805-gdiem.gif (5390 bytes)

posted: 15.8.2005

CHÍNH TRỊ
_________

NGUYỄN VĂN TƯỜNG

QUA CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN

(thay lời giới thiệu)

Nhà nghiên cứu (Nnc.) Trần Viết Ngạc (*)

          Nguyễn Văn Tường sinh ngày 22 tháng 8 năm Giáp thân (14. 10. 1824) tại Quảng Trị và mất ngày 29 tháng 6 năm Bính tuất (30. 7. 1886) tại Tahiti.

          Thuở nhỏ nhà nghèo nhưng ham đọc sách, lớn lên nổi tiếng văn hay. Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842) đi thi hương, ông đậu tú tài nhưng khi duyệt danh sách tân khoa, nhà vua mới hay ông lấy họ Nguyễn Phước nên hủy bỏ kết quả, trách phạt các quan, ông bị kết án suốt đời không được đi thi (1).

          Năm 1850, vua Tự Đức chuẩn cho được đi thi lại, ông đậu cử nhân và mở đầu thời kì làm quan hơn 30 năm.

          Đầu tiên, Nguyễn Văn Tường nhận chức học quan: huấn đạo huyện Mộ Đức (Quảng Ngãi), kế đó được thăng tri huyện Thanh Hóa (Cam Lộ, Quảng Trị). Ở vùng giáp biên giới Lào – Việt này, ông đã có công chiêu tập vỗ về đồng bào dân tộc, mở mang làng xóm, đặt đồn phòng thủ, làm cho dân cư ngày càng đông đúc, sinh tụ, mỗi ngày một phồn thịnh. Các phường tân lập, nhớ tưởng công đức, đều có lập miếu thờ. Nhờ siêng năng công vụ, ra sức khẩn hoang vùng Cam Lộ, ông được Triều đình đưa về Huế, giữ chức viên ngoại lang Bộ Binh. Năm 1861, ông nhận chức án sát Quảng Nam. Hai năm sau, thăng tá lí Bộ Binh kiêm dinh điền sứ hai tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị và rồi phủ doãn Thừa Thiên (1864).

          Do vụ khởi nghĩa của Đoàn Trưng, Đoàn Trực, ông bị cách chức (1866). Ít lâu sau, vua cho khai phục hàm biên tu, lại trở ra làm khâm phái sơn phòng sứ Quảng Trị, được cấp ấn quan phòng riêng để tiện tâu bày ý kiến với vua.

          Năm 1868, có bọn giặc Khách quấy phá Bắc Kì, Nguyễn Văn Tường được điều ra Bắc với chức tán tương quân vụ Sơn Hưng Tuyên. Ông nhiều lần sang lãnh thổ Trung Quốc để thương thuyết về việc tiễu phỉ (các bản tấu ngày 30 tháng 12 năm Nhâm thân 1872, ngày 01. 02 năm Quý dậu - 1873 v.v...). Năm 1870 thành Lạng Sơn bị bọn phỉ chiếm, Nguyễn Văn Tường bị cách lưu và sau đó khai phục hàm hàn lâm viện trước tác. Tháng 12 cùng năm, ông thu thập tàn quân chiếm lại Lạng Sơn nên được thăng tán lí.

          Jean Dupuis gây rối ở Bắc Kì, tạo nguyên cớ cho Francis Garnier chiếm Hà Nội. Ông được phái ra Bắc cùng Philastre dàn xếp. Hà Nội và các tỉnh bị Pháp chiếm được giao trả, đổi lại Việt, Pháp lại kí hòa ước mới. Hòa ước Giáp tuất kí ngày 15. 3. 1874 tại Sài Gòn giữa Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường và đô đốc Dupré, đại diện chính phủ Pháp. Sau công tác ngoại giao này, ông được về Huế giữ chức thượng thư Bộ Hình, sung Cơ mật viện và Thương bạc việân, được phong danh tước Kỳ Vĩ bá (2).

