu
đã phân định rõ”. Nhận định ấy còn làm sáng tỏ một khía
cạnh: trong các nước châu Á, người Thanh (Trung Hoa) còn có óc thực tiễn
hơn cả người Việt! Nguyễn Văn Tường đã nhìn thẳng vào nhược điểm
của nền giáo dục phong kiến nước ta, con người Việt (7) Xin
khảo sát lịch sử hai nước lớn nhất châu Á là Ấn Độ, Trung Quốc. Trên
cơ sở đó, hẳn ai cũng thử so sánh điều kiện hiện thực lịch sử, thử
so sánh các nhân vật lịch sử cùng thời (sống và hoạt động trong thế
kỉ XIX và chủ yếu là nửa sau thế kỉ XIX) của nước ta và của các nước
ấy, theo quan điểm so sánh đồng đại, quan điểm lịch sử – cụ thể. Cước chú của bài Nguyễn Văn Tường, qua châu bản triều Nguyễn
– Nnc. Trần Viết Ngạc: (1a)
Các chú thích đề nghị xem thêm các tư liệu hoặc các ý tưởng thuộc
sách này, chúng tôi (TXA., nbs.) không ghi thêm số trang và sách dẫn. Xin vui
lòng xem mục lục ở phần cuối sách. Về bài “Giải triều…” cùng hai câu thơ bổ
sung, ba câu đối “Tự trào”, “Điếu Bùi Viện”, “Thượng đồ trình…”…, vốn không
thuộc phần Thi tập, mà chính là phần ngoài Thi tập. Đó là các câu, các bài tuy đã
công bố, vẫn là những sáng tác chủ yếu được Nguyễn Văn Tường viết
vào những thời điểm sau thời điểm sáng tác Thi tập, đặc biệt là sau cuộc kinh đô
quật khởi và thất thủ (05. 7. 1885). |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com