          Năm Tự Đức 29 (1880) Tự Đức thăng cho ông hiệp biện đại học sĩ và chuyển qua làm thượng thư Bộ Hộ. Trước khi vua Tự Đức mất, ông được cử làm phụ chính đại thần cùng với Tôn Thất Thuyết, Trần Tiễn Thành (7. 1883). Trong sự kiện “tứ nguyệt tam vương” ông đã cùng Tôn Thất Thuyết chống lại nhóm chủ “hòa”, phế Dục Đức và Hiệp Hòa, tôn Kiến Phúc lên ngôi, trù tính và thực hiện các biện pháp để có thể chống Pháp lâu dài như xây thành Tân Sở (Quảng Trị), tu bổ thượng đạo, sửa sang các sơn phòng, tích trữ vàng bạc, khí giới, gạo muối ở Tân Sở và Dương Yên (Quảng Nam). Qua tường trình của các cố đạo người Pháp, chính phủ Pháp biết được mọi công việc chuẩn bị của nhóm chủ chiến và vì thế quyết tâm ngăn chặn, nếu cần, gây áp lực quân sự để triệt hạ nhóm chủ chiến mà linh hồn là Tôn Thất Thuyết. Kết quả là kinh thành Huế thất thủ (23.5. Ất dậu – 1885), vua Hàm Nghi rời khỏi kinh thành, ban Dụ Cần vương cho các tỉnh bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Nguyễn Văn Tường nhận lệnh Từ Dũ, ở lại Huế thương thuyết với De Courcy. Nhưng sau hai tháng bị quản thúc ở Thương bạc, ông bị đày đi Côn Lôn và sau đó sang Tahiti cùng với Phạm Thận Duật, Tôn Thất Đính. Phạm Thận Duật mất trên hải trình và được thủy táng ở eo biển Malacca. Nguyễn Văn Tường mất ở Tahiti và sau đó hài cốt được đưa về an táng ở quê nhà (làng An Cư, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Hành động của ông trong giai đoạn “tứ nguyệt tam vương” và việc ông ở lại để thương thuyết với Pháp sau ngày kinh thành thất thủ đã làm cho việc nhận định về ông không phải dễ dàng, nhất là có lắm kẻ thù người Pháp, các cố đạo như Puginier, Van Camelbeke, các hoàng thân, quan lại chủ ''hòa'' – những người sẵn sàng gán cho ông những tiếng xấu – đặt điều về ông. Tự ông, cũng hiểu khó cho người đời hiểu được tấm lòng của ông, vì biện giải cho được hành động chia tay của ông với Tôn Thất Thuyết, Phạm Thận Duật... quả là một điều khó khăn (3).

                   U trung thùy bạch thiên thu hậu?

                   Xã tắc quân dân thục trọng khinh?

          Tạm dịch:

                   Lòng u uẩn ngàn năm ai tỏ?

                   Tổ Quốc, vua, dân, đâu trọng khinh?

                                                  (TĐV. dịch) (3).

          Biện minh cũng chỉ là biện minh (3). Muốn hiểu được hành động của ông phải hiểu con người của ông. Muốn hiểu con người đã mất, chỉ còn cách tìm hiểu thơ, văn [tìm được].

          Hàng cháu nội của ông, các cử nhân Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Văn Phùng (4) nhân lúc làm quan ở Huế đã có công sưu tầm các công văn, giấy tờ lưu trữ trong các nha môn, quán, các, bộ, viện do ông soạn thảo trong thời gian làm quan, phân loại và sắp xếp thành từng quyển, theo gia phả. Các công trình sưu tập đó được lưu giữ cẩn thận ở từ đường, xem như gia bảo. Mục đích:

          “... để cho con cháu đời sau, kẻ nào dĩnh ngộ, đọc được tiểu sử của ngài, thưởng thức thơ văn sót lại của ngài mà hưng khởi để chấn gia thanh, khỏi sự chê bai của dư luận, dám bảo vệ sự công bằng trước ý kiến của mọi người”.

          Chiến tranh đã làm thất tán các công trình sưu tập, con cháu cũng chưa có cơ hội thuận tiện để công bố. Trong lúc đi tìm tư liệu cho đề tài kinh thành thất thủ và phong trào Cần vương, chúng tôi đã có may mắn tìm thấy các công trình này, duy trừ tập Thượng bạc viện phúc chỉ còn là một bản sao không đầy đủ. Cùng với các tập Nam Kì tấu nghị, Bắc Kì tấu nghị, Tân định hòa ước, Việt – Trung bang giao, Thương bạc viện phúc... các cử nhân Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Văn Phùng đã tìm được 65 bài thơ [kể cả bài “Giải triều...” – nbs. (**)] của Nguyễn Văn Tường mà từ trước đến nay giới nghiên cứu chưa hề biết đến.

          Nếu các tập tấu và văn thư do ông soạn thảo cho chúng ta biết sự nghiệp chính trị của ông thì tập thơ sẽ giúp chúng ta hiểu tình cảm, tinh thần, tư tưởng và nhân cách của ông.

          Công việc giới thiệu toàn bộ châu bản nhà Nguyễn liên quan đến ông là một công việc đòi hỏi thời gian và công sức, chúng tôi mong sẽ được thực hiện trong thời gian tới.

          Ở đây chúng tôi chỉ giới hạn việc tìm hiểu tư tưởng và hành động chính trị của ông ở cương vị là một dinh điền sứ mở mang vùng Cam Lộ, Quảng Trị, một tán lí quân vụ tham gia việc tiễu phỉ ở Bắc Kì, một nhà ngoại giao, một đại thần được vua Tự Đức tín nhiệm, trong hoàn cảnh đất nước suy trầm (3).

          Có lẽ vấn đề lớn nhất mà ông trăn trở – cũng như vua Tự Đức – là vấn đề Nam Kì bị Pháp chiếm. Làm thế nào để bảo toàn được đất nước trước tham vọng của thực dân? Hòa thì có gì để trông cậy? Nội trị có chấn hưng thì ngoại giao mới có chỗ tựa. Chính sách và nhân sự thực hiện? Ông nghĩ gì về thực dân Pháp? Hãy để cho ông tự trình bày.

          Về thực dân Pháp, ông viết:

          - “Mọi rợ là mối lo, từ xưa đã có, nhưng chưa mọi rợ nào như người Phú”.

                   (Tấu, 22.3. Mậu thìn - 1868).

          - “Người Tây xảo trá trăm mối, việc nghe đoán càng phải thận trọng”.

                        (Tấu, 6.2 Mậu thìn - 1868).

          - “Trộm xét các nước Tây phương thường chuộng công lợi mà tham lam giảo quyệt, nước Phú, nước Anh là nhất. Các nước thuộc về Đông phương ta, gặp lúc này khó tiến. Đại Thanh, Nhật Bản, Cao Ly, Xiêm La, Cao Mên, Miến Điện đều bị họ lộng hành. Ta lần này cũng thế”.

                   (Tấu, mười... tháng 8 Quý dậu - 1873).

          - “Bọn Tây dương tính tham, chấp theo điều lợi. Ấy là tìm được rồi lại sợ mất đi. Thật là khó lấy nghĩa lí, trí thuật làm lay chuyển nó nghe theo” (tlđd).

          - “Người Phú vô cớ đến đây xâm phạm, lại thi hành nhiều chính sách tàn ngược [ở Nam Kì]”.

                        (Tấu, 6.8 Giáp tuất, 1874).

          Năm 1873, khi ông đảm trách công việc thương thuyết với Pháp có hiệu quả, tiếng nói của ông bắt đầu được vua Tự Đức lắng nghe, là lúc ông trình bày chính sách và nhận định của ông về tình hình đất nước. Ông chia sẻ với Tự Đức việc để mất Nam Kì nhưng vẫn mong có một ngày... về sau.

          - “Riêng xét sáu tỉnh Nam Kì, khai thác gian nan mà nay một sớm nhượng cho người. Kính nghĩ: trong lòng hoàng thượng có điều u uẩn, phận bầy tôi phải lập công báo đáp”.

                   (Tấu, 6.8 Giáp tuất, 1874).

          - “Ôi đất đai khai thác gian nan mà một sớm đã nhượng cho người; hoàng thượng nhức nhối trong lòng đã lâu, mà tôi con cũng không dám lộ ra ngoài miệng”.

          Có dịp vào Nam Kì quan sát, ông càng hiểu tham vọng của họ: chiếm Nam Kì, chiếm Cao Mên là có ý đồ lâu dài, tạo một bàn đạp để xâm nhập Hoa Nam. Cho nên, năm 1873 ông rất cảnh giác khi Pháp tỏ ý có thể cho Triều đình Huế chuộc lại ba tỉnh miền Tây mà theo ông đó chỉ là mưu mô xảo trá của người Phú. Ông phân tích vị trí địa lí, chiến lược của ba tỉnh miền Tây với vua Tự Đức:

            “Mảnh đất cô huyện ấy kẹp giữa Phú và Miên, ngửa đông nghiêng tây, sức nào giữ vững, hao tốn chẳng xong, cuối cùng sẽ rơi vào kế xảo trá của nó. Nếu không thế thì đất Cửu Long hoang rậm xa xôi, nó còn muốn chiếm hết để mở mang, huống gì ba tỉnh cận kề bụng nó, há dung cho khỏi cắt lìa [khỏi sự quản thuộc của ta – nbs.]? Đó cũng là tình ý của giặc mọi rợ không thể không xét.

          Thế thì toàn cõi trong Nam, muốn thu hồi hết cũng thậm khó mà chỉ một nửa cũng không dễ”.

                            (Nam Kì tấu nghị).

          Trước mắt, thu hồi sáu tỉnh là điều bất cập. Vậy phải tính kế lâu dài, làm thế nào cho nhân tâm của dân chúng Nam Kì không bị chìm đắm. Nguyễn Văn Tường đề nghị cần yêu cầu Pháp để cho Triều đình tiếp tục công việc giáo dục: lập văn miếu, bổ học quan, mở khoa thi.

          “Như thế thì cõi bờ dù có mất mát chìm đắm, chính lệnh tuy chưa tới được nhưng giáo hóa vẫn còn có thể thi hành, lấy đó mà vun trồng đạo lí, kích thích sĩ phu... Tuy mất đất đai nhưng có được lòng người thì có thể dùng về sau”.

          Ở thập niên 70, khi người Pháp chưa thôn tính Bắc Kì và thiết lập nền bảo hộ thì Nguyễn Văn Tường cho rằng có thể dùng ngoại giao để có thì giờ chấn hưng đất nước. Bấy giờ mới nói đến ngoại giao có hiệu lực.

          “Bên ngoài ta lấy vẻ mặt tươi cười chờ đợi, bên trong lại nghiêm chỉnh tự  trị, binh khí, thuyền súng có chuyên viên đảm trách,người người tự nỗ lực, tự mưu tính để chờ cơ hội, thì cái hiệu nghiệm lúc xế chiều không phải là muộn vậy”.

          Suy nghĩ của Nguyễn Văn Tường về Nam Kì là như vậy. Trước mắt không làm gì được. Phải sửa đổi nội trị, nội trị mà hưng thịnh thì việc ngoại trị mới có thể theo mong muốn (Tấu, 27.10 Giáp tuất, 1874).

          Từ 6 năm trước đó (1868), sau khi De La Grandière chiếm ba tỉnh miền Tây, Phan Thanh Giản tự tử, Nguyễn Văn Tường không thấy có cách nào khác là phải thi hành một chính sách chấn hưng đất nước. Ông thẳng thắn trình bày với vua Tự Đức:

          - “Đánh thì việc đã qua, không dám nói lại.

          Hòa thì nay có gì trông cậy...

          Vả, không lo bọn giặc ngang ngược, chỉ lo ta không thể tự cường, không lo bọn giặc tham tàn, chỉ lo ta không thể tự giữ.

          Kinh sư là đất căn bản, đồn lũy đã vững chăng? Chí quân, lòng dân đã được khích lệ chăng? Đường bộ, đường thủy đã vững khắp chăng? Tỉnh Bình Thuận đương xung yếu, các tỉnh khác cũng có hải phận. Quân lương, binh lính làm thế nào cho sinh và đủ? Hào mục, sĩ dân làm thế nào cho chuyên luyện? Nơi nào hiểm yếu cần phải giữ, phép phòng thủ nào tất vững?”.

          - “... Phàm những điều ấy cũng nên xét kĩ, trù liệu chín chắn và sớm thi hành để khỏi trở ngại về sau”.

          Vua Tự Đức đã châu phê: “Điều trần này thảy đều thiết thực''.

          Trong kế hoạch chấn hưng đất nước mà ông lưu tâm, ông rất coi trọng vấn đề nhân sự. Không phải thiếu người tài mà chính là thiếu người lo lắng việc nước.

          “Nay đương chức trong ngoài, gian dối, yếu kém không phải là không có, nhưng kẻ có tài lo liệu cũng chưa từng thiếu. Mà gặp việc lo thì tránh khéo, ở chức công mà chỉ lo vui với việc riêng... Thậm chí có kẻ theo việc mà đòi ăn hối lộ, khác nào chợ búa, càng không biết liêm sỉ là gì nữa. Than ôi! Nhân tâm một phen sao đến thế?”.

          Không chấn hưng được nhân sự thì sao có thể sửa đổi việc khác, trong khi tình thế đất nước mỗi ngày một cấp bách, khó khăn?

          “Sau này việc giao thiệp càng phiền toái, trách nhiệm về bờ cõi ngày càng nặng. Thế cho nên đảm đương công việc rất gấp mà chưa lấy việc sửa đổi tự bên trong làm đầu, nếu [vẫn còn] có hạng người ấy [không tự sửa đổi bản thân – nbs.] (5)  thì cũng chẳng đâu vào đâu vậy”.

                                    (Tấu, 27.10 Giáp Tuất, 1874).

          Ông nhận xét việc tuyển bổ quan lại lắm khi không đúng với khả năng như “lấy quan thái y mà cử làm quan phủ huyện, kẻ thư kí mà bổ làm học quan”. Ông đề nghị để Võ (Vũ) Trọng Bình mà theo ông là “thanh liêm, cần mẫn, sáng suốt, đảm đương” phụ trách Bộ Lại để chấm dứt mối tệ hối lộ trong việc bổ dụng, làm cho sĩ phu phấn chấn hơn.

          Thiết tha với vận mệnh đất nước, trăn trở với các chính sách đối nội, đối ngoại, ông lại càng tỏ ra biết nhận xét và đánh giá được tài năng, sở trường, sở đoản của các quan nên được Tự Đức rất tin cẩn. Nhà vua đã yêu cầu Nguyễn Văn Tường có nhận xét về các triều thần và biên thần một cách có trách nhiệm. Thật là thú vị khi chúng ta có được một đánh giá khá sắc sảo và nghiêm túc của một người đương thời về các quan triều Nguyễn. Trong hai bản tấu ngày 7 tháng sáu và ngày 20 tháng sáu năm Quý dậu (1873), Nguyễn Văn Tường đã lần lượt có nhận xét về Phạm Phú Thứ, Phan Đình Bình, Võø (Vũõ) Khoa, Nguyễn Văn Chất, Nguyễn Tri Phương, Đoàn Thọ, Nguyễn Oai (Uy), Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Đình Thi, Trần Thiện Chính, Đinh Hội, Hoàng Kế Viêm...

          Hãy lấy một số ví dụ:

          - “Thống đốc Hoàng Kế Viêm bản chất trầm trọng, bao dung, vốn có tài lâm cơ đoán định, lay chuyển chẳng dời, được xem là một tay đảm đương vậy”.

          - “Đoàn Thọ trung hậu, siêng năng, cẩn thận mà không đủ quyết đoán. Cho nên đều là tướng lược mà sở trường đều không, vì thế mà khó nên việc”.

          - “Phạm Phú Thứ, học thức đã giỏi, từng trải đã lâu, xử trí các việc rắc rối, chuyển xoay hiệu nghiệm. Trước dự vào việc tuyển cử, có ít người nói là nối được việc, chuyên giỏi tính toán, công luận khá yên”.

          - “Nguyễn Tư Giản, học vấn sâu rộng, nghị luận thông suốt, mà tài năng liệu việc, thần chưa được thấy”.

          Nhận xét như thế nhưng ông cũng cho rằng “việc nghe thấy cũng không phải là bằng cớ xác đáng” và con người “tùy môi trường mà đổi tiết, tùy chỗ dùng mà thấy sở trường, thực khó phẩm bình”.

          Vấn đề lương giáo hiềm khích cũng là một vấn đề khá tế nhị, phải có cách giải quyết trên căn bản lợi ích của đất nước chứ không phải vì định kiến tôn giáo. Dưới mắt tín đồ Thiên Chúa giáo đương thời, Nguyễn Văn Tường được xem là người, cùng Tôn Thất Thuyết, chủ trương sát tả. Chúng ta sẽ không tìm thấy điều ấy trong các bản tường trình về xung đột lương giáo sau ngày Francis Garnier chiếm Hà Nội. Nguyễn Văn Tường xem xét sự việc dưới góc độ chính trị và tìm một biện pháp để dập tắt xung đột mà ông hiểu là chỉ có hại cho đất nước.

          - “Việc lương đạo thù nhau, thần đã từng lấy làm lo. Đã cho đạo binh kinh lược đi nhanh để trấn áp và tư cho các tỉnh bắt giữ, phủ dụ, khiến cho cùng yên... Thần trộm xét sự thế Bắc Kì dần dần sẽ xong, chỉ có việc lương đạo không yên làm cho các việc nhân đó mà đổi khác”.

                   (Tấu, ngày 5.12 Quý dậu, 1873).

          - “Nay mai việc lương đạo ở các tỉnh khá yên, chỉ còn lại vài tên côn đồ thì đã có đạo binh của quan kinh lược tùy cơ tiễu trừ, phủ dụ ít lâu sẽ xong. Duy thần trộm nghĩ, muốn việc về sau được tốt đẹp thì nên xem chuyện lương đạo là rất quan trọng. Kẻ gánh vác công việc phải [bằng – nbs.] nhiều cách thể hiểu dụ, dạy bảo khiến cho người ta trông cậy ở mình mà không sợ hãi, tin mình mà không nghi, mới có thể cùng quay về điều tốt đẹp”.

          Một người có suy nghĩ sâu như thế, phân tích tình hình một cách sáng suốt như thế không phải là kẻ âm mưu tàn sát đồng bào của mình chỉ vì họ là giáo dân, một cách mù quáng.

          Càng đọc những trang châu bản đã được tập hợp trong Nam Kì tấu nghị, Bắc Kì tấu nghị ta càng rõ những hành động của ông, tư tưởng của ông. Đúng như lời nhận định ghi trong gia phả: việc kinh bang tế thế phát thành văn chương. Ở từng trang, chúng ta có thể nhận ra tài năng của một đại thần quán xuyến nhiều mặt: chính trị, hành chính, quân sự... Ý tưởng rõ ràng, lập luận khúc chiết, lí giải thuyết phục là những sở trường của ông. Nhưng trên tất cả là tấm lòng trung quân ái quốc của ông. Tiếc thay tài năng của ông không xoay chuyển được thời cục, vận nước. Vua Tự Đức đã nhận trách nhiệm về mình. Nền giáo dục từ chương khoa cử lại quá thiên về đào tạo phẩm hạnh cũng có phần trách nhiệm của nó (6). Nguyên nhân thì có nhiều, đôi khi đan xen vào nhau. Nhưng nếu chúng ta tự đặt mình vào hoàn cảnh của Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường... rồi thử đề ra một chính sách khả thi về chính trị, quân sự, tài chính để đưa một đất nước kinh tế nông nghiệp lạc hậu hồi đó thoát ra khỏi họa xâm lăng của đế quốc phương Tây đang hồi cực thịnh hẳn không phải là dễ (7). Và có lẽ, trong mối cảm thông với người đi trước, chúng ta sẽ hiểu quá khứ hơn, chia sẻ những kinh nghiệm thành công lẫn thất bại, hiểu được cái bi kịch “lực bất tòng tâm” của những Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến... ở hoàn cảnh thế cùng lực kiệt. Và lịch sử vốn là một người thầy, sẽ giúp chúng ta khôn ngoan hơn trong hiện tại.

T.V.N.

(Trích từ “Kì Vĩ quận công Nguyễn Văn Tường thi tập”, do Trần Viết Ngạc, Trần Đại Vinh, Vũ Đức Sao Biển sưu tầm, giới thiệu, phiên âm, dịch [mới 45 bài], tư liệu Hội nghị khoa học, 20.6.1996, do Trường ĐHSP. TP.HCM. chủ trì và ấn hành, từ tr. 01 đến tr. 08 ).

 

       (*) Giảng viên ĐHSP. TP. HCM., nhà nghiên cứu sử học (nhà nghiên cứu, viết tắt: Nnc).

      (**) Trần Xuân An, người biên soạn (viết tắt: nbs.).

(1)  Xin xem chú thích (1), (2), (4) bản dịch nghĩa bài thơ số 14; và chú thích (16) của bản dịch nghĩa bài thơ số 56 (xem mục lục sách này (1a)).

(2)  Tháng 6 âm lịch (1875), đổi bổ thượng thư Bộ Hộ (ĐNTL.CB., tập 33, sđd., tr. 211), [xem bảng tên sách viết tắt]. Vào năm 1878, thăng thự [thụ?] hiệp biện đại học sĩ (ĐNTL.CB., tập 34, sđd., tr. 98).

(3)  Nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc đã công bố thêm các bài viết: “Nguyễn Văn Tường trong hai biến cố tứ nguyệt tam vương và thất thủ kinh đô” (trong tập Các báo cáo khoa học, tư liệu Hội thảo khoa học về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), 02. 7. 2002, TT. KHXH. & NV. Viện Đại học Huế, Hội KHLS. Thừa Thiên – Huế chủ trì và ấn hành, tr. 42 - 58) và các bài báo khác trên tạp chí Xưa & Nay, như “Những tư liệu mới về Nguyễn Văn Tường” [giới thiệu, phân tích, bổ sung tư liệu sưu tầm, dịch thuật của bà Nguyễn Thị Ngọc Oanh, hậu duệ của cụ Nguyễn Văn Tường, và con gái bà là Trần Nguyễn Từ Vân], bns. Xưa & Nay, số 126 (174) tháng 10. 2002, tr. 18 – 20. Đồng thời, xin xem sách này, về hai câu thơ đã được nha nghiên cứu Trần Viết Ngạc trích dẫn ở bài viết trên, liền theo bài “Giải triều...”, cùng hai đôi câu đối khác; và quan trọng nhất là xem thêm bài “Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc kinh đô quật khởi, 05. 7. 1885” của Trần Xuân An (tức là bài “Vài chủ điểm sử học sơ lược cần thiết khi cảm nhận bài “Giải triều …””). Cũng có thể vui lòng tìm xem bài “Bi kịch ở điểm đỉnh mâu thuẫn 1883 – 1884 và sự chiến thắng của nhóm chủ chiến yêu nước”, đã được đăng tải trên tạp chí Xưa & Nay (thuộc Hội KHLS. VN.), số 118 tháng 6.2002, tr. 18 – 19, xem tiếp tr. 23 – 24.

(4)  QTHKL., sđd., tr. 614 (số thứ tự: 4808), tr. 613 (stt.: 4807), tr. 660 (stt.: 5183), và Nguyễn Tuy (tr. 632, stt.: 4952).

(5)  Xin lưu ý câu giới thiệu cho đoạn trích dẫn, ở bên trên.

(6)  Mục tiêu giáo dục thiếu cân đối, không toàn diện. Biết rằng giáo dục đạo đức (cái hư: trừu tượng, thuộc về tinh thần – văn hóa) là rất quan trọng, nhưng ít chú trọng đến khoa học, kĩ thuật (cái thực: cụ thể, thuộc về vật chất, thực tiễn – văn minh cơ khí...) là sai lầm lớn của nền giáo dục thời phong kiến ở phương Đông – châu Á nói chung, Việt Nam nói riêng. Sự thất bại, bị xâm lược của các nước Á – Phi – Mỹ la tinh trước các nước thực dân, đế quốc Âu – Bắc Mỹ, trước hết và duy nhất là bởi nguyên nhân ấy. Thời bấy giờ Nguyễn Văn Tường đã nhận định sâu sắc về điểm này: “Thần thường tiếp người các nước Thanh [Trung Hoa – nbs.], Tây [Pháp, Tây Ban Nha – nbs.], họ há tất cả đều là siêu việt cả sao, chỉ vì họ thì lấy điều thực mà làm, còn ta thì lấy điều hư để ứng phó. Lấy thực đối với hư, thì mạnh, yếu đã phân định rõ”. Nhận định ấy còn làm sáng tỏ một khía cạnh: trong các nước châu Á, người Thanh (Trung Hoa) còn có óc thực tiễn hơn cả người Việt! Nguyễn Văn Tường đã nhìn thẳng vào nhược điểm của nền giáo dục phong kiến nước ta, con người Việt Nam chúng ta, với niềm tự tin về sức mạnh tiềm năng của dân tộc. Do đó, Nguyễn Văn Tường đã có nguyện vọng và hành động canh tân đất nước, như mua sách Tây, mua súng Tây về tiến dâng lên vua Tự Đức, đề nghị đưa người đi học ngoại ngữ, mở rộng ngoại giao, phát triển ngoại thương, lưu thông hàng hóa, cho dựng tiệm nhiếp ảnh cạnh Thương bạc viện, cải cách thuế ruộng công và ruộng tư trên cơ sở vì quyền lợi của người nông dân nghèo, đào sông làm đường thủy xuyên Việt... (ĐNTL.CB., tập 33, sđd., tr. 42, 110, 111, 116, 313; tập 34, sđd., tr. 109 - 110, 126 - 128, 165 - 166 [Tự Đức và báo chí Hương Cảng], 332, 388...). Những nỗ lực canh tân ấy của Tự Đức và Nguyễn Văn Tường cùng các quan đều bị thực dân Pháp ngăn cản, cấm vận, bao vây về ngoại giao, hoặc giúp đỡ một cách giả dối, và có những việc không thực hiện được vì thiếu ngân sách, vì sức ì trong tập quán của một nước nông nghiệp lúa nước (vốn ngại di chuyển, “trọng nông ức thương”...). Chúng tôi xin phép chú thích thêm để góp phần làm sáng tỏ và nhấn mạnh.

(7)  Xin khảo sát lịch sử hai nước lớn nhất châu Á là Ấn Độ, Trung Quốc. Trên cơ sở đó, hẳn ai cũng thử so sánh điều kiện hiện thực lịch sử, thử so sánh các nhân vật lịch sử cùng thời (sống và hoạt động trong thế kỉ XIX và chủ yếu là nửa sau thế kỉ XIX) của nước ta và của các nước ấy, theo quan điểm so sánh đồng đại, quan điểm lịch sử – cụ thể.

Cước chú của bài Nguyễn Văn Tường, qua châu bản triều Nguyễn – Nnc. Trần Viết Ngạc:

(1a) Các chú thích đề nghị xem thêm các tư liệu hoặc các ý tưởng thuộc sách này, chúng tôi (TXA., nbs.) không ghi thêm số trang và sách dẫn. Xin vui lòng xem mục lục ở phần cuối sách. Về bài “Giải triều…” cùng hai câu thơ bổ sung, ba câu đối “Tự trào”, “Điếu Bùi Viện”, “Thượng đồ trình…”…, vốn không thuộc phần Thi tập, mà chính là phần ngoài Thi tập. Đó là các câu, các bài tuy đã công bố, vẫn là những sáng tác chủ yếu được Nguyễn Văn Tường viết vào những thời điểm sau thời điểm sáng tác Thi tập, đặc biệt là sau cuộc kinh đô quật khởi và thất thủ (05. 7. 1885).

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com